1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thúc đẩy nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ

100 775 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Nhằm Thúc Đẩy Nghiệp Vụ Phát Hành Và Thanh Tốn Thẻ Tại SGD INHCTVN
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Ngân Hàng
Thể loại Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thúc đẩy nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Có thể nói hoạt động Ngân hàng là một “mạch máu” của nền kinh tế, là

lĩnh vực không thể thiếu được đối với sự phát triển kinh tế –xã hội và nó thu hút

sự quan tâm theo dõi của hầu hết chúng ta Cách sống và mức sống của mỗi

người phụ thuộc vào khá nhiều vào sự sẵn sàng của ngân hàng trong việc cung

cấp tín dụng, dịch vụ tiền gửi và rất nhiều các dịch vụ tài chính khác

Trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế, sự cạnh tranh trong lĩnh vực

ngân hàng ngày càng trở nên gay gắt cả về mức độ, phạm vi và sản phẩm, dịch

vụ cung ứng trên thị trường Cùng với sự phát triển kinh tế –xã hội, nhu cầu, đòi

hỏi của khách hàng ngày càng cao trong sử dụng sản phẩm, dịch vụ Có thể

thấy rằng, nhu cầu của khách hàng ở các ngân hàng hiện nay hết sức đa dạng,

phức tạp Họ đòi hỏi từ phía ngân hàng những sản phẩm chất lượng cao với

nhiều tiện ích, lợi ích Như vậy, nhu cầu cao của khách hàng vừa là thách thức

vừa là căn cứ quan trọng đối với các ngân hàng trong việc hoàn thiện, phát triển

các dịch vụ mới.Trong đó, thẻ là một dịch vụ đang được ưa chuộng nhất hiện

nay trên thế giới và đem lại không ít những tiện ích vượt trội hơn hẳn so với các

phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt trước đó Nó thể hiện sự thành

công to lớn trong việc ứng dụng những tiến bộ vượt bậc của ngành công nghệ

thông tin và điện tử viễn thông vào hoạt động ngân hàng

Tại Việt nam, thẻ thanh toán đã được biết đến hơn 10 năm trước đây

nhưng phải đến năm 1996, thị trường thẻ mới trở nên sôi động khi có sự tham

gia của nhiều ngân hàng Bởi lợi nhuận từ dịch vụ này cũng rất hấp dẫn đối với

các ngân hàng và đó chính là cơ hội để các NHTM Việt nam nâng cao khả năng

cạnh tranh và đây cũng là một trong những nghiệp vụ ngân hàng hiện đại giúp

Việt nam đi tắt đón đầu trong dịch vụ ngân hàng, giúp cho hoạt động ngân hàng

trong nước có sức mạnh cạnh tranh với về công nghệ với các ngân hàng nước

ngoài trong lĩnh vực mới mẻ này Tuy nhiên, đây cũng là dịch vụ đem lại không

ít những khó khăn cho các ngân hàng Việt nam Là một chi nhánh đứng đầu

trong hệ thống ngân hàng công thương Việt nam, măc dù đã có nhiều cố gắng

Trang 2

trong hoạt động kinh doanh thẻ song SGDI-NHCTVN cũng chưa phát huy được

hết hiệu quả, doanh số kinh doanh thẻ còn thấp Điều này cũng có nhiều nguyên

do chẳng hạn như: Khó khăn về kinh tế xã hội, về khoa học công nghệ nói

chung và bản thân ngân hàng nói riêng đã gây nhiều trở ngại đối với việc thúc

đẩy hoạt động kinh doanh thẻ đạt tới những giá trị tiềm năng vốn có của nó,

buộc ngân hàng phải không ngừng tự nhìn lại mình và đưa ra các biện pháp giải

quyết để có thể đững vững và khẳng định vị thế của mình trên thị trường

Với mong muốn nâng cao sự hiểu biết của mình về một lĩnh vực hoạt

động mới mẻ và mang đầy yếu tố khoa học - kỹ thuật hiện đại của nghành ngân

hàng, sau thời gian thực tập, nghiên cứu tìm hiểu em đã quyết định chon đề tài: “

Giải pháp nhằm thúc đẩy nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ tại SGD

I-NHCTVN” làm chuyên đề tốt nghiệp cho mình

Bố cục của đề tài gồm:

Ngoài ra còn có phần phụ Chương I: Tổng quan về thẻ

Chương II: Thực trạng cung ứng thẻ tại SGD I - NHCTVN trong thời

gian qua

Chương 3: Giải pháp nhằm thúc đẩy nghiệp vụ phát hành và thanh

toán thẻ tại SGD I - NHCTVN

Trang 3

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ THẺ

I SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG THANH TOÁN

1 Sự phát triển của hệ thống thanh toán phản ánh chức năng của tiền

qua các thời kỳ

Chúng ta có thể có được một bức tranh tốt hơn về các chức năng của tiền

và các dạng tiền từ trước đến nay qua việc xem xét sự tiến triển của hệ thống

thanh toán tức là của phương thức hướng dẫn các giao dịch trong nề kinh tế Hệ

thống thanh toán đã và đang tiến triển từ nhiều thế kỷ, kèm theo nó là dạng tiền

Ở một thời kỳ, những kim loại quý ví dụ như vàng đã được dùng làm phương

tiện chính để thanh toán và là dạng chủ yếu của tiền Sau đó những tài sản giấy

ví dụ như séc và tiền giấy bắt đầu được dùng trong hệ thống thanh toán vàa được

coi là tiền Nơi mà hệ thống thanh toán đang hướng tới có một ý nghĩa quan

trọng đối với việc tiền sẽ được định nghĩa như thế nào trong tương lai

Để có một viễn cảnh về hệ thống thanh toán đang hướng vào đâu, thì tốt

nhất là xem xét kỹ nó tiến triển như thế nào Để cho một vật thể có tác dụng

như là tiền, nó phải có thể được chấp nhận rộng rãi, tức là mọi người phải sẵn

lòng nhận nó trong việc thanh toán mua hàng hoá hay dịch vụ Một vật thể nếu

rõ ràng có giá trị đối với mọi người thì có thể được chọn làm tiền, và một lựa

chọn tự nhiên là một kim loại quý ví dụ như vàng hay bạc Từ cổ xưa đến cách

đây vài trăm năm, những kim loại quý này đã có tác dụng như một phương tiện

trao đổi trong mọi xã hội trừ xã hội sơ khai nhất Vấn đề xảy ra với một hệ thống

thanh toán dựa hoàn toàn vào kim loại quý là ở chỗ một dạng tiền như thế thì rất

nặng và khó chuyên chở từ nơi này sang nơi khác Thử hình dung là các lỗ thủng

trong túi của bạn do dùng lâu ngay nếu phải mua các thứ chỉ bằng chỉ bằng tiền

kim loại! Thực vậy, để mua những món lớn như một ngôi nhà, bạn sẽ phải thuê

một xe tải để vận chuyển tiền thanh toán

Sự phát triển tiếpp theo trong hệ thống thanh toán là đồng tiền giấy

(những tấm giấy có tác dụng làm 1 phương tiện trao đổi) Thoật đầu, đồng tiền

Trang 4

giấy có một lời hứa là có thể được chuyển đổi sang đồng tiền kim loại hoặc sang

một số lượng kim loại quý Tuy nhiên trong hầu hết các nước, nó đã tiến triển

thành tiền pháp định, loại tiền giấy mà chính phủ có uỷ nhiệm pháp lý (nghĩa là

theo pháp lý, tiền này phải được chấp nhận làm tiền trả các món nợ) song, không

có khả năng chuyển đổi thành tiền kim loại hoặc kim loại quý được Đông tiền

giấy có lợi là nó nhẹ hơn nhiều so với tiền kim loại hoặc kim loại quý; nhưng

nó có thể được chấp nhận làm phương tiện trao đổi chỉ với điều kiện là có sự tín

nhiệm đối với cơ quan thẩm quyền (thưòng là chính phủ), phát hành nó và việc

in tiền đã đạt đến một trình độ tiên tiến đầy đủ khiến việc làm giả là cực kỳ khó

khăn Do tiền giấy đã tiến triển thành một thứ thoả ước pháp lý, các nước có thể

thay đổi đồng tiền mà họ dùng theo ý muốn Thực vậy, đây chính xác lã những

gì đã xảy ra ở nước Đức và có thể xảy ra ở toàn châu Âu vào một lúc nào đó

trong tương lai

Trở ngại chính của đồng tiền giấy và đồng tiền kim loại là ở chỗ chúng dễ

bị đánh cắp và có thể tốn kém khi chuyên chở do cồng kềnh để khắc phục khó

khăn này, một bước tiến triển mới của hệ thống thanh toán đã xuất hiện với hoạt

động ngân hàng hiện đạđó là sự ra đời của séc Séc là một kiểu của giấy nợ có

thể thanh toán theo yêu cầu, nó cho phép tiến hành giao dịch mà không cần phải

chuyên chở vòng vèo một lượng lớn tiền mặt Việc đưa séc vào sử dụng là một

điểm mới quan trọng cải thiện được hiệu quả hệ thống thnh toán Thường

thường, các cuộc thnh toán có món đi món về và chúng khử lẫn nhau; Nếu

không có séc thì việc này tạo ra sự di chuyển một lượng lớn tiền mặt Với séc,

các cuộc thanh toán có tính chất khử lẫn nhau có thể được hoàn tất bằng cách

khử séc và không có đồng tiền nào cần chuyển đi Như vậy, việc dùng séc giảm

được chi phí vận chuyển gắn liền với hệ thống thanh toán và cải thiện được hiệu

quả kinh tế Lợi ích khác của séc là ở chỗ chúng có thể được viết ra với bất cứ

lượng tiền nào cho đến hết số dư trên tài khoản, khiến cho việc giao dịch với

những món tiền lớn được dễ dàng hơn nhiều Séc còn có lợi vì nhờ nó việc mất

trộm giảm rất nhiều và mang lại thuận tiện trong việc thu tiền mua hàng

Tuy vậy, có hai trở ngại đối với hệ thống thanh toán bằng séc Trước hết là

Trang 5

cần thời gian để chuyển séc từ nơi này sang nơi khác, điều này đặc biẹt quan

trọng nếu bạn đang thanh toán cho một người ở nơi khác mà người này cần

thamh toán nhanh Ngoài ra, nếu bạn có một tài khoản séc, bạn biết là cần một

vài ngày trước khi một ngân hàng ghi có cho tài khoản của bạn với một séc mà

bạn đã gửi vào Nếu bạn cần ngay tiền mặt, đặc điểm nổi bật này của hệ thống

thanh toán bằng séc làm bạn thất vọng Thứ hai, tất cả những rắc rối phức tạp về

giấy tờ cần phải có đã làm cho việc sử dụng tài khoản séc khá tốn kém; người ta

ước tính gần đây số tiền chi phí cho toàn bộ số tiền viết ở Mỹ đã vượt qua 5 tỷ

đôla mỗi năm

Với sự phát triển của computer và công nghệ viễn thông tiên tiến dường

như sẽ có một phương pháp tốt hơn để tổ chức hệ thống thanh toán của chúng ta

Tất cả công việc giấy tờ có thể được loại bỏ bằng cách biến đổi toàn bộ sang

một hệ thống gọi là hệ thống chuyển khoản điện tử (Electronic funs transfer

system- EFST), tức là một hệ thống thanh toán trong đó mọi cuộc thanh toán

được thực hiện nhờ hệ thống thông tin viễn thông điện tử Chúng ta hãy xem

một hệ thống như vậy có thể làm việc như thế nào

Cửa hàng trong tương lai sẽ có một thiết bị ngoại vi computer (gọi một

cách điển hình là “hệ thống một điểm bán” (a poit-of –sale system POS), hệ

thống này cho phép mua sắm không cần tiền mặt hoặc séc Khi bạn đã chọn

xong món hàng định mua, ví dụ một chiếc áo sơ mi, bạn chỉ cần ngồi xuống bên

thiết bị ngoại vi, ấn số mã bí mật của mình vào máy là có thể chuyển vốn từ tài

khoản ngân hàng của bạn tới tài khoản cửa hàng Khi cửa hàng kiểm tra thấy

điều này đã xảy ra, bạn sẽ được trao chiếc áo sơ mi và ra về Nếu bạn có một

giấy báo nợ cần thanh toán, bạn sẽ chỉ cần bật máy tính cá nhân của bạn và quay

số nối vào một mạng lưới điện tử đặc biệt, tại đó bạn có thể chuyển vốn từ tài

khoản ngân hàng của bạn sang tài khoản của các nhân hay công ty mà bạn đang

nợ Công việc giao dịch này sẽ xảy ra trong khoảnh khắc và không phải soạn

thảo hay viết bất cứ thứ giấy tờ gì

Phải chăng hệ thống chuyển khoản điện tử xem có vẻ là một hệ thống

gượng gạo, thiếu tự nhiên? Không phải như vậy vì hệ thống loại này đã sẵn sàng

Trang 6

hoạt động trên một phạm vi rộng lớn Cơ quan Dự trữ Liên bang có một hệ

thống thông tin viễn thông, gọi là Fedwire (chuyển khoản liên bang), hệ thống

này cho phép mọi tổ chức tài chính có tài khoản tiền gửi ở Dự trữ Liên bang

thực hiện chuyển khoản từ tỏ chức này sang tổ chức kia mà không phải chuyển

séc Ngoài ra, CHIPS (Clearing House Interbank Payment System- Hệ thống

thanh toán bù trừ liên ngân hàng), một hệ thống chuyển khoản điện tử tư nhân,

được dùng để chuyển khoản giữa các ngân hàng trên phạm vi quốc tế Nay các

ngân hàng, thị trường tiền tệ, quỹ tương trợ, những người buôn bán chứng khoán

và các công ty có thể chuyển khoản nhờ hệ thống này

Chuyển khoản theo đường dây (Wire transfer) là đặc trưng cho việc

chuyển những khoản lớn hơn một triệu đôla, bởi vậy, tuy có dưới 1% số vụ giao

dịch dùng phương thức chuyển khoản điện tử (chuyển khoản theo đường dây) ,

trên 80% giá trị đôla giao dịch được chuyển theo phương thức này Tuy thế, khi

chúng ta nói rằng một công ty đang thanh toán cho một thứ gì đó với một séc,

thì công ty đó thường là đang thanh toán bằng cách chuyển khoản điện tử

Gần đây, EFTS đã và đang với tới đời sống của công chúng rộng rãi một

cách trực tiếp Một số khoản nợ định kỳ nay có thể được thanh toán một cách tự

động hàng tháng không cần phải đụng đến tài khoản séc Nhiều công ty thanh

toán lương bằng bằng cách chuyển trực tiếp nó vào tài khoản ngân hàng của

nhân viên Một số ngân hàng mời chào một dịch vụ trong đó khách hàng có thể

nối máy tính cá nhân của họ vào một mạng lưới để thực hiện một số giao dịch,

ví dụ chuyển vốn từ tài khoản tiết kiệm sang tài khoản séc

Tuy đã có dự báo séc sẽ sớm biến mất trong nền kinh tế Mỹ,việc tiến tới

một xã hội không séc còn cần nhiều thời gian hơn là nhiều người đã tưởng

Trong khi hệ thống chuyển khoản điện (EFTS) có thể là hiện hữu hơn Hệ thống

thnh toán trên cơ sở giấy, có một số điều cản trở sự xoá bỏ hệ thống giấy Hệ

thống giấy có lợi vì nó tạo ra những biên nhận bằng giấy(reciept) và sự gian lận

khó thực hơn Chúng ta thường đọc trên báo rằng mọt kẻ không được phép có

thể đã “nắm” được một cơ sở dữ liệu computer và có thể đã sửa đổi thông tin

lưu trữ ở đấy Thực tế, việc như vậy đã thường xảy ra thì có nghĩa là những kẻ

Trang 7

bất lương đã có khả năng với tay tới tài khoản của ngân hàng trong một hệ thống

thanh toán điện tử và lấy cắp vốn gửi bằng cách chuyển nó từ một tài khoản của

một người khác nào đó sang tài khoản của chúng Ngăn ngừa hành động này

không phải là việc dễ làm, và có một nghành hoàn toàn mới dang mở ra để cải

thiện sự an toàn computer Một khó khăn khách đối với Hệ thống thanh toán

điện tử là ở chỗ còn có nhiều vấn đề pháp rắc rối cần được xử lý Ví dụ, liệu bạn

có thể ngừng thanh toán đối với một chuyển khoản điện tử theo cách bạn có thể

làm với séc? Ai phải chịu trách nhiệm nếu, một người nào đó năm được mã số bí

mật của bạn và rút vốn từ tài khoản của bạn một cách bất hợp pháp?

Kết luận rút ra từ lập luận này có lẽ là chúng ta đang đi tới một hệ thống

thanh toán trong đó việc sử dụng giấy tờ sẽ giảm thiểu, tuy rằng việc phát triển

các dạng mới của tiền điện tử (electronic money) có thể là một quá trình từng

bước do có những trở ngại, ví dụ sự đảm bảo an toàn đầy đủ

2.Vai trò của ngân hàng thương mại trong sự ra đời của các phương

tiện thanh toán không dùng mặt

Các nhà kinh tế học đã thừa nhận ngân hàng thương mại là một trong

những phát minh tuyệt vời của nhân loại, được hình thành và phát triển cùng với

quá trình phát triển của xã hội loài người Không ai có thể biết chính xác ngân

hàng thương ra đời khi nào, nhưng chúng ta có thể chắc chắn một điều rằng, sự

phát sinh, phát triển của ngành ngân hàng được quyết định bởi quá trình phát

triển của các mối quan hệ hàng hoá- tiền tệ, bên cạnh những yếu tố khác như:

tình hình kinh tế- xã hội, chế độ pháp quyền, điều kiện chiến tranh và khủng

hoảng kinh tế… Đó là một ngành dịch vụ với tính cộng đồng và tính nhân văn

rất cao, chằng chịt vô số các mối liên hệ với đông đảo công chúng, không chỉ

trong phạm vi quốc gia mà còn trải rộng trên phạm vi quốc tế

Lịch sự ra đời của ngân hàng thương mại là lịch sử kinh doanh tiền gửi

Từ chỗ làm dịch vụ nhận tiền gửi với tư cách là người thủ quỹ cho khách hàng

để nhận thù lao, ngân hàng trở thành những chủ thể kinh doanh tiền gửi, nghĩa là

huy động tiền gửi không những miễn khoản thù lao mà còn trả lãi cho khách

hàng gửi tiền và dùng số tiền đó làm vốn cho vay nhằm tối đa hoá lợi nhuận

Trang 8

Trong quá trình nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho vay, ngân hàng đã thu hút được

các đơn vị kinh tế có quan hệ buôn bán với nhau mở tài khoản tiền gửi thanh

toán tại ngân hàng, tạo cơ sở cho ngân hàng đứng ra làm trung gian thanh toán

theo lệnh của chủ tài khoản Với sự trợ giúp của hệ thống ngân hàng, quan hệ

thanh toán trở nên đơn giản hơn, không gian sản xuất và kinh doanh được mở

rộng Các hoạt động như vận chuyển, đo đếm, kiểm tra tiền để thanh toán không

còn nữa mà thay vào đó các đơn vị chỉ cần mở một tài khoản ngân hàng và kí

lệnh thanh toán khi cần thiết là mọi việc coi như đã hoàn tất Hơn nữa, số tiền

trong tài khoản ngân hàng được bảo quản rất an toàn và có thể mang về những

khoản lãi ngoài sản xuất cho các đơn vị

Về mặt xã hội, ngân hàng làm trung gian thanh toán đã giúp giảm lượng

tiền trong lưu thông, từ đó giảm các chi phí giao dịch như: chi phí in ấn, bảo

quản, vận chuyển tiền… Thông qua cơ chế thanh toán không dùng tiền mặt,

ngân hàng tập trung được một khối lượng tiền nhàn rỗi để cho vay, phục vụ quá

trình tái sản xuất, góp phần thúc đẩy nền kinh tế – xã hội phát triển

Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu của con người cũng thay đổi

theo Để phục vụ tốt nhất cho khách hàng, ngân hàng đã tạo ra những công cụ

tài chính có chức năng hoạt động như một phương tiện thanh toán thay thế cho

tiền mặt như: séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, hối phiếu, thư tín dụng…Khi nền

kinh tế được thị trường phát triển nhanh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, khi công

nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi, hoạt động ngân hàng được mở rộng và

đa dạng hoá, từ chỗ phục vụ cho một khối lượng khách hàng ít ỏi là các tổ chức

kinh tế và doanh nghiệp đến phục vụ cho tất cả các tầng lớp dân cư; từ không

gian địa lý bó hẹp trong phạm vi một vùng kinh tế, một quốc gia cho đến xu

hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá Sự phát triển này tạo nên yếu tố khách quan

buộc các ngân hàng phải không ngừng đổi mới, đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ

thuật và ứng dụng công nghệ hiện đại để thay thế các phương tiện thanh toán cổ

điển Kết quả là một loạt các dịch vụ, phương tiện thanh toán mới và hiện đại ra

đời như: thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, dịch vụ ngân hàng điện tử…ngày càng cho

chúng ta thấy rằng hoạt động ngân hàng là mạch máu của nền kinh tế không thế

Trang 9

thiếu được trong xã hội phát triển vũ bão như hiện nay

Có thể nói, sự ra đời và phát triển hoạt động thanh toán của các ngân hàng

thương mại đóng vai trò quan trọng có tính chất quyết định đối với sự ra đời của

các phưong tiện thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế hiện đại ngày

nay Nhìn vào sự phát triển của chúng tại một quốc gia trên thế giới, người ta có

thể biết được trình độ phát triển của quốc gia đó đã đạt đến mức độ nào

3 Một số phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt hiện nay

Với sự phát triển rất đa dạng, diễn ra trong phạm vi khác nhau của các

phương tiện thanh toán trong hoạt động ngân hàng nhằm phục vụ cho các đối

tượng khác nhau, các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt cũng có nhiều

loại nhưng phổ biến nhất vẫn là những phương tiện thanh toán sau đây:

Séc: Là một tờ mệnh lệnh vô điều kiện, do chủ tài khoản ra lệnh cho ngân

hàng trích một số tiền nhất định tên tài khoản tiền gửi của mình ở tại ngân hàng

để trả cho người thụ hưởng

Uỷ nhiệm chi- chuyển tiền: Là lệnh chi tiền của chủ tài khoản cho ngân

hàng trích tài khoản của mình để trả cho đơn vị hoặc cá nhân người được hưởng

Uỷ nhiệm thu: Là phương tiện thanh toán mà người được hưởng uỷ nhiệm

cho ngân hàng thu hộ tiền hàng hoá đã giao hoặc dịch vụ đã cung ứng

Thư tín dụng (L/C): Là chứng từ thể hiện sự cam kết thanh toán tiền hàng

hoá- dịch vụ của ngân hàng bên mở L/C (ngân hàng người mua) đối với người

bán khi họ thực hiện giao hàng và xuất trình đầy đủ chứng từ theo đúng nội

dung ghi trong L/C Hình thức này thường được sử dụng trong thanh toán quốc

tế

Thẻ thanh toán: Là một phương tiện hiện đại do các ngân hàng( hoặc tổ

chức, công ty) phát hành cho khách hàng của mình để thanh toán tiền hàng hoá,

dịch vụ và ứng rút tiền mặt, thẻ thanh toán đã và đang được sử dụng rộng rãi

trên toàn thế giới, tuy nhiên ở Việt nam dịch vụ này đang còn nhiều mới mẻ

II GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ THẺ

1 Lịch sử hình thành và phát triển của thẻ

Vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cùng với sự phát triển

Trang 10

không ngừng về kinh tế của nhiều quốc gia trong cơ chế thị trường, việc trao đổi

hàng hoá không còn giới hạn trong phạm vi quốc gia, mà mở rộng trên phạm vi

quốc tế đòi hỏi các ngân hàng, các tổ chức kinh tế đòi hỏi các ngân hàng, các tổ

chức tín dụng của các quốc gia phải liên kết với nhau, đưa ra các phương tiện

thanh toán với nhu cầu đa dạng của khách hàng Cũng trong thời gian này, các

thành tựu khoa học kỹ thuật trên các lĩnh vực như thông tin, viễn thông quốc tế,

và đặc biệt là sự ra đời của tin học, máy tính điện tử đã tạo điều kiện thuận lợi,

làm cơ sở cho các ngân hàng, các tổ chức tín dụng hoàn thiện các phương tiện

thanh toán của mình từ đó đem lại sự tiện lợi nhất cho khách hàng.Trong thẻ là

phương tiện thanh toán đang được ưa chuộng nhất trên thế giới

Ngày nay, chúng ta biết thẻ ngân hàng như một phương tiện thanh toán

không dùng tiền mặt hữu ích và hiện đại Số lượng thẻ lưu hành hiện nay lên tới

550 triệu thẻ với doanh số thanh toán hàng năm lên tới hàng nghìn tỷ đồng

Trong đó, thẻ chủ yếu là do ngân hàng phát hành

Thẻ xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào đầu thế kỷ 20 Nó ra đời năm 1914, kho

đó tổng Công ty xăng dầu Caliornia (mà nay là công ty Mobil) cấp thẻ cho nhân

viên và một số khách hàng của mình Thẻ chỉ khuyến khích bán sản phẩm của

công ty chứ không kèm theo một sự dự phòng nào về việc gia hạn tín dụng

Cho tới năm 1950, Frank Mc Namara và Ralph Schneider,hai doanh nhân

người Mỹ, đồng thành lập ra Diner’s Club sau một lần đi ăn ở nhà hàng và quên

đem theo tiền mặt, hai ông đã cung cấp cho bạn bè, đồng nghiệp của mình thẻ

Diner’s Club Thẻ này cho phép họ có thể ghi nợ khi ăn, nghỉ tại một số nhà

hàng, khách sạn ở NewYork và thanh toán số tiền này định kỳ theo tháng mà

không giới hạn số tiền được phép chi tiêu

Trong hệ thống ngân hàng, hình thức sơ khai của thẻ là charge it, một hình

thức mua bán chịu do ngân hàng Flatbush Nationnal lập ra Hệ thống này mở

đường cho sự ra đời của thẻ vào năm 1951 do ngân hàng Franklin National phát

hành.Tại đây, các khách hàng đệ trình đơn xin vay và được thẩm định khả năng

thanh toán Nếu khách hàng đủ tiêu chuẩn sẽ được cấp thẻ, dùng thanh toán cho

các thương vụ bán lẻ hàng hoá, dịch vụ Các cơ sở này, khi nhận được giao dịch

Trang 11

sẽ liên hệ với ngân hàng, nếu được phép chuẩn chi họ sẽ thực hiện giao dịch và

đòi tiền sau đối với ngân hàng Với những tiện lợi của việc thanh toán này, ngày

càng có nhiều tổ chức tín dụng tham gia Đến năm 1955, hàng loạt thẻ mới như

Trip charge, Golden Key, Guornet Club rồi đến Carte Blanche và American

Express ra đời và thống lĩnh thị trường Tuy nhiên, để hình thức thanh toán thẻ

có thể thu hút được khách hàng cần phải có một mạng lưới thanh toán lớn,

không chỉ trong phạm vi một địa phương, một quốc gia mà trên phạm vi toàn

cầu Đứng trước đòi hỏi đó, Interbank(Master Charge) và Bank of America

(Bank Americard) đã xây dựng nên một hệ thống các quy tắc, tiêu chuẩn trong

xử lý, thanh toán toàn cầu Năm 1977, Bank Americard trở thành VISA USA và

sau đó trở thành tổ chức thẻ quốc tế VISA NĂM 1979, Master Charge cũng trở

thành một tổ chức thẻ quốc tế lớn khác là Master Card

Ngày nay, Master Card và Visa Card là hai loại thẻ được lưu hành phổ

biến nhất trên thế giới Đến cuối năm 1990, có khoảng 257triệu thẻ Visa Card

được lưu hành với doanh thu khoảng 354 tỷ USD Nhưng chỉ trong vòng 3 năm,

cuối năm 1993, doanh thu của Visa Card đã tăng lên mạnh mẽ đến 542 tỷ USD

Hệ thống máy rút tiền tự động của Visa Card khoảng 164000 máy ở 65 nước

trên thế giới Trong khi đó, đến cuối năm 1993, tổng doanh thu của Master Card

đến 32 tỷ và có khoảng 215,8 triệu thẻ đang lưu hành ở 22 nước, hệ thống rút

tiền tự động của Master Card cũng phát triển khoảng 162 00 máy ở 120 nước

trên thế giới Cho đến nay, số lượng thành viên tham gia hiệp hội Master Card

đã lên tới 30000 thàmh viên, mạng lưới rút tền mặt đã triển khai ở 195000 chi

nhánh trên thế giới

Do ngày nay thẻ được sử dụng rộng rãi, các ngân hàng và các công ty đã

liên kết với nhau để khai thác dịch vụ mang nhiều lợi nhuận này Thẻ ngày càng

được xem như một công cụ thanh toán văn minh, thuận lợi trong các cuộc giao

dịch mua bán Bên cạnh các loại thẻ như Master Card, Visa, Amex ra đời năm

1958, JCB xuất phát từ Nhật cũng vươn lên mạnh mẽ, được sử dụng rộng rãi

trên toàn cầu, và cùng chia những thị phần rộng lớn

Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, thẻ vốn đã tiện lợi ngày càng tiện

Trang 12

lợi hơn Để giữ vững và mở rộng thị phần các hiệp hội thẻ cạnh tranh với nhau

ngày càng quyết liệt dẫn đến thẻ sẽ có cơ hội phát triển nhanh chóng trên phạm

vi toàn cầu

2 Những vấn đề cơ bản về thẻ tín dụng

2.1 Khái niệm

Thẻ – tiền điện tử là phương tiện thanh toán hiện đại và tiên tiến nhất trên

thế giới hiện nay, ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển của nghành ngân

hàng và việc ứng dụng công nghệ tin học trong ngân hàng

Thẻ là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng phát

hành, thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hoá , dịch vụ

hoặc để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hay các ngân hàng đại lý trong

phạm vi số dư tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được ký kết giữa ngân

hàng phát hành và chủ thẻ Hoá đơn thanh toán thẻ chính là giấy nhận nợ của

chủ thẻ đối với cơ sở chấp nhận thẻ Cơ sở chấp nhận thẻ là đơn vị cung ứng

dịch vụ rút tiền mặt đòi tiền chủ thẻ thông qua ngân hàng phát hành thẻ và ngân

hàng thanh toán thẻ

2.2 Đặc điểm và cấu tạo của thẻ

* Đặc điểm của thẻ

Hiện nay, có rất nhiều loại thẻ ra đời thích ứng với mọi đối tượng khách

hàng Mỗi loại thẻ có những đặc trưng riêng, tuy nhiên chúng có những đặc

trưng sau đây:

Tính tiện lợi: Là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, thẻ

cung cấp cho khách hàng sự tiện lợi mà cho đến nay không một phương tiện

thanh toán nào có thể mang lại được Đặc biệt đối với những người phải đi ra

nước ngoài để công tác hay đi du lịch, thẻ có thể giúp thanh toán ở bất cứ lúc

nào, bất cứ nơi đâu mà không cần phải đem theo tiền mặt hay séc du lịch, không

phụ thuộc váo quy mô số tiền cần thanh toán Thẻ là phương tiện thanh toán ưu

việt nhất trong số các phương tiện thanh toán phục vụ người tiêu dùng

Tính linh hoạt: Với nhiều loại thẻ đa dạng, phong phú, thẻ thích hợp với

mọi đối tượng khách hàng, từ những khách hàng có thu nhập thấp đến những

Trang 13

khách hàng có thu nhập cao, khách hàng có nhu cầu rút tiền mặt cho tới nhu cầu

giải trí , thẻ cung cấp cho khách hàng độ thoả dụng tối đa thoả mãn nhu cầu

của tất cả các loại khách hàng

Tính an toàn và nhanh chóng: Với những gì mà thẻ có thể đem lại cho

khách hàng, chủ thẻ hoàn toàn yên tâm trước nguy cơ bị mất cắp Thậm chí, dù

thẻ có thể bị lấy cắp, ngân hàng cũng bảo vệ tiền của chủ thẻ bằng số pin, ảnh và

chữ ký trên thẻ, mã tài khoản thẻ nhằm tránh khả năng rut trộm tiền mặt Hơn

thế nữa, hầu hết cac giao dịch thẻ đều được thực hiện qua mạng kết nối trực

tuyến từ cơ sở chấp nhận thẻ hay điểm rút tiền mặt tưói ngân hàng thanh toán,

ngân hàng phát hành và các tổ chức thẻ quốc tế.Việc ghi Nợ, Có cho các chủ thẻ

tham gia quy trình thanh toán được thực hiện một cách tự động do đó quá trình

thanh toán rất dễ dàng, tiện lợi và nhanh chóng

* Cấu tạo của thẻ

Dù bất cứ loại thẻ nào, thẻ bao giờ cũng có những cấu tạo chung nhất là:

Nó được làm bằng Plastic, có tiêu chuẩn quốc tế là 5,5 cm x 8,5 cm Trên thẻ có

in đầy đủ các yếu tố như: nhãn hiệu thương mại của thẻ, số thẻ , tên chủ thẻ,

ngày hiệu lực , cơ sở phát hành thẻ Và một số yếu tố khác theo quy định của các

tổ chức thẻ quốc tế hoặ hiệp hội phát hành thẻ

Mặt trước của thẻ

Biểu tượng: Mỗi loại thẻ có một biểu tượng riêng, mang tính đặc trưng

của tổ chức phát hành thẻ Đây được xem như là yếu tố an ninh chống lại sự giả

mạo

VISA: Hình chữ nhật 3 màu: xanh, trắng, vàng có chữ VISA chạy ngang

giữa màu trắng, trên hình chữ nhật 3 màu là hình chim bồ câu in chìm

MASTERCARD: Có 2 hình tròn lồng nhau nằm ở góc dưới bên phải (một

hình màu da cam, một hình màu đỏ) và dòng chữ MASTERCARD màu trắng

chạy ở giữa; trên 2 hình tròn lồng nhau là 2 nửa quả cầu lông in chìm

JCB: Biểu tượng 3 màu: xanh công nhân, đỏ, xanh lá cây, có chữ JCB

chạy ngang ở giữa

AMEX: Biểu tượng hình đầu người chiến binh

Trang 14

ATM: Hình chữ nhật, nền màu xanh tím

Số thẻ : Số này dành riêng cho mỗi chủ thẻ, được dập nổi trên thẻ và được

in lại trên hoá đơn khi chủ thẻ thanh toán bằng thẻ Tuỳ theo từng loại thẻ mà

chữ số khác nhau và cách cấu trúc theo nhóm cũng khác nhau

Thời gian có hiệu lực của thẻ : la thời gian mà thẻ được phép lưu hành

Tuỳ theo từng loại thẻ mà có thể ghi ngày hiệu lực cuối cùng của thẻ hoặc ngày

đầu tiên đến ngày cuối cùng được sử dụng thẻ

Họ và tên chủ thẻ: In bằng chữ nổi, là tên cá nhân nếu là thẻ cá nhân, tên

của người được uỷ quỳên sử dụng nếu là thẻ công ty Ngoài ra, còn có thẻ có cả

ảnh của chủ thẻ

Ký tự an ninh trên thẻ, số mật mã của đợt phát hành: Mỗi loại thẻ luôn có

ký tự an ninh kèm theo, in phía sau của ngày hiệu lực Ví dụ thẻ Visa có chữ V

(hoặc CV,PV, RV,GV ), thẻ MASTERCARD có chữ M và chữ C lồng vào nhau

Ngoài ra, thẻ AMEX còn in thêm mật mã cho từng đợt phát hành

Mặt sau của thẻ

Dải băng từ: Có khả năng lưu trữ các thông tin như: số thẻ, ngày hiệu lực,

tên chủ thẻ, ngân hàng phát hành

Dải băng chữ ký: Trên dải băng này phải có chữ ký của chủ thẻ để cơ sở

chấp nhận htẻ có thể đối chiếu chữ ký khi thực hiện thanh toán

2.3 Phân loại thẻ

Như chúng ta biết thẻ hiện nay cũng chỉ phổ biến mấy loại như trên ,

nhưng đứng trên nhiều giác độ khác nhau thì thẻ sẽ được phân chia như sau:

Phân loại theo chủ thể phát hành

Thẻ do ngân hàng phát hành

Là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp cho khách hàng sử dụng linh

động tài khoản của mình tại ngân hàng hoặc sử dụng số tiền do ngân hàng cấp

tín dụng Đây là loại thẻ được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay, không chỉ trong

phạm vi một quốc gia mà còn trên phạm vi toàn cầu Ví dụ như: Visa,

Mastercard, JCB

-Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành

Trang 15

Đó có thể là các loại thẻ du lịch, giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn

hoặc cũng có thể là thẻ do các công ty xăng dầu, các cửa hiệu lớn phát hành Ví

dụ: thẻ Dinner’club, Amex

-Theo mục đích và đối tượng sử dụng:

* Thẻ kinh doanh (bussiness card) là loại thẻ phát hành cho nhân viên của

công ty sử dụng, nhằm giúp các công ty quản lý chặt chẽ việc chi tiêu của các

nhân viên vì mục đích chung của công ty trong kinh doanh

* Thẻ du lịch và giải trí là loại thẻ được phát hành để phục vụ cho ngành

du lịch và giải trí

- Theo công nghệ sản xuất

* Thẻ khắc chữ nổi (embossedcard) là loại thẻ mà trên bề mặt được khắc

nổi các thông tin cần thiết Ngày nay, người ta không còn sử dụng loại thẻ này

nữa vì kỹ thuật của nó quá thô sơ, dễ bị lợi dụng, làm giả mà kết hợp với những

kỹ thuật mới như băng từ chip thông minh

* Thẻ băng từ (magneic stripe) được sản xuất dựa trên kỹ thuật những

thông tin của thẻ và chủ thẻ được mã hoá trên băng từ mặt sau của thẻ Thẻ này

được sử dụng phổ biến trong vòng 20 năm trở lại đây nhưng có thẻ bị lợi dụng

để lấy cắp tiền do có một số nhược điểm như: thông tin ghi trong thẻ hẹp và

mang tính cố định không thể áp dụng kỹ thuật mã hoá an toàn, có thể đọc được

dễ dàng bằng thiết bị gắn với máy tính

* Thẻ thông minh (smartcard) đây là thế hệ mới nhất của thẻ, dựa trên kỹ

thuật vi xử lý tin học, gắn vào thẻ một “chip” điện tử có cấu trúc giống như một

máy tính hoàn hảo Thẻ có tính an toàn và bảo mật rất cao Tuy nhiên, thẻ này

được làm từ công nghệ mới, có nhiều ưu điểm nên giá thành còn cao, hệ thống

máy móc chấp nhận thẻ cũng đắt nên sử dụng còn chưa phổ biến như thẻ từ

Việc phát hành và chấp nhận thanh toán loại thẻ này mới chỉ phổ biến ở các

nước phát triển dù các tổ chức thẻ quốc tế vẫn đang khuyến khích các ngân hàng

thành viên đầu tư để phát hành và chấp nhận loại thẻ này nhằm làm giảm tỷ lệ

rủi ro do giả mạo thẻ

- Theo tính chất thanh toán của thẻ

Trang 16

* Thẻ tín dụng (creditcard)

Là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo đó người chủ thẻ sử dụng

một hạn mức tín dụng tuần hoàn để mua sắm hàng hoá, dịch vụ tại các cơ sở

chấp nhận loại thẻ

Thẻ tín dụng thường do ngân hàng phát hành và thường được quy định

theo một hạn mức tín dụng nhất định trên khả năng tài chính, tài sản thế chấp

của chủ thẻ Chủ thẻ chỉ được phép chi tiêu trong phạm vi hạn mức tín dụng đã

cho

Chủ thẻ phải thanh toán cho ngân hàng phát hành thẻ theo kỳ hàng tháng

Lãi suất tín dụng tuỳ thuộc vào quy định của mỗi ngân hàng phát hành

Tính chất tín dụng của thẻ còn thể hiện chủ thẻ còn được ứng trước một

hạn mức tiêu dùng mà không phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn

nhất định Thẻ tín dụng được coi là một công cụ tín dụng trong lĩnh vực cho vay

tiêu dùng

Thẻ ghi nợ (debitcard) Với loịa thẻ này, chủ thẻ có thểchi trả tiền hàng

hoá, dịch vụ dựa trên số dư tài khoản tiền gửi hoặc tiền gửi thanh toán của mình

tại ngân hàng phát hành thẻ Thẻ thanh toán không có hạn mức tín dụng vì nó

phụ thuộc vào số dư hiện hữu trên tài khoản tiền gửi của chủ thẻ Số tiền chủ thẻ

chi tiêu sẽ được khấu trừ ngay vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết

bị điện tử đặt tại cơ sở chấp nhận thẻ

Có hai loại thẻ ghi nợ cơ bản sau đây:

+ Thẻ online: Những thông tin về giao dịch thẻ được kết nối trực tiếp từ

từ thiết bị điện tử đặt tại cơ sở chấp nhận thẻ hoặc điểm rút tiền mặt tới ngân

hàng phát hành Giá trị những giao dịch được khấu trừ trực tiếp và lập tức vào

tài khoản của chủ thẻ

+ Thẻ offline: Các thông tin giao dịch được lưu lại tại máy điện tử của cơ

sở chấp nhận thẻ và được chuyển đến nhân hàng phát hành muộn hơn ( không

có kết nối vào thời điểm thanh toán) giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ

vào tài khoản của chủ thẻ sau đó vài ngày

Ngoài 2 loại thẻ phổ biến nhất là thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ, còn một số

Trang 17

loại thẻ cũng được sử dụng rộng rãi cho một số mục đích nhất định như:

+ Thẻ rút tiền mặt (cashcard) dùng để rút tiền mặt từ tài khoản của chủ thẻ

tại các máy rút tiền tự động ATM cung cấp (ví dụ: Kiểm tra số dư, chuyển khoản

chi trả các khoản vay, thanh toán các dịch vụ như tiền ăn tại các nhà hàng )

Với chức năng chuyên dùng để rút tiền, yêu cầu đặt ra với chủ thẻ là phải ký quỹ

vào tài khoản hoặc được ngân hàng cấp tín dụng thấu chi

+ Thẻ lưu giữ giá trị ( stored value card) được phát hành bằng cách nộp

một số tiền nhất định để mua một thẻ, mỗi lần sử dụng thì số thẻ trên máy bị trừ

dần thẻ này được sử dụng để mua bán hàng hoá có giá trị tương đối nhỏ như:

xăng, dầu, ở các điểm bán xăng tự động, gọi điện thoại, thanh toán phí cầu

đường( thẻ điện thoại Việt nam là một thí dụ điển hình)

Theo phạm vi lãnh thổ

* Thẻ nội địa là thẻ được giới hạn sử dụng trong phạm vi một quốc gia do

vậy đồng tiền giao dịch phải là đồng bản tệ nước đó Hoạt động của loại thẻ này

rất đơn giản, chỉ do một ngân hàng hoặc một tổ chức điều hành từ việc phát

hành, xử lý trung gian cho đến thanh toán Thẻ có nhược điểm là việc sử dụng

chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia vì vậy việc kinh doanh sẽ không hiệu

quả nếu cơ sở chấp nhận thẻ ít

* Thẻ quốc tế là thẻ sử dụng các loại ngoại tệ mạnh để thanh toán, được

chấp nhận trong phạm vi toàn cầu.Thẻ được hỗ trợ, quản lý trên toàn thế giới bởi

các tổ chức tài chính lớn như Master card, Visa hoạt động thống nhất, đồng bộ

Thẻ quốc tế rất được ưa chuộng vì tính an toàn, tiện lợi của nó

- Theo hạn mức của thẻ

* Thẻ vàng (golden card) là loại thẻ ưu hạng phù hợp với mức sống và

nhu cầu tài chính của khách hàng có thu nhập cao Thẻ được phát hành cho

những đối tượng có uy tín, có khả năng tài chính lành mạnh, có nhu cầu chi tiêu

lớn Điểm khác biệt của thẻ vàng so với thẻ thường là hạn mức tín dụng lớn

* Thẻ thường (standard card) là một loại thẻ tín dụng nhưng mang tính

phổ thông, phổ biến, được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới, có hạn mức tín

dụng thấp hơn thẻ vàng

Trang 18

Tóm lại: Thẻ được phân chia thành nhiều loại khác nhau nhưng các loại

thẻ nói trên đều có một đặc điểm chung nhất đó là dùng thanh toán tiền hàng

hoá, dịch vụ mà không cần mang theo tiền mặt Nên thẻ được gọi chung là thẻ

thanh toán

III VAI TRÒ VÀ TIỆN ÍCH CỦA THẺ

Nhờ vào tính vào tính tiện ích và chức năng ưu việt so với các phương

tiện thanh toán khác, thẻ thanh toán đã đem lại những tiện ích to lớn cho nhiều

đối tượng sau đây:

1 Đối với ngân hàng

Dịch vụ thẻ thanh toán đã và đang đem lại những lợi ích to lớn cho ngành

ngân hàng, điều này được thể hiện ở một số các mặt sau đây:

1.1.Lợi nhuận ngân hàng

Nói chung, lợi nhuận mà ngân hàng thu được từ dịch vụ này thường là

chắc chắn bởi thông thường, mỗi khách hàng khi sử dụng thẻ đều phải ký quỹ

hoặc phải nộp vào tài khoản thẻ một lượng tiền mà chủ thẻ không được sử dụng

vượt quá số tiền đó.Thu nhập từ thẻ mà ngân hàng có được là: phí từ cơ sở chấp

nhận thẻ (CSCNT), phí sử dụng thẻ và lãi suất cho khoản tín dụng mà chủ thẻ

chậm thanh toán Hơn nữa, ngân hàng có thể sử dụng số tiền tạm thời nhàn rỗi

từ tài khoản thẻ của chủ thẻ để đầu tư hoặc cho vay để thu thêm lợi nhuận mà

vẫn đảm bảo được tính thanh khoản cho khách hàng

Ngoài ra, kinh doanh thẻ còn tạo ra một sự hỗ trợ chéo rất có hiệu quả cho

ngân hàng Tỷ lệ lợi nhuận tương đối cao từ kinh doanh thẻ có thể bù đắp cho

những hoạt động kém sinh hơn của ngân hàng như kinh doanh trên tài khoản

vãng lai vì lãi suất thường thì thấp hơn

1.2.Hiệu quả cao trong thanh toán

Bằng việc khuyến khích khách hàng sử dụng thẻ, ngân hàng sẽ thực hiện

số giao dịch séc và tiền mặt ít hơn Điều này mang lại cho ngân hàng rất nhiều

lợi ích như: Thực hiện số giao dịch ít hơn, những thông tin thường nhật được

cung cấp bởi các tổ chức thẻ quốc thẻ quốc tế Visa, Master card dưới hình thức

điện tử làm cho việc ghi nợ tương ứng vào các tài khoản của khách hàng được

Trang 19

nhanh hơn, đơn giản hơn hoạt động của ngân hàng nhờ vậy cũng hiệu quả hơn

1.3 Đa dạng hoá các loại dịch vụ ngân hàng

Thẻ thanh toán ra đời làm phong phú thêm các dịch vụ ngân hàng, mang

đến cho ngân hàng một phương tiện thanh toán đa tiện ích thoã mãn tốt nhất nhu

cầu của khách hàng Điều này giúp ngân hàng giữ được khách hàng vốn có và

thu hút thêm khách hàng tiềm năng Không những thế, ở các nước phát triển,

kinh doanh thẻ còn giúp ngân hàng có thêm cơ hội để phát triển thêm các dịch

vụ khác song song như: đầu tư hoặc bảo hiểm cho các sản phẩm Thông tin về

các dịch vụ này sẽ được gửi đến cho khách hàng sử dụng thẻ cùng với sao kê

hàng tháng của ngân hàng

1.4.Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng và nâng cao nghiệp vụ chuyên

môn

Bất kỳ một ngân hàng nào khi đưa thêm một loại hình thanh toán mới vào

phục vụ cho khách hàng buộc ngân hàng không ngừng nâng cao trình độ, trang

bị thêm máy móc thiết bị kỹ thuật công nghệ để cung cấp cho khách hàng những

điều kiện tốt nhất trong thanh toán, đảm bảo uy tín, sự an toàn, hiệu quả trong

hoạt động của ngân hàng Ngoài ra, ngân hàng cần phải có những cán bộ am

hiểu về dịch vụ mới có thể hơn hẳn các ngân hàng đối thủ

1.5 Mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ

Trở thành một thành viên của một tổ chức thẻ quốc tế như Visa hay

Mastercard, một ngân hàng dù lớn hay nhỏ nhất trên thế giới CSCNT cũng có

thể cho khách hàng một phương tiện thanh toán quốc tế có chất lượng như bất

cứ đối thủ cạnh tranh nào Ví dụ, mỗi ngày, Fleming/Save&Prosper (một ngân

hàng ở Anh) phải thanh toán các giao dịch bằng thẻ tín dụng với rất nhiều ngân

hàng trên thế giới.Nhờ các mối quan hệ với các tổ chức thẻ quốc tế, ngân hàng

này chỉ phải thực hiện duy nhất một giao dịch thông qua tổ chức thẻ quốc tế

Visa để trả tiền cho tất cả các khoản này, việc phân bổ các ngân hàng khác có

liên quan sẽ do Visa thực hiện Sau lợi nhuận, khả năng cung cấp dịch vụ toàn

cầu là lợi ích lớn nhất cho ngân hàg, tạo điều kiện cho ngân hàng tham gia vào

quá trình toàn cầu hoá, hội nhập với cộng đồng quốc tế

Trang 20

1.6 Tăng nguồn vốn cho ngân hàng

Nhờ thẻ thanh toán, số lượng tiền gửi của khách hàng để thanh toán thẻ và

số lượng tài khoản của các CSCNT cũng tăng lên.Với lượng giao dịch thẻ tương

đối lớn, các tài khoản này sẽ tạo cho ngân hàng một lượng vốn bằng tiền đáng

kể, cũng có thể coi là một nguồn sinh lợi cho ngân hàng

Là một phương tiện thanh toán hiện đại, thuận tiện, lợi ích về mọi mặt đối

với nhiều lĩnh vực và nhiều đối tượng trong nền kinh tế, đặc biệt trong công

cuộc toàn cầu hoá Ngày nay, trên thế giới thanh toán bằng thẻ đã trở thành xu

thế tất yếu ở các nước phát triển, trên 80% lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ bán lẻ

được thực hiện bằng thẻ Với phạm vi thanh toán rộng như vậy vai trò của thẻ

chắc chắn sẽ ngày càng được khẳng định và mở rộng

2 Đối với khách hàng

Có được một cách thức sử dụng đồng tiền an toàn tiện lợi, văn minh và

hiệu quả vì không nhất thiết phải mang theo tiền mặt Thẻ đã và đang đem lại

cho chủ thẻ những tiện ích sau đây

2.1 Sự linh hoạt, tiện lợi trong thanh toán ở trong và ngoài nước

Tiện ích nổi bật mà người sử dụng thẻ có được đó là sự tiện lợi và linh

hoạt hơn hẳn các phương tiện thanh toán khác Chủ thẻ có thể thực sự cảm nhận

được điều này khi đi du lịch hay công tác ở nước ngoài Thẻ thanh toán như Visa

hay Master card và trong phạm vi nhỏ hơn là thẻ Amex và Dinner’s được chấp

nhận trên toàn thế giới Điều này có nghĩa là khi dự định ra nước ngoài, thay vì

phải chuẩn bị trước một lượng ngoại tệ hay séc du lịch, chu thẻ có thể mang theo

thẻ thanh toán để thanh toán cho mọi nhu cầu chi tiêu của mình

2.2 Tiết kiệm thời gian mua, giá trị thanh toán cao hơn

Thẻ thanh toán có nhiều tiện ích hơn tiền mặt hay séc du lịch cả trước

trong và sau chuyến đi

Với séc du lịch phải dự định trước xem sẽ tiêu bao nhiêu và phải đến ngân

hàng làm thủ tục để mua séc trước chuyến đi đồng thời thanh toán tiền trước cho

ngân hàng cùng với một khoản phí dù trên thực tế bạn chưa sử dụng séc này

Khi trở về, nếu chưa sử dụng hết số tiền trên séc, hoặc người có séc lại phải mất

Trang 21

thời gian và chi phí đẻ đến ngân hàng làm thủ tục đổi lại từ séc thành tiền hoặc

sẽ chấp nhận rủi ro về tỷ giá khi giữ séc đó cho lần sử dụng sau

Sử dụng thẻ thanh toán đơn giản hơn rất nhiều Chủ thẻ không cần lên kế

hoạch chi tiêu trước cho ngân hàng Sử dụng thẻ, chủ thẻ được phép chi tiêu

trước, trả tiền sau Tài khoản của chủ thẻ chỉ bị ghi nợ khi nào chủ thẻ thật sự

chi tiêu và thanh toán bằng thẻ Hơn nữa tỷ giá khi bạn thanh toán bằng thẻ cũng

có lợi hơn so với sử dụng tiền mặt hay séc du lịch Như vậy không những giúp

người sử dụng thẻ tiết kiệm tiền, thẻ còn giúp họ tiết kiệm thời gian mua hàng

cũng như thời gian chờ làm thủ tục với séc du lịch hay tiền mặt

2.3.Cung cấp một khoản tín dụng tự động, tức thời

Với hạn mức tín dụng mà ngân hàng cho phép, chủ thẻ không phải do dự

khi mua hàng Dù việc mua hàng có được dự định trước hany không thì thẻ

thanh toán cũng là một nguòn tín dụng tự động giúp cho các chủ thẻ khỏi phải

đến ngan hàng xin vay sẽ đánh giá cao việc “ Thẻ là một khoản tín dụng ngắn

hạn, thủ tục phát hành đơn giản Hơn nữa, chủ thẻ chỉ phải thanh toán một phần

nhất định còn lại chủ thẻ có thể trả sau

2.4 An toàn tiện lợi đối với người tiêu dùng

Ở các nước phát triển có luật tín dụng tiêu dùng( như ở Anh), có quy định

khách hàng được bảo vệ đối với những món hàng có giá trị từ 100-1500 bảng

Anh thanh toán bằng thẻ tín dụng Nếu món hàng đó không đủ tiêu chuẩn chất

lượng thì chủ thẻ có thể yêu cầu được ngân hàng phát hành thẻ bảo vệ, thậm chí

được bồi thường một số ngân hàng phát hành còn có chế độ bảo hiểm kèm theo:

có hàng hoá thay thế hàng bị mất cắp, hư hỏng hay thất lạc, trả tiền bảo hiểm, tai

nạn hoặc tử vong đối với chủ thẻ sử dụng thẻ thanh toán Hơn thế nữa, ngân

hàng cũng có một số dịch vụ về sức khoẻ (PPP, BUPA ở Anh), câu lạc bộ hoặc

có chế độ thưởng điểm sau mỗi lần sử dụng thẻ và số điểm này, có thể cộng dồn

lại để đổi lấy một số hàng hoá khác

Ngoài ra, thẻ thanh toán còn giúp chủ thẻ có thể rút tiền mặt một cách

nhanh chóng ở bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu tại ngân hàng hoặc các máy rút

tiền tự động (ATM) và sử dụng một số dịch vụ khác do máy ATM cung cấp như:

Trang 22

trả nợ vay, chuyển khoản, xem số dư tài khoản Số tiền còn lại vẫn để trong tài

khoản, được hưởng lãi mà không phải giữ trong mình một khoản tiền nhàn rỗi

dễ bị mất mát hoặc sử dụng ngoài dự kiến, gây lãng phí

2.5.Kiểm soát được chi tiêu

Với sao kê hàng tháng do ngân hàng gửi đến hoặc căn cứ vào hoá đơn rút

tiền hay thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ mà máy in ra chủ thẻ hoàn toàn có thể

kiểm soát được chi tiêu của mình trong tháng, đồng thời tính toán được phí và

lãi nếu trả cho mỗi khoản giao dịch

Giá cho tất cả những lợi ích mà thẻ mang lại là khoản phí thường niên mà

chủ thẻ phải chịu và tỷ lệ lãi nếu khoản chi tiêu không được trả ngân hàng đúng

hạn, lãi suất này có thể ngang với lãi suất của một khoản thấu chi

Tuy nhiên, so với những lợi ích mà thẻ đem lại thì khoản phí này không

đáng kể

3 Đối với cơ sở chấp nhận thẻ (CSCNT)

3.1.Tăng doanh số bán hàng hoá, dịch vụ và thu hút thêm khách hàng

Lợi thế thường thuộc về những trung tâm, cửa hàng lắp đặt các thiết bị

thanh toán thẻ Chấp nhận thanh toán thẻ là cung cấp cho khách hàng một

phương tiện thanh toán nhanh chóng, tiện lợi do vậy khả năng thu hút khách

hàng sẽ tăng lên, doanh số cung ứng hàng hoá, dịch vụ của CSCNT cũng tăng

lên Thẻ thanh toán tạo cho CSCNT một khả năng cạnh tranh lớn hơn so với các

đối thủ khác Môi trường văn minh, hiện đại trong giao dịch, mua bán khi thanh

toán thẻ là yếu tố quan trọng để thu hút khách hàng, đặc biệt là khách du lịch

nước ngoài và nhà đầu tư

3.2 Đảm bảo chi trả

Đối với người bán lẻ, thẻ thanh toán thuận lợi hơn so với séc Trường hợp

khách hàng muốn thanh toán bằng séc cho một món hàng có giá trị lớn hơn mức

đảm bảo của tờ séc thì cửa hàng đó đứng trước sự lựa chọn khó khăn: hoặc là

chấp nhận thanh toán séc với số tiền lớn hơn hạn mức được đảm bảo, và chịu rủi

ro nếu ngân hàng phát hành chối thanh toán hoặc là sẽ không bán được hàng,

như vậy doanh số bán hàng sẽ giảm Với thẻ thanh toán CSCNT có thể yên tâm

Trang 23

là được ghi có vào tài khoản ngay khi thông tin được truyền qua hệ thống máy

móc điện tử đến ngân hàng thanh toán Trường hợp phải xin cấp phép thì việc

xin cấp phép từ ngân hàng phát hành cũng rất nhanh chóng và đảm bảo qua các

máy cấp phép tự động

3.3 Nhanh chóng thu hồi vốn

Khi dữ liệu về giao dịch thẻ được truyền đến ngân hàng hoặc CSCNT nộp

hoá đơn thanh toán thẻ cho ngân hàng thì tài khoản của CSCNT được ghi có

ngay Số tiền này họ có thể sử dụng ngay vào mục đích quay vòng vốn hoặc các

mục đích khác Nhanh chóng luân chuyển vốn là điểm thuận lợi hơn so với séc,

séc thương phải mất một thời gian nhất định mới được thanh toán

3.4 An toàn, đảm bảo

Giao dịch được trả tiền ngay vào tài khoản của CSCNT, nhưng dù có chưa

được thanh toán ngay thì thanh toán thẻ cũng có nguy cơ bị mất cắp hơn là séc

hay tiền mặt Một ngăn kéo đầy séc hay tiền mặt có giá trị lớn sẽ là mục tiêu của

những nhân viên thiếu trung thực và kẻ trộm, nhưng cũng với số tiền như vậy

được thể hiện trên hoá đơn thẻ thì chẳng có ai quan tâm vì nó chẳng có ý nghĩa

với ai khác ngoài CSCNT

3.5 Nhanh chóng giao dịch với khách hàng

Khi giao dịch tiền mặt, việc đếm tiền, ghi chép sổ sách là rất phức tạp

Còn giao dịch thẻ, với các thiết bị chuyển ngân điện tử tại điểm bán hàng

EFTPOS (Electronic funds transfer at point of sale) được sử dụng ngày càng

nhiều, thì đơn giản người ta chỉ việc đưa băng từ của thẻ qua thiết bị này, mọi

thông tin trên thẻ đều được nhận dạng, giao dịch được thực hiện Hệ thống

EFTPOS giúp đẩy nhanh quá trình xử lý khi bán hàng, giúp CSCNT cung cấp

cho nhà phát hành thẻ những thông tin về việc bán hàng mà không phải xử lý

thủ công trên giấy tờ

3.6 Giảm chi phí bán hàng

Thanh toán thẻ giúp CSCNT giảm đáng kể các chi phí cần thiết cho việc

đếm, bảo quản tiền, quản lý tài chính nhờ vậy cũng giảm được chi phí bán hàng

Điểm bất đồng giữa CSCNT và ngân hàng đó là về khoản phí mà CSCNT

Trang 24

phải trả cho ngân hàng Dù các máy móc, thiết bị thanh toán thẻ được các ngân

hàng cung cấp và bảo quản miễn phí, nhưng tuỳ theo quy định của ngân hàng

phát hành, CSCNT vẫn phải chịu một khoản phí tính trên giá trị giao dịch:

Khoảng 16% giá trị giao dịch đối với thẻ phát hành ở UK 3-4% đối với thẻ

Amex (ở bất cứ nơi nào) Điều này là hợp lý vì CSCNT đã được hưởng những

lợi ích do dịch vụ thanh toán thẻ đem lại

4 Đối với xu hướng phát triển kinh tế xã hội

Cùng với sự phát triển kinh tế là sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực

công nghệ thông tin, nhờ đó dịch vụ thanh toán thẻ được phát triển và mở rộng

ngày càng khẳng định vai trò to lớn của mình trong sự phát triển kinh tế xã hội

Điều này được thể hiện ở các mặt sau:

4.1 Giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông

Là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, vai trò đầu tiên của

thẻ là làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông Ở những nước phát triển

thanh toán tiêu dùng bằng thẻ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số các phương

tiện thanh toán Nhờ vậy mà khối lượng cũng như áp lực tiền mặt trong lưu

thông cũng giảm đi đáng kể

4.2 Tăng nhanh khối lượng chu chuyển, thanh toán trong nền kinh tế

Ở các nước phát triển hầu hết giao dịch thẻ trong phạm vi quốc gia hay

toàn cầu đều được thực hiện và thanh toán trực tuyến (online) vì vậy tốc độ chu

chuyển, thanh toán nhanh hơn nhiều so với những giao dịch qua các phương tiện

thanh toán khác như : séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi Thay vì thực hiện các

giao dịch trên giấy tờ, với giao dịch chủ thẻ, mọi thông tin đều được xử lý qua

hệ thống máy móc, điện tử thuận tiện, nhanh chóng

4.3.Thực hiện các chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước

Trong thanh toán thẻ, các giao dịch đều nằm dưới sự kiểm soát của ngân

hàng Nhờ đó các ngân hàng có thể dễ dàng kiểm soát được mọi giao dịch, tạo

nền tảng cho công tác quản lý vĩ mô của nhà nước, thực hiện chính sách quản lý

quốc gia.Thực tế hiện nay, mọi chế độ, chính sách liên quan đến thẻ đều dựa trên

chính sáh quản lý ngoại hối của Nhà nước

Trang 25

4.4 Thực hiện biện pháp vĩ mô của Nhà nước

Sự tiện lợi mà thẻ mang lại cho người sử dụng, cơ sở chấp nhận thẻ, ngân

hàng khiến cho ngày càng có nhiều người ưa chuộng sử dụng thẻ, tăng cường

chi tiêu bằng thẻ Điều này làm cho thẻ trở thành công cụ hữu hiệu , góp phần

thực hiện biện pháp kích cầu của Nhà nước Khuyến khích phát hành thanh toán

thẻ cũng là khuyến khích tăng cầu tiêu dùng Điều này cũng tạo nên một kênh

cung ứng vốn hiệu quả của các NHTM

4.5 Cải thiện môi trường văn minh thương mại, thu hút khách du lịch

và đầu tư nước ngoài

Thanh toán thẻ là giảm bớt các giao dịch thủ công bằng tay, tiếp cận với

một phương tiện văn minh của thế giới do đó sẽ tạo ra một môi trường văn

minh, hiện đại hơn Đây cũng là một yếu tố thu hút khách du lịch, các nhà đầu tư

nước ngoài vào Việt Nam

IV NGHIỆP VỤ PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN THẺ

1 Các chủ thể tham gia

1.1.Ngân hàng phát hành thẻ – NHPHT

NHPHT là Ngân hàng được NHNN cho phép thực hiện nghiệp vụ phát

hành thể Đối với thẻ nội địa NHPHT phải có năng lực tài chính không vi phạm

pháp luật, đảm bảo hệ thống trang thiết bị phù hợp tiêu chuẩn và an toàn cho

hoạt động phát hành, thanh toán thẻ, có đội ngũ cán bộ đủ năng lực chuyên môn

để vận hành và quản lý đối với thẻ quốc tế, NHPHT phải được NHNN cấp giáy

phép hoạt động kinh doanh ngoại hối và cho phép thực hiện thanh toán quốc tế,

phải là thành viên của tổ chức thẻ quốc tế

Quyền hạn và nghĩa vụ của NHPHT:

Quyền hạn:

+ Xem xét việc phát hành thẻ cho chủ thẻ và hướng dẫn chủ thẻ cách sử

dụng cũng như các quy định cần thiết khi sử dụng thẻ

+ Thu các khoản lãi và phí trong hoạt động phát hành và thanh toán thẻ

+ Yêu cầu Ngân hàng thanh toán thẻ ( NHTTT vầ CSCNT) cung cấp

thông tin và thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt

Trang 26

động thanh toán thẻ và không phải chịu trách nhiệm về các thiệt hại do việc

không tuân thủ các yêu cầu này gây ra

+ Các quyền khác theo hợp đồng sử dụng thẻ và thanh toán thẻ đã ký kết

Nghĩa vụ:

+ Tuân thủ các quy định về phát hành thẻ của tổ chức thẻ quốc tế và

NHNN

+ Đăng ký mẫu thẻ và nhãn hiệu thương mại in trên thẻ tại NHNN

+ Giải quyết các khiếu nại của chủ thẻ, của CSCNT hay NHPHT

+ Thanh toán đầy đủ và kịp thời cho NHTTT và CSCNT đối với các giao

dịch thẻ đúng hợp đồng

+ Trách nhiệm khác theo hợp đồng sử dụng thẻ và hợp đồng thanh toán

thẻ

1.2.Chủ thẻ

Chủ thẻ là cá nhân (hoặc là người được uỷ quyền nếu là thẻ Công ty)

được Ngân hàng phát hành cấp thẻ đẻ sử dụng Chỉ có chủ thẻ mới có quyền sử

dụng thẻ đứng tên mình để thanh toán tiền hàng hoá- dịch vụ hay rút tiền mặt

trong giới hạn Ngân hàng quy định ( trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi đối

với thẻ ghi nợ, hoặc trong hạn mức tín dụng mà Ngân hàng cho phép đối với thẻ

tín dụng) Chủ thẻ có thể gồm chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ:

-Chủ thẻ chính: Là người đứng tên xin được cấp thẻ và được ngân hàng

phát hành cấp thẻ để sử dụng

- Chủ thẻ phụ: Là người được cấp thẻ theo đề nghị của chủ thẻ chính

Quyền hạn và nghĩa vụ của chủ thẻ:

-Quyền hạn:

+Sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hoá- dịch vụ hay rút tiền mặt tại

máy rút tiền mặt tại máy ATM tại ngân hàng thanh toán hay tại CSCNT

+ Khiếu nại ngân hàng phát hành thẻ trong các trường hợp sau:

Sai sót hay nghi ngờ có sai sót trong bảng kê các giao dịch thẻ do ngân

hàng phát hành lập và gửi cho chủ thẻ theo định kỳ

CSCNT

Trang 27

Từ chối nhận thanh toán thẻ và yêu cầu chủ thẻ thanh toán bằng tiền mặt

hay các phương tiện thanh toán khác cho các hàng hoá- dịch vụ cung ứng; tự ý

nâng giá hàng hoá - dịch vụ hoặc yêu cầu chủ thẻ phải trả thêm phụ phí khi nhận

thanh toán bằng thẻ

Các vi phạm hợp đồng sử dụng thẻ khác của ngân hàng phát hành

+ Các quyền khác theo hợp đồng sử dụng thẻ

Nghĩa vụ:

+ Cung cấp đầy đủ chính xác thông tin cần thiết theo yêu cầu của ngân

hàng phát hành thẻ khi xin sử dụng thẻ và trong quá trình sử dụng thẻ

+ Thanh toán đầy đủ và đúng hạn cho ngân hàng phát hành các khoản vay,

lãi và phí phát sinh do việc sử dụng thẻ theo quy định của ngân hàng

Chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ cùng chịu trách nhiệm chung và trách nhiệm

cá nhân trong việc thực hiện các điều khoản của hợp đồng sử dụng thẻ

Các nghĩa vụ khác theo hợp đồng sử dụng thẻ

1.3 Cơ sở chấp nhận thẻ (CSCNT)

Là đơn vị bán hàng hoá- dịch vụ có ký kết hợp đồng chấp nhận thanh toán

thẻ với NHTTThoặc với NHPHT CSCNT có thể là nhà hàng, khách sạn, sân

bay, cửa hàng, siêu thị hay các đơn vị nhận ứng tiền mặt, các ngân hàng đại lý

Thường các CSCNT được NHTTT trang bị máy móc kỹ thuật để chấp nhận

thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc cho phép rút tiền mặt bằng thẻ

Quyền và nghĩa vụ của CSCNT khi tham gia thanh toán thẻ:

Quyền hạn:

+ Yêu cầu NHPHT, NHTTT thnah toán một cách đầy đủ, kịp thời các giao

dịch thẻ được thực hiện theo đúng hợp đồng

+ Kiểm tra tính hiệu lực của thẻ Theo quy định của NHPHT hoặc NHTTT

và từ chối chấp nhận thẻ khi thẻ không còn hiệu lực, hay không đủ các tiêu

Trang 28

chủ thẻ đồng ý hay NHPHT và NHTTT yêu cầu

+ Thực hiện đầy đủ các quy trình kỹ thuật nghiệp vụ liên quan đến các

giao dịch của chủ thẻ mà NHTTT hoặc NHPHT yêu cầu và hướng dẫn

+ Các nghĩa vụ khác theo hợp đồng thanh toán thẻ

1.4.Ngân hàng thanh thẻ-NHPHT

Là ngân hàng xin gia nhập vào tổ chức thẻ quốc tế hoặc những ngân hàng

chỉ làm chức năng trung gian thanh toán giữa chủ thẻ và NHPHT NHTTT cũng

có thể đồng thời là NHPHT, NHTTT nhận thanh toán thẻ qua mạng lưới các cơ

sở chấp nhận thẻ mà nó ký kết hợp đồng thanh toán thẻ Khi tham gia thanh toán

thẻ, NHTTT thu được các khoản phí chiết khấu đạilý, đồng thời cung cấp các

dịch vụ đại lý khác cho CSCNT như: dịch vụ chuẩn chi; Xử lý tổng kết; giải

quyết các khiếu nại, thắc mắc cho các CSCNT

Quyền và nghĩa vụ của NHTTT:

Quyền hạn:

+ yêu cầu NHPHT thanh toán đầy đủ và kịp thời đối với các giao dịch thẻ

được thực hiện theo đúng hợp đồng sử dụng thẻ

+ Yêu cầu CSCNT hoàn trả tiền đối với các giao dịch thẻ thực hiện không

đúng hợp đồng thanh toán thẻ, thu giữ thẻ không hợp lệ

+ Yêu cầu CSCNT cung cấp các thông tin cần thiết liên quan đến các giao

dịch thẻ của chủ thẻ tại cơ sở chấp nhận thẻ

+ Các quyền khác theo hợp đồng thanh toán thẻ

Nghĩa vụ: Hướng dẫn cá biện pháp, quy trình kỹ thuật nghiệp vụ và bảo

mật trong thanh toán thẻ đối với CSCNT theo quy định của NHPHT và phải

chịu trách nhiệm về các thiệt hại gây ra do không thực hiện đúng các quy định

Trang 29

chức thẻ quốc tế không có quan hệ với chủ thẻ hay CSCNT mà nhiệm vụ chủ

yếu của nó là:

- Cung cấp mạng lưới viễn thông toàn cầu phục vụ cho quy trình thanh

toán, cấp phép của các ngân hàng thành viên

- Đưa ra các luật lệ và quy định về thẻ thanh toán

-Là trung tâm giải quyết các tranh chấp khiếu nại giữa các thành viên

- Xây dựng các chương trình khuếch trương, mở rộng thương hiệu của

mình

-Phát triển các sản phẩm mới về thẻ Mỗi tổ chức thẻ quốc tế đều có tên

sản phẩm của mình dù NHPHT có thể khác nhau

1.6 Các chủ thể khác

-Ngân hàng Nhà nước (NHNN): Là cơ quan quản lý về lĩnh vực tài chính

ngân hàng nói chung Nhiệm vụ chủ yếu của NHNN là:

+Đưa ra các văn bản pháp quy có liên quan

+Tiếp nhận hồ sơ, xem xét và cho phép các NHTM phát hành thẻ

+ Kiểm tra và giám sát hoạt động của các ngân hàng đảm bảo không trái

pháp luật, tạo sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường thẻ

-Hiệp hội các ngân hàng thanh toán thẻ:

+Là một tổ chức các NHPHT và NHTTT thành lập để có thể trao đổi

những vướng mắc trong hoạt động phát hành và thanh toán thẻ, cùng phối hợp

tìm ra giải pháp

+ Thông qua Hiệp hội các ngân hàng cùng nhau thoả thuận những vấn đề

liên quan đến hoạt động kinh doanh thẻ, nhằm đảm bảo kinh doanh lành mạnh,

công bằng giữa các ngân hàng

2 Một số khái niệm liên quan đến hoạt động kinh doanh thẻ

Giao dịch thẻ là giao dịch trong đó chủ thẻ sử dụng thẻ để thanh toán tiền

hàng hoá, dịch vụ hoặc để rút tiền mặt

Giao dịch ứng tiền mặt là giao dịch trong đó chủ thẻ sử dụng thẻ để tiền

mặt tại các điểm ứng tiền mặt hoặc được cung ứng dịch vụ đặc biệt như: chuyển

tiền, mua xèng đánh bạc

Trang 30

Mã số mật mã cá nhân cuả chủ thẻ pin là mã số mật do ngân hàng

phát hành thẻ ấn định cho mỗi chủ thẻ và được sử dụng trong một số loại

hình giao dịch thẻ

Tài khoản thẻ là tài khoản của chủ thẻ chính được mở tại ngân hàng phát

hành thẻ do ngân hàng phát hành thẻ quản lý

*Thời hạn thẻ là thời hạn chủ thẻ được phép sử dụng thẻ do ngân hàng

phát hành cấp, là thời hạn hiệu lực được in trên thẻ

* Sao kê: Là bảng kê chi tiết các khoản chi tiêu và trả nợ của chủ thẻ cùng

lãi và phí phát sinh trong một chu kỳ sử dụng thẻ Sao kê được gửi cho chủ thẻ

hàng tháng ngay sau ngày sao kê để làm căn cứ trả nợ

* Ngày sao kê là ngày mà ngân hàng phát hành thẻ lập sao kê của chủ

thẻ

* Ngày đến hạn thanh toán: Là ngày cuối cùng mà chủ thẻ phải thanh toán

cho NHPHT các khoản chi tiêu cùng phí và lãi phát sinh trong kỳ sao kê đó,

theo quy định của NHPHT

* Mức trả nợ tối thiểu: Là khoản tiền tối thiểu chủ thẻ phải thanh toán cho

NHPHT trong mỗi kỳ sao kê theo quy định của NHPHT

* Trung tâm thẻ là đại diện của NHPHT trong quan hệ đối ngoại trực tiếp

về phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ với các tổ chức thẻ quốc tế và các ngân

hàng khác Chịu trách nhiệm điều hành hoạt động phát hành, cấp phép, tra soát,

thanh toán thẻ và quản lý rủi ro Đồng thời trung tâm thẻ cũng là trung tâm phát

hành và thanh toán thẻ giữa các chi nhánh trong hệ thống ngân hàng phát hành

* Chu kỳ sử dụng thẻ là một chu kỳ tín dụng thẻ, thoèi hạn thường kéo dài

một tháng

* Hạn mức thanh toán thẻ: Là mức áp dụng cho từng loại hình đơn vị

chấp nhận thẻ, điểm ứng tiền mặt trong việc sử lý, cấp phép thanh toán thẻ

Trang 31

sách báo động khẩn cấp, liệt kê những thẻ không được cấp phép, thanh toán Đó

là thẻ tiêu dùng quá hạn mức, thẻ giả mạo đang lưu hành, thẻ bị lộ mật mã cá

nhân, thẻ bị mất cắp thất lạc

3 Quy trình phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ

Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ ở mỗi quốc gia, mỗi ngân hàng có

thể khác nhau về thủ tục và các điều kiện do còn nhiều yếu tố ràng buộc về luật

pháp, chính trị hay kinh tế- xã hội.Song về tổng thể nó bao gồm những nội dung

sau:

Yêu cầu phát hành: Khi một khách hàng có nhu cầu sử dụng thẻ, NHPHT

yêu cầu khách hàng cung cấp các hồ sơ, chứng từ cần thiết Hồ sơ chứng từ này

có thể khác nhau tuỳ thuộc vào từng ngân hàng, từng quốc gia trên thế giới

nhưng về cơ bản là chứng minh nhân thân khách hàng, khả năng thanh toán của

NGÂN HÀNG PHÁT HÀNH THẺ

TỔ CHỨC THẺ QUỐC TẾ

CHỦ THẺ

CSCNT HAY NGÂN HÀNG ĐẠI LÝ

NGÂN HÀNG THANH TOÁN THẺ

Khiếu nại và xử lý tranh chấp

Trang 32

khách hàng cũng như các tổ chức cá nhân có quan hệ

Phát hành thẻ: Sau khi thẩm định, nếu thấy đủ điều kện ngân hàng sẽ phát

hành thẻ cho khách hàng, đồng thời hướng dẫn cách sử dụng và bảo quản thẻ

Sử dụng thẻ: Chủ thẻ sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hay

rút tiền mặt tại các cơ sở chấp nhận thẻ

Cấp phép: CSCNT sẽ kiểm tra khả năng thanh toán của chủ thẻ Nếu số

tiền thanh toán nhỏ hơn hạn mức cho phép của NHTTT thì CSCNT chỉ cần kiểm

tra bản tin cảnh giác để đảm bảo tính hiệu lực của thẻ Nếu số tiền thanh toán

nhỏ hơn hạn mức cho phép thì CSCNT còn phải xin chuẩn y của NHTTT bằng

điện thoại hay telex (nếu là máy cà tay) hoặc truyền thông tin giao dịch ( nếu là

thiết bị đọc thẻ điện tử Các thông tin này sẽ lần lượt được truyền qua hệ thống

mạng của tổ chức thẻ quốc tế về NHPHT và phản hồi cho CSCNT

Cung cấp hành hoá- dịch vụ: Nếu nhận được mã chuẩn chi, CSCNT yêu

cầu chủ thẻ ký tên lên hoá đơn và so sánh chữ ký đó với chữ ký mẫu trên thẻ

Sau đó CSCNT cung cấp hàng hoá- dịch vụ cho chủ thẻ cùng với một liên hoá

đơn

Nộp hoá đơn: Với máy cà tay, CSCNT lập hoá đơn và các bảng sao kê

nộp cho NHTTT ( không quá 5 ngày kể từ khi thương vụ xảy ra) Với thiết bị

đọc điện tử, dữ liệu thanh toán được truyền về NHTTT và hoá đơn sẽ nộp định

kỳ

Thanh toán cho CSCNT: NHTTT sau khi kiểm tra tính hợp lệ của các

thông tin trên hoá đơn, sẽ ghi Nợ tạm ứng thanh toán thẻ, ghi Có cho cơ sở chấp

nhận thẻ

Gửi thông tin dữ liệu: NHTTT tổng hợp toàn bộ hoá đơn, chứng từ về các

giao dịch và gửi đến Trung tâm ( tổ chức thẻ quốc tế)

Xử lý bù trừ thanh toán: Trung tâm ghi Nợ và báo Nợ cho NHPHT, ghi

Có và báo Có cho NHTTT số tiền giao dịch sau khi trừ phí trao đổi thông tin

NHPHT chấp nhận thanh toán: Sau khi nhận được thông tin từ trung tâm,

nếu không có khiếu nại gì, NHPHT chấp nhận thanh toán cho Trung tâm

Thông báo cho chủ thẻ: Định kỳ hàng tháng, NHPHT lập bảng thông báo

Trang 33

giao dịch gửi đến cho chủ thẻ và yêu cầu chủ thẻ thanh toán

Thanh toán cho NHPHT: Sau khi nhận được bảng thông báo giao dịch,

nếu thấy không có sai sót gì, chủ thẻ tiến hành thanh toán cho NHPHT

<-. > Khiếu nại và xử lý tranh chấp: Trong quá trình trên, tổ chức thẻ

quốc tế-NHPHT-NHTTT- CSCNT có trách nhiệm giải quyết, xử lý tất cả các

khiếu nại, đòi bồi hoàn, và những tranh chấp khác ở bất cứ khâu nào có liên

quan

V NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI NGHIỆP VỤ THANH

TOÁN VÀ PHÁT HÀNH THẺ

Sự phát triển của thẻ phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố Những nhân tố

này có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới quá trình phát hành và thanh toán thẻ

Chúng ta có thể chia các nhân tố đó thành 2 nhóm chính sau:

1 Nhóm nhân tố khách quan

1.1.Thói quen tiêu dùng của người dân

Thói quen tiêu dùng của người dân có ảnh hưởng rrất lớn dến sự phát

triển của thẻ đặc biệt là đối với quá trình thanh toán thẻ ( tạo ra môi trường cho

thanh toán thẻ ) Một môi trường mà người dân vẫn chỉ có thói quen chi tiêu

bằng tiền mặt thì sẽ không thể là môi trường tốt để phát triển thị trường thẻ Chỉ

khi mà việc thanh toán được thực hiện chủ yếu qua hệ thống ngân hàng thì thẻ

thanh toán mới thực sự phát huy hết hiệu quả sử dụng nó

1.2.Trình độ dân trí

Trình độ dân trí thể hiện thông qua nhận thức của người dân về thẻ, một

phương tiện thanh toán đa tiện ích từ đó tiếp cận và có thói quen sử dụng thẻ

Trình độ dân trí cũng đồng nghĩa với một nền kinh tế phát triển về mọi mặt, tiếp

cận với nền văn minh thế giới, ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật

phục vụ con người

1.3.Thu nhập của người dùng thẻ

Thu nhập cao đồng nghĩa với mức sống cao hơn Khi đó nhu cầu của con

người không chỉ đơn thuần là mua được hàng hoá mà phải mua bán với độ thoả

dụng tối đa Thẻ thanh toán sẽ đáp ứng nhu cầu này của họ Khi mức sống được

Trang 34

nâng cao, nhu cầu du lịch giải trí của con người cũng cao hơn Thẻ thanh toán là

phương tiện hữu hiệu nhất giúp họ thực hiện được nhu cầu của mình Mặt khác,

chỉ có một mức thu nhập tương đối và ổn định mới đáp ứng được những điều

kiện của ngân hàng khi phát hành thẻ Khi thu nhập thấp, dù khách hàng có nhu

cầu sử dụng thẻ ngân hàng cũng không thể đáp ứng được

1.4.Môi trường pháp lý

Môi trường pháp lý được coi là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự phát

triển của thẻ Một môi trường pháp lý hoàn thiện, chặt chẽ, đầy đủ hiệu lực mới

có thể đảm bảo quyền lợi cho tất cả các bên tham gia phát hành, sử dụng và

thanh toán thẻ

2 Nhóm nhân tố chủ quan

Trong bất kỳ một lĩnh vực kinh doanh nào, yếu tố chủ quan quyết định

phần lớn đến sự thành bại của chủ kinh doanh Trong ngân hàng cũng vậy , một

số những nhân tố đó là

2.1.Vốn

Điều dễ thấy là việc phát hành và thanh toán thẻ đòi hỏi một chi phí đầu

tư cao cho việc lắp đặt những thiết bị và công nghệ hiện đại như: máy rút tiền tự

động, máy thanh toán thẻ tại các điểm bán hàng Vì vậy, vốn đầu tư là điều

kiện đầu tiên và cũng là điều kiện quan trọng nhất đối các ngân hàng trong bước

đầu tiên triển khai dịch vụ thẻ trên thị trường và đầu tư đổi mới công nghệ để bắt

kịp với những tiến bộ trên thế giới

2.2 Trình độ kỹ thuật công nghệ của ngân hàng

Thẻ thanh toán là một phương tiện hiện đại mang tính tiêu chuẩn hoá cao

độ có quy trình vận hành thống nhất gắn liền với các máy móc thiết bị hiện đại

Nếu hệ thống máy móc này có trục trặc gì thì thẻ sẽ gây ách tắc trong toàn hệ

thống Do đó, đòi hỏi phải có một đội ngũ nhân lực có khả năng, trình độ và

kinh nghiệm tiếp cận, đảm bảo cho quy trình phát hành, sử dụng và thanh toán

thẻ diễn ra một cách thông suốt, an toàn và hiệu quả, phát huy được những tiện

ích vốn có của thẻ

2.3.Rủi ro trong phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ

Trang 35

• Rủi ro trong phát hành

* Đơn xin phát hành với các thông tin giả

Ngân hàng có thể phát hành thẻ cho những khách hàng có đơn xin phát

hành thẻ với các thông tin giả mạo do không thẩm định kỹ Trường hợp này có

thể dẫn đến rủi ro về tín dụng cho NHPHT khi chủ thẻ sử dụng mà không hoặc

không có khả năng thanh toán

*Thẻ giả

Thẻ do tổ chức tội phạm hoặc cá nhân làm giả căn cứ vào thông tin có

được từ các chứng từ giao dịch thẻ hoặc từ thẻ mất cắp, thất lạc Theo quy định

của tổ chức thẻ quốc tế, NHPHT phải chịu hoàn toàn trách nhiệm với mọi giao

dịch sử dụng thẻ giả có mã số (số Pin) của mình

* Chủ thẻ không nhận được thẻ do NHPHT gửi

Thẻ đang được sử dụng trong khi chủ thẻ chímh thức không hay biết rằng

thẻ đã được gửi cho mình và NHPHT sẽ phải chịu mọi rủi ro đối với các giao

dịch được thực hiện

*Tài khoản của chủ thẻ bị lợi dụng

Tài khoản của chủ thẻ bị người khác lợi dụng, khi được phát hiện chủ thẻ

đích thực không nhận được thẻ và liên lạc với NHPHT, hoặc khi chủ thẻ nhận

được thông báo giao dịch của NHPHT gửi đến yêu cầu chủ thẻ thanh toán những

khoản tiền chủ thẻ không tiêu

* Tạo băng từ giả

Là loại mạo giao dịch thẻ sử dụng kỹ thuật công ngệ cao Trên cơ sở thu

thập những thông tin trên băng từ của thẻ thật đã dùng để thanh toán tại các

CSCNT, các tổ chức tội phạm làm thẻ giả đã sử dụng những phần mềm riêng để

mã hoá và in tạo các băng từ trên thẻ giả Sau đó chúng thực hiện các giao dịch

giả mạo Trường hợp này dễ dẫn đến rủi ro cho NHTTT,NHPHT hoặc cho chủ

thẻ

• Rủi ro trong sử dụng và thanh toán thẻ

* Thẻ mất cắp thất lạc

Chủ thẻ bị mất cắp hoặc thất lạc thẻ và thẻ bị một người khác sử dụng

Trang 36

trước khi chủ thẻ kịp thông báo cho NHPHT Các tổ chức tội phạm có thể in nổi

hoặc mã hoá lại thẻ để thực hiện các giao dịch giả mạo Trượng hợp này dễ dẫn

đén rủi ro cho chủ thẻ hoặc NHPHT

*Thanh toán hàng hoá, dịch vụ bằng thẻ qua thư, điện thoại hay qua

mạng

CSCNT cung cấp hàng hoá, dịch vụ theo yêu cầu của chủ thẻ qua thư,

điện thoại hay qua mạng trên cơ sở các thông tin về thẻ Trong trường hợp chủ

thẻ chính thức không phải là khách hàng đặt mua hàng thì giao dịch đó bị

NHPHT từ chối thanh toán Trong trường hợp này dễ rủi ro cho CSCNT hoặc

NHTTT

* In ra nhiều hoá đơn thanh toán của cùng một thẻ

Khi thực hiện giao dịch, nhân vien của CSCNT đã cố tình in ra nhiều bộ

hoá đơn thanh toán thẻ nhưng chỉ giao một bộ hoá đơn cho chủ thẻ ký để hoàn

thành giao dịch Sau đó nhân viên của CSCNT giả mạo chữ ký của chủ thẻ để

nộp hoá đơn thanh toán cho NHTTT, gây ra rủi ro cho NHTTT

• Các rủi ro khác

* Rủi ro do khách hàng thiếu trung thực

Khách hàng cố tình gian dối, sử dụng thẻ ở các cơ sở chấp nhận thẻ khác

nhau với mức thanh toán thấp hơn hạn mức cho phép nhưng với tổng số tiền lại

cao hơn hạn mức cho phép Điều này chỉ được phát hiện khi NHTTT kiểm tra

các hoá đơn do CSCNTgửi đến và ngân hàng có thể chịu rủi ro khi chủ thẻ mất

khả năng thanh toán Chủ thẻ cũng có thể lợi dụng tính chất thanh toán toàn cầu

của chủ thẻ để thông đồng với người khác, giao thẻ cho người đó sử dụng ở các

nước khác nhau bằng chữ ký giả mạo và từ chối thanh toán khi bị NHPHT đòi

tiền

* Rủi ro do chưa kịp thời cập nhật thông tin

Rủi ro này NHTTT phải chịu do không kịp thời cung cấp danh sách các

thẻ bị cấm lưu hành cho các CSCNT bởi nhiều nguyên nhân khác nhau trong khi

các giao dịch đã được các CSCNT thực hiện

* Rủi ro trục trặc hệ thống kỹ thuật

Trang 37

Đây là loại rủi ro có thể xảy đến với bất kỳ chủ thẻ nào và bất kỳ khâu

nào của quy trình phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ Thiệt hại do loại rủi ro

này gây ra có thể là rất lớn

* Rủi ro khách quan

-Việc sử dụng thẻ giả mạo trùng với thẻ đang lưu hành của NHPHT

- Chủ thẻ mất khả năng thanh toán bởi lý do khách quan như tai nạn bất

ngờ, không còn khả năng làm việc và mất thu nhập

Cho đến nay, để phòng ngừa và quản lý rủi ro, các tổ chức thẻ quốc tế đã

xây dựng một hệ thống các quy tắc tiêu chuản về quản lý rủi ro và bảo mật cho

các ngân hàng thành viên tuân thủ, hình thành một hệ thống mạng trực tuyến

(online) để xử lý, trao đổi thông tin trên pạm vi toàn cầu Bên cạnh đó, các tổ

chức thẻ quốc tế cũng tổ chức những chương trình dịch vụ hỗ trợ, chương trình

tập huấn, đào tạo nghiệp vụ nhằm nâng cao trình độ cũng như trợ giúp kỹ

thuật cho các ngân hàng thành viên trong việc phòng ngừa và quản lý rủi ro

Nhưng vấn đề thiết yếu là tự bản thân các ngân hàng thành viên phải có sự quan

tâm đặc biệt đến vấn đè này, tìm ra những biện pháp phù hợp để giải quyết nhằm

tạo niềm tin cho công chúng và đối tác, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh

daonh thẻ của mình

VI SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ Ở

VIỆT NAM

Như chúng ta đã biết, ngân hàng là một trong những trung gian tài chính

lớn nhất của nền kinh tế- xã hội, nghiệp vụ kinh doanh đa dạng, phong phú.Tuy

nhiên, dù hoạt động dưới hình thức nào cũng được kết thúc ở khâu thanh toán

Do đó, hoạt động thanh toán là một trong những chức năng trung tâm quan trọng

của ngân hàng

Hoạt động thanh toán của các NHTM Việt Nam trong những năm qua đã

đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, có bước chuyển động mang tính “đột

phá chiến lược” hình thành hệ thống thanh toán hiện đại ở Việt nam Trong dó

thẻ là một là một trong những phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt phổ

biến nhất hiện nay, với lịch sử ra đời và phát triển hơn 50 năm trên thế giới

Trang 38

nhưng ở việt nam dịch vụ này vẫn đang còn xa lạ đối với dân chúng, thanh toán

bằng tiền mặt vẫ đang còn phổ biến Tuy một số phương thức thanh toán không

dùng tiền mặt như: séc, chuyển tiền qua ngân hàng, thẻ đã được áp dụng trong

một số giao dịch nhưng vẫn chưa đạt đến mức xã hội hoá, thêm vào đó là thói

quen tích trữ tiền mặt hàng ngày của người dân

Về phía chủ quan hệ thống thanh toán chưa mạnh, mà đặc biệt là hệ thống

liên ngân hàng, trong khi đó thế giới bên ngoài đã quá quen thuộc với các dạng

thức thanh toán mới từ bán tiền tệ đến siêu tiền tệ như:séc, hối phiếu, thẻ, tiền

chứng từ cùng các giao dịch tiền tệ cao cấp khác văn minh như giao dịch qua

internet, ngân hàng tại nhà

Mặc dù về mặt hình thức thẻ thanh toán đã du nhập vào Việt nam từ đầu

thập kỷ 90, nhưng tỷ trọng thanh toán thẻ trong tổng các phương tiện thanh toán

thẻ không dùng tiền mặt qua ngân hàng vẫn còn quá nhỏ, chưa tương xứng với

tiềm năng của nó Nhưng để đẩy nhanh tốc độ CNH- HĐH đất nước, thông qua

đó nhanh chóng đưa nền kinh tế việt nam hội nhập với nền kinh tế khu vực và

thế giới thì tất yếu phải phát triển thanh toán thẻ Phát triển thanh toán thẻ không

những vì thẻ là một phương tiện thanh toán hiện đại mang lại nhiều tiện ích cho

chủ thẻ, cho ngân hàng , cho nền kinh tế mà còn là tiềm năng thanh toán thẻ tại

Việt nam là rất lớn: Với dân số hơn 80 triệu người, tốc đọ phát triển kinh tế

trung bình từ 5-7%/ năm.Nếu như các NHTM phỏ biến thẻ thanh toán cho

khoảng 10% dân số cả nước thì doanh số sử dụng thẻ sẽ lên tới hàng nghìn tỷ

đồng VNĐ/ năm Mặt khác, Việt nam lại nằm trong khu vực Châu á - Thái Bình

Dương, một khu vực mà hoạt động kinh tế đang được xem là sôi động nhất

trong toàn cầu Theo dự báo của 2 tổ chức thẻ quốc tế Master card và Visa, trong

vòng 3 năm tới khu vực này sẽ là thị trường thẻ lớn thứ ba trên thế giới với tổng

doanh số là 1.407,33 tỷ USD Cũng theo 2 tổ chức quốc tế này, nếu giữ vững

được tỷ lệ tăng trưởng bình quân như thời kỳ 91-96 thì đến năm 2005, thị trường

thẻ việt nam sẽ đạt tới con số 500 triệu USD về doanh số thanh toán

Tất cả những phân tích trên đã chỉ ra rằng thẻ là một công cụ thanh toán

ưu việt đối với khách hàng và là một dịch vụ mang lại nhiều lợi nhuận đói với

Trang 39

những người kinh doanh nó Triển vọng thị trường thẻ thanh toán là thị trương

của tương lai, nó là biểu trưng đánh giá tương quan phát triển và là một động lực

quan trọng bên trong của giao dịch tiêu dùng Từ những tác dụng và tiện ích mà

thể có thể mang lại, chúng ta có thể khẳng định phát triển thẻ sẽ là con đường

nhanh nhất để các ngân hàng phi tiền mặt hoá mọi giao dịch thanh toán trong xã

hội, một dịch vụ sinh lợi và có sức hấp dẫn khách hàng, những tiêu chuẩn đủ để

lôi kéo bất cứ một ngân hàng nào vào guồng máy kinh doanh

Hơn nữa, mở rộng dịch vụ ngân hàng trong khu vực dân cư là một chủ

trương lớn của NHNN nhằm cải thiện tình hình thanh toán, tạo thói quen sử

dụng các phương tiện thanh toán không ùng tiền mặt, phát triển thanh toán qua

ngân hàng, góp phần thực thi tốt chính sách tiền tệ quốc gia Trước mắt chúng ta

còn phải đương đầu với nhiều khó khăn về công nghệ vốn, thị trường khi tiếp

cận và sử dụng loại hình thanh toán mới và hiện đại này, nhưng chúng ta có

quyền lạc quan tin tưởng về tương lai phát triển của thẻ thanh toán tại Việt nam

trong thời gian tới

Trang 40

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CUNG ỨNG THẺ TẠI SGDI-NHCTVN TRONG

THỜI GIAN QUA

I GIỚI THIỆU ĐÔI NÉT VỀ SỎ GIAO DỊCH I – NGÂN HÀNG

CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của SGD I –

NHCTVN

Tiền thân của sở giao dịch 1 Ngân hàng Công Thương Việt nam là trung

tâm giao dịch Hà nội, từ năm 1988 đến tháng 4/1993 Sở có tên là NHCT Hà nội

sau đó đổi tên là Hội sở chính NHCT Việt nam, đồng thời với việc đổi tiền ấy là

ngân hàng sát nhập với Trụ sở chính ở 108 Trần Hưng Đạo ( Trên đó có nhiệm

vụ quản lý vĩ mô) còn ở Sở thì chủ yếu là thực hiện nhiệm vụ kinh doanh

Từ tháng 1/ 1999 Hội sở chính tách khỏi trụ sở chính mang tên sở giao

dịch 1 ngân hàng công thương việt nam

Hiện giờ, Ngân hàng công thương Việt nam có 2 Sở chính: 1 sở ở Thành

phố Hồ Chí Minh, 1 sở ở Hà nội và có hơn 100 chi nhánh hầu như ở các tỉnh,

thành phố trong cả nước

Ngân hàng công thương Việt nam chưa có chi nhánh ở nước ngoài mà chỉ

có chi nhánh liên doanh liên doanh thiên về hành chính sự nghiệp

Sở giao dịch 1 ngân hàng công thương việt nam là một chi nhánh có nhiều

lợi thế, trong nhiều năm liền sở huy động được một khối lượng vốn lớn nhất

đồng thời dư nợ cũng là lớn nhất trong toàn bộ hệ thống Ngoài ra, Sở luôn là

đầu mối để triển khai các dịch vụ, sản phẩm mới của Ngân hàng Công thương

Việt nam

1.1.Nghĩa vụ và quyền hạn của sở giao dịch 1 ngân hàng công thương

việt nam

• Nghĩa vụ của sở

Là một NHTM nên sở có 3 nghĩa vụ cơ bản sau:

-Sử dụng có hiệu quả, bảo toàn, phát triển vốn và các nguồn lực của Ngân

Ngày đăng: 25/03/2013, 11:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Lợi nhuận của SGDI-NHCTVN 2000-2002. - thúc đẩy nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ
Bảng 3 Lợi nhuận của SGDI-NHCTVN 2000-2002 (Trang 43)
Bảng 4: Bảng báo cáo thanh toán thẻ quốc tế tại Việt nam giai  đoạn - thúc đẩy nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ
Bảng 4 Bảng báo cáo thanh toán thẻ quốc tế tại Việt nam giai đoạn (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w