Trước đây, việc quản lý nguồn lợi giống tự nhiên của đối tượng này trên địa bàn Bến Tre nói chung, Bình Đại nói riêng hết sức phức tạp, do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan như: thấ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu
của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực
và đều được các cơ quan, tổ chức cho phép công bố./
Tác giả
Phan Song Toàn
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Nha Trang; Ban lãnh đạo khoa Nuôi trồng Thủy sản, các anh chị phòng Đào tạo- Trường Đại học Nha Trang và Ban Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bến Tre đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi được tham gia học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ và thực hiện đề tài trong thời gian qua
Xin tỏ lòng biết ơn Tiến sĩ Ngô Anh Tuấn- Phó Trưởng khoa Nuôi trồng Thủy sản- trường Đại học Nha Trang đã nhiệt tình động viên, giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian học tập cũng như trong quá trình thực hiện, hoàn thiện luận văn tốt nghiệp
Xin cám ơn tập thể các thầy, cô trực tiếp tham gia giảng dạy đã tận tâm truyền đạt những kiến thức chuyên môn cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường Đại học Nha Trang
Chân thành cảm ơn Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Tùng và một số đồng nghiệp trong Phân viện Qui hoạch Thủy sản đã dành thời gian để hỗ trợ cho tôi trong quá trình thu thập số liệu sơ cấp, thứ cấp và trao đổi, giúp đỡ thêm một số phương pháp phân tích và xử lý số liệu của đề tài
Cảm ơn các Anh/Chị lớp Cao học Nuôi Trồng Thủy Sản 2006 đã đoàn kết, gắn bó cùng tôi vượt qua chặng đường dài học tập ở bậc cao học
Trân trọng cảm ơn Ủy ban nhân dân huyện Bình Đại; Phòng Nông nghiệp huyện Bình Đại; Ủy ban nhân dân xã Thới Thuận, Thừa Đức; Hợp tác xã thủy sản Rạng Đông, Đồng Tâm; các hộ dân thuộc 2 xã Thới Thuận, Thừa Đức và một số đồng nghiệp trong Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bến Tre đã nhiệt tình cung cấp số liệu và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài./
Bến Tre, tháng 5 năm 2010
Phan Song Toàn
Trang 3MỤC LỤC
Lời cam đoan ……… i
Lời cám ơn……… ii
Mục lục……… iii
Danh mục các bảng……… vii
Danh mục các hình vẽ, đồ thị……… viii
Danh mục các từ viết tắt ix
MỞ ĐẦU……… ……… 1
1- Giới thiệu……… 1
2- Nội dung đề tài……… 2
3- Mục tiêu đề tài……… 2
Chương 1- TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1- Một số đặc điểm của nghêu Bến Tre( Meretrix Lyrata -Sowerby, 1851)… 3 1.1.1- Hệ thống phân loại ……… 3
1.1.2- Hình thái.……… 3
1.1.3- Đặc điểm phân bố……… ……… 4
1.1.4-Tính ăn và thức ăn của nghêu……….……… 6
1.1.5- Sự tăng trưởng và chỉ số độ no của nghêu……… 7
1.1.6- Đặc điểm sinh sản của nghêu……… 7
1.1.6.1- Sự phát triển tuyến sinh dục……… 7
1.1.6.2- Mùa vụ sinh sản……… 7
1.1.6.3- Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh sản của nghêu bố mẹ……… 8
1.1.6.4- Các yếu tố ảnh hưởng đến sự xuất hiện nghêu giống……… 9
1.1.7- Khả năng thích nghi điều kiện môi trường……… 10
1.1.7.1- Khả năng chịu đựng độ mặn……… 10
1.1.7.2- Khả năng chịu đựng ô nhiễm……….10
1.2-Vấn đề biến động nguồn lợi nghêu, biện pháp bảo vệ và phát triển.…… 10
1.2.1-Sự biến động nguồn lợi nghêu Bến Tre trong những năm gần đây………… 11
1.2.2-Nguyên nhân của sự biến động nguồn lợi nghêu……… 11
1.3-Hiện trạng kinh tế xã hội ảnh hưởng đến biến động nguồn lợi nghêu…… 12
Chương 2- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
Trang 42.2-Sơ đồ khối nghiên cứu 14
2.3-Phương pháp nghiên cứu cụ thể 15
Chương 3- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 17
3.1-Điều kiện tự nhiên 17
3.1.1-Vị trí địa lý Bình Đại 17
3.1.2-Đặc điểm khí hậu 18
3.1.2.1 -Nhiệt độ không khí 18
3.1.2.2- Số giờ nắng 19
3.1.2.3- Độ ẩm tương đối 19
3.1.2.4- Bốc hơi………… ……… 19
3.1.2.5- Chế độ gió……….……… 19
3.1.2.6- Lượng mưa……….……… 20
3.1.2.7- Chế độ thủy văn 20
3.1.3- Chất lượng nước 21
3.1.3.1- Nhiệt độ nước……… ……… 21
3.1.3.2- Độ mặn 21
3.1.3.3- COD………….……… 22
3.1.3.4- BOD……… 22
3.1.3.5- pH……… 22
3.1.4- Chất đất 23
3.1.4.1- Thành phần cơ giới của đất 23
3.1.4.2-Thành phần hữu cơ của đất 23
3.2- Tình hình kinh tế- xã hội của cộng đồng 23
3.2.1- Tình hình nhân khẩu 24
3.2.2- Tình hình lao động 24
3.2.3- Nghề sản xuất chính 25
3.2.4- Thu nhập bình quân hộ 27
3.2.5- Tình hình văn hóa trong hộ 27
3.2.6- Cộng đồng đối với việc tham gia HTX 28
3.2.7- Các vấn đề ngoại cảnh tác động 29
3.2.7.1- Môi trường 29
3.2.7.2- Ảnh hưởng của rừng ngập mặn 30
Trang 53.2.7.3- Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu 31
3.2.7.4- Tác động của con người 33
3.3-Thực trạng nghề nuôi nghêu 33
3.3.1- Tình hình nghêu bố mẹ 33
3.3.2- Nghêu giống 34
3.3.2.1- Tình hình chung trong khu vực 34
3.3.2.2- Tình hình nghêu giống tại Bình Đại 34
3.3.2.3- Mật độ, trữ lượng và khả năng khai thác nghêu giống Bình Đại 36
3.3.3-Tình hình nghêu thương phẩm 37
3.3.3.1- Mùa vụ thả giống 37
3.3.3.2- Kích cở giống và mật độ thả 37
3.3.3.3- Tốc độ sinh trưởng 39
3.3.3.4- Mùa vụ và kích cở thu hoạch nghêu thịt 39
3.3.3.5- Phương pháp thu hoạch 40
3.3.4- Biến động nguồn lợi nghêu 41
3.3.4.1- Biến động nguồn lợi nghêu toàn tỉnh 41
3.3.4.2- Biến động nguồn lợi nghêu Bình Đại 43
3.3.4.3- Biến động giá nghêu 46
3.3.5-Thị trường tiêu thụ 48
3.3.6-Tình hình quản lý, bảo vệ và khai thác nghêu 50
3.3.6.1- Tình hình chung 50
3.3.6.2- Tổ chức, bộ máy các HTX 53
3.3.6.3- Tình hình hoạt động 54
3.3.7-Chính sách, thể chế có liên quan 62
3.3.7.1- Văn bản Trung ương 62
3.3.7.2- Văn bản địa phương 64
3.4-Tiềm năng phát triển 65
3.4.1- Điều kiện tự nhiên, xã hội 65
3.4.2- Lực lượng lao động……… 65
3.4.3- Dự báo tình hình tiêu thụ sản phẩm nghêu ….66
3.5- Phân tích cơ hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu (SWOT) 67
3.5.1- Điểm mạnh (S-Strength) 67
Trang 63.5.2- Cơ hội( O-Opportunity) 67
3.5.3- Điểm yếu (W-Weakness) 68
3.5.4- Đe dọa, thách thức (T-Threat) 69
3.6-Giải pháp 70
3.6.1-Nhóm giải pháp về kỹ thuật…….……….……… 70
3.6.1.1- Qui hoạch vùng nuôi……… 70
3.6.1.2- Quan trắc, cảnh báo môi trường, bảo vệ chất lượng môi trường nước 70
3.6.1.3- Con giống……….……… 71
3.6.1.4- Phát triển nuôi đi đôi với bảo vệ môi trường và kiểm soát VSATCLSP… 71
3.6.1.5- Duy trì thương hiệu MSC nghêu Bến Tre……… ……… 72
3.6.1.6- Duy trì phát triển thêm hệ thống rừng ngập mặn………… ………… 72
3.6.1.7- Các giải pháp kỹ thuật khác……… 72
3.6.2-Nhóm giải pháp về quản lý…… ………….……… 73
3.6.2.1- Giải pháp củng cố tổ chức, bộ máy và công tác quản lý……… 73
3.6.2.2- Giải pháp về đào tạo……… 74
3.6.2.3- Giải pháp tuyên truyền giáo dục……… 74
3.6.2.4- Giải pháp xây dựng chính sách, thể chế……… 75
3.6.2.5- Giải pháp về vốn……… ……… 76
3.6.2.6- Giải pháp về thị trường, xúc tiến thương mại ……… 76
CHƯƠNG 4- KẾT LUẬN, ĐỀ XUẤT 77
4.1- Kết luận 77
4.2- Đề xuất 78
4.2.1- Về lĩnh vực kỹ thuật 78
4.2.2-Về lĩnh vực quản lý 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Nhiệt độ không khí (oC) trung bình/tháng qua các năm (2005-2008) 18
Bảng 3.2 : Số giờ nắng trung bình theo ngày và tháng qua các năm (2005-2008) 19
Bảng 3.3 : Nhiệt độ nước trung bình vùng khảo sát……… 21
Bảng 3.4: Tình hình nhân khẩu các hộ gia đình trong vùng nghiên cứu 24
Bảng 3.5: Tình hình lao động 24
Bảng 3.6: Số lượng, tỉ lệ người ngoài tuổi lao động tham gia thu nhập cho hộ 25
Bảng 3.7: Nghề sản xuất chính của hộ 25
Bảng 3.8: Thu nhập bình quân một hộ 27
Bảng 3.9: Tình hình văn hoá trong hộ 27
Bảng 3.10: Tác động của HTX đến cộng đồng 28
Bảng 3.11: Hiện trạng rừng tỉnh Bến Tre năm 2009 31
Bảng 3.12: Mật độ, sinh lượng và trữ lượng nghêu giống trung bình năm 2006 36
Bảng 3.13: Kích cỡ, mật độ giống thả nuôi ở HTX Rạng Đông, Đồng Tâm 39
Bảng 3.14: Tốc độ sinh trưởng nghêu nuôi vùng nghiên cứu 39
Bảng 3.15: Diễn biến diện tích, sản lượng nghêu toàn tỉnh 41
Bảng 3.16: Diễn biến diện tích, sản lượng nghêu Bình Đại 43
Bảng 3.17: Giá nghêu các loại qua 5 năm (2005-2009)……… 46
Bảng 3.18: Thông tin về 2 Hợp tác xã Bình Đại (nguồn HTX) 53
Bảng 3.19: Các khó khăn của từng Hợp tác xã theo ý kiến xã viên 56
Bảng 3.20: Hoạt động tài chính của HTX đối với nguồn lợi tự nhiên 57
Bảng 3.21: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận qua các năm tại HTX Rạng Đông 59
Bảng 3.22: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận qua các năm tại HTX Đồng Tâm 60
Trang 8DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Vị trí phân bố nguồn lợi nghêu (Meretrix lyrata -Sowerby, 1851) ở ĐBSCL 5
Hình 1.2: Biểu đồ tỷ lệ (%) giữa các nhóm tảo trong ống tiêu hóa 6
Hình 3.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre 17
Hình 3.2: Bản đồ hành chính huyện Bình Đại 18
Hình 3.3: Cơ cấu nghề sản xuất chính của hộ 25
Hình 3.4: Nghêu chết trắng tại Thới Thuận- Bình Đại năm 2008 32
Hình 3.5: Vị trí phân bố nghêu giống và nghêu bố mẹ ở HTX Đồng Tâm 35
Hình 3.6: Vị trí phân bố nghêu giống và nghêu bố mẹ ở HTX Rạng Đông 36
Hình 3.7: Ngư cụ dùng để thu hoạch nghêu thịt 40
Hình 3.8: Thu hoạch nghêu thương phẩm (nghêu thịt) 40
Hình 3.9: Diễn biến diện tích, sản lượng nghêu toàn tỉnh 42
Hình 3.10: Biến động diện tích nghêu toàn tỉnh 42
Hình 3.11: Biến động năng suất, sản lượng nghêu toàn tỉnh 42
Hình 3.12: Diễn biến diện tích, sản lượng nghêu Bình Đại 44
Hình 3.13 : Xu hướng biến động diện tích nghêu theo thời gian 45
Hình 3.14: Xu hướng biến động sản lượng nghêu theo thời gian 45
Hình 3.15: Diễn biến, xu hướng giá bán các loại nghêu thương phẩm 46
Hình 3.16: Xu hướng giá bán các loại nghêu giống 47
Hình 3.17: Xu hướng giá bán nghêu giống và thương phẩm 47
Hình 3.18: Qui trình tiêu thụ sản phẩm nghêu 50
Hình 3.19: Xã viên giao nộp sản phẩm sau một ngày thu họach nghêu thịt 58
Hình 3.20: Xu hướng biến động doanh thu, chi phí, lợi nhuận của HTX Rạng Đông qua các năm 59
Hình 3.21: Xu hướng biến động doanh thu, chi phí, lợi nhuận của HTX Đồng Tâm qua các năm 60
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ATVS: An toàn vệ sinh
CBXK: Chế biến xuất khẩu
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1- Giới thiệu:
Nghêu là loài động vật thân mềm hai vỏ (Bivalvia), phân bố tập trung ở ven biển vùng Đồng bằng Sông Cửu Long Nghêu hiện là đối tượng khai thác quan trọng nhất trong số các loài động vật thân mềm (Mollusca), chiếm khoảng 60% sản lượng khai thác hải sản trong khu vực
Hàng chục năm qua nghề nuôi nghêu đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hàng ngàn người dân nghèo ven biển huyện Bình Đại; đặc biệt, từ khi con nghêu được thị trường châu Âu công nhận là sản phẩm “sạch”, đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thì nhu cầu chế biến xuất khẩu tăng vọt, sản lượng nghêu không đủ cung cấp; giá nghêu thương phẩm tăng lên và nhu cầu nuôi nghêu được mở rộng; Con nghêu
từ chỗ giá trị thấp trở thành mặt hàng “đặc sản” xuất khẩu
Trước đây, việc quản lý nguồn lợi giống tự nhiên của đối tượng này trên địa bàn Bến Tre nói chung, Bình Đại nói riêng hết sức phức tạp, do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan như: thất nghiệp, nhàn rỗi và trình độ nhận thức về tầm quan trọng của sự phát triển bền vững trong đại bộ phận người dân chưa cao; đặc biệt là trình độ quản lý của các tổ chức, cá nhân nuôi nghêu còn yếu, cộng với tình hình giá
cả nghêu giống tăng cao là nguyên nhân dẫn đến tình trạng khai thác, trộm cắp bừa bãi, gây mất an ninh trật tự trong vùng và phá hủy cân bằng sinh thái các bãi nghêu Thời gian gần đây, nhờ có cách quản lý mới từ mô hình hợp tác xã đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác nguồn lợi; tình trạng trộm cắp nghêu
đã từng bước được cải thiện Tuy nhiên, tính phát triển bền vững của nghề nuôi nghêu vẫn chưa biểu hiện rỏ nét; nhiều lúc, nhiều nơi, nhiều hợp tác xã vẫn còn bộc lộ những điểm yếu và bất cập trong quản lý; đặc biệt là các hợp tác xã nghêu huyện Bình Đại, nơi có sản lượng nghêu giống, nghêu thương phẩm hàng đầu của tỉnh cũng đang trong hoàn cảnh đó
Xuất phát từ thực tế trên, việc nghiên cứu Hiện trạng, tiềm năng và các giải pháp bảo vệ, phát triển bền vững nguồn lợi nghêu huyện Bình Đại- tỉnh Bến Tre trong thời gian tới là một vấn đề hết sức cần thiết và bức xúc
Trang 112- Nội dung đề tài:
2.1- Điều tra, đánh giá tình hình kinh tế- xã hội của cộng đồng cư dân tại địa phương hai xã Thừa Đức và Rạng Đông huyện Bình Đại
2.2- Điều tra, đánh giá thực trạng quản lý, nuôi trồng, khai thác nguồn lợi nghêu và tiềm năng phát triển tại Bình Đại
2.3- Đề xuất các giải pháp quản lý, nuôi thương phẩm và khai thác hợp lý nguồn lợi nghêu
3- Mục tiêu đề tài:
3.1- Mục tiêu lâu dài:
Bảo vệ và phát triển hợp lý nguồn lợi, bảo tồn nguồn giống Nghêu
Meretrix lyrata Sowerby,1851, nâng cao diện tích, năng suất, sản lượng phục vụ
nhu cầu xuất khẩu và tiêu thu nội địa đối với mặt hàng nghêu, phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản vùng bãi bồi, tạo công ăn việc làm và ổn định thu nhập cho cư dân địa phương ven biển huyện Bình Đại- tỉnh Bến Tre
3 2 Mục tiêu cụ thể:
- Cung cấp được một số luận cứ khoa học để đề xuất giải pháp cụ thể vận dụng vào quá trình bảo vệ, quản lý và khai thác hiệu quả, nhằm phát triển bền vững nguồn lợi nghêu huyện Bình Đại
- Có đầy đủ thông tin để đề xuất các giải pháp kỹ thuật nhằm phát triển bền vững nguồn lợi nghêu ở vùng cửa sông ven biển huyện Bình Đại
- Đề xuất được mô hình quản lý hiệu quả nguồn lợi nghêu huyện Bình Đại
và nhân rộng cho các địa phương khác trên địa bàn tỉnh Bến Tre
- Tìm ra những khó khăn thực sự của mô hình quản lý, bảo vệ và khai thác nghêu để đề xuất giải pháp điều chỉnh, củng cố và phát triển
Trang 12Chương 1- TỔNG QUAN TÀI LIỆU:
1.1- MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA NGHÊU BẾN TRE (Meretrix lyrata
Tên tiếng Anh: Lyrate Asiatic Hard Clam
Tên địa phương: nghêu Bến Tre, nghêu
Loài nghêu Bến Tre Meretrix lyrata Sowerby, 1851 đã được Bộ Thủy sản xếp vào
danh mục các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao ở Việt Nam
1.1.2- Hình thái:
Trong công trình nghiên cứu của Nguyễn Chính (1996) đã mô tả hình thái ngoài của loài Nghêu vùng đồng bằng sông Cửu Long như sau: Vỏ thuộc dạng lớn, dày và nặng Phần trước vỏ có gờ sinh trưởng thô hơn phần sau Mặt nguyệt và mặt thuẫn không
rõ, da vỏ màu trắng, phía sau lưng có vân màu tím nâu
Trương Quốc Phú (1999) đã mô tả chi tiết hình thái cấu tạo ngoài của nghêu
Meretrix lyrata Sowerby,1851với các đặc điểm chính sau đây: cơ thể Nghêu được bao bọc bởi 2 mảnh vỏ bằng nhau có dạng hình tam giác (gần tròn), cạnh trước ngắn hơn (chỉ bằng 2/3 chiều dài cạnh sau) Hai vỏ gắn vào nhau bằng 1 bản lề, ở mặt lưng có dây chằng cấu tạo bằng chất sừng đàn hồi để khép mở vỏ Bên ngoài vỏ có màu trắng ngà, trên mặt vỏ có nhiều vòng sinh trưởng đồng tâm, các đường sinh trưởng này chạy song song và thưa dần về phía mặt bụng, ở gần cạnh trước gồ lên rất rõ, cạnh sau tương đối nhẵn bóng Phía trước đỉnh vỏ là một mặt nguyệt nhỏ có hình viên đạn, màu trắng, xung quanh mép mặt nguyệt có một viền màu nâu nhạt Mặt thuẫn có màu nâu đen, to hơn mặt nguyệt, nằm ở sau đỉnh vỏ kéo dài hết cạnh sau của vỏ Mặt bụng mép
Trang 13vỏ cong tròn Bên trong vỏ, dưới đỉnh vỏ và bản lề có mặt khớp và răng khớp Mặt trong vỏ có màu trắng, có các vết in của cơ khớp vỏ trước và sau, vết in của cơ màng
áo và vết in của cơ điều khiển ống hút thoát nước Vết cơ khớp vỏ trước hơi nhỏ hơn vết cơ khớp vỏ sau và có hình bán nguyệt, vết cơ khớp vỏ sau hình tròn
1.1.3- Đặc điểm phân bố:
Theo Nguyễn Chính (1996) thì vùng phân bố của nghêu là ở vùng biển ấm Tây Thái Bình Dương từ biển Đài Loan đến Việt Nam, trong đó vùng có sản lượng cao nhất là ven biển thuộc tỉnh Tiền Giang và tỉnh Bến Tre
Cũng theo Nguyễn Chính (1996), ở Việt Nam hiện nay có khoảng 6 loài thuộc
họ Veneridae trong đó có hai loài thuộc giống Meretrix, 1 loài thuộc giống Cyclina, 2 loài thuộc giống Anomalocardia và 1 loài thuộc giống Ktelisia Ở đồng bằng sông Cửu Long, chỉ có loài Meretrix lyrata Sowerby, 1851 là phân bố với mật độ cao, các loài khác như Meretrix meretrix phân bố với mật độ rất thấp
Cụ thể hơn, theo Nguyễn Hữu Phụng (1996), ở ĐBSCL, loài nghêu Meretrix lyrata Sowerby, 1851 phân bố ở Cần Giờ (T/p.HCM), Gò Công Đông (Tiền Giang),
Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú (Bến Tre), Cầu Ngang, Duyên Hải (Trà Vinh), Vĩnh Châu (Sóc Trăng), Vĩnh Lợi (Bạc Liêu), Ngọc Hiển (Cà Mau) Kết quả khảo sát vùng
có nghêu con phân bố vào năm 1998 ở Gò Công Đông của Võ Sĩ Tuấn (1999) cho thấy chúng tập trung ở độ cao từ khoảng 0,8- 1,5m so với cao độ hải đồ
Các đặc trưng phân bố của Nghêu cũng đã được một số tác giả nghiên cứu cho thấy Nghêu phân bố ở vùng triều thấp, thời gian phơi bãi từ 2 - 8 giờ/ngày Theo Nguyễn Tác An, Nguyễn Văn Lục (1994), độ sâu cực đại tìm thấy Nghêu lúc nước ròng là 1,5 - 2,5 m Nghêu phân bố ở vùng có nền đáy cát mịn đến cát trung có pha lẫn bùn lỏng (10-18%), vào mùa mưa bùn lỏng bao phủ nền đáy bãi Nghêu (1,5 - 2,5 cm)
Độ mặn từ 7 - 25‰, nhiệt độ là 26 - 32oC, các yếu tố môi trường đặc trưng của bãi nghêu biến đổi theo mùa rõ rệt, chúng đều phụ thuộc vào lượng mưa lũ tràn qua vùng rừng ngập mặn đổ ra các bãi nghêu.Theo Nguyễn Hữu Phụng (1996), nghêu thích hợp sinh sống ở những vùng có nền đáy cát bùn với tỉ lệ cát từ 60-90%, cát bùn có cấp hạt
từ 0,062 - 0,25mm; phân bố chủ yếu ở vùng trung triều và dưới triều, nơi có độ dốc tương đối bằng phẳng, ít dốc, cấu trúc nền đáy hơi xốp để thuận lợi cho việc vùi mình của nghêu; trong tự nhiên, thực tế tại tỉnh Bến Tre chưa thấy nghêu phân bố ở vùng đáy bùn hay các khu vực đất sét
Trang 14Hình 1.1: Vị trí phân bố nguồn lợi nghêu (Meretrix lyrata -Sowerby, 1851) ở ĐBSCL
Theo Nguyễn Văn Hảo và CTV (1999), thành phần cơ giới đất ở các bãi nghêu
ở ĐBSCL chủ yếu là cát mịn (68- 75%); thành phần cơ giới phù sa chủ yếu là cát (65- 72%); thành phần hóa học của đất nền bãi và phù sa không có sự khác biệt lớn Căn cứ vào các kết quả phân tích thành phần cơ giới và hóa học của đất nền bãi và phù sa, tác giả đưa ra nhận xét rằng: cơ cấu nền bãi nghêu giống và nghêu thịt chủ yếu được cấu tạo do sự bồi lắng phù sa Không có sự khác biệt nhau nhiều trong thành phần hóa học của đất nền bãi và phù sa tại các khu vực khảo sát khác nhau Các yếu tố kim loại tuy
có biến động theo thời gian thu mẫu nhưng các yếu tố dinh dưỡng như Nitơ và Photpho thì tương đối ổn định theo thời gian
Dựa vào các kết quả quan trắc và phân tích (2 đợt khảo sát vào mùa mưa và 1 đợt khảo sát vào mùa khô), sau khi so sánh hàm lượng C hữu cơ, N hữu cơ và P tổng
số ở Nam cồn Ông Mão và cồn Ngang (Gò Công Đông – Tiền Giang) vào 2 thời điểm (tháng 8/1997- không có nghêu con và tháng 7/1998- nhiều nghêu con), Võ Sĩ Tuấn (1999) đã đưa ra nhận định sơ bộ rằng nghêu con thích nghi với nền đáy có độ chọn lọc tương đối cao, cấp hạt cát nhỏ và cát rất nhỏ chiếm ưu thế tuyệt đối, ít bùn sét, đồng thời cũng đặt ra giả thiết rằng nghêu con phát triển thuận lợi trong điều kiện chất đáy có hàm lượng N hữu cơ và P tổng số thấp hơn
An Giang
Đồng
Vĩnh Long Tiền Giang
Bãi Thừa Đức
Bãi Thới Thuận
Bãi Thạnh Phong
Bãi
Mỹ Long
Bãi Đồng Cao Bãi Vĩnh Hải Bãi Hiệp Thành
Trang 15Theo Trương Quốc Phú (1999) thì vùng phân bố tự nhiên của nghêu ở khu vực gần cửa sông có chất đáy là cát bùn, trong đó cát chiếm 80- 90% và bùn chiếm 9- 14%
Chế độ dòng chảy vùng triều ven biển nơi nghêu phân bố là sự kết hợp động lực của quá trình mưa lũ và thủy triều Cấu trúc dòng chảy khá phức tạp ở vùng giao thoa giữa sông và biển, chúng đã tạo nên vùng giáp nước có đặc trưng riêng về động lực Vùng giáp nước thường có cấu trúc dòng biến đổi theo độ sâu, dòng chảy giảm dần từ mặt xuống và có hướng ngược với tầng mặt Hiện tượng này tạo ra cho vùng giáp nước là nơi tích tụ vật chất từ sông đưa ra và từ biển đưa vào Đó chính là nơi hình thành các bãi nghêu giống ở cửa sông Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu
1.1.4-Tính ăn và thức ăn của nghêu:
Theo Thái Trần Bái (1978), hoạt động bắt mồi của Bivalvia là theo cách ăn lọc nhờ
vào hoạt động của các tấm mang trong quá trình hô hấp hút nước vào mang Quá trình bắt mồi xảy ra liên tục nhưng với cách bắt mồi này nghêu chỉ bắt mồi thụ động, chúng chỉ có thể chọn lọc kích thước hạt thức ăn chứ không chọn lọc theo tính chất thức ăn
Khảo sát điều kiện môi trường, sinh thái và khả năng phát triển Nghêu Meretrix lyrata Sowerby,1851ở vùng Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang, qua kết quả phân tích
112 mẫu nghêu, Võ Sĩ Tuấn (1999) nhận xét rằng thành phần thức ăn chủ yếu của nghêu là mùn bã hữu cơ, chiếm đến 90% lượng thức ăn Các thành phần sinh vật phù
du bắt gặp trong ống tiêu hóa của nghêu khoảng 10% và đã ghi nhận được 61 loài sinh vật phù du trong đó lớp tảo Silic chiếm đa số
Một số giống có nhiều loài thường bắt gặp trong ống tiêu hóa của nghêu phải kể
đến: Coscinodiscus (9 loài), Pleurosigma (3 loài), Cyclotella (3 loài), Rhizosolenia (3 loài)
6.56%
1.64%
1.64%
90.16%
tảo Lục tảo Silic tảo Giáp tảo Kim
Hình 1 2: Biểu đồ tỷ lệ (%) giữa các nhóm tảo trong ống tiêu hóa
của nghêu Meretrix lyrata Sowerby, 1851 tại Tiền Giang
Nghiên cứu này cũng cho thấy mật độ tế bào thực vật phù du tại vùng biển Gò Công tương đối cao; tuy nhiên mật độ phân bố không đồng đều và biến động rất lớn theo mùa, thể hiện qua hình 1, điều này có ảnh hưởng khả năng bắt mồi và sự tăng
Trang 16trưởng của nghêu Mùa khô mật độ thực vật phù du tăng vọt so với mùa mưa, lượng thức ăn dồi dào, điều này góp phần củng cố nhận định của nhiều tác giả rằng nghêu tăng trưởng nhanh trong mùa khô hơn là trong mùa mưa
1.1.5- Sự tăng trưởng và chỉ số độ no của nghêu:
Độ no của nghêu cao hay thấp phụ thuộc vào các yếu tố như môi trường sống, lượng thức ăn trong môi trường, ngoài ra còn phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe hay khả năng lọc thức ăn của nghêu ở các nhóm kích thước khác nhau Qua nghiên cứu chỉ
số độ no của nghêu thương phẩm ở ĐBSCL, Nguyễn Văn Hảo và Cộng tác viên (1999) cho rằng nghêu bắt mồi kém vào mùa mưa khi độ mặn giảm thấp Trong mùa khô thì khả năng bắt mồi của nghêu tăng với số lượng nghêu no chiếm tỉ lệ rất cao, ở thời kỳ này nghêu tăng trọng rất nhanh
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Tùng (2007) cũng cho rằng nghêu mập nhất vào các tháng mùa nắng 1,3 và ốm nhất vào các tháng mùa mưa 8,10 Điều này cho thấy tốc độ sinh trưởng của nghêu vào mùa nắng nhanh hơn vào mùa mưa
1.1.6- Đặc điểm sinh sản của nghêu:
1.1.6.1-Sự phát triển tuyến sinh dục:
Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của nghêu, Nguyễn Văn Hảo và CTV
(1999) nhận xét: sự phát triển tuyến sinh dục ở nghêu Meretrix lyrata Sowerby,1851là vấn đề khá mới mẻ và lý thú với sự biến đổi đa dạng trong quá trình phát triển Qua 3 năm nghiên cứu, có thể nhận thấy hiện tượng lưỡng tính ở nghêu, trước khi có một kết luận cuối cùng cần có những nghiên cứu dài hạn tiếp theo Tuyến sinh dục với nhiều phần khác nhau và ở mỗi phần là các giai đoạn khác nhau của cùng một phase phát triển của tế bào sinh dục Đây chính là dẫn cứ cho kết luận cá thể nghêu chỉ đẻ 1 lần trong mùa sinh sản Bên cạnh đó, chính do sự phát triển tuyến sinh dục không đồng đều giữa các cá thể khác nhau sẽ góp phần giải thích sự xuất hiện giống quanh năm
1.1.6.2-Mùa vụ sinh sản:
Nguyễn Đình Hùng (2000) nghiên cứu các điều kiện sinh thái môi trường ảnh
hưởng đến quá trình nuôi nghêu Meretrix lyrata Sowerby,1851 ở vùng ven biển Tiền
Giang, Bến Tre cho rằng, mùa vụ chính xuất hiện nghêu giống bắt đầu vào tháng 6 đến tháng 9 hàng năm với mật độ nghêu giống khá cao Bên cạnh đó nghêu giống còn xuất hiện trong mùa phụ vào các tháng 12 đến tháng 2 năm sau nhưng với mật độ thấp hơn nhiều so với vụ chính (tháng 6 đến tháng 9) Thời gian xuất hiện của nghêu giống xác
Trang 17định mùa sinh sản của chúng, nghĩa là mùa sinh sản chính từ tháng 5 đến tháng 7, ở giai đoạn thời tiết chuyển tiếp từ mùa khô sang mùa mưa, và mùa sinh sản phụ là từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau (có năm không thấy mùa phụ) với mật độ nghêu giống xuất hiện thấp hơn Việc nghêu giống xuất hiện ồ ạt vào tháng 6- tháng 8/1998 cho thấy yếu tố môi trường giữ vai trò quyết định so với các yếu tố khác như nguồn nghêu
bố mẹ, vị trí và cấu tạo nền bãi
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hảo và CTV (1999) cho thấy, mùa vụ sinh sản của nghêu thường bắt đầu vào thời điểm giao mùa từ mùa khô chuyển sang mùa mưa, tức khoảng thời gian từ tháng 6 hoặc tháng 7 hàng năm Đây là thời điểm mà các yếu tố môi trường nước cũng như khí hậu thay đổi rất lớn, chính sự biến động này đã kích thích nghêu
bố mẹ sinh sản, nguồn nghêu giống xuất hiện chủ yếu tại 2 tỉnh Bến Tre và Tiền Giang
1.1.6.3-Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh sản của nghêu bố mẹ:
Theo D.B Quayle và G.F Newkirk (1989), mùa vụ sinh sản của các loài ĐVTM hai vỏ có liên quan đến yếu tố môi trường, thời tiết như độ mặn, thủy triều, dòng chảy… đặc biệt là nhiệt độ và độ mặn Ở vùng ôn đới, Bilvavia thường sinh sản vào mùa xuân (quá trình thành thục sinh dục liên quan đến sự tăng dần nhiệt độ vào mùa xuân) và sự sinh sản phụ thuộc chủ yếu vào nhiệt độ vì độ mặn vùng ôn đới thường tương đối ổn định và không có ảnh hưởng nhiều đến sinh sản Ngược lại, vùng nhiệt đới nhiệt độ cao và tương đối ổn định, còn độ mặn có sự biến động, chính sự biến động này là một nhân tố kích thích quá trình sinh sản của Bivalvia, dẫn đến hiện tượng
là Bivalvia vùng nhiệt đới sinh sản kéo dài và kém tập trung hơn Bivalvia vùng ôn đới Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hảo và CTV (1999) cho thấy, sự biến động
độ mặn tại các vùng khảo sát có liên quan chặt chẽ với nhiệt độ và chế độ mưa lũ hàng năm Biến động độ mặn vào mùa mưa năm 1997 và mùa khô năm 1998 cao hơn nhiều
so với mùa mưa năm 1998 và mùa khô năm 1999 Cùng với kết quả điều tra sự xuất hiện của nghêu giống, tác giả nhận định rằng sự biến động lớn về độ mặn (giảm mạnh
độ muối) và nhiệt độ (giảm nhiệt độ) vào thời điểm đầu mùa mưa là nguyên nhân chính kích thích nghêu sinh sản
Qua nhiều nghiên cứu về mùa vụ sinh sản của nghêu, chúng ta có thể thấy rằng quá trình sinh sản của nghêu có liên quan chặt chẽ với chế độ thời tiết khí hậu, ở đây đặc biệt là vào các giai đoạn chuyển mùa Tính chất mùa vụ có liên quan chặt chẽ với các yếu tố như nhiệt độ, độ mặn Chính việc thay đổi nhiệt độ và độ mặn ở các giai
Trang 18đoạn chuyển mùa đã kích thích tuyến sinh dục nghêu thành thục và hình thành mùa vụ sinh sản của nghêu
1.1.6.4-Các yếu tố ảnh hưởng đến sự xuất hiện nghêu giống:
Theo Nguyễn Tác An và Nguyễn Văn Lục (2001), các bãi triều ven biển Bến Tre
là hệ bãi triều châu thổ, biên độ triều tương đối lớn, bị chia cắt mạnh bởi các nhánh sông lớn và hệ lạch triều Trong đó các bãi nghêu thuộc loại bãi triều cát mịn - trung, nền đáy bở xốp và không chắc, nước mặn lợ Đặc trưng chung của các bãi triều này là
xu thế mở rộng và bồi tụ nhanh về phía biển, thường tạo thành các doi cát, cồn cát ở phía cửa sông, môi trường trầm tích mang tính khử ở mức độ khác nhau, thường giàu
C và P, nghèo N Khu vực trung triều (có thời gian ngập bãi 16 - 20 giờ/ngày-đêm, cao trình từ 1 - 2,5 m) nghêu phân bố rất phong phú; khu vực hạ triều (có thời gian ngập bãi 20 - 24 giờ/ngày-đêm, cao trình từ 3- 4 m) nghêu phân bố chủ yếu là nhóm có kích thước lớn
Báo cáo của Nguyễn Đình Hùng (2000) đề cập: theo ngư dân cho biết, ở những khu vực nước sâu khoảng 8- 10m tại bãi Thới Thuận, nguồn nghêu bố mẹ phân bố khá dày đặc và nguồn lợi này ít bị tác động bởi sự khai thác của ngư dân do chúng phân bố ở khu vực nước khá sâu, mặt khác nguồn nghêu nuôi thương phẩm cũng góp phần bổ sung khá đáng kể Điều này chứng tỏ rằng nguồn nghêu bố mẹ trong tự nhiên không thiếu, vậy nhân tố còn lại ảnh hưởng đến sự hình thành nghêu giống là các tác nhân môi trường (chế độ mưa lũ, độ mặn, dòng chảy…) và còn ảnh hưởng đến sự phát triển của ấu trùng nghêu
Như các loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ khác, quá trình phát triển của nghêu phải trải qua các giai đoạn ấu trùng Giai đoạn đầu là ấu trùng phù du (Trochophore) sống trôi nổi trong nước, sau đó là giai đoạn sống bám trên nền đáy và cuối cùng là giai đoạn trưởng thành - lúc này nghêu đã phát triển chân đầy đủ nên có thể chui rút xuống nền đáy dễ dàng Do đó tác động của các yếu tố môi trường đến sự xuất hiện nghêu giống thể hiện rõ rệt nhất trong giai đoạn ấu trùng sống trôi nổi và giai đoạn chuyển sang sống đáy
a/ Các yếu tố môi trường:
Theo D.B Quayle và G.F Newkirk (1989), trong giai đoạn ấu trùng sống trôi nổi thì dòng nước ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của chúng, dù có khả năng bơi lội thì ấu trùng cũng không đủ sức cưỡng lại dòng nước, điều này có ảnh hưởng đến sự phân bố của ấu trùng và giải thích tại sao các bãi nghêu giống không cố định ở một vị trí
Trang 19Cũng theo D.B Quayle (1989) quan sát thấy rằng ấu trùng Bivalvia có hiện tượng di chuyển lên xuống trong tầng nước theo chiều thẳng đứng và phụ thuộc vào chu kỳ thủy triều (khi triều lên ấu trùng di chuyển lên tầng mặt và khi triều xuống ấu trùng lại di chuyển xuống đáy), đây là căn cứ giải thích cho việc ấu trùng có thể tồn tại
ở khu vực gần cửa sông mà không bị cuốn trôi ra biển
b/ Chất đáy:
Chất đáy là yếu tố sinh thái quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của sinh vật thông qua sự phụ thuộc của sinh vật đó với đặc trưng của nền đáy mà nó thích ứng Theo Odum (1963), động vật thân mềm thường chọn nền đáy cát bùn làm nơi sinh sống, nhóm sống trong cát và trên bề mặt cát là nhóm ăn lọc các chất lơ lửng trong nước, trong khi các loài sống trong bùn thường ăn các mùn bã hữu cơ trong bùn Từ đó đưa ra nhận định rằng mỗi loài sinh vật sống đáy phân bố theo một loại chất đáy riêng
Chất đáy có ảnh hưởng quan trọng đến tỷ lệ sống của nghêu, nhất là trong giai đoạn ấu trùng Sau giai đoạn sống phù du, ấu trùng nghêu chuyển sang sống đáy và bám lên các vật bám trên nền đáy, lúc này ấu trùng rất cần điều kiện nền đáy bằng phẳng và những vật bám như cát to, sỏi…
1.1.7- Khả năng thích nghi điều kiện môi trường:
1.1.7.1-Khả năng chịu đựng độ mặn
Theo nghiên cứu của Trương Quốc Phú (1999), khả năng chịu đựng độ mặn thấp của nghêu lớn cao hơn nghêu nhỏ Độ mặn 4‰ là giới hạn thích nghi dưới của nghêu và 15‰ là độ mặn thích hợp và an toàn cho hoạt động sống của nghêu
1.1.7.2-Khả năng chịu đựng ô nhiễm:
Cũng theo nghiên cứu của Trương Quốc Phú (1999), khả năng chịu đựng của nghêu trong môi trường có nhiều chất thải kém Nghêu chết (50%) trong môi trường có hàm lượng chất thải tương ứng với hàm lượng chất thải NH3 là 0,0256- 0,0425 mg/L do bản thân thải ra sau khoảng thời gian từ 14- 19h
1.2-VẤN ĐỀ BIẾN ĐỘNG NGUỒN LỢI NGHÊU, BIỆN PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN:
Có thể nói, nguồn lợi nghêu giống ở các huyện ven biển Bến Tre nói chung và huyện Bình Đại nói riêng là rất lớn và sự xuất hiện, sinh trưởng, phát triển của chúng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên cũng như sự quản lý khai thác, bảo vệ của cộng đồng ngư dân và chính quyền địa phương
Trang 201.2.1- Sự biến động nguồn lợi nghêu Bến Tre trong những năm gần đây:
Nguyễn Đình Hùng (2000) báo cáo trong 10 năm trở lại đây, nghêu giống xuất hiện với sinh lượng rất cao vào năm 1992, năm 1993 và năm 1998 vào những thời điểm mực nước lũ rất thấp Các năm khác (mức lũ > 4m) thì nguồn nghêu giống rất ít Nghiên cứu nguồn lợi nghêu giống trong 3 năm cho thấy rằng nghêu giống xuất hiện
và sinh trưởng rất tốt trong năm 1998 nhưng trong các năm 1997 và 1999 thì lượng nghêu giống xuất hiện giảm xuống còn rất thấp
Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Hảo và CTV (1999), kết quả thống kê từ năm
1990 đến nay cho thấy nghêu giống xuất hiện với mật độ cao ở vùng ven biển Bến Tre vào các năm 1992- 1993 và 1998 Đối chiếu với số liệu quan trắc môi trường tương ứng của trạm quan trắc lũ sông Tiền thì thấy rằng mức lũ ở những năm này là thấp nhất Điều này cho thấy có sự liên quan giữa chế độ lũ và sự xuất hiện nghêu giống Tác giả đặt ra câu hỏi: phải chăng nghêu vẫn sinh sản hàng năm nhưng vào những năm
lũ lớn, một mặt do dòng chảy xiết, một mặt do độ mặn giảm xuống rõ rệt làm ấu trùng nghêu trôi dạt ra xa bờ hoặc đến những nơi có nền đáy không thích hợp cho sự phát triển của chúng trong giai đoạn chuyển sang sống đáy Chính vì thế, trong năm 1997
và 1999, chúng ta vẫn bắt gặp sự xuất hiện của nghêu giống nhưng với mật độ và sinh khối thấp hơn nhiều so với năm 1998
1.2.2- Nguyên nhân của sự biến động nguồn lợi nghêu:
Nghiên cứu một số chỉ tiêu môi trường, đặc điểm sinh học và nguồn lợi nghêu
Meretrix lyrata Sowerby,1851 ở ĐBSCL của Nguyễn Văn Hảo và CTV (1999) cho thấy: căn cứ vào số liệu thống kê trong 10 năm từ (1989-1999), chỉ có 3 năm 1992,
1993 và 1998 là nghêu giống xuất hiện với mật độ cao trùng vào những năm mùa lũ rất thấp, điều này thể hiện mối quan hệ giữa sự tồn tại và phát triển của ấu trùng nghêu với các yếu tố thủy văn và chế độ mưa lũ Năm 1998 có mức lũ thấp nhất, có thể đây
là nhân tố khá quan trọng cho sự phát triển của nghêu ở giai đoạn phù du, chúng không
bị tác động mạnh mẽ của khối nước ngọt từ nội đồng đẩy đi xa khỏi những bãi đáp của chúng khi chuyển sang giai đoạn sống đáy
Từ đó, tác giả lý giải rằng có thể những năm lũ lớn nghêu vẫn sinh sản nhưng ấu trùng của chúng tồn tại và phát triển kém do độ mặn giảm, do tốc độ dòng chảy vùng cửa sông vào những năm có lũ lớn tương đối cao làm cho ấu trùng nghêu trôi dạt ra xa bờ, sau đó khi chuyển sang giai đoạn sống đáy thì chúng không có nền đáy thích hợp để phát triển
Trang 21Cũng trong nghiên cứu này, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy biến động các yếu
tố như nhiệt độ và độ mặn trong năm 1998 có nhiều ưu thế tạo nên sự bội thu giống hơn so với năm 1997 và năm 1999 Nguyễn Văn Hảo và CTV (1999) cho rằng, sự khác biệt về biến động chế độ nhiệt và độ mặn theo chu kỳ mùa mưa năm 1997 và mùa khô năm 1998 so với mùa mưa năm 1998 và mùa khô năm 1999 là một trong những nhân tố dẫn đến sự khác biệt lớn về nguồn lợi nghêu giống năm 1998 (nghêu giống rất nhiều) so với năm 1999 (không thấy nghêu giống xuất hiện) Nhìn chung, ở từng giai đoạn trong năm 1998, các yếu tố môi trường có nhiều thuận lợi cho sự thành thục (nhiệt độ cao), sự sinh sản của nghêu (biên độ dao động nhiệt và dao động độ mặn lớn trong khoảng tháng 6- tháng 8) và sự phát triển của nghêu giống ở giai đoạn phù du cũng như giai đoạn sống đáy (nhiệt độ ổn định trong mùa mưa, độ mặn tương đối cao và mức lũ thấp) hơn so với năm 1997 và năm 1999
Tác giả đưa ra nhận định tổng hợp rằng, yếu tố môi trường giữ vai trò quyết định nhất so với các yếu tố khác như nguồn nghêu bố mẹ, vị trí và cấu tạo nền bãi (bãi đáp chính của ấu trùng)
1.3-ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN BIẾN ĐỘNG NGUỒN LỢI NGHÊU:
Điều kiện kinh tế xã hội có ảnh hưởng rất đáng kể đến nguồn lợi thủy sản nói chung và nguồn lợi nghêu nói riêng Khi nghiên cứu về kinh tế - xã hội, về khía cạnh kinh tế điều cần quan tâm là làm thế nào để sản xuất phát triển bền vững, gắn liền với hiệu quả và tăng trưởng ổn định trong thời gian dài; về mặt xã hội cần phải ổn định công ăn việc làm, ổn định thu nhập, góp phần xây dựng phúc lợi xã hội…
Nghêu là một trong những nguồn lợi quan trọng ở vùng cửa sông ven biển ĐBSCL với diện tích phân bố khoảng 10.000 - 11.500ha suốt dải ven biển từ Cần Giờ (Tp.HCM) đến Bạc Liêu, Cà Mau Trong đó, Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh là vùng phân bố tự nhiên tập trung với diện tích lên đến 7.800 - 8.800 ha và mật độ trung bình
là 33-60 con/100m2
Nguồn lợi tự nhiên này đã được khai thác từ lâu phục vụ cho nhu cầu tại chỗ Những năm cuối của thập niên 80, do nhu cầu tiêu thụ của các thị trường trên thế giới ngày càng tăng lên và nguồn lợi tự nhiên không còn đáp ứng được thị trường Vì vậy việc quản lý các bãi triều, khoanh vùng nuôi nghêu đã bắt đầu phát triển ở nhiều địa phương trong tỉnh và các vùng lân cận
Trang 22Bến Tre là tỉnh ven biển hình thành bởi 3 cù lao lớn (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa) nằm về cuối nguồn sông Cửu Long với 4 cửa sông lớn nằm trên địa bàn tỉnh đổ ra biển là Cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên Vì thế, hàng năm vùng ven biển Bến Tre tiếp nhận một lượng phù sa rất lớn bồi lắng, tạo ra một vùng bãi bồi ven biển có diện tích đáng kể Với 65 km bờ biển, Bến Tre là tỉnh có diện tích nuôi nghêu lớn nhất nước Hiện nay, tổng diện tích mặt nước nuôi nghêu trong toàn tỉnh đạt 4.200
ha trên diện tích tiềm năng có thể sử dụng để nuôi nghêu là 6.300 ha Đặc biệt, bên cạnh điều kiện tự nhiên thuận lợi thì việc quản lý nghề nuôi nghêu và nâng cao ý thức bảo vệ nguồn lợi nghêu cho người dân ở Bến Tre được các cơ quan chức năng tại địa phương thực hiện khá tốt Do đó những năm gần đây nguồn nghêu giống ở Bến Tre xuất hiện nhiều hơn hẳn so với các địa phương khác Có thể nói, hiện nay nguồn cung cấp nghêu giống chủ yếu cho cả vùng ĐBSCL là tỉnh Bến Tre
Ngoài tác động của các nhân tố khách quan là những yếu tố môi trường như đã nêu trên, hoạt động kinh tế xã hội cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến biến động nguồn lợi nghêu Mặc dù nghề nuôi nghêu ở ĐBSCL hiện nay hầu như lệ thuộc hoàn toàn vào nguồn giống tự nhiên nhưng việc quản lý nguồn lợi ở các địa phương lại chưa được chặt chẽ và ý thức bảo vệ nguồn lợi tự nhiên của người dân chưa cao Chính vì thế nên nguồn nghêu giống cũng như sản lượng nghêu thu hoạch biến động rất thất thường, chưa khai thác hết tiềm năng hiện có của vùng cửa sông ven biển mà ngược lại còn làm ảnh hưởng xấu đến môi trường và nguồn lợi nghêu tự nhiên
Để nghề nuôi nghêu đạt hiệu quả hơn, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, góp phần cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho người dân sống vùng ven biển, việc nghiên cứu đánh giá về hiện trạng, tiềm năng và kinh tế xã hội nghề nuôi nghêu tập trung ở các tỉnh ĐBSCL là hết sức cần thiết Qua nhiều nghiên cứu của các tác giả trong nước như Nguyễn Văn Hảo và CTV (1999), Trương Quốc Phú (1999), Võ Sĩ Tuấn (1999), Nguyễn
Hữu Phụng (1996)… đã cho thấy hiện trạng nghề nuôi nghêu ở các tỉnh ĐBSCL nói chung
và tỉnh Bến Tre nói riêng có nhiều tiềm năng phát triển nhưng cũng gặp không ít thách thức trong khâu quản lý khai thác, bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi nghêu vùng cửa sông ven biển các tỉnh ĐBSCL nói chung Cần Giờ, Tiền Giang và Bến Tre nói riêng
Trang 23Chương 2- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1-THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG:
- Thời gian nghiên cứu: 12 tháng (từ tháng 1- 12/2009)
- Địa điểm nghiên cứu: huyện Bình Đại - Tỉnh Bến Tre
- Đối tượng: Nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata Sowerby, 1851)
2.2-SƠ ĐỒ KHỐI NGHIÊN CỨU:
Hiện trạng, tiềm năng và giải pháp bảo
vệ, phát triển bền vững nguồn lợi nghêu huyện Bình Đại- Bến Tre
Điều tra, đánh giá tình hình kinh
tế- xã hội của cộng đồng dân cư
địa phương
Điều tra, đánh giá thực trạng quản
lý, nuôi và khai thác nguồn lợi
nghêu
-Điều kiện tự nhiên, xã hội
-Hoạt động kinh tế của cộng đồng
dân cư (thu nhập, nghề nghiệp, cơ
cấu lao động…)
-Tình hình văn hóa (học vấn, văn
hóa địa phương)
-Vai trò cộng đồng trong việc bảo
vệ phát triển nguồn lợi
-Tình hình biến động diện tích, nguồn lợi nghêu
-Tiềm năng phát triển
-Tình hình quản lý, bảo vệ, khai thác (số hộ, ngư cụ, mùa vụ) -Nghiên cứu chính sách, thể chế có liên quan đến khu vực nghiên cứu -Năng lực cán bộ quản lý
Tổng hợp, phân tích, đánh giá hiện trạng, tiềm năng và những thuận lợi, khó khăn
Kiến nghị, đề xuất giải pháp bảo vệ, phát triển bền vững nguồn lợi nghêu huyện Bình Đại- tỉnh Bến Tre
Trang 242.3-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỤ THỂ:
Đối tượng nghiên cứu bao gồm những đối tượng quản lý, nuôi, khai thác và kinh doanh nguồn lợi nghêu Trong đó, đối tượng để lấy số liệu thứ cấp là các Sở Thủy Sản, Phòng Thủy Sản huyện, các HTX nuôi trồng Thủy sản (nghêu) ở vùng nghiên cứu; đối tượng để lấy số liệu sơ cấp là các hợp tác xã, các xã viên và người kinh doanh, với tổng số mẫu phỏng vấn là 66, được phân bố tại 2 xã thuộc huyện Bình Đại, gồm Thới Thuận (33 mẫu) và Thừa Đức (33 mẫu) Các phương pháp cụ thể như sau:
-Chú ý các phương pháp nghiên cứu cộng đồng
1 Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng Paticipatory Rural Appraisal)
(PRA-2 Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của cộng đồng Rapid Rural Appraisal)
(RRA Đánh giá hiện trạng kinh tế- xã hội vùng nghiên cứu bằng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn, thông qua bộ câu hỏi chuẩn đã soạn thảo chi tiết Mẫu câu hỏi này mang tính chất định tính cho nhóm nông dân và cho cán bộ quản lý nhằm kiểm tra lại kết quả từ điều tra cơ bản, cũng như đây là những thông tin chung của vùng nghiên cứu để hỗ trợ cho việc tìm hiểu sự tương quan, tương phản giữa các đối tượng giúp cho đánh giá khách quan hơn
Trên cơ sở đối tượng điều tra là tất cả các hộ xã viên thuộc 2 HTX Rạng Đông (xã Thới Thuận) và Đồng Tâm (xã Thừa Đức), nhằm đạt mức ý nghĩa thống kê với số lượng mẫu điều tra tối thiểu bắt buộc phải từ 30 mẫu trở lên và qua điều tra cho thấy
số hộ ở 2 xã tương đương nhau (Thới Thuận 1987 hộ, Thừa Đức 2014 hộ), vì thế thống nhất chọn số mẫu là 66 hộ; bao gồm: xã Thới Thuận (HTX Rạng Đông) 33 hộ,
xã Thừa Đức (HTX Đồng Tâm) 33 hộ Sau khi đã thống nhất số lượng mẫu, sẽ tiến hành điều tra ngẫu nhiên ở các ấp
- Số liệu về diễn biến diện tích, sản lượng được lấy từ báo cáo tổng kết hàng năm của Sở Thủy sản, các hợp tác xã và có đối chiếu với số liệu của Cục thống kê tỉnh Sử dụng phần mềm MS.Excel để xử lý số liệu và vẽ biểu đồ, đồ thị Các chỉ số thống kê đơn giản được áp dụng để phân tích và so sánh, sử dụng chỉ số tương quan và hồi qui để phân tích xu hướng biến động nguồn lợi nghêu theo các chỉ tiêu
-Tìm hiểu các văn bản đã được ban hành của Nhà nước, của Bộ Thủy Sản/Nông nghiệp và PTNT, các quy định từ các cấp thuộc chính quyền địa phương cũng như các biện
Trang 25pháp đang được thực thi trong việc quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi nghêu trên từng địa bàn Nội dung này sẽ được thực hiện bằng phương pháp thu thập và sàng lọc thông tin từ các
tư liệu thứ cấp Đó là những tư liệu liên quan đến các điều luật, các quy chế của Nhà Nước,
của Bộ đã được phổ biến, áp dụng trong ngành và trên từng khu vực Các tư liệu này sẽ được thu thập từ các bộ phận lưu trữ của Sở đặc biệt tập trung tìm hiểu các văn bản và những quy định cụ thể của từng cấp quản lý (thuộc tỉnh, huyện, xã) tại Sở Thủy Sản, Chi Cục Bảo
Vệ Nguồn Lợi, các Ban Quản Lý trực tiếp của các hợp tác xã thuộc địa bàn khảo sát
- Thu thập và sàng lọc các thông tin thứ cấp (các công trình nghiên cứu trước đây liên quan đến các bãi nghêu giống, đặc điểm sinh học, tiềm năng phát triển từ các Viện Nghiên Cứu, trường Đại Học đã được công bố); đặc biệt là kinh nghiệm thực tế của ngư dân địa phương nhằm tìm hiểu qui luật, vị trí xuất hiện nghêu giống, nghêu bố mẹ; quá trình hình thành các bãi nghêu giống cũng như dự đoán các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự xuất hiện hay mất đi của các bãi nghêu có trong vùng nghiên cứu …
- Phân tích hiện trạng và những tồn tại trong quy chế và biện pháp quản lý, kết hợp với các kết quả nghiên cứu sinh học nghêu, sò huyết, kinh tế xã hội… đề xuất các quy định về khai thác và bảo vệ, góp phần hoàn thiện hơn các định chế về quản lý
nguồn lợi nghêu Meretrix lyrata
Trang 26Chương 3- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1.-ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN::
3.1.1.-Vị trí địa lý huyện Bình Đại:
-Bình Đại là một trong 3 huyện ven biển tỉnh Bến Tre, nằm trên cù lao An hoá,
được bao bọc bởi 2 sông lớn là sông Cửa Đại, sông Ba Lai và biển Đông Diện tích tự nhiên của huyện là 401 km2 Dân số năm 2008 là 132.047 người, mật độ dân số 326 người/km2 (bình quân cả tỉnh 574 người/km2), có 19 xã, 1 thị trấn, 91 khóm ấp
+Phía Đông giáp biển Đông;
+Phía Tây giáp huyện Châu Thành trên Cù lao An Hoá;
+Phía Nam giáp huyện Ba Tri với ranh giới là sông Ba Lai;
+Phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang với ranh giới tự nhiên là sông Cửa Đại
+Huyện có 27 km bờ biển Đông với hơn 2.000ha đất bãi triều cao thích hợp cho việc phát triển nuôi nghêu
-Vùng nghiên cứu của đề tài này nằm trên 2 xã Thừa Đức và Thới Thuận
Hình 3.1- Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre
Trang 27Hình 3.2- Bản đồ hành chính huyện Bình Đại
3.1.2-Đặc điểm khí hậu:
Vùng cửa sông ven biển huyện Bình Đại có khí hậu nhiệt đới gió mùa, cận xích đạo, có nền nhiệt cao ít biến động Có sự phân biệt rỏ 2 mùa trong năm Mùa mưa có gió mùa Tây Nam thịnh hành, có lượng bốc hơi thấp, độ ẩm không khí cao và mùa khô
có gió mùa Đông Bắc thịnh hành, có lượng bốc hơi cao, độ ẩm không khí thấp
3.1.2.1-Nhiệt độ không khí:
Nền nhiệt độ vùng cửa sông ven biển huyện Bình Đại tương đối cao, bình quân hàng năm 26,960C Tháng nóng nhất có nhiệt độ trung bình 28,510C (tháng 3-4), tháng mát nhất có nhiệt độ bình quân khoảng 25,390C (tháng 12-1) Trong năm nhiệt độ ban ngày không nhỏ hơn 20oC Nhiệt độ lúc nóng nhất vào đầu giờ chiều (tháng 4) đo được tới 37oC-380C(năm 2010 đạt 380C) Biên độ giao động giữa ngày và đêm khá cao trung bình 14oC trong mùa khô và 11,4oC trong mùa mưa
Bảng 3.1: Nhiệt độ không khí ( 0 C) trung bình/tháng qua các năm (2005-2008)
Trang 283.1.2.2-Số giờ nắng:
Quanh năm có nắng, tổng số giờ nắng trung bình nhiều năm trong khoảng 2.630 giờ/năm Số giờ nắng trung bình trong mùa khô 8-9 giờ/ngày; tháng 2,3,4 có nhiều giờ nắng nhất, lớn hơn 9 giờ/ngày, các ngày có số giờ nắng cao đều tập trung vào tháng 1 đến tháng 5 Số giờ nắng trung bình trong mùa mưa 5-7 giờ/ngày Số giờ nắng trung bình trong 1 tháng 207 giờ/tháng
Bảng 3.2 : Số giờ nắng trung bình theo ngày và tháng qua các năm (2005-2008)
Vùng
TB/ngày ± SE Min Max TB/tháng ± SE Min Max Bình Đại 6,83 0,23 3,92 10,50 207,37 6,70 115,20 314,90 Nhìn chung, điều kiện nhiệt độ và ánh sáng thích hợp cho nghêu phát triển Tuy nhiên cũng cần lưu ý vào thời điểm nắng nóng, nhiệt độ không khí lên cao vào các tháng 2,
3, 4 (nhiệt độ đạt 380 C) kết hợp với số giờ nắng nhiều (lớn hơn 9h/ngày) làm ảnh hưởng đến nhiệt độ nước và đất trong thời gian phơi bãi, có thể làm nghêu chết hàng loạt
3.1.2.3-Độ ẩm tương đối:
Được xem là khá cao, bình quân 86% Độ ẩm thường có mối quan hệ mật thiết với chế độ mưa và do chế độ gió mùa quyết định vì vậy, độ ẩm thường thay đổi theo mùa, mùa khô từ tháng (12-4) độ ẩm thay đổi từ 70- 84%, mùa mưa từ tháng (5- 11)
độ ẩm biến động từ 85-91%
3.1.2.4-Bốc hơi:
Khá mạnh, thường xảy ra vào mùa khô, cao nhất vào tháng 2 trung bình 6mm/ngày, mùa mưa lượng bốc hơi giảm đi rất nhiều chỉ còn 2,5- 3,5mm/ngày; tháng
11 có lượng bốc hơi thấp nhất 2-3 mm/ngày Lượng bốc hơi trung bình năm 1.427
mm, bình quân 3,3 mm/ngày, cao hơn lượng mưa trung bình năm (1.264mm/năm); bởi vậy tình trạng khô hạn thường xảy ra trong cuối mùa khô
3.1.2.5-Chế độ gió:
Gió mùa Tây Nam từ Ấn Độ Dương thổi vào mùa mưa, tốc độ trung bình 3,6 m/s và mạnh nhất vào tháng 8 - 9, tốc độ trung bình 4,5 m/s Gió mùa Đông Bắc từ biển Đông thổi vào mùa khô, thường bắt đầu thổi vào giữa tháng 10 hoặc trễ hơn một chút, tốc độ trung bình 2,4 m/s và thổi mạnh nhất vào tháng 1 Gió thường thổi theo 2
Trang 29hướng: Đông Bắc, Đông và Đông Nam Trong đó, chủ yếu là Đông và Đông Nam mà
dân địa phương thường gọi là gió chướng
Thời gian họat động của gió chướng trong năm bắt đầu từ cuối tháng 10 và kết thúc vào cuối tháng 5 Gió chướng đạt cực đại vào tháng 2 – 4, vận tốc 5 – 8 m/s Trong ngày gió chướng thường mạnh vào lúc xế chiều khi có sự chênh lệch nhiệt độ giữa đất liền và biển, lúc này gió chướng kết hợp với gió biển thổi vào đất liền Gió chướng là nguyên nhân gây nước biển dâng cao, đưa sóng lớn vào bờ, gây xáo trộn nền đáy và nếu kết hợp đồng bộ với thủy triều cường thì càng đẩy mặn truyền sâu vào nội đồng làm ảnh hưởng xấu đến các họat động nông nghiệp các vùng đất ven biển Ngoài ra, sự xuất hiện các đỉnh mặn do gió chướng tác động đã làm cho việc sản xuất nghêu trong khu vực không ổn định Bãi nghêu bị ảnh hưởng và nghêu có thể bị chết
do bị xáo trộn nền đáy và độ mặn tăng cao
Qua những năm quan trắc gió bão của Đài KTTV Khu vực Nam Bộ cho thấy gần đây thỉnh thoảng vẫn có bão xảy ra và tác động trực tiếp vào khu vực tỉnh Bến Tre, nhưng thường tập trung vào các tháng 10, 11, 12 và tháng 1
3.1.2.6-Lượng mưa:
Mùa mưa ở vùng cửa sông ven biển Bình Đại bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 11 Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm ở Bình Đại là 1.439 mm Mùa mưa kéo dài 6 tháng, với số ngày mưa thực
sự từ 150- 160 ngày/năm, tổng lượng mưa 1.214mm, chiếm 96- 98% tổng lượng mưa
cả năm Mùa khô kéo dài 4 tháng với tổng lượng mưa khoảng 50mm, chiếm 2-4% tổng lượng mưa cả năm
Khoảng 90% lượng mưa hàng năm tập trung vào các tháng từ tháng 5 – 11 Trong các tháng mưa thì tháng 6 và tháng 10, nói chung là có lượng mưa nhiều nhất Xen kẽ hai đỉnh có mưa nhiều nhất này là hai thời kỳ ít và không mưa Thời kỳ ít mưa thứ nhất là vào tháng 1 và 2 lượng mưa không đáng kể chỉ chiếm 1,5 – 6% tổng lượng mưa cả năm Thời kỳ ít mưa thứ hai là vào tháng 7 hoặc tháng 8, lượng mưa lúc này giảm còn khoảng 170 – 180 mm Các đợt hạn dài ngày xảy ra vào thời kỳ này được dân địa phương gọi là hạn bà Chằng
3.1.2.7 -Chế độ thuỷ văn:
-Vùng ven biển Bình Đại là nơi đổ ra biển của các sông lớn Mỹ Tho, Ba Lai, Hàm Luông với lưu lượng nước khá lớn 3.400m3/s
Trang 30-Triều biển: khu vực các cửa sơng đều cĩ chế độ bán nhật triều khơng đều, mỗi ngày cĩ 2 lần nước lên và 2 lần nước xuống Hàng tháng cĩ 2 kỳ triều cường và 2 kỳ triều kém Biên độ triều hàng ngày từ 2,9 -3,4m, trong nhiều năm cĩ thời điểm đạt 4- 4,1m Thuỷ triều mạnh vào các tháng 11-1, mức đỉnh triều cao cĩ thể đạt 4,1m, triều yếu vào các tháng 6-7, mức triều thấp 0,2m; mực nước trung bình trong năm 2,6m
3.1.3- Chất lượng nước:
3.1.3.1-Nhiệt độ nước:
Bảng 3.3 : Nhiệt độ nước trung bình tại vùng khảo sát
Theo Mulholland (1984), nghêu phát triển tốt ở 20 – 30oC Ở 10oC, nghêu cĩ thể
ăn nhưng do khơng tiêu hĩa được, nên khơng lớn Chưa xác định được nhiệt độ tối ưu cho ấu trùng, nhưng đối với con trưởng thành thì giá trị nhiệt độ/độ mặn kết hợp để tăng trưởng tốt là 30oC/22,5‰ và cao hơn; 27,5oC/17,5‰ và 20,0‰; và 25,0oC/15‰
Ấu trùng nhạy cảm đối với sự chênh lệch của độ mặn hơn là nhiệt độ Tuy nhiên cá thể
càng lớn thì càng nhạy cảm hơn đối với nhiệt độ cao (theo Kect và nnk, 1974 dẫn từ Mulholland, 1984)
Nhìn chung, nhiệt độ nước tại vùng nghiên cứu hầu hết thời gian trong năm đều thích hợp cho sự phát triển của các giai đoạn sinh trưởng nghêu Nhiệt độ nước mặc dù
cĩ biến động giữa ngày và đêm, giữa các mùa trong năm, nhưng với biến động nhiệt
độ này sẽ khơng ảnh hưởng lớn đến sự sống và phát triển của nghêu Tuy nhiên, cũng cần cần lưu ý, vào thời điểm nĩng nhất trong năm (tháng 2-4), nhiệt độ khơng khí, nhiệt độ nước tăng cao, dẫn đến nhiệt độ trong đất do hấp thụ lúc phơi bãi sẽ vượt xa ngưỡng nhiệt độ cho phép và cĩ thể sẽ là nguyên nhân gây chết nghêu hàng loạt trong thời điểm này
3.1.3.2-Độ mặn:
Theo số liệu của Đài Khí tượng thuỷ văn Khu vực Nam Bộ năm 2008, 2009 thì vùng cửa sơng ven biển Bình Đại hầu như mặn quanh năm, nhưng cĩ mức độ khác nhau tuỳ theo mùa; trong mùa mưa thời điểm thấp nhất đạt 3%o, độ mặn cao nhất vào tháng 3-4 hàng năm đạt từ 30-32%o
Theo Morrison (1971) dẫn từ Mulholland, 1984 thì độ mặn là yếu tố rất nhạy cảm đối với đời sống của nghêu Ảnh hưởng giữa cặp yếu tố nhiệt độ/độ mặn đối với
Trang 31nghêu rất khó nhận xét do tính chất tương tác của chúng với nhau Theo Woodburn (1961) dẫn từ Mulholland, 1984 thì nghêu thường sống được ở 20 – 32,5‰, tối ưu cho trứng phát triển là 26,5 – 27,5‰ Ấu trùng phát triển tốt ở khỏang 20‰ Dưới 17,5 –
20 ‰ sẽ ức chế quá trình chuyển đổi giai đọan từ ấu trùng sang hậu ấu trùng Mức tối thiểu chấp nhận cho nghêu trưởng thành sống được là 12,5‰ (Castagna và Chanley, 1973) Theo nghiên cứu của Mc Keali và Woligdge (1963) thì một số động vật thân mềm hai vỏ thích nghi trong khoảng độ mặn từ 7-30‰ Nếu độ mặn giảm hơn giới hạn trên thì khả năng lọc thức ăn của chúng giảm
Với độ mặn tại các bãi nghêu trong vùng nghiên cứu cho thấy độ mặn nằm trong giới hạn bình thường cho nghêu phát triển, nhưng cũng cần quan tâm hơn đối với những tháng mùa mưa lũ hoặc nắng nóng (độ mặn có lúc xuống quá thấp hoặc lên quá cao), có thể gây chết nghêu để có kế hoạch thu hoạch hoặc san thưa, di dời giảm bớt thiệt hại do độ mặn giảm thấp hoặc tăng cao
3.1.3.3-COD:
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Tùng (2007), COD vùng ven biển Bình Đại trung bình 5,48 mg/l, thấp nhất 0,7 mg/l và cao nhất 15,30 mg/l Qua phân tích cho thấy COD thay đổi theo mùa rất rỏ rệt, giá trị COD max cũng khá cao 15,3 mg/l vào thời điểm giữa mùa mưa (do ô nhiểm từ các sông lớn như sông Tiền, Ba lai, Hàm Luông đổ ra) Tuy nhiên với kết quả này, COD vẫn nằm trong giới hạn bình thường để nghêu phát triển
3.1.3.4-BOD:
Cũng tương tự như COD vào thời điểm giữa mùa mưa (tháng 8), BOD của nước vùng ven biển huyện Bình Đại đạt khá cao 13,6 mg/l và thấp nhất vào thời điểm cuối mùa khô (tháng 3-4) đạt 0,4 mg/l, BOD trung bình đạt 4,71 mg/l Như vậy, với mức độ trung bình trên của BOD cho phép khẳng định hàm lượng này nằm trong giới hạn bình thường cho nghêu phát triển
Trang 32nhiên ấu trùng sinh trưởng bình thường ở pH: 6,75 – 8,50 Nếu pH<7 hoặc pH>9 thì quá trình phát triển phôi sẽ bị đình trệ Nghêu trưởng thành vẫn sống được ở pH<7 nhưng sẽ không sinh sản được Với kết quả phân tích trên cho thấy pH tại các bãi nghêu Bình Đại nằm trong giới hạn bình thường cho nghêu sinh sống và phát triển
3.1.4- Chất đất:
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn thanh Tùng (2007), cho thấy:
3.1.4.1-Thành phần cơ giới của đất:
Thành phần cơ giới trung bình của chất đáy tại các bãi nghêu huyện Bình Đại gồm: thành phần sét chiếm 28,3%, thành phần thịt chiếm 1,4%, thành phần cát chiếm 70,3%
Với số liệu trên cho thấy nền đáy của các bãi nghêu Bình Đại có tỉ lệ thành phần cơ giới nằm trong giới hạn phù hợp vì theo Nguyễn hữu Phụng (1996) thì nền đáy cát bùn với tỉ lệ cát từ 60-90% được xem là thích hợp để nghêu sinh trưởng và phát triển Bùn hay cát quá nhiều đều làm nghêu dễ chết, bùn nhiều làm nghêu chết ngạt, cát nhiều thì nghêu chết vì khô và nóng Chính vì vậy, cần lưu ý các vùng có nhiều cát, khi thuỷ triều kém đồng thời gặp lúc thời tiết nắng nóng kéo dài nghêu dễ bị chết để từ đó có kế hoạch san thưa hoặc di chuyển sang nơi khác ở những thời điểm gặp thời tiết bất lợi
3.1.4.2 Thành phần hữu cơ của đất:
Hàm lượng mùn trong đất có vai trò quyết định đối với độ phì của đất Trong thành phần của mùn có chứa phần lớn đạm của đất và nhiều nguyên tố khác như Ca,
K, P, khi được phân giải chúng sẽ là các chất dinh dưỡng cho các loài sinh vật, cho nên mùn là nguồn dự trữ thức ăn cho nhiều sinh vật; chúng là loài thức ăn chiếm đa số trong dạ dày nghêu (Nguyễn Hữu Phụng, 2001)
Qua kết quả phân tích cho thấy mùn trong đất dao động từ 0,2-0,7%; đạm dao động từ 0- 4%; lân 0,1- 0,2% Như vậy, với kết quả này cho thấy tỉ lệ mùn trong đất ở vùng nghiên cứu < 1%; đồng thời tỉ lệ lân tổng số (P2O5) và đạm trong đất cũng thấp
hơn tiêu chuẩn 1,5% và 0,1% của Đoàn Thị Thái Yên (1999) cho nên có thể kết luận
chất đất tại các bãi nghêu vùng nghiên cứu là nghèo dinh dưỡng
3.2-TÌNH HÌNH KINH TẾ- XÃ HỘI CỦA CỘNG ĐỒNG:
Trên cơ sở kết quả điều tra tại 66 hộ gia đình trong vùng nghiên cứu thuộc 2 xã Thừa Đức (Hợp Tác xã Đồng Tâm ) và Thới Thuận (Hợp tác xã Rạng Đông) cho phép thể hiện tình hình kinh tế, xã hội của cộng đồng dân cư của khu vực này như sau:
Trang 33Số hộ không trả lời
Nhân khẩu
Số nhân khẩu trung bình/hộ
Thấp nhất/hộ
Cao nhất/hộ Tỉ lệ/số
nhân khẩu Tổng số nhân khẩu trong 1 hộ 66 0 318 4,818 1 9 100
Số nhân khẩu bình quân 1 hộ khoảng 5 người, dao động từ khoảng 1 – 9 người trong đó tỷ lệ nam và nữ trong cộng đồng xấp xỉ nhau (50,9 và 49,1%), tỉ lệ nam nữ trong 1 hộ cũng tương đương nhau (2,4 người/hộ)
Tỉ lệ %
so với NKhẩu
Số người trong độ tuổi LĐ 66 183 1 7 2,77 57,55%
Lao động không tạo thu nhập 23 33 1 5 0,50 10,38%
Qua bảng 3.5 cho thấy, trung bình một hộ có khoảng 2,77 người trong độ tuổi lao động; trong đó có khoảng 2,27 lao động tạo thu nhập cho gia đình và 0,5 lao động không tham gia tạo thu nhập Tùy vào mức độ thành viên nhiều hay ít, độ tuổi, sức khỏe mà số lượng lao động dao động thấp nhất là 1 người/hộ, cao nhất là 7 người/hộ; trong đó, lao động nam trung bình 1,35 người/hộ, lao động nữ trung bình 1,42 người/hộ Vì lao động khai thác nghêu vốn không đòi hỏi kỹ thuật quá phức tạp, nên
cả nam lẫn nữ đều có thể tham gia được, chính vì thế mà chênh lệch lao động giữa nam và nữ trong cộng đồng rất thấp
Trang 34Bảng 3.6: Số lượng, tỉ lệ người ngoài tuổi lao động tham gia thu nhập cho hộ
Số hộ Tổng Số
người
Tỉ lệ % so với nhân khẩu
TB Người/ hộ
Người ngoài tuổi không tham
gia tạo thu nhập
Có tham gia tạo thu nhập 10 hộ 21 6,60% 0.318
Bảng 3.6 chỉ rỏ, số lượng người ngoài tuổi lao động chiếm tỉ lệ khá lớn 35,85%
so với tổng nhân khẩu hoặc nói cách khác khoảng 1,7 người/hộ; trong đó, số người ngoài tuổi không tham gia thu nhập chiếm 29,5% tổng nhân khẩu và chỉ có khoảng 6,6% tổng nhân khẩu tham gia tạo thu nhập cho gia đình
Trang 35Theo bảng 3.7 và hình 3.3 cho thấy cơ cấu nghề nghiệp ở hai hợp tác xã được khảo sát phân bố như sau: 40,9% số hộ phỏng vấn có nghề sản xuất chính của gia đình là làm thủy sản (chủ yếu là nuôi trồng thủy sản và khai thác thủy sản ven bờ), 18,18% làm nông nghiệp như làm giồng, trồng cây ăn trái; 21,21% làm dịch vụ ( đại lý thức ăn,bán tạp hoá, buôn bán nhỏ, cơ sở sửa chữa nhỏ,…); 3,03% đi làm thuê cho các công ty, xí nghiệp trong
và ngoài tỉnh và 16,68% số hộ còn lại làm nội trợ
Qua các con số trên cho thấy lao động chủ yếu ở nhóm ngành thủy sản ( lao động tham gia HTX nghêu, nuôi thủy sản khác, đánh bắt thủy sản) trong đó phụ thuộc vào con nghêu là rất lớn (cào, san thưa, khai thác nghêu) còn lại lao động tham gia các ngành dịch vụ ở đây chủ yếu là buôn bán nhỏ, kinh doanh ăn uống, tham gia mua bán thủy sản,… hoạt động ở quy mô nhỏ lẻ Hoạt động nông ngiệp chủ yếu là làm giồng, trồng xoài, bắp, tuy nhiên nông nghiệp không phát triển mạnh do hầu hết ở khu vực HTX ở ven biển nên nguồn nước ngọt rất khan hiếm, thậm chí người dân còn phải mua nước ngọt để dùng cho sinh hoạt trong gia đình từ nơi khác Ở các xã Thới Thuận và Thừa Đức vẫn chưa có các công ty, xí nghiệp, hoặc nhà máy nào được xây dựng tại đây do đó lao động tham gia nhóm ngành công nghiệp hoặc tiểu thủ công nghiệp chủ yếu là đi các thành phố lớn và các vùng khác Tỷ lệ lao động nữ tham gia nội trợ còn khá cao đến 16,68% phần lớn không làm gì thêm do ở đây có rất ít hoặc không có việc làm trong những lúc rảnh rỗi
Do các đặc trưng về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên có phần khó khăn vì thế cơ cấu lao động ở các hộ xã viên phụ thuộc rất lớn vào ngành thủy sản, trong đó chủ yếu
là nghề nuôi nghêu, do đó nếu các HTX làm ăn không đạt hiệu quả về kinh tế sẽ khó
có thể giải quyết được vấn đề kế sinh nhai cho các hộ xã viên
Ngoài ra, nguồn thu nhập từ con nghêu ( chủ yếu là khai thác, san thưa, nguồn lợi nhuận được chia) đem lại cho các hộ gia đình cũng khá ổn định hơn so với các nghề khác do đó dễ tạo nên tâm lý ỷ lại và chỉ trông chờ vào con nghêu mà không tìm cách tham gia các hoạt động kinh tế khác để nâng cao kinh tế gia đình
Thời gian rảnh rỗi của lao động ở các HTX dư rất nhiều vì không phải ngày nào cũng đi làm trong HTX nghêu; trong khi ở đây không có nhiều công việc để người dân có thể tham gia lao động sản xuất, điều này sẽ là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp tại địa phương, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội trong vùng và đặc biệt ảnh hưởng lớn đến tính bền vững của mô hình HTX,…
Trang 36Chính vì vậy, mặc dù nguồn nhân lực để tham gia sản xuất của nông hộ là khá cao, tuy nhiên, việc giải quyết công ăn việc làm cho nhóm đối tượng này sau vụ sản xuất nông nghiệp (thời kỳ nhàn rỗi) là vấn đề cần phải quan tâm
3.2.4-Thu nhập bình quân hộ:
*Thu nhập từ các hoạt động kinh tế khác:
Bảng 3.8: Thu nhập bình quân một hộ trừ nguồn thu từ nghêu
N Thấp nhất Cao nhất Trung bình Tổng thu nhập/ hộ (triệu đồng) 66 -56,40 221,00 30,1929 Thu nhập trung bình một hộ là 30,2 triệu đồng/năm Nguồn thu từ các hoạt động kinh tế khác trong gia đình chưa tính nguồn thu từ nghêu, cao nhất là 221 triệu đồng/hộ chủ yếu ở các hộ có tham gia các mô hình nuôi thủy sản như tôm sú, hoặc kết hợp vừa nuôi thủy sản vừa làm giồng, trồng cây ăn trái Tuy nhiên có những hộ có thu nhập âm trong năm 2008, lỗ nặng nhất là 56 triệu đồng, đây chủ yếu cũng là các hộ nuôi thủy sản như tôm sú, sò huyết hoặc làm giồng bị mất mùa
*Thu nhập từ nghêu::
Nguồn thu từ nghêu của những năm gần đây (gồm lợi nhuận được chia và công lao động khai thác nghêu bình quân khoảng 15 triệu đồng/hộ/năm)
3.2.5- Tình hình văn hoá trong hộ:
Bảng 3.9- Tình hình văn hoá trong hộ
Tổng số hộ
Tên Biến
Số hộ trả lời
có
Số hộ trả lời không
Số người
Trung Bình số người /hộ
Thấp nhất/hộ
Cao nhất/hộ
% so với nhân khẩu Tổng số nhân khẩu trong 1 hộ 66 0 318 4,818 1 9 100
Trang 37xuống chiếm 66,71% (trong đó có 6,29% mù chữ), số người có trình độ cấp 3 là 3,77%, số người có trình độ trung học, cao đẳng chiếm 1,57% và số người có trình độ đại học chỉ chiếm 0,91%
Trình độ văn hóa là yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến nhận thức người dân về vấn
đề quản lý và bảo vệ nguồn lợi nghêu Hiện tại, mặt bằng trình độ văn hóa còn khá thấp vì vậy ảnh hưởng không ít đến biến động nguồn lợi nghêu trong việc nhận thức về tầm quan trọng của sự phát triển bền vững và tính cộng đồng
Mô hình quản lý bãi nghêu ở Bến Tre nói chung và Bình Đại nói riêng là mô hình hợp tác xã Do đó, nguồn lợi nghêu các vùng này phụ thuộc lớn vào chính sách, trình độ quản lý của Ban quản trị hợp tác xã Ban quản trị do dân bầu lên; tuy nhiên, trình độ văn hóa của nông hộ các địa phương này rất thấp, dẫn đến tình trạng là nhiều thành viên Ban quản trị không có đủ trình độ chuyên môn lẫn trình độ quản lý, khiến tình hình hoạt động hợp tác xã gặp nhiều khó khăn Vì thế, việc xây dựng các phương
án và biện pháp quản lý nguồn lợi nghêu cần chú trọng đến yếu tố trình độ nhận thức của người dân vùng nghiên cứu
3.2.6-Cộng đồng đối với việc tham gia hợp tác xã::
Bảng 3 10 : Tác động của HTX đến cộng đồng
Có sự thay đổi (1) Không
đổi (2) Có sự thay đổi (1)
Không đổi (2)
Tiêu cực
Tỷ lệ trả lời Tình hình an
hộ 78,8% 78,8% 0,0% 21,2% 75,8% 75,8% 0,0% 24,2% Nhận thức
Trang 38Diễn giải:
Cột (1):Hộ xã viên được phỏng vấn trả lời rằng: HTX thành lập đã làm thay đổi đến cộng đồng, xã hội,… theo các chiều hướng ( tích cực, tiêu)
Cột (2): Hộ xã viên được phỏng vấn trả lời rằng: từ khi HTX thành lập cũng không
có tác động đến cộng đồng, xã hội, …là mấy hoặc hộ không biết có tác động hay không
Nhận xét chung:
-Nhìn chung cả 2 HTX trên đều có những tác động có chiều hướng tốt đối với cộng đồng, xã hội tại địa phương, điển hình như các HTX đã góp phần nâng cao phúc lợi xã hội thông qua các đóng góp xây dựng cầu, đường xã, trường học,… tạo công ăn việc làm cho các hộ xã viên, nâng cao thu nhập cho hộ gia đình qua các công việc lao động ngoài bãi nghêu và hưởng khoản chia lợi nhuận hàng năm Các HTX cũng góp phần thực hiện tốt công tác kế hoạch hóa gia đình thay cho các ban ngành địa phương (thông qua quy định: nếu vợ chồng có thêm con thứ 3 sẽ bị cắt sổ nghêu của vợ hoặc chồng (1 trong 2 người sẽ không được nhận khoản chia lợi nhuận trong 3 năm), nếu có thêm con thứ tư sẽ bị cắt sổ nghêu của cả vợ chồng… ) HTX Rạng Đông nhờ có nguồn thu từ nghêu giống thiên nhiên khá lớn và mô hình nuôi đem lại nhiều hiệu quả kinh tế, do đó các khoản hỗ trợ của HTX về phúc lợi cộng đồng tốt hơn so với HTX Đồng Tâm Sức ảnh hưởng của HTX Rạng Đông đối với xã viên có phần lớn hơn so với HTX Đồng Tâm (chủ yếu vì khoản lợi nhuận được chia của HTX này là khá lớn,
mô hình tổ chức quản lý có phần chặt chẽ hơn,…)
-Một tín hiệu đáng mừng thứ hai là nhờ công tác bảo vệ và quản lý khai thác khá chặt chẽ nên việc phát triển nuôi nghêu không làm ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái
Tuy nhiên, cũng cần chú ý đến công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật vì có đến 66,7% (ở Rạng Đông) và 75,8% (ở Đồng Tâm) trả lời là nhận thức của người dân
về pháp luật không có sự thay đổi nào so với trước khi có hợp tác xã
3.2.7-Các vấn đề ngoại cảnh tác động:
3.2.7.1-Môi trường:
Như chúng ta biết, môi trường và phát triển nói chung là hai mặt của một vấn đề Môi trường bờ là địa bàn và đối tượng phát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia, còn quá trình phát triển là nguyên nhân sâu xa gây ra các biến đổi môi trường và tài nguyên vùng bờ Trong thực tế, tùy thuộc vào mức độ phát triển mà tác động qua lại giữa hai khía cạnh nói trên biểu hiện khác nhau Nhưng có một điều chắc chắn là con
Trang 39người càng đẩy nhanh tốc độ phát triển trên lưu vực và vùng bờ thì mức độ gây tổn thương đến môi trường và tài nguyên bờ sẽ ngày càng cao
Hiện nay ở vùng biển Việt Nam có khoản 340 giếng khoan thăm dò và khai thác dầu khí Ngoài việc thải nước lẫn dầu với khối lượng lớn, họat động này còn phát sinh khoản 5.600 tấn chất thải rắn, trong đó có 20-30% là chất thải rắn nguy hại còn chưa
có bãi chứa và nơi xử lý Sự cố tràn dầu và thải dầu cặn vẫn tiếp tục xảy ra nhiều, đôi khi trên diện rộng và gây thiệt hại lớn đến động vật thủy sản Từ 1994-2006 đã xác định được khoản 50 vụ tràn dầu với số lượng dầu tràn trên 5.000 tấn
Nước thải công nghiệp, nông nghiệp và sinh họat cũng chưa được quản lý chặt chẽ Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Định Tuấn, 1999 thì vùng kinh tế trọng điểm phía nam đã thải vào các sông rạch một lượng nước thải sinh hoạt là 113.216 m3/ngày và nước thải công nghiệp 312.330 m3/ngày, đó là chưa kể đến những cánh đồng ruộng thâm canh
đã và đang sử dụng quá nhiều phân hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thậm chí còn dùng những chất đã bị cấm như Cl-666, DDT, Lindan…Những chất này sớm, muộn đều tập trung vào các sông, rạch rồi chuyển ra biển, gây những hậu quả sinh thái không lường thông qua sự tích tụ sinh học của chuỗi thức ăn
Nghiêm trọng mang tính trực tiếp nhất hiện nay là tình trạng xả thải mầm bệnh chưa qua xử lý từ các ao nuôi tôm, cá bị bệnh ra môi trường nước tự nhiên và việc bơm đất từ các ao nuôi tôm, cá mới đào, bơm bùn từ việc cải tạo ao ra sông rạch làm cho nguồn nước vốn đã ô nhiễm lại càng thêm ô nhiễm
Như vậy, trong quá trình phát triển của mình, bản thân nghề cá cũng là một tác nhân gây ra nhiều hậu quả sinh thái: thu hẹp, hủy hoại hay làm xáo động các hệ sinh thái trên cạn
và dưới nước hay cảnh quan chung và gây ô nhiểm môi trường Và cũng chính vì thế mà Viện nghiên cứu chính sách thực phẩm (IFPI) và Trung tâm cá thế giới (WFC) đã khuyến cáo “thủy sản thế giới có thể trở thành nạn nhân của chính những thành công của mình” Công tác quan trắc và cảnh báo môi trường bước đầu đã được quan tâm và có đầu
tư ở nhiều địa phương, trong đó có Bến Tre; tuy nhiên, quá trình thực hiện chưa mang lại hiệu quả cao; nhiều nơi có thực hiện, có kết quả nhưng lại thiếu cảnh báo kịp thời cho dân; nhiều nơi có xây dựng trạm quan trắc nhưng thực hiện qua loa, chiếu lệ
3.2.7.2-Ảnh hưởng của rừng ngập mặn:
Phá rừng ngập mặn gây mất cân bằng sinh thái, mất nơi cư trú của ấu trùng nhiều loài thủy sản dẫn đến nguồn lợi thủy sản tự nhiên ven biển bị cạn kiệt; đặc biệt khi mất
Trang 40rừng ngập mặn xem như mất hệ thống lọc sinh học cực kỳ quan trọng, môi trường nước tự nhiên dễ bị ô nhiễm, dịch bệnh thường xuyên xảy ra hơn, khó phục hồi môi trường trở lại trạng thái ban đầu, mất tính bền vững, từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến nghề nuôi thủy sản nói chung, nuôi nghêu nói riêng Theo thống kê từ 1985- 2004 tốc độ mất rừng ngập mặn ở Việt Nam ước khoảng 15.000ha/năm
Khác với cả nước, Diện tích rừng của Bến Tre từ năm 2000 đến nay mặc dù không tăng lên đáng kể nhưng cũng cố gắng duy trì và không để suy giảm diện tích Tuy nhiên, qua bảng 3.11 cho thấy diện tích đất không có rừng vẫn còn khá nhiều cần phải tiếp tục tăng cường công tác trồng rừng trong những năm tới
Bảng 3.11 : Hiện trạng rừng tỉnh Bến Tre năm 2009 Loại rừng Bình Đại Ba Tri Thạnh Phú Tổng cộng
3.2.7.3-Tác động của biến đổi khí hậu:
Ngành Thuỷ sản được xác định là ít tham gia nhất vào việc thúc đẩy biến đổi khí hậu, nhưng ngược lại, thuỷ sản là một trong những ngành chịu ảnh hưởng nhiều nhất của hiện tượng này
Biến đổi khí hậu đã làm cho nhiệt độ trái đất gần đây tăng khoảng 0,30C trong mỗi thập niên; tần suất và cường độ các hiện tượng El Nino, La Nina tăng lên đáng kể; Lượng mưa nhiều hơn ở những vùng nhiều mưa và càng khô hạn ở những vùng khô; mực nước biển dâng cao; bão, lũ, lốc, xoáy xãy ra thường xuyên hơn Chính vì vậy, dự báo biến đổi khí hậu sẽ phá vỡ các hệ sinh thái như rừng ngập mặn, vùng đất ngập nước hay khu vực sinh sản của động vật thuỷ sinh, thay đổi ngư trường, giảm trữ lượng và mức độ tập trung của một số quần thể lớn Sự ấm lên của nước biển và dịch chuyển các dòng hải lưu khiến động vật thuỷ sinh phải di chuyển nơi cư trú, sự axít môi trường nước biển sẽ làm giảm khả năng tích luỹ canxi tạo võ của các loài động vật thân mềm nói chung và con nghêu nói riêng