chế độ pháp lý về đảm bảo tiền vay bằng tài sản trong hoạt động tín dụng ngân hàng
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong cơ chế thị trường hiện nay các Ngân hàng Thương mại đang ngày
một phát triển mạnh mẽ và có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế Cũng
giống như các hoạt động kinh doanh khác, rủi ro trong hoạt động tín dụng là
điều khó tránh khỏi Nếu rủi ro liên tiếp xảy ra thì Ngân hàng Thương mại sẽ
khó tránh khỏi sự phá sản và dẫn đến sự sụp đổ của cả hệ thống ngân hàng, gây
ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế quốc dân
Bảo đảm tiền vay là biện pháp quan trọng nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ trả nợ của người vay mà cũng là nhằm bảo đảm vốn đối với Ngân hàng
Thương mại Nếu biện pháp bảo đảm quá chặt chẽ thì hiệu quả sử dụng vốn sẽ
thấp, ngược lại nếu biện pháp bảo đảm quá lỏng lẻo thì sự phát sinh tiêu cực,
dẫn đến thất thoát vốn của ngân hàng thương mại Vì vậy câu hỏi: "Biện pháp
bảo đảm tín dụng ngân hàng như thế nào là hợp lý?" vẫn luôn là câu hỏi khó để
có được lời giải đáp đúng
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, trong thời gian thực tập ở
NHNo & PTNT huyện Văn Lâm tôi đã chọn đề tài "Chế độ pháp lý về bảo đảm
tiền vay bằng tài sản trong hoạt động tín dụng ngân hàng, thực tiễn áp dụng
tại NHNo & PTNT huyện Văn Lâm" với nội dung chủ yếu là nghiên cứu
những vấn đề cho vay có bảo đảm bằng tài sản, từ đó đề xuất một số ý kiến và
biện pháp cụ thể nhằm phần nào có được lời giải đáp câu hỏi trên
Đề tài được chia làm 3 chương:
Chương I: Chế độ pháp lý về bảo đảm tiền vay bằng tài sản trong hoạt
động tín dụng ngân hàng
Chương II: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật trong công tác
bảo đảm tiền vay tại NHNo & PTNT huyện Văn Lâm
Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chế độ pháp lý về bảo
đảm tiền vay bằng tài sản tại NHNo & PTNT huyện Văn Lâm
Với những hiểu biết còn hạn chế của một sinh viên cũng như thời gian
xâm nhập thực tế chưa nhiều, bài viết này chắc chắn sẽ không tránh khỏi những
Trang 2thiếu sót về mặt lý luận và thực tiễn Rất mong nhận được sự góp ý của thầy, cô
cùng toàn thể những ai quan tâm đến đề tài này để bài viết được hoàn thiện hơn
Trang 3CHƯƠNG I CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG TÀI SẢN TRONG
HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
I SỰ CẦN THIẾT PHẢI CÓ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TIỀN
VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1 Tính tất yếu của vấn đề bảo đảm tiền vay của NHTM
1.1 Cho vay - hoạt động chủ yếu của NHTM
Xã hội phát triển và đi lên được là nhờ các hoạt động tái sản xuất Để có
thể tái sản xuất vật chất được cần rất nhiều yếu tố, trong đó vốn là yếu tố chiếm
vị trí quan trọng hàng đầu Tuy nhiên, không phải lúc nào người kinh doanh
cũng có sẵn vốn, còn những người nắm giữ những khoản vốn trong tay lại chưa
chắc tìm được cơ hội kinh doanh Nói cách khác, tại một thời điểm, luôn xảy ra
tình trạng có người thừa vốn và có người thiếu vốn vấn đề này có thể giải quyết
qua thị trường tài chính với 2 cách thực hiện khác nhau Cách thức nhất: Người
thừa vốn và người thiếu vốn gặp nhau trực tiếp để trao đổi và thoả thuận với
nhau, đó là tài chính trực tiếp Cách thứ hai: Là tài chính gián tiếp tức có sự hiện
diện của người trung gian, khi đó mới quan hệ giữa hai người (trực tiếp) tách
thành hai mối quan hệ mới: giữa người thừa vốn với người trung gian và người
thiếu vốn với người trung gian Người thừa vốnvà người thiếu vốn (không như
cách thứ nhất) hoàn toàn không biết nhau
Thoạt nhìn có vẻ như cách thứ hai phức tạp hơn vì quan hệ vay mượn có
sự xuất hiện của người thứ ba, song không hẳn như vậy Thật khó để hai người
thừa vốn và thiếu vốn với những đặc điểm về nguồn vốn cần hoặc có khác nhau
có thể gặp nhau và trao đổi với nhau Bởi lẽ thường những người thừa vốn muốn
cho vay trong khoảng thời gian ngắn với số lượng nhỏ Trong khi những người
cần vốn luôn yêu cầu một khoản vay lớn và muốn nắm giữ trong thời gian dài
Nghĩa là có cả sự khác biệt về không gian , thời gian, khối lượng vốn, rủi ro
chấp nhận - tạo khoảng cách giữa hai người.Song, nếu như các đòi hỏi về vốn
được thoả mãn thì cuộc trao đổi trực tiếp cũng vẫn khó xảy ra do cản trở của
Trang 4thông tin và chi phí giao dịch Các bên giao dịch nhất là người thừa vốn trước
khi ra quyết định cho vay cần phải tìm kiếm thông tin về người vay, đánh giá
xem anh ta có thể tin tưởng để giao cho sử dụng số vốn của mình hay không
Sau đó họ lại phải tốn thêm một khoản phí không nhỏ để ký hợp đồng một cách
chặt chẽ, đảm bảo sự bình đẳng về nhiệm vụ và quyền hạn của hai bên Tuy
nhiên, sự phức tạp đó không đến với họ khi sử dụng cách thứ hai Do mối quan
hệ được tách làm hai, những người cần vốn luôn luôn có thể đòi hỏi ở các trung
gian tài chính bất cứ một yêu cầu nào về vốn nào, trong khi những người thừa
tiền hoàn toàn có thể tin tưởng giao tiền của mình cho các trung gian tài chính vì
những tổ chức đó nắm thông tin rất tốt Thêm vào đó vì những trung gian tài
chính thực hiện nhiệm vụ chuyên biệt với số lượng lớn các giao dịch nên chi phí
cho mỗi lần giao dịch là hầu như không đáng kể.Do vậy, điều dễ hiểu là tại sao
các trung gian tài chính lại quan trọng nhiều hơn các tài chính trực tiếp và phần
lớn số vốn cung cấp cho nền kinh tế đều thông qua trung gian tài chính này
Các trung gian tài chính được chia ra thành nhiều loại khác nhau như các
ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ hỗ trợ… song có thể nói
ngân hàng là đại diện lý tưởng cho trung gian tài chính vì chức năng cơ bản của
trung gian tài chính được thể hiện một cách đầy đủ thông qua hoạt đông ngân
hàng
Các ngân hàng có lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu Trước đây hệ
thống ngân hàng chỉ có một cấp Tuy nhiên, do vai trò quan trọng và tầm ảnh
hưởng rộng lớn của nó, hệ thống ngân hàng hiện nay chia thành hai cấp bao gồm
Ngân hàng Trung ương và Ngân hàng Thương mại Ngân hàng Trung ương làm
nhiệm vụ quản lý Nhà nước về các hoạt động của ngân hàng thương mại và thực
hiện chính sách tiền tệ Còn những ngân hàng thươngmại mới là những đơn vị
thực hiện nhiệm vụ cơ bản của một ngân hàng Do vậy, các ngân hàng thương
mại chính là đối tượng được đề cập đến trong bài viết này
Vì ngân hàng thương mại thực hiện những chức năng cơ bản của trung
gian tài chính nên cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng Theo cách hiểu
hiện nay, ngân hàng thương mại là một tổ chức được thực hiện các hoạt động
Trang 5kinh doanh tiền tệ, dịch vụ ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên
quan với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín
dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán Nói ngắn gọn hơn, hoạt động của
ngân hàng thương mại được chia ra làm hai lĩnh vực cơ bản: Cấp tín dụng và
làm dịch vụ (nhận tiền gửi, thanh toán…), theo thời gian ngày càng được bổ
sung và hoàn thiện
Cấp tín dụng: là việc ngân hàng thoả thuận để khách hàng sử dụng một
khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu,
cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác, trong đó phần lớn
cho vay Như vậy, cho vay là một hình thức của cấp tín dụng, theo đó ngân hàng
sẽ giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn
nhất định với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi.Cho vay chính là một nội
dung chủ yếu của hoạt động ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh chủ
chốt của ngân hàng thương mại để tạo ra lợi nhuận Chỉ có lãi suất thu được từ
cho vay mới bù nổi chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và quản
lý chi phí trôi nổi, chi phí thuê các loại và chi phí rủi ro đầu tư Bởi vì, như
chúng ta đã biết bất cứ một tổ chức sản xuất kinh doanh nào muốn tồn tại và
phát triển đều phải tìm kiếm lợi nhuận và bảo đảm an toàn trong hoạt động kinh
doanh của mình Đối với một tổ chức kinh doanh như ngân hàng thương mại, lợi
nhuận thu được chủ yếu từ hoạt động cho vay bằng cách đặt một lãi suất cao hơn
lãi suất phải trả cho việc huy động Nhưng cũng chính phần lớn lợi nhuận mà
ngân hàng thương mại kiếm được là từ hoạt động cho vay vì vậy buộc các ngân
hàng thương mại phải thận trọng trong từng quyết định cho vay, bảo đảm sao
cho các khoản vay đều luôn tuân thủ nguyên tắc có hoàn trả gốc lẫn lãi, một
nguyên tắc được xem như là bất di bất dịch, là cơ sở đảm bảo cho hoạt động
ngân hàng được liên tục và phát triển Do vậy để thực hiện trọn vẹn nguyên tắc
hoàn trả, ngoài việc xây dựng quy trình cho vay khoa học, chặt chẽ, các ngân
hàng thương mại phải chú trọng tới việc phân tích, đánh giá khả năng đảm bảo
của khoản vay, hay nói cách khác, các ngân hàng thương mại phải xem xét đến
vấn đề bảo đảm tiền vay
Trang 61.2 Tính tất yếu của vấn đề bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương
mại
Để làm rõ tại sao việc bảo đảm tiền vay lại là một điều tất yếu, cần xem
xét đến mục đích cũng như rủi ro gặp phải của ngân hàng thương mại khi thực
hiện cho vay
1.2.1.Mục đích của ngân hàng thương mại khi thực hiện cho vay
Như đã đề cập, cho vay là hoạt động chủ yếu và đem lại phần lớn lợi
nhuận cho các ngân hàng thương mại Bằng nguồn vốn huy động được, các ngân
hàng thương mại tiến hành cho vay đối với nền kinh tế và khi cho vay thì ngân
hàng thương mại luôn có những mục tiêu cụ thể, nhưng thực chất đều hướng tới
hai mục đích cuối cùng là an toàn và lợi nhuận
Lợi nhuận luôn là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ một tổ chức kinh tế
nào Ngân hàng thương mại cũng không nằm ngoài quy luật này Giữa việc tìm
kiếm lợi nhuận và cho vay có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Cho vay chính là
cơ sở của việc nhận tiền gửi, vì nó quyết định việc có trả được tiền gửi cùng với
lãi suất tiền gửi hay không Hơn nữa, chuỗi hoạt động của ngân hàng, từ nhận
tiền gửi đến khi cho vay và thu về khoản vay cộng với lãi tiền vay, trả tiền gửi
và lãi tiền gửi Không phải chỉ ngân hàng làm nhiệm vụ của một chiếc cầu nối
giữa người thiếu vốn và người thừa vốn, mà hơn cả, đó chính là quy trình tìm
kiếm và thu về lợi nhuận của ngân hàng.Thêm vào đó, do các khoản cho vay là
kém lỏng nhất và có rủi ro không trả được cao nhất nên các ngân hàng cũng phải
thu lợi nhuận cao nhất từ các khoản cho vay này Nhưng liệu lợi nhuận hay khả
năng sinh lợi có phải là yếu tố cao nhất và duy nhất chi phối hoạt động cho vay
hay không?
Một đặc trưng riêng có của các ngân hàng thương mại nhằm phân biệt với
các tổ chức tài chính khác là ngân hàng cho vay dựa trên số tiền của các tổ chức,
cá nhân gửi tiền vào ngân hàng mà không phải của chính ngân hàng Vì vậy tuy
đồng vốn cho vay ra nằm trong sự kiểm soát của ngân hàng nhưng vẫn phải
chịu sức ép từ phía người gửi tiền Một khoản vay có chất lượng không tốtkhông
những khiến ngân hàng bị thiệt hại mà còn gây tâm lý e ngại, lo lắng đối với
Trang 7những người đã và sẽ gửi tiền vào ngân hàng, đồng thời khiến những người gửi
tiền đồng loạt đến ngân hàng để rút tiền làm cho ngân hàng rơi vào tình trạng
mất khả năng thanh toán, có nguy cơ dẫn đến phá sản Vì vậy cần thấy rằng một
khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng thì mong muốn kiếm một khoản lãi từ số
tiền gửi không phải là yếu tố chi phối hàng đầu mà là sự tín nhiệm, tin tưởng đối
với ngân hàng Chính vì sự tín nhiệm kéo theo trách nhiệm này, ngân hàng buộc
phải cân nhắc xem xét kỹ từng khoản vay trước cũng như trong suốt quá trình
cho vay Nhiều khi, dù khả năng sinh lời vẫn được coi là hàng đầu, ngân hàng
vẫn phải gác lại để nhường chỗ cho những nguyên tắc đạo đức đã trở thành trụ
cột cho hoạt động ngân hàng vì lợi ích của người gửi tiền bằng sự an toàn cho
các khoản cho vay và bảo đảm uy tín cho ngân hàng
Nói tóm lại, mỗi khoản cho vay ngân hàng đều không nằm ngoài mục
đích an toàn và lợi nhuận Tuy nhiên, cần phải thấy rằng mục tiêu lợi nhuận chỉ
có thể đạt được khi mục tiêu an toàn được đảm bảo
1.2.2 Rủi ro trong cho vay
Theo quan niệm của các nhà quản lý hoạt động ngân hàng thì rủi ro được
hiểu là những tổn thất phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của các
ngân hàng thương mại Có nhiều loại rủi ro như rủi ro cho vay, rủi ro lãi suất, rủi
ro thanh khoản, rủi ro tỷ giá
Rủi ro cho vay thuần tuý là rủi ro gặp phải do người cho vay đến hạn
không trả được nợ hoặc không tuân thủ đúng các điều kiện thoả thuận cho hợp
đồng tín dụng giữa người vay và ngân hàng Rủi ro cho vay thuần tuý được chia
làm hai loại: rủi ro thông thường và rủi ro đầu cơ Rủi ro thông thường là rủi ro
gây nên do công tác quản lý kém, tính toán sai, thể hiện trong cho vay và kỹ
thuật phân tích tín dụng kém Còn rủi ro đầu cơ là loại rủi ro luôn đi kèm với lợi
nhuận với ý nghĩa: rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng lớn Vì vậy, rủi ro đầu cơ
có sự chấp thuận tuỳ thuộc vào người kinh doanh Người kinh doanh phải lường
trước được rủi ro mà nếu muốn đạt được một mức lợi nhuận cao nào đó, họ phải
chấp nhận rủi ro đó
Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu ở đây không đề cấp đến rủi ro đầu cơ mà
Trang 8chính rủi ro thông thường mới là rủi ro mà bất cứ một ngân hàng thương mại
nào đều muốn nó không xảy ra hoặc chỉ ít cũng phải giảm đến mức tối thiểu để
đạt được mục đích (nói như vậy không có nghĩa là rủi ro đầu cơ không hướng
tới lợi nhuận siêu ngạch dành cho các món vay mạo hiểm và như vậy nó không
nằm trong phạm vi nghiên cứu cuả bài viết này) Sự kết hợp hai vấn đề trên:
Mục đích an toàn và lợi nhuận của các khoản vay có thể gặp nhằm rút ra một
điều: các khoản vay để có thể giảm được tối thiểu rủi ro nhằm đạt đến mục đích
đòi hỏi phải xem xét đến tính bảo đảm ngay từ khi quyết định cho vay
2 Hợp đồng tín dụng ngân hàng
Trong công tác tín dụng thì việc đảm bảo tiền vay là điều rất quan trọng,
trong đó hợp đồng tín dụng là cơ sở pháp lý cho việc đảm bảo tiền vay, chính vì
vậy sau đây ta đi tìm hiểu những quy định về hợp đồng tín dụng
2.1 Khái niệm về hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng ngân hàng là sự thoả thuận bằng văn bản giữa ngân
hàng với các pháp nhân, thể nhân nhằm phát sinh thay đổi hoặc chấm dứt các
quyền và nghĩa vụ nhất định trong việc chuyển giao quyền sử dụng vốn tạm thời
từ người cho vay sang người vay theo nguyên tắc hoàn trả dựa trên cơ sở pháp
luật
Hợp đồng tín dụng ngân hàng chính là hình thức pháp lý của quan hệ tín
dụng ngân hàng, nó phản ánh sự thoả thuận trực tiếp của các bên trong việc xác
định lập một quan hệ tín dụng, xác lập các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của
các bên trong việc vay và hoàn trả vốn vay
2.2 Đặc điểm của hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng ngân hàng được thoả thuận bằng văn bản giữa bên cho
vay và bên đi vay
Hợp đồng tín dụng ngân hàng được thực hiện giữa tổ chức tín dụng với
pháp nhân và cá nhân theo quy định của pháp luật
Hợp đồng tín dụng ngân hàng có sự bắt buộc phải có các biện pháp bảo
đảm thực hiện hợp đồng: cầm cố, thế chấp bảo hành… Đây là điểm bắt buộc áp
dụng chứ không đơn thuần là sự thoả thuận trong hợp đồng
Trang 9Một bên ký kết hợp đồng phải là tổ chức tín dụng
Sau khi ký kết hợp đồng thì người sở hữu tiền tệ phải giao quyền sử dụng
tiền tệ đó cho người vay trong thời gian nhất định, được quy định trong hợp
đồng
Hết thời hạn sử dụng, người sử dụng phải hoàn trả cho người sở hữu tiền
tệ với số tiền là cả gốc lẫn lãi
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, người cho vay chỉ trao quyền sử dụng
vốn chứ không trao quyền sở hữu
Hợp đồng tín dụng ngân hàng được ký kết bằng hình thức văn bản, ngôn
ngữ được sử dụng trong hợp đồng là tiếng việt (có thể kèm theo một bản tiếng
* Chủ thể cho vay: Các loại ngân hàng sau là người cho vay trong các
quan hệ pháp luật tín dụng ngân hàng
+ Ngân hàng Nhà nước là người cho vay trong quan hệ các tổ chức tín
dụng và kho bạc Nhà nước
+ Ngân hàng thương mại là người cho vay trong quan hệ với các pháp
nhân và thể nhân
*Chủ thể đi vay:
+ Là các pháp nhân: Doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty TNHH,
công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
+ Là cá nhân có đủ năng lực hành vi dân sự
+ Là hộ gia đình, tổ hợp tác, công ty hợp danh
* Khách thể:
Khách thể của quan hệ pháp luật là những lợi ích vật chất (hoặc phi vật
chất) mà các chủ thể nhằm hướng tới khi tham gia vào quan hệ pháp luật đó
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, mục tiêu ý chí mà các chủ thể hướng
Trang 10tới là việc chuyển giao một số tiền nhất định từ người cho vay sang người đi vay
để thoả mãn lợi ích của các bên Do đó về mặt lý luận có thể coi khách thể của
quan hệ tín dụng ngân hàng là tiền và các giấy tờ có giá khác
Trong thực tế các chủ thể đều hướng tới việc chuyển giao một số tiền nhất
định nhưng mục đích của từng chủ thể có khác nhau Ngân hàng cho vay nhằm
mục đích kiếm lãi Khách hàng vay nhằm thoả mãn nhu cầu về vốn trong kinh
doanh
2.3.2 Nội dung của hợp đồng tín dụng ngân hàng
Hợp đồng tín dụng ngân hàng gồm có những nội dung sau:
+ Tên, địa chỉ các bên ký kết
+ Số tiền vay bằng cả chữ và số
+ Điều kiện vay
+ Mục tiêu sử dụng vốn
+ Phương thức cho vay
+ Lãi suất với số vốn vay
+ Thời hạn vay
+ Hình thức bảo đảm
+ Quyền của bên cho vay
+ Quyền và nghĩa vụ của bên đi vay
2.3.3 Quá trình ký kết hợp đồng
* Đơn xin vay: Do chủ thể đi vay làm theo mẫu in sẵn của ngân hàng
hoặc tổ chức tín dụng gửi tới chủ thể đi vay Trong đó trình bày rõ số tiền định
vay, phương án sử dụng vốn vay, thời hạn vay, phương thức bảo đảm tiền vay…
có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc đại diện của doanh nghiệp
* Thẩm định hồ sơ xin vay: Do cán bộ của tổ chức tín dụng thẩm định,
thẩm định về tư cách pháp lý, phương án sử dụng vốn, phương án trả nợ của chủ
thể đi vay
* Quyết định cho vay: Sau khi được cấp có thẩm quyền của tổ chức tín
dụng xem xét, việc cho vay có thể thực hiện hay không phụ thuộc vào điều lệ
của tổ chức tín dụng
Trang 112.3.4 Thực hiện hợp đồng
Là quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên
+ Quyền và nghĩa vụ của bên cho vay
+ Quyền của bên cho vay
+ Kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của
khách hàng
+ Chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng
cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm hợp đồng tín dụng
+ Khởi kiện khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng hoặc người bảo lãnh
theo quy định của pháp luật
+ Khi đến hạn trả nợ mà khách hàng không trả nợ Nếu các bên không có
thoả thuận khác, thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm vốn ay theo
sự thoả thuận trong hợp đồng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật hoặc
theo yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với trường hợp
khách hàng được bảo lãnh vay vốn, chỉnh kỳ hạn nợ thực hiện theo quy định tại
quy chế này: mua bán nợ theo quy định của ngân hàng Nhà nước Việt nam và
thực hiện việc đảo nợ, khoanh nợ, xoá nợ theo quy định của chính phủ và hướng
dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Nghĩa vụ của bên cho vay:
+ Thực hiện đúng thoả thuận trong hợp đồng tín dụng
+ Lưu giữ hồ sơ tín dụng phù hợp với qui định của pháp luật
* Quyền và nghĩa vụ của bên đi vay
Trang 12vốn và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin, tài liệu đã cung cấp
+Sử dụng vốn vay đúng mục đích, thực hiện đúng các nội dung đã thoả
thuận trong hợp đồng tín dụng và các kết khác
+ Trả nợ cả gốc và lãi và với vốn vay theo thoả thuận trong hợp đồng tín
dụng
+ Chịu trách nhiệm đúng pháp luật khi không thực hiện đúng các thoả
thuận về việc trả nợ vay và thực hiện đúng những thoả thuận về việc trả nợ vay
và thực hiện các nghĩa vụ bảo đảm nợ vay đã cam kết trong hợp đồng tín dụng
2.3.5 Giải quyết tranh chấp
Trong hợp đồng tín dụng thì được chia làm hai loại là hợp đồng kinh tế và
hợp đồng dân sự Vì trong bài viết này chỉ đề cập đến hợp đồng kinh tế nên ở
đây chỉ có cách giải quyết là hợp đồng kinh tế
Đối với hợp đồng tín dụng là hợp đồng kinh tế thì giải quyết tranh chấp
theo pháp lệnh hợp đồng kinh tế, những thủ tục và quá trình giải quyết phải tuân
theo pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồngg kinh tế
Sau đây ta đi tìm hiểu chế độ pháp lý về bảo đảm tiền vay trong hợp đồng
tín dụng là hợp đồng kinh tế
II CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY TRONG HỢP
ĐỒNG TÍN DỤNG
1 Bảo đảm tiền vay
1.1 Khái niệm bảo đảm tiền vay
Bảo đảm tiền vay là việc các tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp
phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách
hàng vay
* Các tổ chức tín dụng(ở đây) bao gồm: Tổ chức tín dụng nhà nước, tổ
chức tín dụng cổ phần, tổ chức tín dụng hợp tác (Ngân hàng hợp tác, quỹ tín
dụng nhân dân, hợp tác xã tín dụng) tổ chức tín dụng liên doanh, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, tổ chức tín dụng phi ngân hàng100%
vốn nước ngoài
Trang 13* Khách hàng vay bao gồm:
- Các pháp nhân không phải là tổ chức tín dụng: doanh nghiệp nhà nước,
công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, hợp tác xã, các tổ chức khác có đủ điều kiện pháp nhân theo quy định tại
điều 94 của Bộ luật dân sự
Như đã đề cập, ngân hàng là tổ chức hoạt động về mục tiêu an toàn và lợi
nhuận đối với các khoản nợ khi cho khách hàng vay vốn Chính vì vậy, khách
hàng vay vốn của ngân hàng phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
+ Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng
+ Phải hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng hạn đã thoả thuận trong hợp
đồng tín dụng
+Việc bảo đảm tiền vay phải thực hiện theo quy định của chính phủ,
thống đốc ngân hàng nhà nước và hướng dẫn của ngân hàng thương mại đối với
khách hàng
1.2 Nguyên tắc bảo đảm tiền vay
Theo điều 4, nghị định 178/1999/NĐ - CP ngày 29/12/1999 của chính phủ
về bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng, khi cho vay có bảo đảm phải tuân thủ
các nguyên tắc sau:
+ Tổ chức tín dụng có quyền lựa chọn, quyết định việc cho vay có bảo
đảm bằng tài sản, cho vay không có bảo đảm bằng tài sản theo quy định của
nghị định 178/1999/NĐ - CP ngày 29/12/1999 của chính phủ về bảo đảm tiền
vay của các tổ chức tín dụng và chịu trách nhiệm về quyết định của mình
Trường hợp tổ chức tín dụng nhà nước cho vay không có bảo đảm bằng tài sản
theo chỉ thị của chính phủ thì tổn thất do nguyên nhân khách quan của các khoản
Trang 14vay này được chính phủ xử lý
+ Tổ chức tín dụng được lựa chọn cho vay không có bảo đảm bằng tài sản
nếu trong quá trình sử dụng vốn vay, tổ chức tín dụng phát hiện khách hàng vay
vi phạm cam kết trong hợp đồng tín dụng thì tổ chức có quyền áp dụng các biện
pháp bảo đảm bằng tài sản hoặc thu hồi nợ trước thời hạn
+ Tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định
của nghị định 178/1999/NĐ- CP ngày29/11/99 của chính phủ về bảo đảm tiền
vay của tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật có liên quan để thu
hồi nợkhi khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ trả nợ
+ Sau khi xử lý tài sản bảo đảm tiền vay, nếu khách hàng vay hoặc bên
bảo lãnh vẫn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, thì khách hàng vay hoặc bên
bảo lãnh có trách nhiệm tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết
1.3 Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản trong hợp đồng tín
dụng
Trong hợp đồng tín dụng thì được chia làm hai loại hợp đồng kinh tế và
hợp đồng dân sự, ở đây tôi chỉ đề cập đến các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng
tài sản trong hợp đồng tín dụng là hợp đồng kinh tế sau đây:
+Bảo đảm tiền vay bằng tài sản theo hình thức cầm cố quy định tại một số
văn bản như Quy chế thế chấp,cầm cố tài sản và bảo lãnh vay vốn ngân hàng
ban hành kèm theo quyết định số 217/QĐ - NH1 của Thống đốc ngân hàng Nhà
nước ngày 17/8/1996
+ Bảo đảm tiền vay bằng tài sản theo hình thức thế chấp cũng được quy
định tại một số văn bản như ở biện pháp cầm cố
+ Bảo đảm tiền vay bằng hình thức bảo lãnh cũng được quy định trong
một số văn bản của cầm cố, thế chấp
+ Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay Theo Quy chế thế
chấp cầm cố và Nghị định178/NĐ - CP ngày29/12/1999 của chính phủ về bảo
đảm tiền vay tại các tổ chức tín dụng
Đó là các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản trong hợp đồng tín
Trang 15dụng Sau đây ta đi tìm hiểu những quy định cụ thể của từng biện pháp bảo đảm
tiền vay
2 Chế độ pháp lý về bảo đảm tiền vay bằng tài sản theo hình thức
cầm cố
2.1 Bản chất của cầm cố
Tại điều 2, Quy chế thế chấp, cầm cố tài sản và bảo lãnh vay vốn ngân
hàng ban hành theo Quyết định số 217/QĐ - NH1của Thống đốc ngân hàng Nhà
nước ngày17/8/1996 quy định: Cầm cố tài sản vay vốn của ngân hàng là việc
bên vay vốn (bên cầm cố) có nghĩa vụ giao tài sản là động sản thuộc sở hữu của
mình cho tổ chức tín dụng (bên nhận cầm cố) để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả
nợ (bao gồm nợ gốc lãi và tiền phạt nếu có) Nếu tài sản mà pháp luật quy định
phải đăng ký quyền sở hữu thì các bên có thể thoả thuận bên cầm cố vẫn có thể
giữ tài sản cầm cố và giao bản gốc giấy tờ quyền sở hữu cho bên nhận cầm cố
giữ
Đối tượng của cầm cố là động sản, đó là những tài sản có thể di dời được,
có giá trị và được phép giao dịch trên thị trường Trong một số trường hợp đặc
biệt, những tài sản có thể di dời được nhưng có giá trị rất lớn như máy bay, tàu
thuỷ thì được coi là bất động sản
Một tài sản có đăng ký quyền sở hữu có thể cầm cố để đảm bảo thực hiện
nhiều nghĩa vụ dân sự, nếu có giá trị lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được đảm
bảo, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác
2.2 Chủ thể trong quan hệ cầm cố
Quan hệ cầm cố trong hợp đồng tín dụng là quan hệ phụ thuộc vào quan
hệ hợp đồng tín dụng, bởi vì nó chỉ phát sinh quan hệ hợp đồng tín dụng, chính
vì thế chủ thể của quan hệ hợp đồng tín dụng ngân hàng cũng là chủ thể của
quan hệ cầm cố Theo quy chế thế chấp, cầm cố tài sản và bảo lãnh vay vốn
ngân hàng ban hành theo quyết định số 217/QĐ -NH1 ngày17/8/1996 thì chủ thể
tham gia vào quan hệ cầm cố gồm:
Bên cầm cố: Các tổ chức, tổ hợp tác, hộ gia đình có đủ điều kiện theo quy
định của pháp luật
Trang 16Bên nhận cầm cố: Ngân hàng thương mại quốc doanh, Ngân hàng đầu tư
và phát triển, Ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân hàng liên doanh, chi nhánh
Ngân hàng nhà nước tại Việt Nam, công ty tài chính, hợp tác xã tín dụng
2.3 Đối tượng của quan hệ cầm cố
Như đã nói ở trên, cầm cố tài sản là việc bên cầm cố dùng tài sản là động
sản thuộc sở hữu của mình giao lưu bên nhận cầm cố để đảm bảo thực hiện
nghĩa vụ của mình đã cam kết Quyền tài sản được phép giao dịch cũng có thể
được cầm cố
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, biện pháp cầm cố cũng được thực hiện
như trên Tài sản cầm cố gồm:
+ Máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, nhiên liệu, hàng tiêu dùng, kim khí
quý, đá quý
+ Ngoại tệ bằng tiền mặt, số dư trên tài sản tiền gửi tại tổ chức tín dụng
bằng Việt Nam đồng, ngoại tệ
+ Trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, sổ tiêt
kiệm, thương phiếu, các giấy tờ khác trị giá được bằng tiền Riêng đối với cổ
phiếu của tổ chức tín dụng phát hành thì tổ chức tín dụng đó không được nhận
làm tài sản cầm cố
+ Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp,
quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm, các quyền tài sản khác phát
sinh từ hợp đồng hoặc các căn cứ pháp lý khác
+ Quyền đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, kể cả trong doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
+ Quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên theo quy định của pháp luật
+ Tàu biển theo quy định của Bộ luật hàng hải Việt Nam, tàu bay theo quy
định của luật hàng không dân dụng Việt Nam trong trường hợp được cầm cố
+Các tài sản khác theo quy định của pháp luật
Trang 172.4 Nội dung của quan hệ cầm cố
Nội dung của quan hệ cầm cố trong hợp đồng tín dụng ngân hàng là việc
bên cầm cố giao tài sản là động sản thuốc sở hữu của mình cho bên nhận cầm cố
để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ Đối với tài sản đăng ký quyền sở hữu thì
các bên có thể thoả thuận tài sản do bên cầm cố giữ và giao giấy tờ gốc cho bên
nhận cầm cố giữ Những loại tài sản này có thể dùng để cầm cố cho nhiều lần
vay, mỗi lần vay tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc ưu tiên thanh toán
các khoản nợ do các tổ chức tín dụng thoả thuận trong hợp đồng hoặc theo thứ
tự đăng ký giao dịch bảo đảm
Khi xác lập quan hệ cầm cố tài sản, các bên trong mối quan hệ trong đó
có những quyền và nghĩa vụ nhất định Theo Quy chế thế chấp cầm cố tài sản và
bảo lãnh vay vốn ngân hàng kèm theo quyết định số 217/QĐ - NH1 của Thống
đốc ngân hàng nhà nước ngày 17/8/1996, thì các chủ thể có các quyền và nghĩa
vụ sau đây:
+ Giao tài sản cầm cố theo đúng quy định trong thoả thuận, nếu các giấy
tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản cầm cố thì phải giao cho bên nhận cầm cố
bản gốc giấy tờ đó, trừ trường hợp có khả năng thoả thuận khác
+ Báo cho bên nhận cầm cố về quyền của bên thứ ba đối với tài sản nếu
có:
+ Đăng ký việc cầm cố, nếu tài sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy
định của pháp luật
+ Thanh toán cho bên nhận cầm cố chi phí cần thiết để bảo quản, giữ gìn
tài sản cầm cố trừ trường hợp có thoả thuận khác
+ Trong trường hợp vẫn giữ tài sản cầm cố thì phải bảo quản không được
bán trao đổi, tặng cho, cho thuê, cho mượn và chỉ được sử dụng nếu được sự
đồng ý của người nhận cầm cố Nếu do sử dụng mà tài sản cầm cố có nguy cơ bị
mất giá trị hoặc giảm sút giá trị, thì bên cầm cố không được tiếp tục sử dụng
theo yêu cầu của bên nhận cầm cố
* Quyền của bên cầm cố tài sản
+ Yêu cầu bên nhận cầm cố đình chỉ tài sản cầm cố, nếu do sử dụng mà
Trang 18tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giá trị bị giảm sút
+ Yêu cầu bên nhận cầm cố giữ tài sản cầm cố hoặc người thứ ba giữ tài
sản cầm cố hoàn trả tài sản cầm cố sau khi nghĩa vụ đã được thực hiện, nếu bên
nhận cầm cố chỉ giữ giấy tờ chứng nhận sở hữu tài sản cầm cố thì yêu cầu hoàn
trả giấy tờ đó
+ Yêu cầu bên nhận cầm cố giữ tài sản cầm cố hoặc người thứ ba giữ tài
sản cầm cố bồi thường thiệt hại xảy ra đối với tài sản cầm cố
* Quyền của bên nhận cầm cố:
+ Yêu cầu người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố hoàn trả
tài sản đó
+ Yêu cầu bên cầm cố đăng ký việc cầm cố, nếu tài sản phải đăng ký
quyền sở hữu theo quy định của pháp luật
+ Yêu cầu xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thoả thuận hoặc theo
qui định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ nếu bên cầm cố không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
+ Được khai thác công dụng cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản
cầm cố nếu có thoả thuận
+ Được thanh toán chi phí hợp lý chi phí bảo quản tài sản cầm cố khi trả
lại tài sản cho bên cầm cố
* Nghĩa vụ của bên cầm cố tài sản:
+ Bảo quản giữ gìn tài sản như tài sản của chính mình
+ Không được bán, trao đổi, tặng cho cho thuê cho mượn tài sản cầm cố
Không được đem tài sản cầm cố để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ khác
+ Không được khai thác công dụng hưởng hoa lợi tức từ tài sản cầm cố
nếu không được bên cầm cố cho phép
+ Trả lại tài sản cầm cố khi nghĩa vụ bảo đảm chấm dứt hoặc được thay
thế bằng biện pháp bảo đảm khác
+ Bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố nếu làm mất hoặc làm hư hỏng tài
sản cầm cố
2.5 Hình thức của cầm cố tài sản
Trang 19Theo quy chế thế chấp tài sản và bảo lãnh vay vốn ngân hàng kèm theo
quyết định số 217/QĐ - NH1 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ngày
17/8/1999 thì cầm cố tài sản trong quan hệ hợp đồng tín dụng phải được thành
lập văn bản cam kết hoặc hợp đồng cầm cố tài sản (gọi chung là hợp đồng cầm
cố tài sản), hợp đồng này phải được lập dưới hình thức văn bản riêng hoặc ghi
trong hợp đồng chính Dù được lập dưới hình thức nào hợp đồng cầm cố tài sản
trong quan hệ hợp đồng tín dụng cũng phải có các nội dung sau:
+ Tên và địa chỉ của các bên;
+ Họ tên chức vụ người đại diện hợp pháp của cả hai bên;
+ Số ngày, tháng, năm của hợp đồng tín dụng (ký kết);
+ Loại tài sản cầm cố.;
+ Số tiền được vay;
+ Phương thức xử lý tài sản;
+ Quyền và nghĩa vụ của các bên;
+ Cam kết trong việc thực hiện hợp đồng
2.6 Xử lý tài sản cầm cố
Do việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp, bảo lãnh trong quan hệ tín dụng,
cũng như trong việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự có cùng tính chất nên
pháp luật quy định việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp, bảo lãnh được thực hiện
một cách tương tự nhau Do vậy trong phần này tôi xin trình bày toàn bộ việc xử
lý tài sản cầm cố, thế chấp, bảo lãnh như sau:
Cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản trong việc ký kết hợp đồng tín
dụng chỉ là một biện pháp phòng ngừa việc bên có nghĩa vụ không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng, đầy đủ nghĩa vụ với bên có quyền Do đó, nó chỉ
được đặt ra khi bên có nghĩa vụ vi phạm cam kết đối với bên có quyền để bù đắp
những thiệt hại, những mất mát mà bên có nghĩa vụ gây ra
Điều 341, Bộ luật dân sự nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
thông qua ngày 28/10/1995 quy định "Khi đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên
cầm cố vẫn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã thoả thuận
thì tài sản cầm cố được xử lý theo phương thức do hai bên đã thỏa thuận hoặc
Trang 20được bán đấu giá để thực hiện nghĩa vụ Bên nhận cầm cố được ưu tiên thanh
toán từ số tiền bán tài sản cầm cố sau khi trừ đi chi phí bảo quản và chi phí đấu
giá?
Điều 356 quy định "Trong trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà
bên thế chấp vẫn không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
đã thoả thuận, thì bên thế chấp có quyền bán đấu giá tài sản thế chấp để thực
hiện nghĩa vụ trừ trường hợp có thoả thuận khác
Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào bộ luật dân sự để xử lý tài sản bảo đảm thì thật
khó, bởi lẽ những quy định còn mang tính chung chung, rất khó thực hiện trên
thực tế Quy chế thế chấp tài sản, cầm cố tài sản và bảo lãnh vay vốn ngân hàng
kèm theo quyết định số 217/QĐ - NH1của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt
Nam thông qua ngày 17/8/1996 đã quy định cụ thể hoá những vấn đề liên quan
đến việc xử lý tài sản thế chấp cầm cố và bảo lãnh
Khoản a, b điều 13 Quy chế thế chấp, cầm cố tài sản và bảo lãnh vay vốn
ngân hàng theo Quyết định số 217/QĐ - NH1 ngày 17/8/1996 quy định: "Xử lý
tài sản thế chấp, cầm cố và bảo lãnh theo phương thức thoả thuận trong hợp
đồng, như gán nợ cho bên nhận bảo đảm chính tài sản đó; Tự đấu giá hoặc đề
nghị cơ quan có thẩm quyền bán đấu giá Đối với những tài sản của doanh
nghiệp Nhà nước mà pháp luật quy định phải được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cho phép thế chấp cầm cố thì khi xử lý phải có ý kiến của cơ quan nhà
nước đó Trong trường hợp có tranh chấp, thì các bên có thể yêu cầu cơ quan có
thẩm quyền giải quyết hoặc khởi kiện tại toà án
Như vậy, trong quy chế thế chấp cầm cố tài sản và bảo lãnh vay vốn ngân
hàng kèm theo quyết định số 217/QĐ - NH1 ngày 17/8/96 đã đề cập đến phương
thức xử lý tài sản khá cụ thể, đặc biệt là cho phép các bên tự đấu giá tài sản, đó
cũng là khâu quan trọng giảm bớt các chi phí trung gian Khoản 2 điều 37, nghị
định số 165/1999/NĐ - CP ngày 19/1/1999 của chính phủ về giao dịch đảm bảo
quy định: "Trong trường hợp một tài sản được dùng để đảm bảo nhiều nghĩa vụ,
thì tiền bán được thanh toán theo thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm" tổ chức tín
dụng nào cho vay trước có quyền thanh toán trước Mặt khác, việc đa dạng hoá
Trang 21các phương thức xử lý tài sản đảm bảo là điều kiện cho phép các bên có thể tìm
ra phương thức phù hợp nhất, đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của các bên
Trong trường hợp việc xử lý được thực hiện thông qua tổ chức bán đấu giá
chuyên nghiệp, thì phải tuân theo các quy định của nghị quyết 86/NĐ-CP ngày
19/12/1996 của chính phủ ban hành theo quy chế bán đấu giá tài sản
3 Chế độ pháp lý về bảo đảm tiền vay bằng tài sản theo hình thức
thế chấp
3.1 Bản chất của thế chấp
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, thế chấp cũng được sử dụng như một
biện pháp bảo đảm hợp đồng tín dụng Theo điều 7 quy chế thế chấp cầm cố tài
sản và bảo hành vay vốn ngân hàng kèm theo quyết định số 2/7/QĐ - NH, của
thống đốc Ngân hàng nhà nước ngày 17/8/1996,"thế chấp vay vốn Ngân hàng là
việc bên vay vốn (gọi là bên thế chấp) dùng tài sản là bất động sản thuộc sở
hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với bên vay (gọi là bên
nhận thế chấp)" Việc quy định như vậy, pháp luật Việt Nam thừa nhận một số
hình thức thế chấp sau:
Thế chấp gián tiếp, là hình thức thế chấp mà trong đó khách hàng vay
(bên thế chấp) dùng tài sản là bất động sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo
cho một khoản vay Điều này có nghĩa là tiền vay được sử dụng cho việc khác
chứ không có nghĩa để dùng xây dựng hay mua sắm tài sản thế chấp Hình thức
này được sử dụng phổ biến tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Thế chấp trực tiếp: Là hình thức thế chấp mà trong đó khách hàng vay
dùng chính tài sản hình thành từ vốn vay làm vật bảo đảm cho chính khoản vay
đó, đối với hình thức này, tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng các bên chưa
phải ký hợp đồng thế chấp mà phải chờ đến lúc tài sản được hình thành các bên
mới ký hợp đồng thế chấp
Tóm lại, thế chấp tài sản là một biện pháp bảo đảm trong quan hệ hợp
đồng tín dụng được pháp luật thừa nhận theo đó bên cho vay dùng tài sản thuộc
sở hữu của mình để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho khoản vay
3.2 Chủ thể trong quan hệ thế chấp
Trang 22Quan hệ thế chấp trong hợp đồng tín dụng là quan hệ phụ thuộc vào quan
hệ hợp đồng tín dụng, bởi vì nó chỉ phát sinh khi phát sinh quan hệ hợp đồng tín
dụng Chính vì thế, chủ thể của quan hệ hợp đồng tín dụng ngân hàng cũng là
chủ thể của quan hệ thế chấp Theo quy chế thế chấp, cầm cố và bảo lãnh vay
vốn ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định 217/QĐ - NH1ngày 17/8/1996thì
chủ thể trong quan hệ thế chấp gồm:
+ Bên nhận thế chấp: Ngân hàng thương mại quốc doanh ngân hàng đầu
tư và phát triển, Ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân hàng liên doanh, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, công ty tài chính, hợp tác xã tín
dụng
+ Bên thế chấp: Các tổ chức, tổ hợp tác, hộ gia đình có đủ điều kiện theo
quy định của pháp luật
3.3.Đối tượng của quan hệ thế chấp
Đối tượng của quan hệ thế chấp là những tài sản có thể sử dụng làm vật
thế chấp
Trên cơ sở đó, trong quan hệ hợp đồng tín dụng ngân hàng việc thực hiện
các biện pháp bảo đảm bằng thế chấp còn dựa trên Quy chế, thế chấp cầm cố tài
sản và bảo lãnh vay vốn ngân hàng kèm theo quyết định 217/CĐ-NH1 Ngân
hàng 17/8/1996 Đó là sự cụ thể hoá những vấn đề thế chấp trong bộ luật dân sự
ngày 28/10/1995, vào lĩnh vực ngân hàng Theo đó đối tượng của thế chấp tài
sản vay vốn ngân hàng là các bất động sản có khả năng giao dịch gồm:
(+) Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả tài sản gắn liền
với nhà ở và công trình xây dựng:
(+) Tài sản có tham gia bảo hiểm thì giá trị hợp đồng bảo hiểm cũng thuộc
tài sản thế chấp:
(+) Các cơ sở sản xuất kinh doanh như: Nhà máy, cửa hàng nhà kho,
khách sạn… và các công cụ máy móc, thiết bị gắn liền với nhà máy, tàu biển,
máy bay
(+) Các tài sản khác theo quy định của pháp luật
Trong quy chế thế chấp cầm cố tài sản và bảo lãnh vay vốn ngân hàng
Trang 23kèm theo quyết định số217/QĐ - NH1 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước ngày
17/8/1996 cũng chỉ ra những tài sản không thể trở thành vật bảo đảm trong quan
hệ thế chấp gồm:
(+) Tài sản đang có tranh chấp:
(+) Tài sản Nhà nước cấm kinh doanh, mua bán, chuyển nhượng
(+) Tài sản không thuộc sở hữu hợp pháp của người thế chấp;
(+) Tài sản đi thuê, đi mượn, tài sản đang bị cơ quan có thẩm quyền giữ,
niêm phong, phong toả, tài sản đang làm thủ tục giải thể phá sản doanh nghiệp;
(+) Tài sản khó bảo quản, kiểm tra, đánh giá, kiểm định
Vấn đề thế chấp quyền sử dụng đất là một vấn đề quan trọng trong điều
kiện hoàn cảnh kinh tế xã hội ở nước ta (đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà
nước thống nhất quản lý) Do đó phải có những quy định cụ thể, rõ ràng về vấn
đề này
Về điều kiện thế chấp quyền sử dụng đất, chương VI Nghị định
17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 của chính phủ về thủ tục chuyển đổi, chuyển
nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn
bằng giá trị quyền sử dụng đất đã quy định điều kiện thế chấp quền sử dụng đất
với tổ chức
Đối với tổ chức:
(+) Đất do nhà nước giao có thu tiền;
(+) Đất chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp;
(+) Đất do nhà nước cho thuê mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời hạn thuế
hoặc đã trả trước tiền thuế cho nhiều năm mà thời gian thuế đất đã trả tiền còn
lại ít nhất là 5 năm;
(+) Ngoài ra các trường hợp trên, tổ chức chỉ được thế chấp tài sản thuộc
sở hữu hợp pháp của mình gắn liền với đất đó
Theo quy chế thế chấp, cầm cố tài sản và bảo hành vay vốn ngân hàng
kèm theo quyết định 217/QĐ-NH1 ngày 17/8/1996 tại điều 24 quy định điều
kiện thế chấp giá trị quyền sử dụng đất:
(+)Bên có thế chấp phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cơ
Trang 24quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đa:
(+) Đất đai không có tranh chấ;
(+) Đất đai có khả năng chuyển nhượng dễ dàng theo quy định của pháp
luật về đất đai
Về xử lý tài sản thế chấp là giá trị quyền sử dụng đất
Quy chế thế chấp cầm cố tài sản và bảo lãnh vay vốn ngân hàng kèm
theo quyết định số 217/QĐ-NH1 ngày 17/8/1996, thì việc xử lý giá trị quyền sử
dụng đất được thực hiện thông qua việc tổ chức bán đấu giá (yêu cầu cơ quan
nhà nước có thẩm quyền bán đấu giá) Tuy nhiên, quyền sử dụng đất với ý nghĩa
là một loại bất động sản, cho nên việc phát mại bằng phương thức bán đấu giá sẽ
khó khăn hơn nhiều so với các loại tài sản thông thường khác Thể hiện ở chỗ
đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý Cho nên trong
mọi trường hợp phát mại phải có sự tham gia, can thiệp các cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền
3.4 Nội dung của thế chấp
Nội dung của thế chấp trong hợp đồng tín dụng ngân hàng là việc bên vay
(bên thế chấp) sử dụng tài sản là bất động sản thuộc sở hữu của mình để đảm
bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ Tài sản là bất động sản do bên thế chấp giữ, trừ
trường hợp các bên có thoả thuận giao cho bên nhận thế chấp giữ hoặc bên thứ
ba giữ "Những tài sản này có đăng ký quyền sở hữu thì một tài sản có thể dùng
để thế chấp cho nhiều lần vay Mỗi lần vay phải đăng ký tại cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền." Việc ưu tiên thanh toán các khoản nợ do các tổ chức tín dụng
thoả thuận trong hợp đồng hoặc theo thứ tự đã đăng ký giao dịch bảo đảm
Khi xác lập quanhệ thế chấp tài sản, các bên trong mối quan hệ đó có
những quyền và nghĩa vụ nhất định Theo Quy chế thế chấp, cầm cố tài sản và
bảo lãnh bay vốn Ngân hàng kèm theo quyết định số 217/8/1996, thì các chủ
thểcó các quyền và nghĩa vụ sau đây
Nghĩa vụ của bên thế chấp:
(+) Đăng ký thế chấp tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;
(+) Đề nghị cơ quan công chứng Nhà nước hoặc thế chấp;
Trang 25(+) Giao bản gốc giấy tờ quyền sở hữu tài sản thế chấp cho bên nhận thế
chấp theo đúng thoả thuận nếu bên thế chấp giữ tài sản thế chấp Đối với giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất phải kèm theo trích lục sơ đồ địa chính khu đất
+ Trong trường hợp vẫn giữ và khai thác tài sản thế chấp thì bên nhận thế
chấp phải bảo quản không được bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, cho mượn,
+ Áp dụng các biện pháp cần thiết kể cả việc ngừng khai thác sử dụng tài
sản thế chấp, nếu do sử dụng tài sản thế chấp có nguy cơ bị mất giá trị hoặc
giảm sút giá trị
+ Bảo quản tài sản thế chấp và giữ đúng giá trị như khi ký hợp đồng,
không tính hao mòn vô hình là yếu tố trượt giá;
+ Chịu mọi chi phí phát sinh về kiểm định, định giá,công chứng và bán
đấu giá tài sản thế chấp, chi phí trả cho bên thứ ba giữ tài sản thế chấp;
Quyền của bên thế chấp tài sản:
+ Được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi từ tài sản, trừ trường hợp hai
bên có thoả thuận hoa lợi cũng thuộc về tàn sản thế chấp;
+ Được nhận lại tài sản thế chấp (trong trường hợp bên nhận thế chấp giữ
tài sản) vàgiấy tờ có liên quan đến tài sản thế chấp khi hoàn thành nghĩa vụ trả
nợ của mình hoặc được thay thế bằng một biện pháp bảo đảm khác
Quyền của bên nhận thế chấp:
+Sử dụng, khai thác công dụng và hưởng hoa lợi từ tài sản thế chấp trong
trường hợp giữ tài sản và có thoả thuận;
+ Giữ bản gốc các giấy tờ về quyền sở hữu tài sản thế chấp trong cả
trường hợp giữ hay không tài sản thế chấp
+ Kiểm tra tài sản thế chấp và có biện pháp nhắc nhở bên thế chấp thực
hiện đúng hợp đồng thế chấp nếu có biểu hiện vi phạm
+ Tổ chức bán đấu giá tài sản thế chấp hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm
quyền bán đấu giá
+ Nhận các khoản phí bảo quản tài sản thế chấp do bên thế chấp trả
Nghĩa vụ của bên nhận thế chấp tài sản:
+ Trong trường hợp bên nhận thế chấp giữ giấy tờ về tài sản thế chấp mà
Trang 26không giữ tài sản thế chấp, thì phải trả lại giấy tờ cho bên thế chấp khi bên thế
chấp hoàn thành nghĩa vụ trả nợ hoặc khi chấm dứt thế chấp theo quy định của
pháp luật;
+ Trong trường hợp bên thế chấp giữ tài sản và giấy tờ về tài sản thế chấp
thì bên thế chấp tài sản phải:Bảo quản tài sản thế chấp như tài sản của mình,
không được khai thác công dụng hoa lợi, lợi tức từ tài sản thế chấp nếu có thoả
thuận khác, bồi thường cho bên thế chấp nếu do bảo quản không tốt mà làm mất
hoặc giảm sút giá trị so với khi ký hợp đồng thế chấp, trừ hao mòn vô hình là
yếu tố trượt giá, trả lại cho bên thế chấp đầy đủ các tài sản thế chấp hoàn thành
nghĩa vụ thanh toán nợ vay
3.5 Hình thức của thế chấp
Theo quy chế thế chấp cầm cố tài sảnvà bảo lãnh vay vốn ngân hàng ban
hành kèm theo quyết định217/QĐ -NH1 ngày 17/8/1996, thì thế chấp tài sản
trong quan hệ hợp đồng tín dụng phải được lập thành văn bản cam kết hoặc hợp
đồng thế chấp tài sản (gọi chung là hợp đồng thế chấp tài sản), hợp đồng này
phải được lập dưới hình thức văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính Dù
được lập dưới hình thức nào, hợp đồng thế chấp tài sản trong quan hệ hợp đồng
tín dụng cũng phải có các nội dung sau:
+ Tên và địa chỉ của các bên;
+ Họ và tên chức vụ người đại diện hợp pháp của cả hai bên;
+ Số ngày, tháng, năm của hợp đồng tín dụng;
+Giấy tờ và quyền sử dụng đất;
+ Loại tài sản thế chấp;
+ Số tiền được vay;
+ Phương thức xử lý tài sản;
+ Quyền và nghĩa vụ của các bên;
+ Cam kết trong việc thực hiện hợ đồng
Theo Quy chế thế chấp cầm cố tài sản và bảo lãnh vay vốn ngân hàng
kèm theo quyết định số 217/QĐ -NH1 ngày 17/8/1996 thì hợp đồng thế chấp tài
sản có chứng nhận của công chứng Nhà nước hoặc chứng thực của uỷ ban nhân
Trang 27dân cấp huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trong các trường hợp sau:
+ Tài sản thế chấp mà pháp luật không quy định phải đăng ký quyền sở
hữu nhưng tổng giá trị tài sản ghi trên hợp đồng thế chấp từ 50 triệu đồng trở
lên
3.6 Xử lý tài sản thế chấp
Được áp dụng như hình thức xử lý tài sản cầm cố
4 Chế độ pháp lý về bảo đảm tiền vay bằng tài sản theo hình thức
bảo lãnh
4.1 Bản chất của bảo lãnh
Trong quan hệ hợp đồng tín dụng ngân hàng, bảo lãnh cũng được coi là
một biện pháp bảo đảm tiền vay Điều 2, Quy chế thế chấp, cầm cố tài sản và
bảo lãnh vay vốn ngân hàng kèm theo quyết định số 217/QĐ - NH1 thông qua
ngày 17/8/1996, thì bảo lãnh vay vốn ngân hàng là việc người thứ ba (bên bảo
lãnh) cam kết với bên cho vay (bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghiã vụ trả nợ
thay cho bên vay vốn (bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thanh toánmà
người bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ
của mình, bên bảo lãnh thực hiện việc bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của
mình trên cơ sở cầm cố hoặc thế chấp tài sản
Qua khái niệm vừa nêu chúng ta có thể thấy rằng bảo lãnh là một hình
thức bảo đảm làm phát sinh quan hệ bảo lãnh) đứng ra bảo đảm bằng tài sản
thuộc sở hữu của mình, về việc thực hiện nghĩa vụ thay cho người bảo lãnh
Điều đáng nói ở đây không phải là việc chỉ cần xác nhận bảo lãnh của người thứ
ba mà điều quan trọng hơn là bên thứ ba phải thực hiện bảo lãnh bằng khả năng
tài sản của mình để bảo đảm cam kết thực hiện nghĩa vụ với người nhận bảo
lãnh về cam kết giữa người được bảo lãnh và người nhận bảo lãnh.Theo quy
định của pháp luật hiện hành, thì bên thứ ba phải thực hiện cầm cố hoặc thế chấp
tài sản cho bên nhận bảo lãnh tương tự như các quy định về cầm cố,thế chấp đã
nêu ở phần trước Trong trường hợp bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ đã cam
kết mà bên bảo lãnh cũng không thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của mình thì bên
nhận bảo lãnh có quyền xử lý tài sản chấp, cầm cố để thực hiện nghĩa vụ mà bên
Trang 28được bảo lãnh đã vi phạm
4.2.Chủ thể trong quan hệ bảo lãnh
Trước khi Bộ luật dân sự, có hiệu lực thốngđốc ngân hàng Nhà nước Việt
Nam đã ban hành quy chếvề nghiệp vụ bảo lãnh của các ngân hàng Theo đó bảo
lãnh là một doanh nghiệp mang tính nghiệp vụ của các ngân hàng.Chính vì thế,
các ngân hàng đóng vai trò là những người bảo lãnh, còn người được bảo lãnh
và người nhận bảo lãnh là các doanh nghiệp Ngoài ngân hàng ra, các chủ thể
khác chưa được thừa nhận là những người bảo lãnh trong quan hệ bảo lãnh Do
vậy, trong nhiều trường hợp các tổ chức cá nhân có nhu cầu vay vốn nhưng
không thực hiện được các biện pháp bảo lãnh nên không vay được vốn để sản
xuất kinh doanh Vì vậy cơ hội kinh doanh của cả ngân hàng và khách hàng đều
bị bỏ qua
Trong lĩnh vực ngân hàng, để đáp ứng nhu cầu nội tại của quan hệ cung
cầu về vốn trong nền kinh tế, biện pháp bảo lãnh đã được quy định cụ thể trong
quy chế thế chấp, cầm cố và bảo lãnh vay vốn ngân hàng ngày 17/8/1996 quy
định về quan hệ bảo lãnh như sau: Người bảo lãnh trong quan hệ tín dụng ngân
hàng là các tổ chức, cá nhân có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi theo
quy định của pháp luật Còn người nhận bảo lãnh là các tổ chức tín dụng
4.3 Nội dung và hình thức bảo lãnh
Nội dung của bảo lãnh trong quan hệ hợp đồng tín dụng ngân hàng là việc
bên bảo lãnh đứng ra cam kết bằng tài sản thuộc sở hữu của mình để thực hiện
nghĩa vụ thay thế cho người được bảo lãnh đối với tổ chức tín dụng, nếu người
được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh
toán của mình
Phạm vi bảo lãnh ở đây có thể là toàn bộ hoặc một phần khoản vat (gồn
nợ gốc, lãi và tiền phạt nếu có) Nhiều bên có thể thực hiện bảo lãnh cho một
người để thực hiện hợp đồng tín dụng, mỗi bên được thực hiện bảo lãnh một
phần khoản nợ vay và phải ký một hợp đồng bảo lãnh độc lập Một người cũng
có thể hợp đồng độc lập, khi thực hiện bảo lãnh, bên bảo lãnh phải dùng tài sản
của mình để cầm cố, thế chấp cho bên nhận bảo lãnh Khi đã thiết lập quan hệ
Trang 29bảo lãnh, các bên có những quyền và nghĩa vụ sau:
Quyền của bên bảo lãnh:
(+) Kiến nghị bên nhận bảo lãnh tiến hành kiểm tra việc sử dụng vốn của
khách hàng vay nếu cần thiết;
(+) Nhận lại giấy tờ và tài sản thế chấp, cầm cố (nếu việc bảo lãnh có thoả
thuận việc cầm cố, thế chấp;
(+) Yêu cầu bên nhận bảo lãnh hoàn trả tiền nợ mà mình đã trả nợ thay
nghĩa vụ của bên bảo lãnh
(+) Đôn đốc bên được bảo lãnh trả nợ đúng hạn cho ngân hàng;
(+) Thực hiện nghĩa vụ trả nợ, lãi, tiền phạt (nếu có) thay cho bên được
bảo lãnh nếu khi đến hạn trả nợ mà bên vay vốn không hoàn thành nghĩa vụ
như đã thoả thuận;
Quyền của bên nhận bảo lãnh:
(+) Yêu cầu bên bảo lãnh có biện pháp đôn đốc bên bay vốn hoàn thành
nghĩa vụ bảo lãnh thực hiện bảo lãnh khi bên vay vốn vi phạm nghĩa vụ trả nợ;
(+) Được quyền yêu cầu đấu giá tài sản hoặc đề nghị cơ quan có thẩm
quyền đấu giá tài sản thế chấp, cầm cố của bên bảo lãnh, nếu bên này vi phạm
nghĩa vụ đã thoả thuận
(+) Về hình thức bảo lãnh: Việc thiết lập quan hệ bảo lãnh phải được lập
thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính
Hợp đồng bảo lãnh phải được cơ quan công chứng nhà nước chứng nhận hoặc
chứng thực của uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền
Hợp đồng bảo lãnh phải có các nội dung sau:
(+) Họ và tên, địa chỉ của các bên;
(+) Họ tên của người đại diện hợp pháp của các bên;
(+) Số hiệu tài khoản tiền gửi của bên bảo lãnh tại ngân hàng
(+) Số, ngày, tháng, năm, khế ước vay nợ của bên được bảo lãnh;
(+) Số, ngày, tháng, năm hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản (nếu có thoả
thuận cầm cố hoặc thế chấp);
(+) Damh mục và tổng giá trị tài sản để bảo lãnh;
Trang 30(+) Cam kết của các bên về việc thực hiện hợp đồng bảo lãnh;
(+) Phương thức xử lý hợp đồng;
4.4 Xử lý tài sản bảo lãnh
Được áp dụng như đối với tài sản cầm cố, thế chấp
5 Chế độ pháp lý về bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn
vay
5.1 Bản chất của bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay
Theo ghị định 178/1999 /NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ về bảo
đảm tiền vay tại các tổ chức tín dụng quy định tại điều 2, khoản 5 như sau: Bảo
đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay là việc khách hàng vay dùng tài
sản hình thành từ vốn vay để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính
khoản vay đó đối với tổ chức tín dụng Như vậy, khác với chế độ bảo đảm khác,
bảo đảm tài sản hình thành từ vốn vay là việc khách hàng vay lại dùng chính tài
sản hình thành (được mua sắm hoặc xây dựng lên) từ khoản vay mà khách hàng
đã vay tại tổ chức tín dụng để đảm bảo cho chính khoản vay này Do vậy xét về
thời gian, tài sản đảm bảo chưa hình thành (chưa tồn tại) tại thời điểm ký kết
hợp đồng tín dụng và các bên chỉ ký kết hợp đồng bảo đảm khi tài sản bảo đảm
được hình thành Trong khi đó việc thay cho vay có bảo đảm bằng hình thức
cầm cố, thế chấp, bảo lãnh thông thường lại dùng tài sản đã hình thành, đã có
tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng
Để bảo đảm việc thu hồi vốn và lãi, pháp luật quy định những điều kiện
để đảm bảo tính an toàn Khoản 1, điều 14 Nghị định 178/NĐ-CP ngày
29/12/1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay tại các tổ chức tín dụng chỉ rõ:
Tổ chức tín dụng cho vay trung dài hạn đối với các dự án đầu tư, phát triển sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ đời sống, nếu khách hàng và tài sản vay đáp ứng được
các điều kiện do pháp luật quy định
5.2 Điều kiện đối với khách hàng vay
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức tín dụng, cũng như
tính hiệu quả của việc sử dụng vốn vay khách hàng phải đáp ứng được những
điều kiện sau:
Trang 31(+) Có tín nhiệm đối với tổ chức tín dụng trong việc sử dụng vốn vay và
trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn lãi;
(+) Có khả năng tài chính và có các khoản thu hợp pháp, có năng lực thu
được trong thời hạn vay vốn để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho tổ chức tín dụng;
(+) Có sự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi;
(+) Có dự án, phương án phục vụ đời sống khả thi phù hợp với quy định
của pháp luật;
(+) Có mức vốn tự có tham gia vào dự án và giá trị tài sản bảo đảm tiền
vay bằng các biện pháp cầm cố, thế chấp tối thiểu bằng 50% vốn đầu tư của dự
án;
(+) Cam kết thực hiện bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu của tổ chức tín
dụng, nếu sử dụng vốn vay không đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng;
(+) Cam kết trả nợ trước hạn nếu không thực hiện các biện pháp bảo đảm
bằng tài sản quy định tại điểm trên;
Đối với khách hàng vay là doanh nghiệp, ngoài các điều kiện quy định
trên còn phải có kết quả sản xuất kinh doanh có lãi 2 năm liền kề với thời điểm
xem xét cho vay Tổ chức tín dụng có quyền yêu cầu doanh nghiệp phải có xác
nhận của tổ chức kiểm toán đối với kết quả sản xuất kinh doanh của 2 năm liền
kề với thời điểm xem xét cho vay
5.3 Điều kiện đối với tài sản hình thành từ vốn vay
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức tín dụng, cũng như
tính hiệu quả của việc sử dụng vốn vay từ tài sản hình thành từ vốn vay phải đáp
ứng được những điều kiện sau:
(*) Tài sản hình thành từ vốn vay phải xác định được:
(+) Quyền sở hữu của khách hàng vay: Đối với tài sản là quyền sử dụng
tốt thì phải xác định được quyền sử dụng đất của khách hàng vay là phải được
thế chấp theo quy định của pháp luật về đất đai: Đối với tài sản của doanh
nghiệp Nhà nước phải xác định được quyền quản lý, sử dụng của doanh nghiệp
đó và được dùng để đảm bảo tiền vay theo quy định của pháp luật Nếu tài sản
là bất động sản gắn liền với đất thì khách hàng vay phải có giấy chứng nhận
Trang 32quỳên sử dụng đất của khu đất mà trên đó tài sản sẽ được hình thành và phải
hoàn thành các thủ tục xây dựng theo quy định của pháp luật;
(+) Phải xác định được danh mục, số lượng, giá trị, đặc điểm của tài sản
Việc xác định các yếu tố này dựa vào dự án đầu tư hoặc phương án phục vụ đời
sống;
(+) Tài sản được phép giao dịch và không có tranh chấp;
(+) Đối với tài sản mà pháp luật có quy định phải mua bảo hiểm thì
khách hàng vay, phải cam kết mua bảo hiểm trong suốt thời hạn vay khi tài sản
đã được hình thành đưa vào sử dụng
5.4 Nội dung, hình thức của hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản hình
thành từ vốn vay
Việc bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay và bảo đảm tiền
vay bằng cầm cố, thế chấp thông thường chỉ khác nhau về mặt thời điểm ký kết
hợp đồng thế chấp, cầm cố tài sản
Do vậy, những quy định về hình thức, nội dung của hợp đồng thế chấp,
cầm cố tài sản hình thành từ vốn vay về cơ bản cũng tương tự như những quy
định áp dụng cho biện pháp bảo đảm bằng thế chấp, cầm cố thông thường
5.5 Xử lý tài sản bảo đảm hình thành từ vốn vay
Được áp dụng như đối với tài sản cầm cố, thế chấp
Trang 33CHƯƠNG II THỰC TIỄN ÁP DỤNG NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TRONG
CÔNG TÁC ĐẢM ĐẢM TIỀN VAY BẰNG TÀI SẢN TẠI NHNo &PTNT
HUYỆN VĂN LÂM - TỈNH HƯNG YÊN
I TỔNG QUAN VỀ NHN0 & PTNT HUYỆN VĂN LÂM - HƯNG
YÊN
1 Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn Huyện Văn Lâm - Hưng Yên
Trong xu hướng phát triển của đất nước ta, nhất là trong quá trình hội
nhập vào nền kinh tế thế giới, đồng thời với vai trò to lớn của công tác tiền tệ
tín dụng Đảng và Chính phủ đã có đường lối phát triển đúng đắn vì vậy
ngày1/9/1999 ra quyết định số 79/QĐ/NHNo 1999 của Tổng giám đốc ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam về việc thành lập chi nhánh
NHNo&PTNT huyện Văn Lâm - Tỉnh Hưng Yên, việc quyết định này dựa vào
+ Luật các tổ chức tín dụng được công bố theo lệnh 01 - L/CTN ngày
26/12/1997 của Chủ tịch nước
+ Điều lệ NHNo&PTNT Việt Nam ban hành kèm theo quyết định số
390/1997/QĐ - NHNN ngày 22/11/1997 của Thống đốc ngân hàng nhà nước
Quyết định thành lập NHNo&PTNT huyện Văn Lâm, ngân hàng có con
dấu riêng, bảng cân đối tài sản, được tổ chức và hoạt động theo điều lệ quy chế
tổ chức và hoạt động chi nhánh NHNo& PTNT Việt Nam
Tuy rằng NHNo&PTNT Văn Lâm - Hưng Yên ra đời muộn nhưng đã
nhanh chóng khẳng định được vị trí phù hợp trong hệ thống ngân hàng thương
mại, tính hiệu quả hoạt động kinh doanh, bảo đảm chất lượng của một ngân
hàng thuộc ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Thực hiện chức năng của một ngân hàng thương mại, NHNo&PTNT
huyện Văn Lâm đi vào hoạt động với nhiệm vụ sau:
* Từ năm 1999- 2000:
+ Quản lý, đầu tư và cho vay với những doanh nghiệp thuộc địa bàn
Trang 34+ Trực tiếp kinh doanh tiền tệ và tín dụng trên địa bàn
+ Tổ chức thanh toán và điều chuyển cho các ngân hàng khu vực các ngân
hàng chi nhánh theo lệnh của Tổng giám đốc NHNo& PTNT Việt Nam
*Năm 2000 - 2003:
+ Ngân hàng đã thay đổi lại cơ cấu cán bộ đồng thời tổ chức và mua sắm
trang thiết bị hiện đại
+Ngân hàng thực hiện thêm một nghiệp vụ nữa là thanh toán quốc tế
+ Trong quá trình hoạt động ngân hàng còn mở thêm chi nhánh ngân hàng
cấp 3 chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng và thu hút, chiếm lĩnh thị trường đồng
thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao dịch với khách hàng
2 Địa vị pháp lý của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
huyện Văn Lâm - Hưng Yên
2.1 Vị trí và thẩm quyền
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Văn Lâm là một
đại diện pháp nhân của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt
Nam, có con dấu riêng, trực tiếp giao dịch kinh doanh, hạch toán nội bộ, hoạt
động kinh doanh tiền tệ và tín dụng ngân hàng, ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn hoạt động dưới sự chỉ đạo của ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn tỉnh Hưng Yên
Theo điều lệ của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt
Nam và quyết định thành lập của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
huyện Văn Lâm.Ngân hàng có các trách nhiệm vàquyền hạn sau:
+ Hoạt động trong khuôn khổ pháp luật của nước cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước
theo quy định đồng thời chấp hành pháp luật của các quốc gia và thông lệ quốc
tế trong hoạt động có liên quan;
+ Thực hiện các chính sách,thể lệ, chế độ, định chế hoạt động về ngân
hàng của nhà nước và ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
+ Xác định hạn mức tín dụng cao nhất cho mỗi khách hàng
+ Tổ chức hạch toán kinh tế, bảo đảm sự tăng trưởng các hoạt động kinh
Trang 35doanh của mình;
+ Khởi kiện các tranh chấp, tố tụng về dân sự liên quan đến hoạt động của
mình;
+ Yêu cầu khách hàng vay vốn xuất trình tài liệu, hồ sơ cung cấp thông tin
về tình hình sản xuất kinh doanh và tài chính, để xem xét quyết định cho vay,
kiểm tra tình hình và kết quả sử dụng vốn vay ngân hàng, từ chối các quan hệ tín
dụng với khách hàng nếu thấy trái pháp luật, khôngcó khả năng trả nợ;
+ Chịu trách nhiệm vật chất và hành chính trước pháp luật đối với các
cam kết giữa NHNo&PTNT huyện Văn Lâm với khách hàng
+ Giữ bí mật về số liệu, tình hình hoạt động của khách hàng ngoại trừ các
trường hợp có lệnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
2.2 Cơ cấu tổ chức
Để hoàn thành những chức năng, nhiệm vụ của ngân hàng thì phải có cơ
cấu tổ chức của ngân hàng cụ thể của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn huyện Văn Lâm như sau:
Trong đó:
+ Phòng kế hoạch kinh doanh
Làm nhiệm vụ:Huy động vốn dưới hình thức, lo nguồn vốn thanh toán,
cho vay các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước làm công tác thanh toán quốc tế
và mua bán ngoại tệ, thực hiện các nhiệm vụ khác do giám đốc ngân hàng tỉnh
giao
Phòng kinh doanh có 12 người trong đó một trưởng phòng, một phó
phòng và10 cán bộ tín dụng
+ Phòng kế toán - giao dịch
Trực tiếp hạch toán kế toán, quản lý và sử dụng các quỹ chuyên dùng,
quyết toán và báo cáo theo quy định
Trực tiếp giao dịch với khách hàng, thực hiện các nghiệp vụ khác do giám
đốc ngân hàng tỉnh giao
Phòng kế toán có tổng số 8 người, một trưởng phòng, một phó phòngvà
các nhân viên kế toán
Trang 36+ Phòng ngân quỹ:
Làm công tác thu, chi, kiểm đếm, điều chuyển vốn, tiền mặt qua các chi
nhánh của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (cấp3) Làm nhiệm vụ
kiểm đếm cho các đơn vị kinh tế Gồm 3 người làm việc tại phòng ngân quỹ
+ Phòng kiểm tra, kiểm toán nội bộ
Có một cán bộ làm công tác kiểm tra kiểm toán nội bộ
Thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát việc chấp hành quy trình nghiệp
vụ kinh doanh theo quy định của pháp luật và của ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn Việt Nam
Thực hiện những nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát khác được giao
+ Phòng hành chính:
Thực hiện các chức năng như lưu trữ các văn bản liên quan đến ngân
hàng, xây dựng chương trình công tác hàng tháng, quý, năm đôn đốc thực hiện
các chương trình mà giám đốc giao, triển khai chương trình giao ban nội bộ,
thực hiện công tác quản lý tài sản của ngân hàng và là đầu mối chăm lođời sống
vật chất, văn hoá - tinh thần…
Thực hiện các nhiệm vụ khác do giám đốc giao
Trang 37Mô hình tổ chức, điều hành của ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn huyện Văn Lâm - Hưng Yên
Phòng
kinh
doanh
Phòng Kiểm tra kiểm toán nội bộ
Phòng hành chính
Phòng ngân quỹ
Phòng Kế toán giao dịch
Giám đốc (NH cấp 3) Phó Giám đốc
Phòng Kế
giao dịch
Phòng Ngân quỹ
Trang 383 Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn huyện Văn Lâm
3.1 Những thành tựu đạt được trong năm 2002
* Công tác huy động vốn: 162,3 tỷ VND, tăng 188% (105,9 tỷ) so với đầu
năm 2001.Trong đó
+ Nguồn vốn ngoại tệ: 5963,3 nghìn VNĐ tương đương 86,5tỷ VND, tăng
67% so với năm 2001 chiếm 54% tổng nguồn vốn
+ Nguồn vốn nội tệ: 75,8 tỷ VND, tăng 110,3%so với năm 2001, chiếm
tỷ trọng 46% tổng nguồn vốn
- Cơ cấu nguồn vốn phân theo kỳ hạn:
+ Không kỳ hạn: 37,2 tỷ VND, chiếm tỷ lệ 23% tổng nguồn vốn
+ Kỳ hạn dưới 12 tháng: 66,4tỷ VND, chiếm tỷ trọng 41% tổng nguồn
vốn
+ Kỳ hạn trên 12 tháng : 58,7 tỷ VND, chiếm tỷ lệ 36%tổng nguồn vốn
- Cơ cấu nguồn vốn phân theo thành phần kinh tế:
+ Tiền gửi dân cư: 64,5 tỷ VND, chiếm 39,72% tổng nguồn vốn
+ Tiền gửi của các đơn vị: 97,8 tỷ VND, chiếm tỷ lệ 60,28% tổng nguồn
vốn
*Công tác tín dụng:
- Doanh số cho vay (quy về VND): 40,5 tỷ VND, tăng 18,2 tỷ đồng so với
năm 2001(tăng 81%)
- Doanh số thu nợ: 32,1 tỷ VND, trong đó nợ quá hạn 0,41tỷ VND
- Tổng dư nợ đến 31/12/2002: 23,6 tỷ VND, tăng 5,3 tỷ so với năm 2001
(tăng 29%)
- Nợ quá hạn đến 31/12/2000: 0,85 tỷ VND, chiếm 3,6% tổng dư nợ, giảm
17,7% so với 31/12/2001
* Kinh doanh ngoại tệ:
- Doanh số mua 45,92triệu USD
- Doanh số bán 48,72triệuUSD
Bên cạnh đó, ngân hàng còn đáp ứng được nhu cầu thanh toán bằng các