1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sán lá ruột lợn trên địa bàn huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế và kết quả thử nghiệm một số thuốc tẩy trừ

53 650 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 452 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh sán lá ruột lợn (Fasciolopsis buski) phổ biến ở những nước nhiệt đới thuộc vùng châu Á: Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Indonesia... Ở nước ta điều kiện khí hậu khá thuận lợi cho bệnh sán lá ruột lợn phát triển và lây lan làm cho lợn sinh trưởng chậm, trung bình một sán lá làm giảm 1,86 g - 2,57g thịt trong một ngày (Phạm Văn Khuê, Phan Lục, Ký Sinh Trùng Thú y, NXB Nông Nghiệp Hà Nội 1996). Lợn nái nhiễm bệnh thường gầy còm, thiếu sữa làm lợn con dễ mắc bệnh ỉa phân trắng, ỉa chảy, còi cọc, chậm lớn và tỷ lệ chết cao khi cai sữa. Bệnh sán lá ruột lợn mở cửa cho các bệnh truyền nhiễm phát sinh. Sự có mặt của sán trưởng thành làm giảm hiệu quả sử dụng thức ăn, một phần thức ăn mà lợn hấp thụ được phải chia cho chúng, người chăn nuôi phải tốn thêm một khoản chi phí thức ăn, chi phí cho điều trị bệnh. Tuy nhiên việc điều trị cho lợn bệnh cũng gặp nhiều khó khăn khi thuốc tẩy sán có hiệu quả là Dipterex đã bị cấm sử dụng từ tháng 5 năm 2002, các loại thuốc thông thường không có tác dụng với sán lá ruột lợn. Những tác hại trên của bệnh sán lá ruột lợn (Fasciolopsis) đã gây thiệt hại không nhỏ cho ngành chăn nuôi nước ta, năng suất chăn nuôi thấp, hiệu quả kinh tế mang lại không cao. Nguy hiểm hơn bệnh còn lây sang người làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Thừa Thiên Huế là nơi có hệ thống sông, suối, ao, hồ, mương máng, ruộng nước thấp tương đối nhiều

Trang 1

Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớntrong việc phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển Nước ta là một nướcnông nghiệp, sản phẩm nông nghiệp chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tếquốc dân thực sự là mặt trận hàng đầu mà Đảng và Nhà nước ta luôn coitrọng, trong đó có ngành chăn nuôi

Chăn nuôi lợn trở thành truyền thống có từ rất lâu đời với các hình thức

từ tận dụng đến qui mô lớn đã góp phần xóa đói giảm nghèo và làm giàu chonhiều người, con lợn thực sự trở thành người bạn thân thiết của nhân dân ta…Tuy nhiên việc chăn nuôi lợn không phải lúc nào cũng thuận lợi, dịch bệnhhoành hành làm ảnh hưởng đến tốc độ phát triển đàn và cả chất lượng thịt đãgây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi

Bệnh sán lá ruột lợn (Fasciolopsis buski) phổ biến ở những nước nhiệt

đới thuộc vùng châu Á: Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Indonesia Ở nước ta điềukiện khí hậu khá thuận lợi cho bệnh sán lá ruột lợn phát triển và lây lan làmcho lợn sinh trưởng chậm, trung bình một sán lá làm giảm 1,86 g - 2,57g thịt

trong một ngày (Phạm Văn Khuê, Phan Lục, Ký Sinh Trùng Thú y, NXB

Nông Nghiệp Hà Nội 1996) Lợn nái nhiễm bệnh thường gầy còm, thiếu sữalàm lợn con dễ mắc bệnh ỉa phân trắng, ỉa chảy, còi cọc, chậm lớn và tỷ lệchết cao khi cai sữa Bệnh sán lá ruột lợn mở cửa cho các bệnh truyền nhiễmphát sinh Sự có mặt của sán trưởng thành làm giảm hiệu quả sử dụng thức ăn,một phần thức ăn mà lợn hấp thụ được phải chia cho chúng, người chăn nuôiphải tốn thêm một khoản chi phí thức ăn, chi phí cho điều trị bệnh Tuy nhiênviệc điều trị cho lợn bệnh cũng gặp nhiều khó khăn khi thuốc tẩy sán có hiệuquả là Dipterex đã bị cấm sử dụng từ tháng 5 năm 2002, các loại thuốc thôngthường không có tác dụng với sán lá ruột lợn

Những tác hại trên của bệnh sán lá ruột lợn (Fasciolopsis) đã gây thiệt

hại không nhỏ cho ngành chăn nuôi nước ta, năng suất chăn nuôi thấp, hiệuquả kinh tế mang lại không cao Nguy hiểm hơn bệnh còn lây sang người làmảnh hưởng đến sức khỏe con người Thừa Thiên Huế là nơi có hệ thống sông,suối, ao, hồ, mương máng, ruộng nước thấp tương đối nhiều, điều kiện khí

Trang 2

hậu ẩm ướt, lụt lội thường xuyên cùng với thói quen dùng thực vật thuỷ sinh

và rau sống cho lợn ăn vẫn còn phổ biến ở nhiều nông hộ làm nguy cơ mắcbệnh sán lá ruột lợn tương đối cao

Xuất phát từ tình hình thực tế, để nắm được một cách chính xác hơn tìnhhình nhiễm bệnh sán lá ruột lợn và nhằm tìm ra loại thuốc có tác dụng hiệuquả để khuyến cáo cho người dân sử dụng, được sự đồng ý của Khoa ChănNuôi - Thú Y, cô giáo hướng dẫn Lê Thị Vân Hà chúng tôi tiến hành đề tài:

“Nghiên cứu sán lá ruột lợn trên địa bàn huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế và kết quả thử nghiệm một số thuốc tẩy trừ” từ đó làm cơ sở cho

việc phòng trừ bệnh sán lá ruột lợn một cách có hiệu quả hầu góp phần nhỏphục vụ tốt hơn cho ngành chăn nuôi lợn và bảo vệ sức khoẻ con người

Trang 3

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh sán lá ruột trên thế giới và ở Việt Nam

2.1.1 Tình hình nghiên cứu bệnh sán lá ruột trên thế giới

Bệnh sán lá ruột lợn, do Fasciolopsis buski (Lankaster, 1857) Odhner,

1802, gây ra là một bệnh chung cho người và lợn Loại sán này được pháthiện đầu tiên vào năm 1843 do Busk tìm thấy ở tá tràng tử thi một người hảiquân Ấn Độ, tại bệnh viện hàng hải ở Luân Đôn Sau đó vào năm 1857,Lankaster đã mô tả về hình thái của sán này Hai năm sau, Cobbold bổ sungthêm về hình thái Năm 1899, Loss xác định vị trí của nó về mặt phân loại

Trường phái Nhật Bản tìm ra chu kì phát dục của Fasciolopsis buski từ năm

nữ mắc nhiều hơn nam giới [29] Theo Wiwannikit và cộng sự (2002), tạiThái Lan bệnh sán lá ruột chiếm đến 10 % số ca nhiễm ký sinh trùng đườngruột [6]

Ngô Quang (1937) cho biết Fasciolopsis buski có thể sinh trưởng ở trong

cơ thể chó, thỏ, hổ và trâu tới thời kỳ sắp đẻ trứng, ngược lại sán này hoàntoàn không thể sinh trưởng được ở trong cơ thể của mèo, dê, cừu, bò, chuộtlang, chuột bạch [26]

Nghiên cứu về các loài ốc làm ký chủ trung gian, Trần Tâm Đào (1956)

cho biết các loài ốc đĩa cảm nhiễm ấu sán khá cao, kiểm tra 5.514 ốc H.

Trang 4

umbilicalis tỷ lệ nhiễm ấu sán tới 1,45 %; trong 105 ốc Segmentina hemisphaerula tỷ lệ nhiễm tới 2,68 % Theo Wanllace (1936) kiểm tra 504 ốc

S calathus tỷ lệ nhiễm ấu sán 0,66 % Trần Vạn Lý báo cáo, ở Triết Giang tỷ

lệ nhiễm ấu sán của Planorbis là 1,6 - 4,6 % [26].

Loài Echinostoma malayanum tìm thấy ở người sống gần Batang gần đường biên giới Sino - Tibetan (Bare, 1930) Đối với loài Gastrodiscoides hominnis được phát hiện ở người India và lợn Sharma (1930) cho biết tỷ lệ

nhiễm của những người lính Hindu là 3,2 % Brau và Bruyant đã báo cáo mộttrường hợp ở người Cochin (Trung Quốc) Mathis và Leger cũng đã tìm thấyloài sán này ký sinh ở lợn với tỷ lệ 5 % [9]

2.2.2 Tình hình nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở Việt Nam

Ở Việt Nam, bệnh sán lá ruột lợn đã có từ lâu đời, nhưng mãi đến năm

1911, Mathis, Leger, và Brauche mới mô tả loài sán này khi thu thập mẫu vật

từ ruột lợn và một số người bệnh ở Bắc Bộ, điều tra ở lợn thấy tỷ lệ nhiễm là

6 % Hewdemen và Trần Thọ Huy (1925) cho biết 73 % lợn nhiễm sán ĐặngVăn Ngữ và Galliard (1941) thấy lợn nhiễm 6 – 12 % vào tháng 3 và 47 %vào tháng 12 Ở Huế, Railiet và Henry cho biết 16 % lợn nhiễm sán lá ruột

Cũng theo các tác giả ấy, Fasciolopsis buski là một ký sinh trùng phổ biến ở

Bắc Bộ nhưng hiếm thấy ở người Đặng Văn Ngữ và Galliard (1941) đã thấy

5 người bị nhiễm sán lá ruột lợn trong 5 năm [13], [14], [26], [29]

Bùi Lập và cộng sự (1989) nghiên cứu về giun sán lợn miền Trung và

biện pháp phòng trừ cho biết tỷ lệ nhiễm Fasciolopsis buski ở lợn miền Trung

rất thấp chỉ chiếm 2,53 % cường độ nhiễm từ 1 - 312 sán lá/cá thể, được phân

bố đồng đều giữa các vùng Ở miền núi tỷ lệ nhiễm 1,1 %, cường độ nhiễm 2sán lá/lợn, vùng đồng bằng ven biển tỷ lệ nhiễm 1 %, cường độ nhiễm 1 - 2sán lá/lợn

Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương (1990) đã mổ khám 787 lợn ở 4 lứatuổi khác nhau ở các tỉnh phía Nam thấy tỷ lệ nhiễm là 3,4 % Những kết quảđiều tra của nhiều tác giả đã xác định bệnh sán lá ruột lợn phân bố rộng khắp

ở các tỉnh thuộc miền núi, vùng trung du, vùng đồng bằng và vùng ven biển

từ Bắc đến Nam nước ta (Bùi Lập, 1977; Nguyễn Đăng Khải, 1977; PhạmVăn Khuê, 1982; Lương Văn Huấn, 1994…) [13]

Trang 5

Khi nghiên cứu giun sán ký sinh ở lợn tại một số tỉnh đồng bằng sôngCửu Long, Nguyễn Hữu Hưng (2002) thấy tại tỉnh Đồng Tháp tình hình

nhiễm Fasciolopsis buski ở thị xã Cao Lãnh 11 %; Sa Đéc 1,25 %; huyện

Hồng Ngự 10,5 %; huyện Tân Hồng 3,6 % Tại tỉnh Hậu Giang, tình hình

nhiễm Fasciolopsis buski ở huyện Châu Thành 10,34 %; huyện Thốt Nốt 0 %;

huyện Vị Than 7,5 %; huyện Phụng Hiệp 5,5 %; thành phố Cần Thơ 1,06 %,

huyện Thạch Trị 0 % Tại tỉnh Kiên Giang và An Giang nhiễm Fasciolopsis buski ở huyện Gò Quao 14,6 %; huyện Giồng Riềng 31,64 %; Rạch Giá

17,72%; thị xã Long Xuyên 6,25%; huyện Phú Tân 8,82 %; huyện Tri Tôn3,13 % [10]

Về cường độ nhiễm Fasciolopsis buski ở nước ta, khoảng từ 1 - 283 sán

trong một cơ thể lợn Có trường hợp thấy 1.746 sán ký sinh trong một lợn nái

600 kg ở nông trường Thống Nhất (Phạm Văn Khuê, 1925) [26] Theo ĐặngVăn Ngữ (1941), sán lấy ở nhiều lợn khác nhau thì kích thước khác nhau, tráilại ở cùng một lợn thì hầu như sán trưởng thành có cùng một kích thước, sán

ký sinh ở lợn Việt Nam to hơn sán ký sinh ở lợn Trung Quốc [11], [22], [26] Nguyễn Hoàng Yến (1971) đã thực nghiệm chu kỳ sán lá ruột với nhữngđiều kiện vật chủ trung gian và khí hậu ở Việt Nam thấy sự phát triển của chu

kỳ sán lá ruột ở Việt Nam thực hiện nhanh hơn so với những tài liệu nướcngoài [25]

Đặng Văn Ngữ, Đỗ Dương Thái, Đỗ Trần Thận đã thấy các loại kháng

nguyên của sán Fasciolopsis buski, Fasciola hepatica, Paragonimus ringeri

đều cho những phản ứng chéo và do đó có thể kết luận sán lá ruột có nhữngkháng nguyên chung với các sán lá ký sinh khác Miễn dịch của sán lá ruộtcũng được Vũ Thị Tuyết, Võ An Chấn nghiên cứu Thí nghiệm trên một sốnhỏ lợn cho thấy những lợn được bảo vệ bằng vacxin có hiện tượng giảm sán

rõ rệt so với lợn đối chứng (Võ An Chấn, 1971) [25]

Theo Nguyễn Văn Thọ, Phan Lục (1999) khi nghiên cứu ấu trùng

Cercariae ở ốc quanh khu vực chăn nuôi gia đình tại các địa điểm thuộc Gia

Lâm và Đông Anh (ngoại thành Hà Nội), kiểm tra 41.365 ốc thấy tỷ lệ nhiễm

Cercariae của sán lá là 13,8 % trong đó phát hiện được 2 loài ốc Polypilis

Trang 6

hemispherula và Gyraulus sinensis nhiễm Cercariae của sán lá ruột lợn 5,6 %

[31]

Sán lá ruột Fascilopsis buski chủ yếu ký sinh trên lợn đã xác định ký

sinh trên người ở một số tỉnh tại Việt Nam, trong đó có Ninh Bình và Nghệ

An Năm 2004, Nguyễn Văn Đề, Lê Thanh Hòa đã tiến hành giải trình tự và

phân tích chuỗi gen 18S ARN Ribosome của sán lá ruột lợn trưởng thành trên

người thu thập tại hai tỉnh này Cả 2 mẫu sán đều được xác định bằng hình

thái học là Fasciolopsis buski [3].

Đối với loài Gastrodiscoides hominnis, những tài liệu cũ cho biết đã thấy

ở lợn Trung Bộ, Nam Bộ (5 %); cũng thấy ở ruột già người Nam Bộ (Brau vàBruyant, 1911) Năm 1978, Lê Văn Hòa và Lê Thị Mỹ San đã tìm thấy loàinày ký sinh ở lợn nhưng với tỷ lệ nhiễm thấp [9], [26]

Đối với Echinostoma malayanum ở Nam Bộ nhiễm 5,8 % nhưng lại ít

gặp ở các tỉnh phía Bắc Theo Phạm Chức (1986) cho biết lợn Hậu Giang

nhiễm Echinostoma sp 9,3 % Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1978) cho

biết lợn 6 tỉnh đồng bằng miền Tây và miền Đông Nam Bộ nhiễm

Artyfechinostomum sufrartyfex với tỷ lệ 7,01 % [9].

2.2 Vị trí của sán lá ruột lợn trong hệ thống phân loại

Sán lá ruột lợn (Fasciolopsis buski) thuộc:

Phân họ Fasciolopsinae Odher, 1910

Giống Fasciolopsis Loss, 1899

Loài Fasciolopsis buski (Lankaster, 1857) [18], [38].

2.3 Hình thái và chu trình phát triển của Fasciolopsis buski, Echinostoma malayanum, Gastrodiscoides hominis

2.3.1 Fasciolopsis buski

2.3.1.1 Hình thái

Trang 7

Fasciolopsis buski có hình lá, màu đỏ hồng, phình rộng về phía sau, thon

nhỏ về phía đầu Sán dài 20 – 70 mm, dày 0,5 – 3 mm Trên thân có phủnhững gai nhỏ, có hai giác bám gần nhau ở phía trước cơ thể Giác bám bụnglớn hơn giác bám miệng, thực quản ngắn, hầu nhỏ, manh tràng phân thành hainhánh ngoằn ngoèo ở hai bên và kéo dài tới cuối thân [11] Hai tinh hoànphân nhánh hình cành cây, xếp trên dưới nhau Buồng trứng phân nhánh nằmphía trước tinh hoàn, xếp lệch về bên trái Tử cung uốn khúc nằm từ buồngtrứng đến giác miệng Tuyến noãn hoàng hình hạt xếp ở hai bên thân sán [4].Trứng màu vàng, vỏ mỏng, phình rộng ở giữa, thon dần về phía hai đầu,

ở đầu nhỏ hơn có nắp trứng, kích thước của trứng dài 0,125 – 1,47 mm x0,063 – 0,084 mm Phân bào phân bố đều, xếp kín trứng Ranh giới giữa cácphôi bào không rõ ràng [4]

2.3.1.2 Chu trình phát triển

Fasciolopsis buski phát triển gián tiếp có sự tham gia của vật chủ trung gian là những ốc nước ngọt Planorbis schemacheri, Gyraulus sinensis, G saigonensis, Segmentina calathus, Polypilis hemisphaerula [4] Sán trưởng

thành ký sinh ở ruột non lợn, trung bình mỗi ngày đẻ 15.000 - 48.000 trứng.Trứng theo phân ra ngoài gặp điều kiện thích hợp (nước, nhiệt độ 27 – 32 0C,

pH 6 - 7, ánh sáng) nở thành mao ấu (Miracidium) chui ra khỏi trứng [9].

Phạm Văn Khuê (1971) đã thí nghiệm nuôi trứng sán ở nước muối 0,5%,nhiệt độ tủ ấm (28 - 32 0C) và trong phòng nhiệt độ khoảng 30 - 340C thì thấythời gian trứng nở lần lượt là 13 - 14 ngày và 15 - 18 ngày

Mao ấu vừa mới nở phải chui vào trong cơ thể của ốc vật chủ trung gianthích hợp thì mới tiếp tục phát triển được, sau khi nở 1 - 2 giờ khả năng chuivào trong cơ thể ốc mạnh nhất và có thể sống trong nước 6 - 8 giờ Mao ấu

sau khi chui vào ốc thì tới hạch lâm ba biến thành bào ấu (Sporocyst) Sau 9

-10 ngày hình thành Rediae ở trong gan, tụy của ốc và sau đó hình thành nhiều Cercariae chui ra khỏi ốc Sau 1 - 3 giờ bơi tự do trong nước, Cercariae rụng đuôi tiết chất nhờn tạo kén Aldolescariae bám vào cây cỏ thủy sinh [11], [26] Khi lợn, người nuốt phải Aldolescariae còn sống vào ruột non vỏ bọc

ngoài bị phân hủy dưới tác dụng của men tiêu hóa, ấu trùng được giải phóng

và phát triển thành dạng trưởng thành, sau 3 tháng lại tiếp tục đẻ trứng và có

Trang 8

thể sống ở lợn đến 2 năm (Dương Thuật Tổ, 1936), ở người 4 - 4,5 năm (TháiQuang Đình, 1964) [9], [11], [26] Theo Ross, sán có thể sống tới 30 năm[26].

2.3.1.3 Đặc điểm ấu trùng

Mao ấu (Miracidium) hình quả lê, dài 0,123 mm, rộng 0,049 mm, bên

ngoài bao phủ bởi một lớp tiêm mao, cơ quan thị giác ở dạng vết mắt, hệ tiêuhóa đơn giản, mô thần kinh, hai tế bào ngọn lửa và rất nhiều tế bào phôi Khimao ấu vừa mới nở, nhờ có lông nên chuyển động trong nước rất mạnh

Bào ấu (Sporocyst) có dạng hình túi, kích thước 0,131 x 0,083 mm Ở

thời kì cuối bào ấu to độ 0,308 x 0,108 mm, rộng 0,100 - 0,200 mm

Lôi ấu (Rediae) Rediae mẹ có túi miệng, hầu và ruột hình túi dài và

rộng, có lỗ sinh sản và một đôi cơ quan phụ, dài 0,600 - 0,800 mm, rộng

0,100 - 0,200 mm, trong đó có khoảng 22 khối phôi bào và một số Rediae con đang phát triển ở các giai đoạn khác nhau Rediae con dài 0,736 - 0,896mm, rộng 0,159 - 0,165mm, trong cơ thể có 1 - 45 vĩ ấu (Cercariae) đã thành thục.

Vĩ ấu (Cercariae) dài 0,693 mm, cơ thể chia hai phần thân và đuôi, thân

dài 0,195 mm, rộng 0,145 mm Phần trước của thân và mặt bụng có gai nhỏ

và có hai giác bám Giác miệng to hơn hầu và giác bụng Đường tiêu hóa có

miệng, hầu, thực quản và ruột Vĩ ấu sau khi chui ra khỏi ốc thì chuyển động rất mạnh trong nước, rụng đuôi và tiết chất nhờn bọc thành kén Aldolescariae Kén (Aldolescariae) có kích thước 0,216 x 0,187 mm, hình tròn dẹp, có

giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản, ruột, đặc biệt có ống bài tiết, trong ống

có nhiều hạt lấm tấm phân bố không đều ở hai bên, đó là một đặc điểm quan

trọng giúp cho việc xác định loại Aldolescariae của sán lá ruột, ngoài ra còn

có túi bài tiết Aldolescariae có lớp màng ngoài dễ vỡ, lớp màng trong chắc

chắn, rất bền, dịch vị không thể tiêu hóa được, chỉ khi tới ruột non, do tácdụng của dịch ruột và dịch mật mới phân giải được màng trong Một đặc điểmkhá kì lạ là những ấu trùng bọc kén này hình như chọn một số cây để bám Ởnước ta người ta đã xác định được những loài cây chính mà ấu trùng sánthường bám như cây củ ấu (cả lá và củ), bèo hoa dâu, rau lấp, rau muống, bèocái, cây niễng, cây súng… Barlow (1925) đã đếm được trên một củ ấu có tới

200 nang kén [26], [28]

Trang 9

CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA FASCIOLOPSIS BUSKI

1 Trứng 5 Cercariae ở môi trường

2 Trứng trong môi trường nước 6 Aldolescariae (nang ấu)

3 Miracidium (mao ấu) 7,8 Sán trưởng thành trong lợn và người

4 Ốc vật chủ trung gian

4a Sporocysts (bào ấu)

4b Rediae (lôi ấu)

4c Cercariae (vĩ ấu)

Trang 10

Trứng gần giống với trứng của F.buski nhưng tròn hơn [4], [9].

2.3.2.2 Chu trình phát triển

Chu trình phát triển của Echinostoma malayanum thông qua vật chủ trung gian thứ nhất là ốc Limnea luteola, vật chủ trung gian thứ hai là ốc Limnea luteola, Indoplanorbis exustus, cá Barbus stigma Trứng ra ngoài sẽ phát triển thành Miracidium xâm nhập vào ốc Limnea, Indoplanorbis, cá Barbus, và ốc bươu Fila sau ba tháng Khi lợn ăn phải vật chủ trung gian thứ

hai sau 3 - 4 tuần sẽ trưởng thành ở ruột non [4], [9]

2.3.3 Gastrodiscoides hominis

2.3.3.1 Hình thái

Gastrodiscoides hominis thuộc họ Paramphistomatidae Sán có hình lê

hay trái tim, phía đầu thon nhỏ, phía sau phình rộng, màu đỏ, dài 6 – 8 mm,rộng 3 – 4 mm, dày 2 mm Giác miệng nhỏ nằm ở đỉnh đầu, giác bụng rất lớnnằm ở phần sau cơ thể Hai tinh hoàn hình khối hay hình đĩa nằm ở giữa thân.Tuyến noãn hoàng phân bố ở phía sau thân

Trứng hình bầu dục, một đầu có nắp dài 0,150 mm, rộng 0,072 mm [4],[9]

2.3.3.2 Chu trình phát triển

Chưa được nghiên cứu đầy đủ Loss (1948) cho rằng cũng như loài

Gastrodiscoides aegyptiacus phát triển ở vật chủ trung gian là những động vật chân bụng Cleopatra bulimoides và C cyclostomoides và ốc Helicorbis coenosus Cercariae hình thành ở môi trường nước sau vài giờ thành

Trang 11

Aldolescariae Khi người và lợn ăn phải kén Aldolescariae sẽ phát triển thành

2.4.2 Đặc điểm sinh học

Fasciolopsis buski phát triển qua vật chủ trung gian là ốc nước ngọt Planorbis schemacheri, Gyraulus sinensis, G saigonensis, Segmentina calathus, Polypilis hemisphaerula [4].

Vật môi giới là các thực vật thủy sinh như cây củ ấu, bèo Nhật Bản, bèotấm, bèo cái, bèo hoa dâu, bèo tai chuột, rau dừa nước, rau lấp, rau muống,cây niễng, cây súng… [18], [38]

Echinostoma malayanum Rao (1933) cho rằng vật chủ trung gian thứ nhất là ốc Limneae luteola, vật chủ trung gian thứ hai là Limnae luteola, Indoplanorbis exustus và cá Barbus stigma, ốc bươu Fila [4], [9].

Gastrodiscoides hominnis: Loss (1948) cho rằng vật chủ trung gian là những động vật chân bụng Cleopatra bulimoides và C cyclostomoides và ốc Helicorbis coenosus [9].

2.4.3 Động vật cảm nhiễm

Các loài thú có vú cảm nhiễm sán lá ruột lợn là lợn nhà, lợn rừng (bộ cóguốc móng chẵn), chó, hổ, thỏ, và trâu (Barlow, 1920; Ngô Quang, 1937-1949; Tiền Trào, 1940; Trần Việt Thường, 1945…) Người sống ở các nước

nhiệt đới ẩm Đông Nam Á cũng thường bị nhiễm sán lá ruột Fasciolopsis buski (Lý Như Thức, 1965; Pedro Acha, 1989; Đỗ Dương Thái, 1978…) [13],

[26], [18], [38], [14], [15]

Trang 12

sự phân bố của sán lá ruột tăng dần từ miền núi qua trung du tới đồng bằng.Vùng núi tỷ lệ nhiễm 14,4 %, vùng trung du nhiễm 41,1 %, vùng đồng bằngnhiễm 50,7 % [26].

Cường độ nhiễm Fasciolopsis buski ở lợn nông trường miền trung du (1

- 313 con sán) và đồng bằng (1 - 270 con sán) cũng cao hơn miền núi (1 - 6sán) [13], [26], [14]

Tỷ lệ nhiễm Fasciolopsis buski ở hai miền Nam - Bắc cũng có sự khác nhau Ở các tỉnh phía Bắc tỷ lệ nhiễm Fasciolopsis buski 23 - 50,4 % với

cường độ nhiễm từ 1 - 283 sán, có trường hợp thấy 1.746 sán ký sinh trongruột non lợn (Phạm Văn Khuê, 1925) Có những địa phương 100 % lợn bịnhiễm sán lá ruột (trại Cộng Hòa - Vĩnh Phú, Nông trường Thống Nhất…)

[26], [11], [9], [30] Ở miền Nam sự phân bố Fasciolopsis buski thấp Qua mổ

khám 787 lợn ở 4 lứa tuổi, Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương (1990) cho

biết tỷ lệ nhiễm Fasciolopsis buski ở các tỉnh phía Nam là 3,4 % trong đó

Bình Trị Thiên (cũ) 46 %, Quảng Nam - Đà Nẵng 2,7%, Phú Khánh (cũ) 2,7

%, Sông Bé 2,1 % và có xu hướng tăng theo tuổi Như vậy Fasciolopsis buski

phân bố nhiều ở các tỉnh phía Bắc và một số tỉnh miền Trung, các tỉnh miềnTây tỷ lệ nhiễm rất thấp [9]

Trong khi đó các tỉnh Nam Bộ lợn nhiễm Echinostoma cao 5,8 % phân

bố ở Long An 33 %, Kiên Giang 25 %, thành phố Hồ Chí Minh 19,4 %,Quảng Nam - Đà Nẵng 2,7 %, Phú Khánh 13,8 %, Đồng Nai 8 %, Sông Bé3,2 %, Tây Ninh 0,8 % Theo Phạm Chức (1986) lợn Hậu Giang nhiễm

Echinostoma sp 9,3 % Phạm Văn Khuê, Phan Văn Lục (1978) cho biết lợn

6 tỉnh đồng bằng miền Tây và Đông Nam Bộ nhiễm Artyfechinostomum sufrartyfex với tỷ lệ 7,01 % Echinostoma rất ít gặp ở lợn các tỉnh phía Bắc.

Đây là đặc điểm phân bố riêng biệt của hai loài [9]

Trang 13

Đối với loài Gastrodiscoides hominnis, những người lính Hindu nhiễm

3,2 % (Sharma, 1930) Mathis và Leger cũng đã tìm thấy loài này ký sinh ởlợn với tỷ lệ 5 % [9] Ở Việt Nam đã thấy ở lợn Trung Bộ và Nam Bộ (5 %)[9], [26]

2.4.5 Tuổi mắc bệnh

Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột lợn theo qui luật tăng dần theo tuổi Theo số liệuđiều tra của bộ môn Ký sinh trùng trường Đại Học Nông Nghiệp I Hà Nội chothấy lợn 3 - 12 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm tăng dần từ 74,19 - 95,72 % [4]

Tuổi càng cao tỷ lệ nhiễm F buski càng tăng.

Dưới 2 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 16,6 %

Từ 3 - 4 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 45,8 %

Từ 5 - 7 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 58,3 %

Trên 8 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 70,8 % [13], [14], [26]

Theo Lương Văn Huấn (1990) tỷ lệ nhiễm Echinostoma malayanum

cũng tăng dần theo lứa tuổi lợn

Dưới 3 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 0,5 %

Từ 3 - 4 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 5 %

Từ 5 - 7 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 8,5 %

Trên 8 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 8,8 % [9]

Ngoài ra kết quả điều tra cũng xác nhận không có sự chênh lệch đáng kể

về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột giữa các giống lợn (Phạm Văn Khuê, 1965) [13],[14], [26]

2.4.6 Điều kiện lây truyền

Bệnh sán lá ruột lợn muốn phát ra phải có đầy đủ các yếu tố nguồn tàngtrữ và truyền mầm bệnh, vật chủ trung gian, có vật môi giới và tập quán ănrau sống của người và lợn, nếu thiếu một trong các yếu tố đó thì không thể tạothành nguồn dịch

F buski không những ký sinh ở lợn mà còn cả ở người Lợn và người

nhiễm sán lá chính là nguồn tàng trữ và gieo rắc mầm bệnh Ở Việt Nam tỷ lệnhiễm ở người thấp nhưng ở lợn lại cao Theo Đỗ Dương Thái, tỷ lệ nhiễmsán lá ruột ở người Việt Nam khoảng 0,08 %; ở lợn tỷ lệ nhiễm phụ thuộc vàođiều kiện sinh thái, có nơi bị nhiễm 100 % [9], [13], [14], [26]

Trang 14

Ở các vùng đồng trũng, trồng lúa nước thường có tỷ lệ nhiễm sán lá ruộtlợn rất cao vì có điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài ốc ký chủ

trung gian như Planorbis coenurus, Segmentina hemisphaerula, Gyraulus sinensis… Ốc sẽ giúp cho ấu trùng sán lá ruột lợn phát triển trong cơ thể của chúng đến giai đoạn Cercariae Các vùng đồng trũng, nhiều ao hồ, mương

lạch cũng là điều kiện cho cây cỏ thủy sinh phát triển mạnh và rất đa dạng.Các cây cỏ thủy sinh là vật môi giới của mầm bệnh Lợn và người nhiễm sán

lá ruột là do ăn thực vật thủy sinh (có mang kén Aldolescariae) còn sống hoặc

chưa được nấu chín

Kết quả nghiên cứu của khoa Chăn nuôi trường Đại Học Nông Nghiệp I(1968 - 1969) cho thấy lợn ăn thức ăn rau xanh nấu chín tỷ lệ nhiễm sán từ3,4 – 4 %; ăn rau sống và thức ăn tinh ủ tỷ lệ nhiễm sán từ 12,4 - 20,5 % Kếtquả thí nghiệm khẳng định lợn ăn rau sống có tỷ lệ nhiễm sán cao hơn hẳn lợn

ăn rau xanh nấu chín (Phạm Văn Khuê, 1978) [13], [14], [26]

2.4.7 Mùa vụ phát bệnh

Mục đích nghiên cứu mùa vụ phát bệnh nhằm nắm được sự biến động

của tỷ lệ nhiễm F buski ở các tháng trong năm tạo cơ sở khoa học cho việc

xây dựng lịch tẩy sán [26]

Trong điều kiện nóng ẩm ở các nước Đông Nam Á, trứng sán có thể pháttriển thành mao ấu quanh năm Các loại ốc ký chủ cũng hoạt động gần nhưsuốt 12 tháng trong năm nhưng tập trung vào các tháng nóng của mùa hè vàmùa thu Đó là hai yếu tố thuận lợi cho sán lá phát triển từ giai đoạn mao ấuthành kén gây nhiễm [13], [14]

Do vậy kén sán có thể lây nhiễm cho lợn qua việc ăn rau cỏ xanh tươisống quanh năm Những thí nghiệm điều tra về tỷ lệ nhiễm của lợn qua cáctháng trong năm tại trại chăn nuôi Quang Trung (Đại Học Nông Nghiệp I),nông trường Toàn Thắng (Hà Nội) và nông trường Thống Nhất (Hải Hưng)

cho thấy trong một năm, cả bốn mùa đều tìm thấy trứng F buski trong phân

lợn Song tỷ lệ dương tính thấp nhất ở tháng 5 - 6 (26 – 29%) đến tháng 9 - 10

tỷ lệ nhiễm cao nhất (66 – 67 %) Sự biến động tỷ lệ nhiễm F buski giữa các

mùa không có sự thay đổi rõ rệt, nghĩa là quanh năm lợn đều bị nhiễm sán từbên ngoài vào cơ thể [11], [13], [14], [26]

Trang 15

2.4.8 Sức đề kháng của trứng và kén trong điều kiện tự nhiên

Sức đề kháng của trứng F buski không mạnh lắm, nếu đem phân ủ trong

18 ngày thì có thể diệt trứng (Barlow, 1925) [11], [13], [14], [26] Theo kếtquả nghiên cứu của Phạm Văn Khuê, ở Việt Nam, ủ phân nhiệt độ từ 50 – 54

0C thì diệt được trứng sán Trứng sán bị chết trong khoảng vài giờ cho đến 2,

3 ngày khi tiếp xúc với vôi ở trong phân theo tỷ lệ 1/1000 đến 1/10.000 [13],

[14], [26] Theo Nguyễn Thị Hoa Lý (2001) trứng F buski trong nước thải có

thể đến giai đoạn gây nhiễm sau 6 - 28 ngày ở nhiệt độ và khí hậu nước ta vàtồn tại được 2 - 5 tháng [21]

Sức sống của kén Aldolescariae mạnh hay yếu tùy thuộc môi trường mà

chúng sinh sống, khi nhiệt độ ở nước 30 – 32 0C thì chúng có thể sống đượctrên 90 ngày, khi 24 – 28 0C sống trên 60 ngày, khi 4 – 5 0C kén tồn tại 25

ngày Nếu lấy kén Aldolescariae từ cây cỏ ở nước cho lên giấy thấm ướt giữ

ở nhiệt độ 28 – 30 0C kén chỉ có thể sống trên 10 ngày, nếu kén bám ở cây, cỏ

ở chỗ rất ít nước, có ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp thì chỉ khoảng 10 phútkén mất sức sống [11], [13], [14], [26]

2.4.9 Vai trò của vật chủ trung gian trong bệnh sán lá ruột lợn

Quá trình phát triển của sán lá ruột lợn cần một ký chủ trung gian là ốc ởnước và cây cỏ ở nước làm vật môi giới truyền bệnh Sán trưởng thành

F.buski ký sinh ở ruột non của lợn hoặc người, đẻ trứng theo phân ra ngoài

gặp điều kiện thích hợp (nước, ánh sáng, nhiệt độ, pH,…) sẽ nở thành mao ấu

(Miracidium) chui vào ốc ký chủ trung gian rồi biến thành bào ấu (sporocyst), rêđi mẹ (rediae I), rêđi con (rediae II) và vĩ ấu (cercariae) Vĩ ấu chui ra khỏi

ốc rụng đuôi bám trên cây cỏ thủy sinh thành nang ấu (Aldolescariae) Nếu

người và lợn ăn rau, cỏ còn sống có nang ấu sẽ bị nhiễm sán Như vậy vật chủtrung gian là mắt xích quan trọng trong vòng đời của sán lá ruột lợn Trong ốcvật chủ trung gian mầm bệnh tăng lên về số lượng và phát triển đến giai đoạn

Trang 16

Biểu hiện rõ nhất của lợn nhiễm sán là còi cọc, thiếu máu suy nhược cơthể, lông xù, chậm lớn do sán chiếm đoạt chất dinh dưỡng Lợn nhiễm sán,nhất là lợn con 3 - 4 tháng tuổi vẫn ăn khoẻ nhưng tăng trọng rất thấp Sựgiảm tăng trọng phụ thuộc vào cường độ cảm nhiễm sán của lợn Lợn nhiễmnặng có triệu chứng nôn mửa, ỉa chảy, phân tanh, có thể dẫn đến tử vong nếukhông điều trị kịp thời Độc tố của sán cũng gây ra hiện tượng rối loạn tiêuhoá ở lợn con 3 - 4 tháng tuổi, khi ỉa táo, khi phân lỏng, làm cho lợn còi cọc

và chậm lớn [13], [14], [15], [16], ngoài ra còn làm cho con vật có triệuchứng thần kinh [9]

Lợn nái nuôi con nhiễm sán lá không những gầy mà còn giảm lượng sữa,ảnh hưởng đến sự phát triển của lợn con và tỷ lệ lợn con ỉa phân trắng caohơn ở các đàn lợn mà lợn nái không nhiễm sán [26]

2.5.2 Bệnh tích

Mổ khám lợn bệnh thấy thành ruột non chỗ sán ký sinh bị dày cộm lêntừng đám, làm cho ruột phình to ra từng đoạn, nhưng bên trong ống ruột lạihẹp, niêm mạc ruột non bị loét và tụ máu thể hiện trạng thái viêm ruột cata, cónhững chỗ ruột bị hoại tử do tác động bám vào ruột và di chuyển của sán lá[13], [14], [15], [16], [28] Trường hợp nhiễm sán quá nhiều, ruột có thể bị tắcthậm chí vỡ ruột [9], [22], [24]

2.5.3 Tác hại do sán gây ra

Tác hại rõ nhất của sán lá ruột là làm lợn sinh trưởng chậm Kết quả thínghiệm tại nông trường Đồng Giao (Ninh Bình) năm 1963 cho thấy trungbình mỗi tháng một con sán trung bình làm giảm 65 g thịt [26], [28]

Phạm Văn Khuê theo dõi đàn lợn nái nuôi con nhiễm sán ở nông trườngThống Nhất (Hải Hưng) thấy đa số lợn nái bị gầy còm, con bị thiếu sữa bú, tỷ

lệ lợn con bị mắc bệnh ỉa cứt trắng cao, sau khi cai sữa thường bị ỉa chảy, còicọc [26]

Những kết quả nghiên cứu khác đã chứng minh tác hại của sán về nhiềumặt:

- Sán có giác bám to, khỏe để bám vào thành ruột vật chủ gây tổn thươngniêm mạc ruột

Trang 17

- Sán có kích thước lớn khi ký sinh với số lượng nhiều thường gây tắcruột thậm chí vỡ ruột và làm lợn chết đột ngột.

- Độc tố của sán tiết ra làm lợn gầy còm, sút cân, thiếu máu, bạch cầutăng, sức đề kháng giảm

- Sán chiếm đoạt chất dinh dưỡng để lớn lên mỗi ngày làm cho lợn chậmlớn, khó vỗ béo

- Nếu lợn nhỏ 10 – 15 kg mà nhiễm 15 sán, lợn lớn khoảng 50 kg mànhiễm trên 50 sán thì thấy lợn kém ăn, gầy yếu, chậm lớn, da và màng mắtnhợt nhạt, thỉnh thoảng đi ỉa chảy

- Khi mổ lợn thì thấy thành ruột non chỗ sán nằm bị dày lên, có khi lấmchấm xuất huyết, có những chỗ ruột bị đen chứng tỏ các tế bào bị phá hoại[11], [28], [33], [34]

2.6 Chẩn đoán

2.6.1 Dựa vào triệu chứng, đặc điểm dịch tễ học

Quan sát điều kiện ngoại cảnh, phương thức chăn nuôi lợn, tìm hiểuxem nơi đó cho lợn ăn thức ăn sống hay chín; cách sử dụng phân lợn có ủ hay

là bón phân tươi; điều tra tình hình xử lý nước phân, nước cống rãnh, có trựctiếp chảy ra ruộng thức ăn của lợn hay không Ngoài ra cần xem xét cơ sở đóthuộc miền núi, trung du hay đồng bằng, thuộc vùng chiêm trũng hay vùngven biển, thuộc vùng lúa hay màu… Qua điều tra một số vấn đề trên giúpchúng ta biết được cơ sở đó có thể có hay không có sán lá ruột [26]

Cũng cần dựa vào triệu chứng của bệnh làm căn cứ để chẩn đoán, xácđịnh bệnh [26], [4], [9]

2.6.2 Kiểm tra phân

Có thể dùng phương pháp trực tiếp hoặc phương pháp lắng cặnBenedek Phương pháp trực tiếp hiệu quả chẩn đoán kém, khó phát hiện trứng

và trứng ít tập trung trong một vi trường, chỉ áp dụng đối với những con cóbiểu hiện bệnh [26] Chủ yếu là dùng phương pháp lắng cặn Benedek để tìmtrứng trong phân Phương pháp này đã và đang được áp dụng rộng rãi để chẩnđoán bệnh sán lá ruột, đơn giản và dễ thực hiện [13], [14]

Trang 18

Trong khi chẩn đoán tìm trứng, cần phân biệt giữa trứng Fasciolopsis buski với trứng Fasciola và trứng Gastrodiscus, đều có thể thấy ở phân lợn.

Nhưng hai giống sán sau rất ít gặp ở lợn Việt Nam [26]

2.6.3 Chẩn đoán bằng kháng nguyên tiêm nội bì

Có thể chế kháng nguyên từ sán F buski trưởng thành, pha thành nồng

độ 1/250 tiêm nội bì (chỗ da mỏng) của con vật cần chẩn đoán Sau 10 - 20phút, nơi tiêm có phản ứng sưng đỏ lan rộng là dương tính, ngược lại là âmtính

Phương pháp này cho kết quả tốt, có thể chẩn đoán khi sán còn non chưakịp đẻ trứng theo phân ra ngoài, nhưng cũng có khi có phản ứng giả và khó ápdụng trong thực tiễn sản xuất [13], [14], [26], [33]

Ngoài ra có thể sử dụng kĩ thuật ELISA để chẩn đoán sán lá ký sinhtrong cơ thể vật nuôi [33]

bộ lợn Từ khi lợn nhiễm sán cho đến khi sán trưởng thành đẻ trứng phải độ

90 ±6 ngày do đó tốt nhất là tẩy sán cho lợn hai tháng rưỡi một lần Nhưnghiện nay do chưa có đủ điều kiện, nên cần tẩy cho lợn thịt hai lần vào ba vàsáu tháng tuổi (trước lúc vỗ béo), lợn nái một năm tẩy hai lần sau khi nuôixong một lứa lợn đến cai sữa [28] Trong thời gian tẩy sán, phân phải tậptrung để ủ, vì lúc này trong phân có rất nhiều giun sán và trứng sán [26] Vime - Ono: 1 g/10 – 15 kg P, uống một liều duy nhất

Trang 19

Vime - Dazol: 1 g/10 kg P.

(Không nên tẩy đối với nái mang thai)

Han - Dertil B: 1 viên cho 40 – 50 kg P

Nitroxinil - INJ: 2 ml/50 kg P, tiêm dưới da một liều duy nhất [1]

Những thuốc tẩy sán thường độc nên khi dùng phải cẩn thận, xác địnhchính xác trọng lượng để định liều cho đúng

Có thể dùng thuốc nam để tẩy trừ sán cho lợn Hạt cau già với liều lượng

1g/1 kg P [22], [24], [25] Hạt cau (Hreca catechu) được sắc và loại bỏ chất

chát (cho một lòng trắng trứng vào nước sắc hạt khi sôi, các chất chát bámvào lòng trắng trứng và vớt bỏ lòng trắng trứng) Có thể sử dụng quả chua

ngút (Embelia ribes) dưới dạng thô hoặc dưới dạng embelat amon chiết xuất

từ chua ngút cũng có tác dụng tốt, an toàn và làm sạch sán ở lợn [25]

2.7.2 Vệ sinh môi trường và diệt trứng sán trong phân.

Quét dọn sạch chuồng trại hàng ngày, định kỳ tiêu độc bằng nước vôi10b %, biện pháp này có tác dụng diệt mầm bệnh trong chuồng trại [13], [14].Tuyệt đối không cho phân lợn chảy xuống ao, ruộng nhất là những ao,ruộng trồng rau bèo làm thức ăn nuôi lợn hoặc lấy nước dùng trong chuồnglợn Phân lợn phải được ủ kỹ cho chết trứng sán mới dùng để bón Chỗ ủ phải

xa các ao, ruộng để khi trời mưa to nước phân không chảy xuống ao mangtheo trứng sán

Vùng có tập quán dùng phân lợn tươi hòa với nước để tưới thì có thể xâydựng nhiều tầng bể để lắng trứng sán, dựa vào nguyên lí tỷ trọng trứng nặnghơn tỷ trọng của nước, khi qua những bể lắng trứng sẽ chìm xuống đáy, nướcphân không còn trứng sán sẽ chảy trực tiếp bón cho các ruộng rau bèo, chỗphân cặn hót ra đưa đi ủ [26] Có thể sủ dụng bón phân chéo bằng cách bónphân bò cho cây thức ăn của lợn [4]

Điều quan trọng là phải thực hiện ủ phân để diệt trứng sán lá trong phânbằng nhiệt Biện pháp tuy đơn giản nhưng có tác dụng tránh được sự ô nhiễmmầm bệnh ngoài môi trường tự nhiên, vừa đảm bảo độ N – P - K trong phân.Theo Phạm Văn Khuê (1964) nên ủ như sau:

Phân chuồng : 200 kg

Lá xanh, chất độn: 20 - 30 kg

Trang 20

Vôi bột: 50 - 80 kg

Xếp những thứ này thành lớp Cứ một lớp phân phủ một lớp vôi và mộtlớp lá xanh, xếp thành đống, ngoài trát bùn để mưa không trôi phân và giữnhiệt độ trong đống phân ủ Cách ủ này có thể làm nhiệt độ trong đống phân ủtăng đến 50 - 51 0C trong khoảng 12 ngày, có tác dụng diệt trứng F buski Có

thể xây những bể chứa phân, nước tiểu, nước rửa chuồng, nước cống rãnh rồi

cho vôi vào sao cho pH ≥ 8, sau 10 ngày trứng F buski bị diệt [9], [11], [26].

Ở các cơ sở chăn nuôi tập trung, chăn nuôi gia đình có điều kiện có thểxây bể biogas có bổ sung chế phẩm EM (Effective microorganisms) sẽ ức chế

sự phát triển của trứng F buski, rút ngắn thời gian diệt trứng, làm giảm độ pH

của nước nhưng lượng khí trong bể lại tăng lên Ở bể biogas có bổ sung EM

1%, sau 10 ngày chỉ có 24,6% trứng phát triển được tới Miracidium, thời gian

trứng phát triển hết 18 ngày Sau 20 ngày không trứng nào phát triển, trứngmất màu, một số trứng tan rữa Ở bể biogas có bổ sung EM 5%, sau 10 ngàytrứng không biến dạng nhưng nhạt màu, tế bào của nhiều trứng tan rữa Sau

20 ngày trứng mất màu, tế bào của đa số trứng tan vỡ hoàn toàn, không có

trứng nào phát triển được tới Miracidium So với bể biogas không bổ sung

EM thì ở mức bổ sung 1% thời gian diệt trứng F buski đã rút ngắn được 10

ngày, ở mức 5% rút ngắn được 20 ngày (Nguyễn Văn Thọ, 2006) [32]

2.7.3 Diệt ốc ký chủ trung gian.

Những ao, ruộng trồng rau, bèo làm thức ăn nuôi lợn phải tát cạn ít nhấtmỗi năm hai lần và rắc vôi xuống đáy, phơi ao một thời gian rồi mới dùng lại,vừa tẩy uế vừa diệt ốc [28] Nếu không áp dụng được biện pháp tháo cạn thìcần dọn sạch ao bằng cách phát quang, vớt bèo… làm cho ốc hết chỗ bám.Nước vôi 5 - 10%, sunphat đồng (CuSO4) 5/10.000 có tác dụng diệt cácloài ốc ký chủ trung gian trong tự nhiên Nhưng cần chú ý, sunphat đồng cóthể gây ô nhiễm và độc cho người và súc vật [11], [13], [14], [15], [16]

Diệt ốc bằng biện pháp sinh học: nuôi những con vật ăn ốc như vịt, ngan,ngỗng… Trong điều kiện có thể, luân phiên cây trồng thức ăn, chuyển ruộngtrồng rau bèo có nước thành ruộng trồng cây cạn để đổi vụ nhằm tạo điều kiệnkhô cạn để ký chủ trung gian không tồn tại [11], [26]

Trang 21

2.7.4 Chăm sóc, nuôi dưỡng.

Chăm sóc, nuôi dưỡng tốt đàn lợn để nâng cao sức đề kháng với bệnh[13], [14], [15] Không nuôi lợn thả rông nhất là ở nơi đã có bệnh sán lá ruột[9], [28] Cho súc vật ăn uống sạch, đủ chất Ở những vùng có bệnh, cách tốtnhất là thức ăn phải nấu chín hoặc nếu cho ăn xanh thì phải xử lý đảm bảo

không còn Aldolescariae có sức gây bệnh (rau rửa sạch ngâm nước muối hoặc

nước vôi 5% trước khi cho ăn) Nước uống phải sạch, không cho lợn uốngnước ao tù [11], [28], [29]

2.8 Bệnh sán lá ruột ở người

Người bị bệnh do ăn sống thực vật thủy sinh có chứa kén Aldolescariae.

Vào đường ruột dưới tác dụng của dịch mật và dịch tiêu hóa của ruột non,màng kén bị phân giải, ấu trùng chui ra bám vào niêm mạc ruột non và pháttriển thành sán trưởng thành gây bệnh cho người

Tình hình nhiễm sán lá ruột tập trung chủ yếu vào vùng Đông Á vàTrung Á Theo thống kê điều tra ổ bệnh chính là Trung Quốc Tình hìnhnhiễm cao ở những vùng Hương Cảng, Quảng Đông, dọc theo bờ sông Dương

Tử, tỷ lệ bệnh thay đổi từ 5 – 71 %, có nơi nhiễm tới 92 % (Trần Tâm Đào,1965) [24], trẻ em mắc nhiều hơn người lớn và phụ nữ mắc nhiều hơn namgiới [29] Ở vùng Quảng Đông thường thu hoạch củ ấu vào mùa hè, khi nông

dân nhất là trẻ em hay ăn sống củ ấu nên ăn phải kén Aldolescariae vì thế mà

mắc bệnh [26] Năm 1925 Barlow đã dùng thuốc tẩy sán cho một bé gái 9 tuổitẩy ra 3.721 con sán lá ruột Ở các thành phố như Thượng Hải tỷ lệ bệnh cũngcao Ở Ấn Độ, Thái Lan, Malaisia, Đài Loan cũng rải rác những ổ bệnh sán láruột lợn [24] Bệnh sán lá ruột hiện vẫn được coi là bệnh cần báo động ởnhiều quốc gia châu Á và mới đây đã phát hiện bệnh này có ở một số nướcthuộc châu Phi Ở nước ta tỷ lệ nhiễm bệnh ở một số tỉnh như sau: Nam Định

6 %, Yên Bái 1,2%, Đăk Lăk 1,2 - 3,8 %, Thừa Thiên Huế 1,8 % Sán lá ruộtthu thập từ bệnh nhân khi điều tra tại 7 tỉnh, thành Nam Định, Ninh Bình,Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Cần Thơ và An Giang đã được xác

định là loài F buski qua phương pháp hình thái học và sinh học phân tử [8].

Trong tháng 05/2007, Trung tâm Phòng chống Sốt rét - Ký sinh trùng - Côntrùng Thừa Thiên Huế điều tra tình hình nhiễm giun sán trên đối tượng học

Trang 22

sinh mẫu giáo tại địa phương đã phát hiện 1 học sinh 5 tuổi bị nhiễm sán láruột Do muốn tìm hiểu sự liên quan, đã xét nghiệm phân của người mẹ 36tuổi và người cha 40 tuổi cũng phát hiện nhiễm sán lá ruột (gia đình ở đườngĐào Duy Anh, thành phố Huế) [7] Có trường hợp bệnh nhân 2,5 tuổi ở Vinh

đã nôn ra 8 sán lá ruột lợn [2]

Những thương tổn cơ thể bệnh học xảy ra một phần do sán gây chấnthương ở ruột, chiếm thức ăn, một phần khác do những độc tố sán bài tiết ra[24]

Trong giai đoạn đầu bệnh nhân chỉ bị mệt mỏi, thiếu máu nhẹ, sức khỏegiảm sút Khi bệnh toàn phát, người bệnh bị đau bụng kèm theo tiêu chảy.Phân lỏng không có máu, nhưng nhày và có lẫn nhiều thức ăn không tiêu.Bệnh nhân thường đau bụng ở vùng hạ vị, đau kèm theo tiêu chảy, đôi khi cóthể xảy ra những cơn đau dữ dội Nếu người bệnh có nhiều sán và khôngđược điều trị, bệnh sẽ ngày càng nặng, có thể bị phù nề, tràn dịch ở nhiều nộitạng và chết trong tình trạng suy kiệt [19] Trang Bạch (1956) cho biết ở TânHội (Trung Quốc) trong số 65 bệnh nhân bị bệnh sán lá ruột thì tỷ lệ chết 21,5

% [26]

Việc phòng bệnh chủ yếu không ăn các loại thực vật thủy sinh khôngđược nấu chín, không dùng nước lã, nước ở chỗ tù hãm, gần chỗ có phân lợn.Cần ủ kỹ phân trước khi bón cho cây trồng ở dưới nước, điều trị những người

có bệnh kết hợp phòng trị bệnh cho lợn Do bệnh sán lá ruột có thể nhiễm tớimức độ cao ở một số vùng nhỏ nên đối với những vùng này cần có nhữngbiện pháp qui mô hơn như thanh khiết nguồn nước, diệt ốc vật chủ trung gian,điều trị hàng loạt người bệnh [24], [28]

Trang 23

PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Lợn ở tất cả các lứa tuổi từ sơ sinh đến trưởng thành trên địa bàn nghiên cứu

3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

Thời gian nghiên cứu từ 5/1 đến 09/5/2009

Mẫu được lấy từ một số xã ở huyện và xét nghiệm tại phòng thí nghiệmKhoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại Học Nông Lâm Huế

3.3 Nội dung và các chỉ tiêu nghiên cứu:

3.3.1 Nội dung:

Đề tài gồm 3 phần:

- Tình hình nhiễm bệnh sán lá ruột lợn tại các xã trên địa bàn nghiên cứu

- Tình hình nhiễm mầm bệnh sán lá ruột trong môi trường

- Đánh giá hiệu quả thuốc tẩy trừ

3.3.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu:

- Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột lợn tại các xã trên địa bàn nghiên cứu

- Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm ở các nhóm tuổi

- Tỷ lệ nhiễm theo tính biệt

- Tỷ lệ nhiễm theo phương thức cho ăn (nấu chín, ăn sống)

- Mật độ ốc và tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá ruột lợn ở ốc vật chủ trung giantrong môi trường tự nhiên

- Sự phát triển của trứng sán lá ruột lợn trong một số môi trường nuôi: nướccất; nước hồ; nước muối 0,5%; nước muối 0,9%

- Sự phát triển của ấu trùng sán lá ruột lợn trong ốc vật chủ trung gian

- Tỷ lệ ra sán

- Tỷ lệ sạch trứng sán sau khi tẩy

3.4 Phương pháp nghiên cứu và vật liệu nghiên cứu

Trang 24

- Phương pháp kiểm tra mẫu: sử dụng phương pháp lắng cặn

Nguyên lý: dựa vào sự chênh lệch tỉ trọng của trứng sán lá với nước lã (d =1)

để tách trứng ra khỏi phân

Tiến hành: lấy 5-10g phân gia súc cho vào cốc thuỷ tinh, cho vào một lượngnước vừa phải để khuấy tan phân, lọc qua rây vào cốc tam giác ta được dungdịch lọc Đổ thêm nước vào dung dịch lọc đến vạch 500ml, để yên 15 - 30 phútsau đó đổ lớp nước phía trên ra Đổ thêm nước vào, chờ thời gian t2 < t1, làmnhư vậy 3 - 5 lần cho 1 mẫu Sau khi đổ nước lần cuối cùng ra, ta đổ cặn vàođĩa petri rồi nhỏ một giọt xanh methylen vào Dùng ống hút nhỏ hút cặn lênlam kính, đặt lamen lên, kiểm tra dưới kính hiển vi và đọc kết quả

Dùng cùng một nguồn nước cho các mẫu để đảm bảo độ chính xác khi sosánh

3.4.3 Ốc vật chủ trung gian

- Tính mật độ ốc vật chủ trung gian: cắm 4 cọc xuống ruộng và chăng dây tạothành hình vuông có diện tích 1m2 và đếm số ốc trong ô Tính mật độ ốc trên đámthực vật thuỷ sinh tại 5 điểm: 4 điểm ở 4 góc và 1 điểm ở chính giữa Sau đó tínhmất độ ốc trung bình

- Mổ ốc và kiểm tra ốc vật chủ trung gian: ốc đem mổ bỏ phần vỏ và phầnmiệng, phần còn lại nghiền với nước sinh lí 0,9 % đem soi dưới kính hiển vitìm ấu trùng

- Nuôi ốc gây nhiễm: ốc vật chủ trung gian được lấy ở những vùng sau khikiểm tra không tìm thấy ấu trùng sán lá ruột lợn Sau đó bắt 600 ốc về nuôi

Trang 25

trong nước sạch 30 ngày để kiểm tra dần, mỗi lần kiểm tra 50 ốc, kiểm tra 5lần không tìm thấy ấu trùng sán lá ruột trong ốc thì số ốc còn lại sử dụng đểnuôi gây nhiễm Ốc được cho vào các môi trường nuôi: nước cất; nước hồ;nước muối 0,5%; nước muối 0,9% sau khi trứng nở Thả thêm rong, bèo đãrửa sạch cho ốc bám Dùng rau sà lách thái nhỏ làm thức ăn cho ốc Hàngngày theo dõi nhiệt độ, độ ẩm phòng nuôi; pH môi trường nuôi; sự phát triểncủa ốc, bèo trong các môi trường nuôi và mổ ốc kiểm tra sự phát triển của ấutrùng sán lá ruột lợn.

3.4.4 Các phương pháp điều trị:

- Thuốc tẩy Bioxynil:

Tính chất: thuốc có dạng dung dịch, trong 100ml có chứa 250 mgNitroxynil

Tác dụng: Nitroxinil có tác dụng đến sán lá ruột trưởng thành và chưatrưởng thành Ngoài ra còn có tác dụng đến giun xoăn, giun móc, giun kết hạt

ở lợn Thuốc ngăn trở sản phẩm ATP trong ký sinh không ghép nối được vớiquá trình phosphoryl hóa

Liều lượng và cách dùng: 1ml/25 kg P, tiêm dưới da, dùng một liều duynhất Không dùng chung với các loại thuốc trị ký sinh trùng khác

- Thuốc tẩy Vime - Ono

Tính chất: thuốc có dạng bột kết tinh màu trắng, trong 100 g có 50 gBithionol

Tác dụng: Bithionol có tác dụng gây chết ngoài ra còn có tác dụng dự phòng.Thuốc diệt ký sinh trùng hiệu quả cao, tiêu diệt các loại giun tròn, sán dây,sán lá gan, sán lá ruột lợn ở cả 3 giai đoạn phát triển (trứng giun sán, ấu trùng,giun sán trưởng thành)

Liều lượng và cách dùng: 1g/10-15 kg P, cho uống trực tiếp hoặc trộn vàothức ăn Dùng một liều duy nhất

Trang 26

Trong đó: Số lợn tẩy ra sán là những lợn khi tẩy thấy có sán trong phân

Số lợn tẩy ra sạch sán là những lợn sau khi tẩy kiểm tra ở ngàythứ 5, thứ 10 và ngày thứ 15 không tìm thấy trứng sán trong phân

- Xử lý số liệu: số liệu được xử lý theo tỷ lệ phần trăm và phươngpháp thống kê sinh vật học

3.4.6 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu

Các môi trường nuôi trứng: Nước cất, nước hồ, nước muối 0,5%, nướcmuối 0,9%

Ngày đăng: 29/08/2014, 21:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Trần Văn Bình, Trần Văn Thiên, Thuốc và một số phác đồ điều trị bệnh gia súc, gia cầm, NXB nông nghiệp 2006, 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc và một số phác đồ điều trị bệnh gia súc, gia cầm
Nhà XB: NXB nông nghiệp 2006
[2]. Nguyễn Văn Đề, Ăn rau sống: lại coi chừng sán lá gan lớn và sán lá ruột lợn, http://vinhphucdost.gov.vn/, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ăn rau sống: lại coi chừng sán lá gan lớn và sán lá ruột lợn
[3]. Nguyễn Văn Đề, Lê Thanh Hòa, Giải trình tự và phân tích chuỗi gen 18S ARN Ribosome của sán lá ruột lợn trưởng thành (Fasciolopsis buski) trên người thu thập tại Ninh Bình và Nghệ An, Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, 2004, 94 – 99 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải trình tự và phân tích chuỗi gen 18S ARN Ribosome của sán lá ruột lợn trưởng thành (Fasciolopsis buski) trên người thu thập tại Ninh Bình và Nghệ An
[4]. Lê Thị Vân Hà, Bài giảng ký sinh trùng Thú Y, học phần I, Trường ĐHNL Huế 2001, 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng ký sinh trùng Thú Y
[5]. Lê Thị Vân Hà, Bài giảng ký sinh trùng Thú Y, học phần II, Trường ĐHNL Huế 2001, 18 – 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng ký sinh trùng Thú Y
[6]. Nguyễn Võ Hinh, Sán lá ruột lớn và sán lá ruột nhỏ - các bệnh ký sinh trùng chưa được cộng đồng quan tâm, http://www.impe–qn.org.vn/impe-qn/vn, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sán lá ruột lớn và sán lá ruột nhỏ - các bệnh ký sinh trùng chưa được cộng đồng quan tâm
[7]. Nguyễn Võ Hinh, Cả nhà bị nhiễm sán lá ruột: Bệnh gây nên có nguy hiểm không?, http://www.impe–qn.org.vn/impe-qn/vn, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cả nhà bị nhiễm sán lá ruột: Bệnh gây nên có nguy hiểm không
[8]. Trần Đức Hinh, Sán lá ruột: bệnh lây nhiễm cần báo động, http://www.moh.gov.vn/homebyt/vn/, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sán lá ruột: bệnh lây nhiễm cần báo động
[9]. Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương, Ký sinh và bệnh ký sinh ở gia súc, gia cầm, tập I: phần giun sán, NXB nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh 1997, 106 - 111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh và bệnh ký sinh ở gia súc, gia cầm
Nhà XB: NXB nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh 1997
[10]. Nguyễn Hữu Hưng, Nghiên cứu về bệnh giun phổi heo tại 1 số tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long, Tập huấn kỹ thuật chẩn đoán và khống chế bệnh ký sinh trùng, Dự án tăng cường năng lực nghiên cứu Viện Thú Y Quốc Gia 2002, 35 – 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về bệnh giun phổi heo tại 1 số tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long
[11]. Phạm Văn Khuê, Phan Lục, Ký sinh trùng Thú Y, NXB nông nghiệp 1996, 63 – 68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng Thú Y
Nhà XB: NXB nông nghiệp 1996
[12]. Phạm Sĩ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dũng, Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, tập II, NXB nông nghiệp 2000, 33 - 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Nhà XB: NXB nông nghiệp 2000
[14]. Phạm Sĩ Lăng, Phan Địch Lân, Cẩm nang bệnh lợn, NXB nông nghiệp 1995, 207 – 217 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang bệnh lợn
Nhà XB: NXB nông nghiệp 1995
[15]. Phạm Sĩ Lăng, Lê Thị Tài, Thực hành điều trị Thú Y: Phòng và trị một số bệnh thường gặp ở vật nuôi, NXB nông nghiệp 1999, 125 – 129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành điều trị Thú Y: Phòng và trị một số bệnh thường gặp ở vật nuôi
Nhà XB: NXB nông nghiệp 1999
[16]. Trương Lăng, Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn, NXB Thanh Hóa 1999, 72 – 75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn
Nhà XB: NXB Thanh Hóa 1999
[17]. Bùi Lập, Nguyễn Đăng Khải, Vũ Thị Nhàn, Về giun sán lợn miền Trung và phương hướng phòng trừ, Kết quả nghiên cứu khoa học và kỹ thuật Thú Y 1985 - 1989, NXB nông nghiệp 1989, 79 - 90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về giun sán lợn miền Trung và phương hướng phòng trừ
Nhà XB: NXB nông nghiệp 1989
[18]. Nguyễn Thị Lê, Danh mục các loài sán lá (Trematoda) ký sinh ở chim và thú Việt Nam, NXB khoa học - kỹ thuật 1995, 29 - 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục các loài sán lá (Trematoda) ký sinh ở chim và thú Việt Nam
Nhà XB: NXB khoa học - kỹ thuật 1995
[19]. Hương Liên, Cảnh giác bệnh sán lá ruột, http://www.khoahoc.com.vn/view.asp, 2006 http://vietbao.vn/suckhoe, 2006http://www.tuoitre.com.vn/tianyon, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảnh giác bệnh sán lá ruột
[20]. Phan Lục, Tình hình nhiễm ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm, Tập huấn kỹ thuật chẩn đoán và khống chế bệnh ký sinh trùng, Dự án tăng cường năng lực nghiên cứu Viện Thú Y, NXB nông nghiệp 2002, 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm
Nhà XB: NXB nông nghiệp 2002
[21]. Nguyễn Thị Hoa Lý, Một số vấn đề liên quan đến việc xử lý chất thải chăn nuôi, lò mổ, KHKT Thú Y, tập XII - số 2 - 2005, 75 – 86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề liên quan đến việc xử lý chất thải chăn nuôi, lò mổ

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột lợn ở một số xã thuộc huyện Hương Trà Địa điểm - Nghiên cứu sán lá ruột lợn trên địa bàn huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế và kết quả thử nghiệm một số thuốc tẩy trừ
Bảng 1 Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột lợn ở một số xã thuộc huyện Hương Trà Địa điểm (Trang 27)
Bảng 2: Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở các nhóm tuổi - Nghiên cứu sán lá ruột lợn trên địa bàn huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế và kết quả thử nghiệm một số thuốc tẩy trừ
Bảng 2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở các nhóm tuổi (Trang 30)
Bảng 3: Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột theo tính biệt Tháng - Nghiên cứu sán lá ruột lợn trên địa bàn huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế và kết quả thử nghiệm một số thuốc tẩy trừ
Bảng 3 Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột theo tính biệt Tháng (Trang 33)
Bảng 4: Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột theo phương thức cho ăn Phương thức - Nghiên cứu sán lá ruột lợn trên địa bàn huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế và kết quả thử nghiệm một số thuốc tẩy trừ
Bảng 4 Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột theo phương thức cho ăn Phương thức (Trang 35)
Bảng 5: Mật độ ốc và tỷ lệ ốc nhiễm ấu trùng sán lá ruột lợn ở môi  trường tự nhiên - Nghiên cứu sán lá ruột lợn trên địa bàn huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế và kết quả thử nghiệm một số thuốc tẩy trừ
Bảng 5 Mật độ ốc và tỷ lệ ốc nhiễm ấu trùng sán lá ruột lợn ở môi trường tự nhiên (Trang 37)
Bảng 6. Sự phát triển của trứng sán lá ruột lợn trong một số môi trường - Nghiên cứu sán lá ruột lợn trên địa bàn huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế và kết quả thử nghiệm một số thuốc tẩy trừ
Bảng 6. Sự phát triển của trứng sán lá ruột lợn trong một số môi trường (Trang 40)
Bảng 7: Sự phát triển của ấu trùng sán lá ruột trong ốc vật chủ trung gian - Nghiên cứu sán lá ruột lợn trên địa bàn huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế và kết quả thử nghiệm một số thuốc tẩy trừ
Bảng 7 Sự phát triển của ấu trùng sán lá ruột trong ốc vật chủ trung gian (Trang 43)
Bảng 8: Hiệu lực hai loại thuốc tẩy sán lá ruột lợn Tên thuốc Số - Nghiên cứu sán lá ruột lợn trên địa bàn huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế và kết quả thử nghiệm một số thuốc tẩy trừ
Bảng 8 Hiệu lực hai loại thuốc tẩy sán lá ruột lợn Tên thuốc Số (Trang 45)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w