Tuy nhiên, do sản lượng rau tập trung chủyếu vào vụ Đông Xuân trừ những nơi có độ cao 750m so với mặt nước biểntrở lên có thể trồng quanh năm nhiều loại rau ôn đới, một nửa thời gian còn
Trang 1PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngàycủa mỗi người trên khắp hành tinh, đặc biệt khi lương thực và các loại thức ăngiàu đạm đã được đảm bảo thì nhu cầu về rau xanh lại càng gia tăng, như mộtnhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ Theo tínhtoán của các nhà dinh dưỡng học thì nhu cầu tiêu thụ rau bình quân hàng ngàycủa mỗi người dân cần khoảng 250-300g/ngày/người tức là90-110kg/người/năm.Giá trị dinh dưỡng của rau được thể hiện trên các mặt.Rau cung cấp cho cơ thể nhiều loại vitamin như : A, B, C, PP, nhiều chất làsinh tố C, tiền vitamin A(Provitamin A) Trong rau còn chứa các chất khoángnhư: Ca, P, Fe và các chất năng lượng như Protit, Lipit, Gluxit Ngoài ra raucòn cung cấp các nguồn dinh dưỡng khác như các Axit hưu cơ, hợp chấtthơm, các vi lượng và Xenlulo.[1]
Sản xuất rau là ngành quan trọng của nền Nông nghiệp ở nhiều nướctrên thế giới và đối với Việt Nam
Trong công cuộc đổi mới và xây dựng Đất nước, về lĩnh vực Nôngnghiệp, Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ: Phải nhanh chóng đưa công nghiệp hóa,hiện đại hóa vào Nông nghiệp Một trong những hướng công nghiệp hóa Nôngnghiệp là áp dụng hình thức sản xuất kiểu Công nghiệp- thực hiện thâm canhhiệu quả cao và bền vững bằng phương thức sản xuất Nông nghiệp hiện đại
Ở nước ta, rau và hoa không chỉ cung cấp cho thị trường nội địa mà đãtrở thành mặt hàng với nhu cầu ngày càng lớn trên thị trường nước ngoài Rau
và hoa phát triển khắp các vùng trong nước, chiếm khoảng 56% diện tích đấtcanh tác ở các tỉnh phía Bắc và khoảng 44% ở các tỉnh phía Nam, trong đódiện tích trồng rau và hoa trong nhà kính, nhà lưới hiện nay khoảng trên1000ha và không ngừng phát triển ở hầu hết các tỉnh
Nhà lưới có vai trò quan trọng trong việc sản xuất rau an toàn chonăng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao do nhà lưới chống mưa, sương,giảm nhiệt về mùa hè, tăng nhiệt về mùa đông, hạn chế côn trùng xâm nhập từbên ngoài Điều đó cho phép kiểm soát đầy đủ và chặt chẽ hầu hết các thông
Trang 2số kỹ thuật trong quá trình sản xuất, kể cả đáp ứng được yêu cầu sinh trưởng
và phát triển tốt nhất của cây trồng như: Nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, khí CO2,khí O2… cũng như kiểm soát được sâu bệnh hại cây trồng
Việc nhập các mẫu nhà lưới của nước ngoài ứng dụng ở nước ta khôngphát huy được tính ưu việt do không phù hợp với điều kiện khí hậu, giá thànhcũng như chí phí và việc vận hành Việc nghiên cứu, lựa chọn, cải tiến nhàlưới của các nước cho phù hợp với điều kiện khí hậu, kinh tế và kĩ thuật cũngnhư ứng dụng và phát triển ở nước ta là rất cần thiết
Khi tính toán thiết kế nhà lưới trồng rau cần phải đáp ứng các yêu cầunông học của cây trồng, đó là các yếu tố : nhiệt độ, ánh sáng, khí CO2, khí O2
và kiểm soát sâu bệnh… Như vậy yêu cầu chung khi tính toán thiết kế nhàlưới là lựa chọn cấu trúc, hệ thống thiết bị, vật liệu đảm bảo tính năng kiểmsoát khí hậu môi trường(là yếu tố chủ đạo), giá thành hợp lý
Xuất phát từ tình hình trên, tôi chọn đề tài: “ Tính toán và lựa chọn
kết cấu nhà lưới trồng rau an toàn quy mô nhỏ”.
Trang 3PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới và trong nước
2.1.1 Tình hình trồng rau và tiêu thụ rau trên thế giới
1/ Tình hình trồng rau trên thế giới
Theo số liệu gần đây, năm 2005 diện tích trồng rau trên thế giới khoảng17.999.009ha, năng suất đạt 138,829 tạ/ha, sản lượng đạt 249,879 triệu tấn.Nước có diện tích trồng rau lớn nhất là Trung Quốc với 8.266.500ha
Bảng 1: Diện tích, năng suất, sản lượng rau của một số nước trên thế giới.[4]
Quốc gia Diện tích
(ha)
Năng suất(tạ/ha)
Sản lượng( triệu tấn)
(Nguồn: Recorts copyright Fao 2006)
Về sản lượng rau thì Trung Quốc vẫn dẫn đầu với 142 triệu tấn chiếm 56,82% tổng sản lượng rau toàn thế giới, sau Trung Quốc là Ấn Độ đạt 35 triệu tấn (chiếm 14%) Như vậy chỉ riêng 2 nước Trung Quốc và Ấn Độ đã chiếm 70,82% tổng sản lượng rau toàn thế giới
Trang 4Bên cạnh đó, việc áp dụng nhiều tiến bộ KHKT cùng với việc tạo ranhiều chủng loại cây trồng đạt năng suất cao đã làm cho năng suất rau ở một
số nước tăng lên đáng kể Năng suất lớn nhất là Hoa Kỳ (771,801 tạ/ha), kếđến là Hàn Quốc (318,966 tạ/ha), Nhật Bản (280,412 tạ/ha), Phần Lan(200,000 tạ/ha), Italy (180,566 tạ/ha).[10]
2/ Tình hình tiêu thụ rau trên thế giới.
Theo tính toán của các nhà dinh dưỡng học thì mức tiêu dùng rau tốithiểu cho mỗi người là 90kg/người/năm Hiện nay ở nhiều nước đã vượt quámức quy định này Năm1969, sản lượng rau bình quân tính theo đầu ngườicủa các nước Bungari là 178kg; hungari là 161kg; Balan là 100kg; Rumani là98kg; Liên Xô (cũ ) là 76kg Năm 1988, các nước có lượng rau tiêu thụ caonhất trên đầu người như Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên là 244,6kg;Nam Triều Tiên là 141,1kg ; New Zeland là 136,7kg.[20]
Trước nhu cầu rau ngày càng tăng như vậy, một số nước trên thế giới đã
có những chính sách nhập khẩu rau khác nhau Năm 2005, nước nhập khẩu raunhiều nhất thế giới là Pháp đạt 145,422 nghìn tấn; sau Pháp là các nước như:Canada (143,332 nghìn tấn), Anh (140,839 nghìn tấn), Đức (116,866 nghìntấn) Trong khi đó, 5 nước chi tiêu cho nhập khẩu rau lớn nhất thế giới là:Đức (149.140 nghìn USD); Pháp (132.942 nghìn USD);Canada (84.496 nghìnUSD ); Trung Quốc (80.325 nghìn USD); Nhật Bản (75.236 nghìn USD).[4]
Bảng 2: Cán cân xuất nhập khẩu rau quả thế giới ( năm 2003).[10]
Tên nước Hàng hóa sản xuất trong nước đáp ứng (1000 tấn)Nước Sản lượng Nhập khẩu Dự trữ Xuất khẩu Tổng số
( Nguồn: Recorts Copyright FAO,2006 )
Trang 5Hiện nay, nhiều nước trên thế giới ngày càng có nhiều chủng loại rau,tăng diện tích và năng suất để đáp ứng nhu cầu về rau xanh ngày mộttăng.Theo FAO, dự đoán thị trường rau của thế giới thì thị trường rau quảcung vẫn không đủ cầu Thời kỳ 2000-2010 nhu cầu nhập khẩu rau quả củacác nước trên thế giới sẽ tăng do mức tăng tiêu thụ bình quân, dự đoán nhucầu tăng 3,6% trong khi mức tăng sản lượng rau quả chỉ đạt 2,8%.
Bảng 3: Diện tích, năng suất và sản lượng một số loại rau chủ lực trên
thế giới năm 2007.[4]
Loại rau Diện tích
(ha)
Năng suất(tấn/ha)
Sản lượng(tấn)
2.1.2 Tình hình trồng rau và tiêu thụ rau ở trong nước
Nước ta có lịch sử trồng rau lâu đời, quá trình phát triển của nghề trồngrau gắn với công cuộc xây dựng và phát triển, và bảo vệ đất nước qua nhiềuthời đại: Theo sổ sách ghi chép, từ đời vua Hùng, bầu bí đã được trồng trongcác vườn rau gia đình Rau được nhập vào nước ta thời nhà Lý Thế kỉ X (dời
đô về Thăng Long) Năm 1721 – 1783 Lê Quý Đôn đã tiến hành tổng kết cácvùng phân bố rau và cho thấy trước thế kỉ XIX rau được trồng nhiều ở cácvùng phụ cận thủ đô Thăng Long nay là Hà Nội Nước ta là một nước cótruyền thống trồng rau, có điều kiện khí hậu, đất đai phù hợp với hầu hết cácloại rau trồng trên thế giới Rau có thể sản xuất quanh năm, rất phong phú vềchủng loại (có tới 70 loài) trong đó có khoảng 40 loài rau chính.[4]
Với kinh nghiệm lâu đời của người sản xuất, ngành sản xuất nước takhông chỉ cung cấp các sản phẩm cho tiêu dùng nội địa mà còn xuất khẩu sangcác nước có vĩ độ thấp ở châu Âu, Bắc Mĩ, và các nước trong khu vực châu Á
Trang 6Theo số liệu tổng cục thống kê 2006, diện tích trồng rau là644.000ha, tăng 29,5% so với năm 2000 (452.900ha) Năng suất đạt 149,9tạ/ha; là năm có năng suất trung bình cao nhất từ trước đến nay Tổng sảnlượng rau cả nước đạt 9,65 triệu tấn, đạt giá trị 144.000 tỉ đồng (tươngđương 900 triệu USD) chiếm 9% GDP của nông nghiệp Việt Nam, trongkhi diện tích chỉ chiếm 6%, với khối lượng trên, bình quân sản lương rausản xuất trên đầu người =115Kg/người/năm, tương đương mức bình quântoàn thế giới và đạt loại cao trong khu vực, gấp đôi trung bình của các nướcASEAN (57Kg/người /năm).
Năm 2007 diện tích trồng rau trên đất nông nghiệp của cả nước đạt gần670.000 ha Với năng suất 150 tạ/ha,chúng ta có sản lượng 10,05 triệu tấnđảm bảo cho bình quân đầu người 130kg/năm bằng số trung bình toàn thế giới
và gấp đôi các nước trong ASEAN Tuy nhiên, do sản lượng rau tập trung chủyếu vào vụ Đông Xuân (trừ những nơi có độ cao 750m so với mặt nước biểntrở lên có thể trồng quanh năm nhiều loại rau ôn đới), một nửa thời gian cònlại ( từ tháng 4 đến tháng 9) chủng loại rau đơn điệu, phần lớn là rau nước.Rau trồng trong mùa mưa, nắng nóng, thường cho năng suất, chất lượng thấp,giá cả cao, và mức độ an toàn thực phẩm suy giảm do sử dụng nhiều hóa chất
để phòng trừ sâu bệnh và phân hóa học được hấp thụ triệt để hơn Việc nghiêncứu các giải pháp khoa học trồng rau trái vụ được nhiều tổ chức chuyên mônquốc tế và các nước phát triển nghiên cứu và chuyển giao cho sản xuất Ởnước ta, vấn đề này mới đề cập đến khoảng 10 năm trở lại đây
Cả nước trồng hơn 80 loại rau thuộc 25 họ thực vật, trong đó có 25 - 30loài rau chủ lực, có diện tích trên khoảng 10.000ha (chiếm 73 - 75% diện tích
và xấp xĩ 80% sản lượng)
Có 2 vùng trồng rau chủ yếu ở nước ta hiện nay:
+ Vùng rau tập trung chuyên canh ven thành phố và khu công nghiệpvới khoảng 40% diện tích; 38% sản lượng, chủng loại rau rất phong phú (hơn
60 loại), sản phẩm chủ yếu phục vụ cho cư dân phi Nông nghiệp nên yêu cầu
về chất lương (đa dạng về chủng loại và mức độ an toàn) ngày càng gia tăng
Trang 7+ Vùng rau luân canh với 2 vụ lúa và vụ rau Đông Xuân, chiếm 60% diệntích và gần 2/3 sản lượng rau cả nước Đây là vùng rau hàng hóa có năng suất vàchất lượng cao, có tiềm năng lớn cung cấp nguyên liệu cho Công nghiệp chếbiến và cho xuất khẩu, đặc biệt tại đồng bằng Sông Hồng và tỉnh Lâm Đồng.Diện tích, năng suất, sản lương rau Việt Nam được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 4: Diện tích, năng suất, sản lương rau Việt Nam qua các năm.[10]
(Đơn vị tính: 1.000$)
Hình 1: Kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả qua các năm 2005 – 2006
Trang 8Cũng theo thống kê, kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả cả nước trongtháng 4/2008 đạt 29,6 triệu USD, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu rau quảtrong 4 tháng năm 2008 lên 118,1 triệu USD, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm2007.[23]
Theo các chuyên gia, rau quả Việt Nam hiện đã được xuất khẩu hơn
50 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.Phần lớn mặt hàng rau quả củanước ta được xuất khẩu chủ yếu vào thị trường Trung Quốc với kim ngạch đạt2,36 triệu USD năm 2007, tăng trên 7% so với tháng 11/2006 nhưng vẫn giảmtới 40% so với cùng kỳ năm 2005.[4]
Kế tiếp là các nước Đài Loan, Nhật Bản, Nga, Singapore… trong đólượng hàng xuất khẩu vào thị trường EU chiếm 1 tỷ trọng rất nhỏ
Về tổng thể, hiện Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã quyhoạch diện tích trồng rau và quả trong cả nước đến năm 2010 khoảng 1 triệu
ha, sản lượng khoảng 10 triệu tấn Trong đó, diện tích dành cho xuất khẩukhoảng 250.000 ha Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nôngthôn, thời gian tới, Bộ sẽ rà soát lại quy hoạch và tập trung ưu tiên cho khâunghiên cứu, lai tạo các giống rau quả năng suất và chất lượng tốt và tạo thuậnlợi cho doanh nghiệp xây dựng, phát triển cấp thương hiệu, đổi mới côngnghệ Đồng tình với ý kiến này, mới đây Bộ Công thương đã khuyến cáongành Nông nghiệp và các địa phương cần tăng cường trợ giúp nông dân ápdụng tiến bộ KHKT mới , đẩy mạnh kiểm tra, giám sát để nâng cao chấtlượng sản phẩm và đặc biệt là đáp ứng yêu cầu kiểm định nghiêm ngặt củacác thị trường xuất khẩu.[22]
Theo nhận định của các nhà kinh tế, nhiều loại rau quả của Việt Namđang tiếp tục được ưa chuộng tại thị trường quốc tế với số lượng ngày càngtăng trong những tháng đầu năm 2008 là dấu hiệu tốt để hướng tới mục tiêuđạt giá trị xuất khẩu rau quả khoảng 700 triệu USD vào năm 2010
Tuy có nhiều loại rau xuất khẩu hay tiêu dung đều dưới dạng kháphong phú nhưng nhìn chung, các loại rau xuất khẩu còn mang tính đơn điệu,nhỏ lẻ, số lượng ít, thiếu tính cạnh tranh Phản ánh tình trạng sản xuất cònmanh mún, mặt hàng chế biến rau cho xuất khẩu còn ít…Đây là điểm yếu cơbản của xuất khẩu rau của Việt Nam hiện nay
Trang 9* Tình hình sản xuất rau an toàn trong nhà lưới ở Việt Nam
Nhận thức rõ về tác hại của rau bị ô nhiễm ảnh hưởng đến sức khỏe củangười sản xuất và tiêu dùng cũng như ảnh hưởng đến môi trường, nhiều tỉnh,thành phố đã có giải pháp, chính sách trong việc đầu tư, phát triển rau an toànđặc biệt là các khu vực ven các đô thị lớn Đi đầu trong việc phát triển thịtrường rau là:
- Thành phố Hồ Chí Minh: hiện có trên 3.200ha sản xuất rau an toàn,
đã xây dựng phòng thí nghiệm công nghệ cao để sản xuất cao giống rau F1.Đầu tư máy chẩn đoán dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và ứng dụng xe lưuđộng để kiểm tra nhanh dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tại các chợ đầu mối.Thành phố đã phát triển hơn 100 nhà lưới với diện tích bình quân 500-1000m2/1 nhà lưới
- Tại Đà Lạt: là vùng cung cấp rau an toàn chính cho khu vực phía Nam
và xuất khẩu, ở đây đã sớm hình thành các mô hình sản xuất rau an toàn trongnhà lưới với từ đơn giản đến có quy mô và mới đây đã hình thành nhà lưới cócông nghệ cao sản xuất rau, hoa xuất khẩu
Khí hậu thời tiết đặc trưng nên có rất nhiều chủng loại rau đặc trưng đadạng mà các khu vực khác không có nên rất thuận lợi cho phát triển rau an toàn
- Tại Sóc Trăng: được UBND tỉnh đầu tư trồng 80ha rau an toàn ở thị
xã Sóc Trăng, xã Đại Tây (Mỹ Xuyên), xã An hiệp (Mỹ Tú) với khoảng400ha Nông dân được tham gia tập huấn đào tạo kỹ thuật sản xuất
- Tại Nam Định: đã chuyển đổi một số diện tích trồng cây không hiệuquả sang trồng rau và theo tính toán thì với một vụ trồng rau xuất khẩu chothu nhập từ 40-80 triệu đồng/ ha Điển hình có hợp tác xã Minh Tần- huyện
Vụ Bản trồng 10ha rau xuất khẩu vụ Xuân và 15ha trồng vụ Đông
Tại huyện Nghĩa Hưng, HTX Nghĩa Hưng đã mạnh dạn đưa 25hatrồng lúa sang trồng rau xuất khẩu, trong đó có 14ha cà chua, 11ha dưabao tử xuất khẩu
Trang 10- Tại Hà Nội: theo dự báo quy hoạch phát triển Nông nghiệp Hà Nộiđến năm 2010 của UBND thành phố Hà Nội, thì diện tích rau sạch là 10.500-12.500 ha, năng suất 207-208 tạ/ha, đạt sản lượng 220-260 nghìn tấn Tậptrung phát triển rau an toàn chủ yếu huyện ngoại thành: Sóc Sơn, Đông Anh,Gia Liên, Từ Liên, Thanh Trì…
- Tại Ba Rịa- Vũng Tàu: đã xây dựng 25 tổ chức sản xuất rau an toànvới diện tích 92ha Mỗi năm cung cấp cho thị trường 27 tấn rau an toàn,tương đương 9.600 tấn/ năm Tỉnh đã đầu tư thêm 28 mô hình sản xuất rau antoàn đạt tiêu chuẩn gồm: 11ha rau ăn lá, 7 ha rau ăn quả giàn leo và 11 ha rau
ăn lá, rau ăn quả trồng trong nhà lưới có hệ thống tưới phun.[13]
Đối với các tỉnh Miền Trung có diện tích trồng rau trung bình mỗi nămkhoảng 70.000ha, với sản lượng khoảng 370 nghìn tấn/năm Sản xuất rau ởcác tỉnh Miền Trung ít thuận lợi hơn so với các tỉnh Miền Bắc và Miền Nam
do khó khăn về nhiều yếu tố như khí hậu thời tiết do đó năng suất bình quânthấp hơn so với trung bình năng suất rau của cả nước Trong các năm gần đâycác tỉnh đã có sự cố gắng trong việc đẩy mạnh sản xuất rau, quả nhằm phục
vụ nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân, đồng thời đã có những sản phẩmxuất khẩu (Dưa hấu, ớt, hành tỏi) song diện tích tăng không đáng kể, phân bốkhông đồng đều; năng suất có tăng nhưng không cao, trong khi đó dan sốkhông ngừng tăng lên, khách du lịch ngày càng tăng nên diện tích đất trồngrau ngày càng thu hẹp lại, song nhờ có chính sách đầu tư cùng với sự tiến bộcủa KHKT nên có nhiều mô hình sản xuất rau tiên tiến được áp dụng ở cáctỉnh, đặc biệt là các thành phố lớn đã phát triển mạnh mô hình sản xuất rau antoàn, rau trong nhà lưới, rau trên giá thể vụn sơ dừa, phủ luống rau, rau thủycanh… bởi thế đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về rau hiện nay.[4]
Trang 11Bảng 5: Diện tích, năng suất, sản lương rau của một số tỉnh Miền Trung
(bình quân 2006)
Các tỉnh Diện tích
(ha)
Năng suất bình quân ( tạ/ha)
Sản lượng( tấn)
Sản lượng so với Miền Trung ( %)
(Nguồn: Tổng hợp số liệu rau từ TTKN của các tỉnh MT, 2006)
2.1.3 Tình hình sản xuất rau ở Thừa Thiên Huế
Cây rau được trồng ở Thừa Thiên Huế từ rất lâu đời và đã hình thành ởđây nhiều vùng thâm canh rau Rau được trồng rãi rác trên nhiêu huyện thị vàven thành phố nhằm tự cung tự cấp rau xanh cho gia đình, một phần rau cònlại được tiêu thụ trong huyện thị hay địa phương lân cận phương thức sảnxuất rau ở đây chủ yếu là áp dụng kinh nghiệm của từng địa phương vớinhững loại rau quen thuộc như rau muống, cà chua, đậu côve chỉ đươc trồngvới diện tích rất nhỏ Cho nên ở đây chưa hình thành những vùng rau thâmcanh cao, sản xuất rau có tính hàng hóa lớn, Trong khi đó, Thừa Thiên Huếnằm ở khu vực miền Trung có sự chuyển tiếp về khí hậu giữa miền Bắc vàmiền Nam do đó cây rau ở đây có sự đa dạng và phong phú về chủng loại
Trang 12Tuy nhiên, do sự khắc nghiệt về khí hậu thời tiết nên tình hình sản xuất rau ởđây gặp nhiều khó khăn.
Hiện nay, Thừa Thiên Huế có đến 50 loại rau trong tổng số 70 loạirau đã đươc điều tra ở Việt Nam bao gồm các nhóm: nhóm rau ăn lá, nhómrau gia vị, nhóm rau ăn quả, hạt và rau ăn củ, những loại rau này đượctrồng chủ yếu ở một số huyện như Phú Vang, Phong Điền, Quảng Điền vàven thành phố Huế với diện tích, năng suất và sản lượng của các huyệnđược phân bố như sau:
Bảng 6: Diện tích, năng suất và sản lượng của các huyện tại
Thừa Thiên Huế.[10]
Tên huyện, Tp
Diện tích(ha)
Sản lượng(tấn)
Năng suất( tạ/ha)
(Nguồn: Niên giám thống kê Thừa Thiên Huế 2006)
Qua bảng số liệu trên thì những năm trở lại đây diện tích trồng rau củacác huyện đều tăng lên đáng kể, tổng diện tích trên toàn huyện năm 2006 là4.752ha đã tăng lên 44,13% so với năm 2002 là 3.297ha sản lượng rau củahuyện Phú Vang đứng đầu toàn tỉnh năm 2006 với 12.088 tấn rau tăng57,94%so với năm 2002, thứ 2 là Quảng Điền với 9.943 tấn rau và thứ 3 làThành phố Huế với 6.832 tấn rau, nhờ quá trình thâm canh cao cùng với ápdụng nhiều tiến bộ KHKT cũng như nhờ trao đổi kinh nghiệm của bà con nông
Trang 13dân trong quá trình sản xuất nên dù diện tích không lớn nhưng lại đạt một năngsuất không nhỏ và đứng đầu là Thành phố Huế với 122tạ/ha thứ 2 là HươngTrà với 105,1 tạ/ha Nhìn chung năng suất rau ở đây còn thấp tuy nhiên đã caohơn so với nhiều năm trước Vì vậy hàng năm Thừa Thiên Huế phải nhập mộtlượng rau lớn vào mùa khô và mùa mưa tư các tỉnh phía Bắc và Đà Lạt.
* Tình hình sản xuất rau an toàn trong nhà lưới ở Thừa Thiên Huế
Tại Thừa Thiên Huế, ngay từ năm 1995, bằng nguồn vốn khoa học, sởKhoa học - Công nghệ và môi trường tỉnh đã xây dựng mô hình trồng 1ha rau
an toàn, trong đó có 500m2 rau trồng trong nhà lưới, kết quả được đánh giácao, nhưng giá thành xây lắp khá cao, người tiêu dùng ít hiểu biết nên khóbán, mới dừng lại ở mô hình chưa nhân rộng
Năm 2000 đến nay, nhiều cơ quan, tổ chức đã tổ chức đầu tư xây dựngcác mô hình sản xuất rau an toàn tại các phường nội thành và các xã venthành phố Huế, đến nay đã hình thành các HTX sản xuất rau an toàn cung ứng
ổn định cho thị trường tiêu thụ rau ở thành phố như HTX Kim Thành, QuảngThành, Quảng Điền: xây dựng 4.000 m2 nhà lưới, HTX Điền Lộc, xã ĐiềnLộc, Phong Điền xây dựng 1.000 m2 rau an toàn, HTX NN Hương Long,thành phố Huế có 1 ha rau an toàn, các phường Thuận Thành, Tây Lộc đãhình thành rau sạch phục vụ du lịch và tiêu dùng…
Qua đó ta thấy rằng sản xuất rau an toàn đặc biệt sản xuất rau an toàntrong nhà lưới thực sự đã được các cơ quan nhà nước, các tổ chức, các nhànghiên cứu quan tâm và đầu tư phát triển, người sản xuất, người tiêu dùngngày càng ý thức hơn về chất lượng sản phẩm rau trong sản xuất và tiêu thụ
2.2 Nhu cầu về rau an toàn và yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm rau quả 2.2.1 Nhu cầu về rau an toàn
1/ Tình hình bị ngộ độc do ăn rau
Nước ta trong nhiều năm trở lại đây, các vụ ngộ độc đã xảy ra thườngxuyên, với tốc độ ngày càng gia tăng Theo thống kê của Cục Bảo vệ Thựcvật, 1993-1994 tại các Tỉnh phía nam có hơn 600 người Xét nghiệm sữa của
47 bà mẹ đang cho con bú ở vung chuyên canh rau (Hà Nội và Thành phố HồChí Minh) 1996 thì cả 47 bà mẹ trong sữa đều có dư lượng thuốc BVTV.Năm 1997 cả nước có 585 vụ với 6421 người bị ngộ độc thực phẩm, trong đó
Trang 14có 6103 người bị nhiễm độc thuốc BVTV So với năm 1996 tăng lên 50 vụ,với 1341 người Năm 2000 cả nước có 213 vụ ngộ độc thực phẩm, trong đó
có 3 vụ ngộ độc thuốc BVTV, với 4233 bị ngộ độc, trong đó có 59 ngườichết Tại Thừa Thiên Huế có 8 vụ ngộ độc với 104 người bị ngộ và 2 người bịchết Năm 2001 cả nước có 245 vụ bị ngộ độc tăng hơn năm 2000 là 32 vụvới 3900 người bị ngộ độc, có 63 người chết Tại Thừa Thiên Huế có 9 vụngộ độc với 189 người bị ngộ độc trong đó có 49 vụ ngộ độc do thuốc BVTV,
1 người bị chết Năm 2002 cả nước có 149 vụ bị ngộ độc với 1869 người bịngộ độc trong đó có 35 vụ bị ngộ độc do thuốc BVTV, 41 người bị chết [2].Riêng Thừa Thiên Huế cũng có 2 vụ bị ngộ độc với 43 người bị ngộ độc vàđược thể hiện qua bảng sau:
Bảng 7: Số lượng các vụ ngộ độc thực phẩm và rau những năm 2000 - 2002 ở Việt Nam và Thừa Thiên Huế.[2]
Năm
Chỉ tiêu
Cả nước T.T Huế Cả nước T.T Huế Cả
nước
T.THuế
Trang 15Qua kiểm tra 708 cơ sở kinh doanh ăn uống, kết quả kiểm tra như sau:
Bảng 8: Kêt quả kiểm tra vệ sinh thực phẩm trên địa bàn
Thừa Thiên Huế năm 2005.[2]
Số cơ sở Số cơ sở
kiểm tra
Không đạt
Tỷ lệ %Tổng số Mẫu rau
Cơ sở sản xuất chế biến
(Nguồn: Trung tâm Y tế dự phòng thành phố Huế)
Từ số liệu bảng trên cho thấy: tình hình ô nhiểm thực phẩm là rấtnghiêm trọng, đặc biệt là trên rau vì mức ngộ độc do rau rất nguy hiểm gâyđộc trực tiếp cho con người
Như vậy rau ô nhiễm hay “rau độc” đã trở thành một quốc nạn cho dântộc, trong vài năm trở lại đây tình hình ngộ độc do ăn rau đã được kiềm chếnhưng vẫn tiếp tục xảy ra nên nhu cầu về rau an toàn và việc sản xuất rau antoàn là một giải pháp cấp bách và hết sức cần thiết
2/ Nhu cầu về rau an toàn
Nhu cầu về rau an toàn cũng như việc sản xuất rau an toàn hay rau sạchnhằm tránh ngộ độc do ăn rau, bảo vệ sức khỏe con người và sức khỏe cộngđồng, giảm bớt chi phí không đáng có cho xã hội, giải quyết công ăn việc làmcho người lao động, đặc biệt ở vùng nông thôn vành đai thực phẩm và khucông nghiệp Hình thành tập quán sản xuất rau an toàn, nâng cao ý thức tráchnhiệm người dân Nâng cao thu nhập cho người trồng rau đồng thời góp phầnbảo vệ môi trường cho sự tồn tại của cộng đồng, bảo vệ cân bằng sinh thái tựnhiên; chống hủy hoại tài nguyên đất, nước và môi trường xung quanh, pháttriển một nền nông nghiệp sạch và hệ thống nông nghiệp bền vững
Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu về ăn uống và sức khỏe đã nêu vấn
đề rau quả và tính bình quân chung là 250-300g/người/ngày Theo tính toán
Trang 16thì tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh trong hoàn cảnh hiện tại lao độngtrong 1 ngày hoạt động nặng phải dùng từ 400-500g rau, lao động nhẹ cần300-350g rau, lưá tuổi 10-13 cần khoảng 150-200g rau.[19]
Kết quả của một khảo sát mới đây của viện Khoa học kỹ thuật Nôngnghiệp Việt Nam về sản xuất và thương mại hàng hóa rau quả cho thấy: Tổnglượng rau tiêu thụ bình quân trên đầu người đã tăng lên 2 lần trong 10 nămqua Xu hướng tiêu thụ rau của người Việt Nam cũng có nhiều thay đổi, nếunhư năm 1993 khối lượng tiêu thụ bình quân đầu người là 50kg/người/năm,thì đến năm 2002 là 111kg/người/năm Tương tự khối lượng tiêu thụ quả bìnhquân đầu người năm1993 là 18kg thì đến năm 2002 là 38kg (Bộ NN &PTNT:Báo cáo khảo sát của viện NNKTVN về SX và TMRQ VN tháng 5/2008)
Hiện nay, Việt Nam đã gia nhập WTO (Tổ chức Thương mại thế giới),đang hội nhập với các nước trên thế giới và mới đây Quốc hội đã thông qualuật bảo vệ môi trường, thì yêu cầu về an toàn thực phẩm nói chung, chấtlượng rau nói riêng là cần thiết hơn bao giờ hết
Theo tính toán thì nhu cầu tiêu thụ rau vào năm 2010 là 9,4 triệu tấn (kể
cả xuât khẩu), phấn đấu đưa tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch xuống 15% thì sảnlượng rau thực tế phải cần khoảng 11 triệu tấn
Với tình hình trên thì nhu cầu về sản xuất rau an toàn nhằm đáp ứng tốtnhu cầu của người dân là rất cần thiết
3/ Nhu cầu tiêu thụ rau an toàn tại Thừa Thiên Huế
Nền kinh tế thị trường đòi hỏi người sản xuất phải nhạy bén, để địnhhướng sản phẩm nhằm đáp ứng đầy đủ, kịp thời cho người tiêu dùng với chiphí thấp, sản phẩm đạt chất lượng, phải biết cách hướng dẫn, quãng cáo, tiếpthị sản phẩm để người tiêu dùng biết và an tâm với sản phẩm đó Đối với sảnxuất rau an toàn liên quan mật thiết đến sức khỏe người tiêu dùng, thì vấn đềchất lượng sản phẩm, hiệu quả kinh tế, ổn định sản lượng, và đa dạng sảnphẩm là rất quan trọng
Hiện trên địa bàn còn có nhiều nhà trẻ, bếp ăn tập thể (căng tin), trườnghọc bán trú và một số chợ đầu mối Với lượng khách du lịch đến Huế ngàycàng tăng thì nhu cầu tiêu thụ rau an toàn là rất lớn.Tuy nhiên, khả năng đápứng sản lượng rau an toàn của các vùng sản xuất rau an toàn còn hạn chế và
Trang 17không ổn định do thời vụ, thiếu kế hoạch phân bổ diện tích, trồng rau vẫn cònnặng về tập quán, không lấy nhu cầu thị trường để điều chỉnh cơ cấu loại rau,vẫn còn thiếu sự liên minh, liên kết các vùng sản xuất rau an toàn với nhau.Dẫn đến trong cùng một thời điểm có sản phẩm thì quá nhiều, có sản phẩm íthoặc không có, làm cho khách hàng thiếu lòng tin Đây là hạn chế rất lớn củacác hộ nông dân trong vấn đề sản xuất rau nói chung và sản xuát rau an toànnói riêng và là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến việc mở rộngdiện tích sản xuất rau an toàn trên địa bàn tỉnh.[2]
2.2.2 Các tiêu chuẩn đánh giá về rau an toàn
Rau sạch đang là sự quan tâm đặc biệt, là yêu cầu bức xúc của xã hội
và mọi người, từ nhà sản xuất, người tiêu dùng, nhà khoa học cũng như nhàquản lý vì nó góp phần quan trọng trong việc phát triển sản xuất, hội nhậpnông nghiệp, bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng Hơn mười năm nay,nước ta triển khai chương trình rau sạch, rau an toàn Từ Chính phủ đến các
bộ ngành ở trung ương và các địa phương, đặc biệt từ năm 2005 tới nay đã cónhiều chủ trương, biện pháp, chính sách nhằm bảo đảm vệ sinh an toàn thựcphẩm (VSATTP) nói chung và phát triển sản xuất rau quả sạch - rau quả antoàn nói riêng.[21]
Rau an toàn là sản phẩm rau được sản xuất theo một quy trình nghiêmngặt, đảm bảo đúng quy định: sạch, hấp dẫn về hình thức (rau tươi, sạch bụibẩn tạp chất) thu đúng độ chín, thu khi có chất lượng cao nhất, không có triệuchứng bệnh, có bao bì vệ sinh hấp dẫn Sạch, an toàn về chất lượng: sản phẩmkhông chứa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, dư lượng nitrat, dư lượng kimloại nặng và vi sinh vật gây hại vượt quá ngưỡng cho phép của tổ chức Y Tếthế giới (WHO) về tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm
Trong đó yêu cầu dư lượng thuốc Bảo vệ thực vật là quan trọng nhất, vìmức độ nguy hiểm, có thể gây ngộ độc, làm tử vong người và gia súc, gia cầmsau khi ăn Yêu cầu hàm lượng nitrat phụ thuộc vào môi trường canh tác và
kỹ thuật trồng trọt, là yếu tố quyết định rau an toàn hay ô nhiễm Một số chỉtiêu để đảm bảo rau sạch: dư lượng nitrat, dư lượng kim loại nặng, dư lượngthuốc trừ sâu tối đa cho phép đối với rau Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp vàPTNT đã cho phép áp dụng tiêu chuẩn rau sạch theo QĐKHCN 1208 ngày15/7/1996 như sau.[4]
Trang 181/ Quy trình chung về sản xuất rau an toàn.[7]
+ Chọn đất
Đất trồng rau phải là đất cao, dễ thoát nước thích hợp với sinh trưởng vàphát triển của rau Tốt nhất là đất cát pha hoặc thit nhẹ hoặc thịt trung bình, cótầng canh tác dày Đất để sản xuất rau an toàn không trực tiếp chịu ảnh hưởngxấu của các chất thải công nghiệp, giao thông, khu dân cư tập trung, bệnhviện, nghĩa trang, không nhiễm hóa chất độc hại cho người và môi trường(đảm bảo yêu cầu tiêu chuẩn Việt Nam TCVN7209:2000)
+ Nước tưới
Vì trong rau chứa trên 90% nước nên nước tưới ảnh hưởng đến chấtlượng sản phẩm Cần sử dụng nước sạch để tưới Nếu có điều kiện nên sửdụng nước giếng khoan, nhất là vùng trồng rau xà lách và các loại rau gia vị.Ngoài ra có thể tưới nước từ các sông, ao, hồ không ô nhiễm Tuyệt đối khôngdùng trực tiếp nước thải từ công nghiệp, thành phố, bệnh viện, khu dân cư,nước ao mương tụ động Nguồn nước phải được giám sát hàng năm (đảm bảotheo yêu cầu tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6773:2000)
+ Giống
Chỉ gieo những hạt tốt và trồng cây cao khỏa mạnh, không có mầmbệnh Phải biết rõ lý lịch nơi sản xuất giống Giống nhập nội phải qua kiểmdịch thực vật Hạt giống trước khi gieo trồng cần được xử lý hóa chất hoặcnhiệt Trước khi đưa cây con ra ruộng cần xử lý sherpa 0.1% để phòng trừ sâuhại sau này
+ Phân bón
Toàn bộ phân chuồng được ủ hoai mục và phân lân hữu cơ vi sinh đượcdùng để bón lót Mỗi loại cây có chế độ bón và lượng bón khác nhau Tuyệtđối không được dùng phân chuồng chưa hoai mục để loại trừ vi sinh vật gâybệnh, tránh nóng cho rễ cây và để tránh sự cạnh tranh đạm giữa cây trồng vớicác nhóm vi sinh vật trong thành phần phân vi sinh đang cần ni tơ để phângiải nốt phân chuồng tươi
Với những loại rau có thời gian sinh trưởng ngắn (dưới 60 ngày) bónthúc 2 lần kết thúc bón trước khi thu hoạch 7-10 ngày Với loại rau có thờigian sinh trưởng dài, có thể bón thúc 3-4 kần hoặc hơn, kết thúc bón trước khithu hoạch 10-12 ngày
Trang 19Có thể sử dụng các loại phân bón lá ngay khi cây mới bén rể Phun 3đến 4 lần tùy từng loại rau, nồng độ theo hướng dẫn trên bao bì chế phẩm
Kết thúc phun ít nhất trước thu hoạch 5-10 ngày Nếu sử dụng phân bón
lá thì giảm phân hóa học 30-40% Tuyệt đối không dùng các loại phân tươi vànước phân pha loãng tươi cho rau
+ Bảo vệ thực vật
Không sử dụng thuốc hóa học BVTV nhóm độc I và II Tuyệt đốikhông dùng các loại thuốc trong danh mục thuốc cấm và thuốc hạn chế sửdụng ở Việt Nam Khi thật cần thiết có thể sử dụng nhóm III và IV Chọncác loại thuốc có hoạt chất thấp, ít độc với ký sinh thiên địch Kết thúc phunthuốc hóa học trước khi thu hoạch ít nhất 7-10 ngày Ưu tiên các loại thuốcsinh học, thuốc thảo mộc, thuốc chóng phân hủy ít ảnh hưởng đến các loạisinh vật có ích trên đồng ruộng nằm trên danh mục các loại thuốc BVTVđược phép sử dụng trên rau theo Quyết định số 19/2005/QĐ-BNN ngày24/3/2005 và quyết định số 21/2005/QĐ-BNN ngày 18/4/2005 của Bộ Nôngnghiệp và PTNN
Cần áp dụng đầy đủ các biện pháp phòng trừ tổng hợ (IPM): luân canhcây trồng hợp lý, sử dụng giống tôt, chống chịu sâu bệnh, chăm sóc cây theoyêu cầu sinh lý, bắt sâu bằng tay, dùng bẩy sinh học trừ bướm, sử dụng cácchế phẩm sinh học, thường xuyên vệ sinh, kiểm tra đồng ruộng để theo dõi,phát hiện sâu bệnh, tập trung phòng trừ sớm
+ Thu hoạch bao gói
Rau được thu hoạch đúng độ chín, loại bỏ lá già, héo, quả bị sâu, dịdạng Rau được rữa kỹ bằng nước sạch để ráo nước rồi cho vào bao, túi sạchtrước khi đưa tiêu thụ Trên bao bì phải có phiếu bảo hành, có địa chỉ nơi sảnxuất nhằm đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng
2/ Sau đây là một số tiêu chuẩn về rau sạch an toàn
+ Dư lượng thuốc Bảo vệ thực vật: Theo tiêu chuẩn WHO/FAO năm
1993 do Cục BVTV đề nghị
+ Dư lượng nitrat : Ngưỡng hàm lượng NO- 3 (mg/kg sản phẩm rautươi) của một số rau cụ thể là:
Trang 20Dưa chuột: 250; đậu ăn quả: 150; cải bắp: 500; su hào: 500; su lá:300; hành lá: 160; xà lách: 1500; cà chua: 100; lá cải bắp: 500; prô: 1400;cove leo: 200
+ Ngưỡng hàm lượng kim loại nặng (mg/kg rau tươi): đồng (Cu): 2;
niken (Ni): 3; Chì (Pb): 0.6; Thủy ngân (Hg): 0.06; Asen (As): 0.2; Kẽm (Zn):30; Thiếc (Sn): 200; Titan (Ti): 0.3; Cadimi (Cd): 0.03; Aslatoxin: 0.005; Bo(Bo): 0.6
+ Vi sinh vật gây hại: Salmonella: 0; E.Coli: 102 khuẩn lạc/ gr
Đối với thuốc bảo vệ thực vật: chỉ dụng thuốc hạn chế thuộc nhóm IV khôngđược dùng thuốc thuộc nhóm I và II; đồng thời thời gian phun và thời điểmphun trước thu hoạch ít nhất 10 ngày Tuân thủ tuyệt đối các hướng dẫn theotoa thuốc Ưu tiên dùng kháng sinh thiên địch, chế phẩm sinh học (hạt củ đậu,chế xuất từ tỏi )
Các tiêu chuẩn trên được thể hiện rõ qua các bảng sau đây:
Bảng 9: Ngưỡng giới hạn hàm lượng nitrat (NO
-3 ) trồng rau (mg/kg rau tươi), theo tài liệu của Nga và FAO.[4]
Trang 21Bảng 10: Ngưỡng giới hạn các kim loại nặng (mg/kg) và vi sinh vật gây bệnh trong sản phẩm rau tươi theo tiêu chuẩn của tổ chức Y Tế và tổ
chức Nông Lương thế giới
Nguyên tố
kim loại nặng
Giới hạn cho phép (mg/1kg)
Nguyên tố kimloại nặng
Giới hạn chophép (mg/1kg)Chì (Pb)
Cadimi (Cd)Thủy ngân (Hg)Kẽm (Zn)
Alflatosin
Bo (Bo)Antimon (Sb)
0.020.00550.0051.80.005
(WHO và FAO codex Alimentarius,1993)
Bảng 11: Dư lượng thuốc BVTV cho phép tối đa và thời gian cách ly
trong một số rau quả
Loại thuốc Loại rau Thời gian cáchly (ngày)
0.5-0.71.00.1-0.51.0-1.5-2.0 0.02 20.0 -
-0.5-1.0 0.20.2 10.0 -
-14-2077-1071414-217-10 RL; 3-4 RQ7-10RL; 3-4RQ4-1131-321RL; 14RQ7-10147-107-103-7
(Theo tiêu chuẩn của WHO và FAO, 1993) *rau ăn lá**rau ăn quả)
Trang 22Bảng 12: Ngưỡng giới hạn vi sinh vật gây bệnh trong sản phẩm rau tươi theo tiêu chuẩn của tổ chức Y Tế và tổ chức Nông Lương thế giới.
Loại vi sinh vật gây bệnh Giới hạn cho phép (mg/1kg)
Coliforms (tế bào/1gam) 102 tế bào/gam
Nguồn: (WHO và FAO)
3/ Một số chủ trương chính sách về sản xuất rau ở Việt Nam
Như ta đã biết thì trong thời gian tới, rau vẫn là nganh quan trọng trongnông nghiệp, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo việc làm, tăng thu nhập,chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp, nông thôn
Dự báo dân số Việt Nam năm 2010 là gần 95,8 triệu người và khoảng 3triệu người nước ngoài có mặt tại Việt Nam Bình quân tiêu dùng về rau là
106 kg, nhu cầu về rau năm 2010 là 10 triệu tấn Đây là thị trường to lớn cả
về khối lượng, chất lượng và chửng loại
Nhu cầu tiêu thụ rau sẽ tăng nhanh, đặc biệt là nhu cầu sản phảm rausạch, chất lượng cao, đảm bảo vệ sinh thực phẩm ngày càng đòi hỏi khắc khe
- Quyết định số 182/1999/QĐ-TT ngày 3 tháng 9 năm 1999 của thủ tướngchính phủ về phê duyệt đề án phát triển rau, quả và hoa thời kì 1999-2010:
Phương hướng
+ Phát triển rau nhằm khai thác lợi thế và điều kiện khí hậu sinh thái đadạng ( nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới ) của các vùng để sản xuất thực phẩm cógiá trị dinh dưỡng đa kinh tế cho con người, góp phần giải quyết việc làm,phủ xanh đát trống, tạo cảnh quan môi trường
+ Phát triển rau gắn liền với nhu cầu của thị trường có khả năng cạnhtranh ở thị trường trong nước, thị trường các nước trong khu vực và trên thếgiới, cả trước măt và lâu dài
+ Phát triển rau ở các vùng trong cả nước, trong đó quan tâm đến cácvùng có điều kiện sinh thái đặc biệt như đòng bằng sông Cửu Long, Lâm
Trang 23Đồng, Đồng Bằng Sông Hồng, vùng cao miền núi phía Bắc Sử dụng côngnghệ truyền thống và công nghệ sách để bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe
va đời sống nhân dân, nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu
Mục tiêu
+ Nhanh chóng thỏa mãn nhu cầu đời sống nhân dân về rau, trong đóđẩy mạnh sản xuất chế biến với giá thành hạ
+ Tạo việc làm cho khoảng 5 triệu người
+ kim ngạch xuất khẩu rau quả đến năm 2010 đạt 600-700 triệu USD Bên cạnh đó thì mục tiêu của ngành sản xuất rau những năm tới đây theo
đề án phát triển rau- quả- hoa cây cảnh đến năm 2015 là:
- Bên cạnh việc giữ mức rau bình quân đầu người hiện nay là 120kg/ năm
115 Phấn đấu tăng kim ngạch xuất khẩu rau quả lên 760 triệu USD, xuấtkhẩu rau đạt 200.000tấn tương đương 115 triệu USD đạt tốc độ tăng trưởngkim ngạch xuất khẩu bình quân giai đoạn 2006-2010 là 23-25% và đạt kimngạch khoảng 1,2 tỷ USD vào năm 2015.( Quyết định số 52/2007 QĐ-BNNcủa Bộ trưởng Bộ NN&PTNT) Bên cạnh sự gia tăng về khối lượng, chấtlượng rau được đặc biệt quan tâm trong giai đoạn tới Ngoài việc bổ sungthêm chủng loại rau, tăng lượng rau gia vị, rau ăn quả theo xu thế chung củathế giới, đa dạng hóa các sản phẩm rau chế biến công nghiệp Phát triển sảnxuất rau an toàn là nội dung cơ bản làm chuyển biến nghề trồng rau của nước
ta theo hướng hội nhập với quốc tế.[7]
Ngoài các thị trường chủ yếu như Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản,Hàn Quốc, trong thời gian tới, xuất khẩu rau hoa quả Việt Nam sẻ hướng tớicác thị trường khác như Hoa Kỳ, các nước EU, Liên Bang Nga để đa dạnghóa, giảm rủi ro về thị trường
Theo đó thì nhu cầu tiêu thụ rau vào năm 2010 cần 9,4 triệu tấn ( kể cảxuất khẩu ) phấn đấu đưa tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch xuống 15% thì sảnlượng rau thực tế cần khoảng 11 triệu tấn Nếu đảm bảo năng suất trung bình200tạ/ha thì diện tích trồng rau các loại là 590.000 ha
Trang 24Bảng 13: Quy hoạch trồng rau 7 vùng sinh thái đến năm 2010.[2]
Tổng diện tíchnăm 2010
Vì vậy, Bộ Thương mại phải chỉ ra ai là người mua và mua như thế nào
Thứ hai, cần đặc biệt quan tâm tới vấn đề tổ chức sản xuất và xuấtkhẩu, tạo cơ chế hợp tác tốt giữa các địa phương, các đơn vị sản xuất và kinhdoanh, phối hợp hài hòa, linh hoạt giữa tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, tạonguồn cung ứng ổn định, từng bước nâng cao năng lực xuất khẩu
Thứ ba, muốn phát triển xuất khẩu rau, hoa, quả pkải ứng dụng tiến bộkhoa học kỹ thuật với công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao năng suất, chấtlượng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho sản phẩm xuất khẩu
Ngoài ra, cũng cần phải lưu ý đến một số giải pháp khác nữa, như hỗtrợ vận hành các trung tâm giao dịch rau, hoa, quả, đẩy mạnh hợp tác quốc tế,chấn chỉnh lại hệ thống các trung tâm kiểm tra chất lượng, hỗ trợ xây dựngthương hiệu và xúc tiến thương mại, thành lập và liên kết các hiệp hội, thống
kê và thông tin thị trường, phát triển các hiệp hội ngành hàng
Trang 252.2.3 Các lợi ích của mô hình trồng rau an toàn quy mô nhỏ
- Chủ động môi trường canh tác nên có những sản phẩm sạch, đạt dướingưỡng cho phép các tiêu chuẩn quốc tế về dư lượng thuốc trừ sâu, hàmlượng Nitrat, hàm lượng kim loại nặng và không có vi sinh vật gây hại, rauquả tăng phẩm chất, mẩu mã đẹp, màu sắc tươi thắm
- Nhờ đạt tiêu chuẩn rau sạch, nhờ trồng trái vụ, nhờ mẩu mã đẹp phẩmchất ngon và ổn định nên giá cả sản phẩm rau trồng an toàn trong nhà lướiluôn cao hơn bên ngoài
- Đáp ứng được nhu cầu về rau sạch, rau an toàn của người dân hiện nay
- Cung cấp cho thị trường một nguồn rau sạch, an toàn và hạn chế đượccác vụ ngộ độc thực phẩm do rau không an toàn gây ra
- Nhờ áp dụng mô hình trồng rau an toàn nên sản phẩm thường có giácao hơn sản phẩm rau khác thường là gấp 2-3 lần nhờ vậy sẽ tăng thêm thunhập cho người trồng rau
2.3 Mục tiêu của đề tài
Tính toán, lựa chọn kết cấu của mẫu nhà lưới phù hợp với điều kiệntrồng rau và hoa tươi ở Thừa Thiên Huế, có thể áp dụng cho những vùng cóđiều kiện tương tự; giá thành xây lắp thấp
2.4 Nhiệm vụ của đề tài
- Điều tra xác định thực trạng trồng rau trên địa bàn Thừa Thiên Huế
- Khảo sát các kiểu nhà lưới hiện có ở Việt Nam và trên thế giới
- Tính toán và lựa chọn kết cấu nhà lưới phù hợp
Trang 26PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng rau an toàn
- Kết cấu, vật liệu, cấu trúc của nhà lưới
- Mô hình nhà lưới với quy mô diện tích khoảng 200m2 còn có các hệthống thiết bị như:
+ Hệ thống điều khiển khí hậu môi trường:
* Hệ thống làm ấm, làm mát, tăng hoặc giảm cường độ ánh sáng, thônggió tự nhiên và nhân tạo
* Hệ thống cung cấp, bổ xung và điều chỉnh nồng độ CO2
+ Hệ thống cấp thoát nước: thoát nước chảy thừa, tưới nước bằngphương pháp tưới phun hoặc tưới nhỏ giọt, cấp dung dịch dinh dưỡng…
+ Hệ thống cấp điện: dùng chiếu sáng cho cây, vận hành máy móc thiết bị…+ Hệ thống lưới chống côn trùng xung quanh nhà và cửa thông gió.+ Hệ thống bảo vệ
+ Hệ thống điều khiển (điều khiển tưới, điều hòa nhiệt), hệ thống thôngtin liên lạc
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp điêu tra, thu thập thông tin, xử lý số liệu
1/ Phương pháp tra cứu tài liệu
- Nghiên cứu các nguồn tài liệu: tạp chí, số liệu thống kê, thông tininternet, sách và giáo trình, số liệu báo cáo nông nghiệp,…
- Cơ sở lý thuyết liên quan đến các vấn đề nghiên cứu: kết cấu nhà lưới,cấu trúc nhà lưới, các điều kiện thời tiết ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triểncủa cây rau trên địa bàn tỉnh
- Các số liệu thống kê về tình hình trồng rau của nước ta và của địa bàntỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng trong những năm gần đây
2/ Phương pháp phỏng vấn chuyên gia
- Những người trồng rau có kinh nghiệm
- Các chuyên gia về rau
Trang 273.2.2 Phương pháp thiết kế và phân tích kết cấu
- Tính toán thiết kế kết cấu khung chịu lực nhà lưới
- Tính toán sức bền
3.2.3 Phương pháp phân tích hiệu quả kinh tế
- Xác định tổng chi phí xây dựng nhà lưới
- Xác định khấu hao nhà lưới
- Xác định tổng thu qua từng vụ, năm Từ đó xác định được lợinhuận gia tăng
Trang 28PHẦN 4 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Điều kiện tự nhiên ở Thừa Thiên Huế [2]
1/ Vị trí địa lý
Thừa Thiên Huế nằm ở Bắc Trung Bộ, là một trong bốn tỉnh thuộcvùng kinh tế trọng điểm Miền Trung, có tọa độ địa lý 16-16,8 độ vĩ Bắc và107,8-108,2 độ kinh Đông, Phía Bắc Thừa Thiên Huế giáp tỉnh Quảng Trị;phía Nam giáp thành phố Đà Nẵng; Phía Tây giáp nước cộng hòa Dân ChủNhân Dân Lào với ranh giới là dãy Trường Sơn dài 120 km; phía Đông giápBiển Đông Thừa Thiên Huế là khu vực có chiều rộng hẹp, ngắn, dốc và thấpdần ra biển, bờ biển Thừa Thiên Huế dài 120 km, có cảng Thuận An và vịnhChân Mây với độ sâu 18-20m, có sân bay Phú Bài, Quốc lộ 1A và đường sắcBắc- Nam Tháng 6 năm 2005 đường hầm đèo Hải Vân dài 6,3km đã đưa vào
sử dụng Với vị trí địa lý như vậy, Thừa Thiên Huế có điều kiện thuận lợitrong việc thông thương văn hóa, kinh tế, thương mại với các tỉnh bạn trongnước và quốc tế
2/ Địa hình và đất đai
Địa hình
Thừa Thiên Huế nằm trên một dải đất hẹp, địa hình dạng bậc, với đầy đủcác dạng địa hình rừng, núi, gò đồi, đồng bằng, đầm phá và biển tập trung trongmột khônh gian hẹp Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông, phía Tây là dãy núicao, phần giữa là đồi núi thấp gồm các huyện A Lưới, Nam Đông và một số xãDương Hòa, Phú Sơn huyện Hương Thủy, xã Hương Văn, Bình Thành, BìnhĐiền của huyện Hương Trà Phía Đông là đồng bằng nhỏ hẹp, phân bố dọc theoQuốc lộ 1A, vùng này chủ yếu là đất phù sa được bồi hàng năm từ các con sôngHương, sông Bồ, sông Đại Giang, sông Cầu Vực , các vung trọng điểm lúa củacác huyện được trồng ở các vùng thấp trũng, trên chân đất cao được bố trí trồnghoa màu, rau đậu và cây công nghiệp ngắn ngày
- Vùng cát: Thừa Thiên Huế có diện tích cát tương đối lớn chủ yếu làven biển, cát nội đồng có ở Phong Điền, Phú Vang
Trang 29- Ngoài ra, Thừa Thiên Huế còn có vùng đầm phá với diện tích khoảng23.000 ha với tiềm năng phong phú về động vật, thực vật biển và chủ yếu ởPhú Lộc, Phú Vang và Phong Điền.
Đất
Thừa Thiên Huế có diện tích đất tự nhiên là 505.398,9 ha, là vùng đadạng về nhiều loại đất như đất phù sa, đất đỏ vàng, đất mùn vàng trên núi, đấtcát Hiện nay, do tốc độ đô thị hóa nhanh nên diện tích đất sử dụng cho nôngnghiệp ngày càng giảm, nhưng diện tích gieo trồng lại tăng, do chuyển đổi cơcấu cây trồng, tăng hệ số sử dụng đất nông nghiệp Theo như kết quả nghiêncứu của tác giả cuốn E04 về sản xuất rau an toàn thì đất của các huyện có sảnxuất rau an toàn có các loại như sau:
- Đất phù sa được bồi hàng năm (Pb): Được hình thành do quá trìnhlắng đọng phù sa loại đất này được phân bố dọc các con sông như sông Bồ,sông Hương, sông Đại Giang và sông Cầu Vực Ở Thừa Thiên Huế, các consông đều có dòng chảy ngắn và dốc, do đó phù sa bồi tích thường thô, thànhphần cơ giới nhẹ, đất được bồi phù sa hàng năm phù hợp với nhiều loại rau
- Đất phù sa được bồi hàng năm ( Pi) và đất phù sa không được bồihàng năm ( Pk): Đất có nguồn gốc hình thành như đất phù sa được bồi hangnăm, do phân bố ở xa các con sông hoặc địa hình cao, vì vậy rất ít hoặc khôngđược bồi Nhìn chung, đất này có thành phần cơ giới nặng, từ thịt nhẹ đến thịttrung bình, độ phì trung bình, hàm lượng mùn trung bình đến hơi nghèo
Đất phù sa là loại đất quan trọng phù hợp cho sản xuất nông nghiệp,thích hợp nhiều loại cây trồng, đặc biệt là đa số các loại rau
- Đất đỏ vàng trên đá sét ( Fs ): Đây là loại đất có diện tích lớn nhất,phân bố rộng trên nhiều địa hình khác nhau đất này được hình thành do sảnphẩm phong hóa của đá sét ( thuộc nhóm đá trầm tích ), đất có màu vàng đặctrưng, thành phần cơ giới nặng, độ phì tự nhiên trung bình, khả năng thấm vàgiữ nước, chất dinh dưỡng tốt
- Đất vàng nhạt trên đá cát ( Fq ): Đất có màu vàng nhạt do cóthành phần Silic, thành phần cơ giới nhẹ, độ dày tầng đất mặt trung bình,đất ít đá lộ dần Thành phần dinh dưỡng khoáng nghèo đến trung bình, đất
có khả năng thấm nước, nhưng giữ nước và chất dinh dưỡng kém, đất
Trang 30chau trung bình Loại đất này có nhiều ở Hương Trà, Quảng Điền, PhongĐiền, Nam Đông và A Lưới.
- Đất đỏ vàng trên đá Granít ( Fa ): Đất có thành phần cơ giới nhẹ, tỷ lệhạt cát cao, kiến trúc hạt rời rạc, dể bị sói mòn, rửa trôi Hàm lượng mùn từnghèo đến trung bình Chiếm tỷ lệ lớn ở A Lưới, Nam Đông, Hương Trà
- Đất nâu vàng trên phù sa cổ ( Fp ): Được hình thành trên sản phẩmlắng đọng của phù sa sông, suối Đất có thành phần cơ giới nhẹ, độ phì tựnhiên nghèo Phân bố ở các vùng bậc thềm cao gần sông, suối ở vùng đồi núi,loại đất này có nhiều ở Hương Thủy, Phú Vang, Hương Trà, thành phố Huế
Loại đất có thể cải tạo để phát triển sản xuất rau:
- Đất cát ( C ): Đất cát được phân bố dọc theo bờ biển và đầm pháchiếm diện tích lớn ở huyện Phú Vang Đất cát nhìn chung là chua, có độ pHthấp, độ phì nhiêu trong đất kém, ngheo mùn, đạm và lân
Loại đất có thể chuyển đổi cây trồng:
- Đất biến đổi do trồng lúa ( Lp ): Phân bố chủ yếu ở vùng đồng bằng,được hình thành do sản phẩm phân hóa đá mẹ khác nhau, được nhân dân địaphương cải tạo thành chân ruộng để cấy
Loại đất chưa thể trồng rau, cần phải qua quá trình cải tạo:
- Đất mặn ven biển ( M ): Được hình thành do chịu tác động trực tiếpcủa nguồn nước mặn, do phân bố trên địa hình thấp, ven đầm phá và cửasông, đất màu hơi tím hoặc đất hơi xám, loại đất này có ở các huyện PhúVang Như vậy, xét về loại đất thì tất cả các vùng đất có thể trồng rau được,những vùng có diện tích trồng rau tương đối lớn là Phú Vang, Hương Trà,Hương Thủy, Quảng Điền và thành phố Huế
3/ Khí hậu và thời tiết
Thừa Thiên Huế nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ khácao Thời gian có nhiệt độ cao nhất là từ tháng 6 đến tháng 8 lượng nước bốchơi lớn, thường xuyên hạn hán, nước mặn đe dọa, có năm hạn hán, nước mặnkéo dài đến 2 tháng (năm 2001), gây thiệt hại nặng nề đến sản xuất nôngnghiệp và công nghiệp cũng như sinh hoạt Để hiểu rõ ảnh hưởng của thời tiếtđến sự sinh trưởng, phát triển của cây rau tôi tiến hành thu thập số liệu vềđiều kiện khí hậu thời tiết ở Thừa Thiên Huế năm 2009 như ở bảng 14
Trang 31Bảng 14: Khí hậu thời tiết tại Thừa Thiên Huế năm 2009.[10]
Chỉ tiêu
Tháng
Nhiệt độ trung bình (oC) Ao không
khí trungbình (%)
Lượng mưatrung bình(mm)
Giờ nắngtrung bình( giờ)
(Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn Thừa Thiên Huế 2009)
- Nhiệt độ trung bình của năm tương đối cao 32,8oC Nhiệt độ của cáctháng 12, 1, 2, 3 thường thấp nên rất thích hợp cho nhiều loại rau và thườngđây là vụ chính Còn các tháng 6, 7, 8 là các tháng có nhiệt độ tương đối caonên không thích hợp cho trồng rau
- Ta thấy các tháng 4, 5, 6,7, 8 là các tháng có số giờ nắng cao nhất,thường những tháng này rất khó trồng rau do nắng tác động ảnh hưởng đến
ẩm độ và lượng mưa Số giờ nắng trong năm thay đổi như nhiệt độ trong năm,đây là mối quan hệ giữa yếu tố nhiệt độ và số giờ nắng Những yếu tố nhiệt
độ và số giờ nắng có thể khắc phục bằng cơ sở hạ tầng trồng rau; tạo hệ thốngthủy lợi tốt, có mái che điển hình là trồng rau trong nhà lưới… Đây là cơ sởcho trồng rau trái vụ, nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân
- Ẩm độ: Ẩm độ không khí là một yếu tố quan trọng trong việc cơ cấucác loại rau và thời vụ rau Thừa Thiên Huế là vùng có ẩm độ không khí
Trang 32tương đối cao, từ 69,9 đến 91% Ẩm độ trung bình của tháng trong năm lạinghịch với nhiệt độ trung bình, nhiệt độ trung bình cao thì ẩm độ trung bìnhthấp Trong tháng 6,7 với điều kiện gió Tây Nam đã làm ẩm độ không khíthấp nhất không hợp cho trồng rau, vao tháng 12,1 ẩm độ thường đạt cao nhất87,5- 91% rất thích hợp cho trồng rau.
- Chế độ mưa : lượng mưa tập trung vào các tháng 9 đến tháng 12trong năm, giai đoạn này thường lũ lụt nên rất khó trồng rau Chế độ mưaảnh hưởng trực tiếp đến độ ẩm không khí, các tháng trong năm có chế độmưa cao thì độ ẩm không khí cao Thường các tháng 9 đến tháng 12 lượngmưa cao nên trồng rau cần chú ý trồng ở các vùng cao tránh lũ lụt, nếu cóđiều kiện thì làm nhà lưới đê tránh mưa lớn làm ảnh hưởng đến cây rau.Trong giai đoạn này độ ẩm không khí cao nên khi trồng rau cần chú ý vấn
đề thoát nước, sự phát triển của các loại nấm bệnh, sâu bệnh, cần có biệnpháp để trồng rau cho năng suất cao, chất lượng tốt
Với các yếu tố khí hậu trên thì việc trồng rau cần có kinh nghiệm cộngvới khoa học, để tránh sâu bệnh hại và hiệu quả kinh tế Chú ý trong cáctháng4 đến tháng 8 cần có biện pháp tưới rau cho hợp lý, đây là vụ trái, chú ý
bọ nhảy và sâu tơ, tháng 12 đến tháng 3 là thời vụ chính của trồng rau cần cóbiện pháp tưới tiêu hợp lý cho rau
4/ Nguồn nước thủy lợi
Với điều kiện thời tiết trên, Thừa Thiên Huế là vùng có lượng mưatương đối dồi dào, có nhiều sông, hồ với trữ lượng nước lớn.Trước năm 2000,
do đập Thảo Long, hồ Truồi chưa hoàn thiện nên vào mùa hè thường xuyênthiếu nước ngọt đặc biệt là khu vực Phú Vang và thành phố Huế do nướcnhiễm mặn, các vùng Phong Điền, Phú Vang, Phú Lộc nước ngọt không đủcung cấp cho nông nghiệp và vụ Hè Thu
Sau khi hồ Truồi được đại tu nâng cấp, trữ lượng nước lớn, một phầnnào đã giải quyết tình trạng thiếu nước vụ Hè Thu Bên cạnh đó, đập ThảoLong cũng hoàn thiện có tác dụng ngăn lượng nước mặn xâm nhập vào sôngngòi Nên tình trạng thiếu nước ngọt và nước nhiễm mặn đã hạn chế đến mứctối đa so với những năm 2000 về trước, có tác động tích cực đến sản xuất nôngnghiệp và sinh hoạt
Trang 33Hệ thống sông ngòi của Thừa Thiên Huế có sông Hương cung cấpnước cho khu vực đồng bằng: Huế, Phú Vang, Hương Trà, Hương Thủy.Ngoài ra còn có các sông Lợi Nông, Cầu Vực chảy qua các xã Thủy Dương,Thủy Châu, Thủy Phương, sông Đại Giang là nhánh của sông Lợi Nông chảyqua 2 xã Thủy Tân và Thủy Lương thuộc Hương Thủy và xã Phú Đa, Vinh
Hà, Vinh Thái Phía Bắc thành phố Huế có sông Bồ, sông Thạch Hãn, sôngÔng Lâu có trữ lượng nước đủ cung cấp cho các huyện Phong Điền, QuảngĐiền và Hương Trà Hiện nay công trình hồ Tả Trạch và nhà máy Thủy ĐiệnBình Điền đã được đưa vào sử dụng có tác dụng lớn trong chống lụt hàngnăm và cung cấp nguồn nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, trong những năm gần đây, bằng nguồn vốn Nhà Nước vànhân dân cùng làm, hệ thốmh kênh mương dần dần được kiên cố hóa, cho đếnnay có trên 60% kênh chính được kiên cố bằng bê tông Hệ thống hói, kênhrạch hàng năm được Nhà nước hỗ trợ và nhân dân đóng góp công lao động đãnạo vét, khơi thông dòng nước, nên giảm đáng kể lượng nước thất thoát Côngtác tưới tiêu chủ động hơn
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng rau an toàn [4] 4.2.1 Yêu cầu nông học của cây rau
Trang 34Với những loại rau khác nhau thì yêu cầu về nhiệt độ cũng khác nhau,
do đó hiểu và nắm bắt được yếu tố này sẽ giúp cho việc trồng rau đạt kết quảcao hơn đặc biệt là trồng trong nhà lưới thì nhiệt độ là yếu tố quan trọng bởitrồng rau trong nhà lưới mục đích là kiểm soát tốt yếu tố nhiệt độ
2/ Ánh sáng
Năng suất cây trồng tạo ra 90-95% nhơ quang hợp Ánh sáng là yếu tốđóng vai trò hêt sức quan trọng và cần thiết cho quá trình quang hợp tạo chấthưu cơ của cây, không những ảnh hưởng đến năng suất thông qua quang hợp
mà còn ảnh hưởng đến các đặc điểm sinh thái, cấu tạo bên trong của cây, đặcbiệt rất cần thiết cho quá trình ra hoa, thụ phấn, thụ tinh, hình thành hạt vàquả (hôcmon ra hoa) Ánh sáng mặt trời chiếu xuống trái đất theo dạng bướcsóng, các bước sóng được đo bằng chiều dài của chúng là nanomet (nm).Mỗibước sóng tương ứng với một màu nhất định, do vậy ánh sáng có nhiều màukhác nhau, mặc dù nhìn bằng mắt thường ta chỉ thấy một màu trắng
Trong thực tế cây thiếu ánh sáng thì chưa thấy ngay được, ví dụ nếuthiếu một yếu tố nào đó như nhiệt độ, nước, dinh dưỡng trong một thời gianngắn, có thể ảnh hưởng ngay đến sự sinh trưởng, phát triển của cây Chẳnghạn nhiệt độ thấp, nước trong tế bào đóng băng, trong mấy giờ vỡ tế bào thìcây chêt, nhưng với ánh sáng thì chưa thấy ngay được Đây là do kết quả của
sự thích nghi của thực vật đối với điều kiện ngày và đêm trên trái đất Nhưvậy trong điều kiện thiếu ánh sáng hay trong bóng tối, cây vẫn có thể dựa vàochất dự trữ của bản thân mà sinh trưởng Rau rất nhạy cảm đối với sự thay đổicủa thành phần ánh sáng, cường độ sáng và thời gian chiếu sáng
Ánh sáng cũng là một trong yếu tố quan trọng giúp rau sinh trưởng,phát triển tốt, do vậy để khống chế tốt yếu tố này thì trồng rau trong nhà lưới
là một giải pháp tối ưu bởi nhà lưới có thể khống chế được yếu tố ánh sángnhờ hệ thống lưới cắt nắng, rèm che nắng…
3/ Nước và ẩm độ
Nước và ẩm độ rất quan trọng đối với rau vì tác động đến các giai đoạnsinh trưởng từ nảy mầm, sinh trưởng dinh dưỡng, sự ra hoa kết hạt, chín, sảnlượng, chất lượng, sâu bệnh và khả năng bảo quản Ẩm độ không khí khô, ẩm
độ đất thấp thích hợp cho quá trình chín và thu hoạch hạt của hầu hết các loạirau Ẩm độ không khí thấp thích hợp cho bảo quản hạt giống (loại đậu chịu
ẩm cao hơn các loại rau khác)