Bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao hay còn gọi là bệnh cúm gà, là một bệnh truyền nhiễm cấp tính rất nguy hiểm đối với gà, vịt, ngan, ngỗng, gà tây, đà điểu, chim cút. Các loài chim cảnh và chim hoang dã nhất là vịt trời, diệc, ngỗng trời và đặc biệt là các loài thuỷ cầm nuôi (vịt, ngan, ngỗng) trước đây được coi là những vật mang trùng khoẻ mạnh. Người, một số loài động vật có vú như chó, mèo... cũng có thể bị bệnh cúm gia cầm. Bệnh do virus cúm gia cầm độc lực cao thuộc nhóm virus cúm A của họ Orthomyxoviridae gây ra, với đặc điểm lây lan rất nhanh và tỉ lệ chết rất cao trong quần thể gia cầm bị bệnh trong vòng 24 – 48 giờ sau khi nhiễm virus, gây thiệt hại rất lớn về kinh tế do phải tiêu huỷ gia cầm, cản trở sinh hoạt văn hoá, du lịch xã hội và là nguyên nhân gây bệnh nguy hiểm ở người. Bệnh cúm gia cầm đã xảy ra ở nhiều nước trên thế giới, trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam và có nguy cơ bùng phát đại dịch trong những năm tới do khả năng biến chủng và lây lan nhanh của virus cúm gia cầm. Ở Châu Á, cuối năm 2003 bệnh cúm gia cầm đã xảy ra trên diện rộng ở một số nước, bệnh xuất hiện đầu tiên ở Hàn Quốc từ đầu tháng 12/2003 sau đó xảy ra ở nhiều nước với tình hình diễn biến phức tạp. Đến cuối tháng 2/2004, đã có 11 nước và vùng lãnh thổ thông báo dịch là Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Việt Nam, Indonesia, Hồng Kông, Đài Loan, Pakistan với hơn 200 triệu gia cầm chủ yếu là gà bị chết và tiêu huỷ.
Trang 1PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Đặt vấn đề
Bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao hay còn gọi là bệnh cúm gà, là mộtbệnh truyền nhiễm cấp tính rất nguy hiểm đối với gà, vịt, ngan, ngỗng, gà tây,
đà điểu, chim cút Các loài chim cảnh và chim hoang dã nhất là vịt trời, diệc,ngỗng trời và đặc biệt là các loài thuỷ cầm nuôi (vịt, ngan, ngỗng) trước đâyđược coi là những vật mang trùng khoẻ mạnh Người, một số loài động vật có
vú như chó, mèo cũng có thể bị bệnh cúm gia cầm
Bệnh do virus cúm gia cầm độc lực cao thuộc nhóm virus cúm A của họOrthomyxoviridae gây ra, với đặc điểm lây lan rất nhanh và tỉ lệ chết rất caotrong quần thể gia cầm bị bệnh trong vòng 24 – 48 giờ sau khi nhiễm virus,gây thiệt hại rất lớn về kinh tế do phải tiêu huỷ gia cầm, cản trở sinh hoạt vănhoá, du lịch xã hội và là nguyên nhân gây bệnh nguy hiểm ở người
Bệnh cúm gia cầm đã xảy ra ở nhiều nước trên thế giới, trong khu vựcĐông Nam Á, Việt Nam và có nguy cơ bùng phát đại dịch trong những nămtới do khả năng biến chủng và lây lan nhanh của virus cúm gia cầm
Ở Châu Á, cuối năm 2003 bệnh cúm gia cầm đã xảy ra trên diện rộng ởmột số nước, bệnh xuất hiện đầu tiên ở Hàn Quốc từ đầu tháng 12/2003 sau đóxảy ra ở nhiều nước với tình hình diễn biến phức tạp Đến cuối tháng 2/2004,
đã có 11 nước và vùng lãnh thổ thông báo dịch là Hàn Quốc, Nhật Bản, TháiLan, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Việt Nam, Indonesia, Hồng Kông, ĐàiLoan, Pakistan với hơn 200 triệu gia cầm chủ yếu là gà bị chết và tiêu huỷ.Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, dịch cúm gia cầm xuất hiện vào cuốitháng 12/2003, bắt đầu từ các tỉnh Hà Tây, Long An và Tiền Giang sau lâylan sang cả nước Trong vòng hai tháng đã xuất hiện tại 2574 xã, phườngthuộc 381 quận, huyện, thị xã của 57 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu huỷ là 43,9 triệu con chiếm 16,9%tổng đàn trong đó gà có 30,4 triệu con và thuỷ cầm là 13,5 triệu con Ngoài racòn có 14,76 triệu con chim cút và các loài chim khác bị chết và tiêu huỷ
Trang 2Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã đưa ra cảnh báo rằng đại dịch cúm đangđến gần và nhiều khả năng là do một biến chủng mới của virus cúm gia cầm.
Để chuẩn bị kịp đối phó, các quốc gia đã vạch ra kế hoạch chi tiết khi đại dịchxảy ra Các biện pháp khẩn cấp có thể tiến hành là phân vùng, giới hạn sự lantruyền, tiêu huỷ và tiêm phòng vacxin đối với gia cầm Để việc phòng dịch cóhiệu quả thì việc theo dõi tình hình diễn biến của virus cúm gia cầm là rất
quan trọng Từ yêu cầu đó, chúng tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát tình hình cảm nhiễm virus cúm A và đánh giá đáp ứng miễn dịch niêm mạc ở gia cầm nuôi và giết mổ tại huyện Hương Thuỷ tỉnh Thừa Thiên Huế”.
1.2 Cơ sơ và ý nghĩa khoa học của đề tài
1.2.1 Cơ sở khoa học
Bệnh cúm gia cầm là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm không những đốivới động vật mà còn đối với cả con người Bệnh tiến triển dưới nhiều thể khácnhau: quá cấp tính, cấp tính, mãn tính, thể tiềm ẩn không điển hình Viruscúm hiện có 16 subtype H (H1 – H16) và 9 subtype N (N1 – N9) Trong mỗisubtype lại có nhiều chủng virus khác nhau
Virus cúm gà có trong hầu hết các cơ quan nội tạng của gà bị bệnh kể cảmáu, tuỷ xương, nước dãi, phân, lông (Cẩm nang phòng bệnh cúm gia cầmthể độc lực cao, 2007)
Phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu gián tiếp được sử dụng trong chẩnđoán bệnh virus như bệnh dịch tả lợn, là biến tướng của phương pháp ngưngkết hồng cầu gián tiếp do Scott và cộng sự mô tả lần đầu vào năm 1957 vàphương pháp ngăn trở ngưng kết hồng cầu do Sabin và Buescher mô tả lầnđầu tiên 1950 Tuy nhiên phối hợp mới chỉ được áp dụng với bệnh cúm giacầm trong thời gian gần đây (Phạm Hồng Sơn, 2004a)
1.2.2 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài phản ánh được tình hình nhiễm bệnh cúmgia cầm trong đàn gia cầm nuôi hiện nay ở tỉnh Thừa Thiên Huế, từ đó giúpnâng cao ý thức cho người chăn nuôi trong việc lựa chọn biện pháp phòngbệnh có hiệu quả đồng thời cảnh báo cho các cấp chính quyền và các cơ quan
Trang 3chuyên môn thực hiện tốt công tác chăn nuôi thú y để bảo vệ sức khoẻ đàn giacầm và sức khỏe con người.
Đánh giá khả năng đáp ứng miễn dịch niêm mạc chống virus cúm Atrên địa bàn huyện, thông qua đó đưa ra cơ sở để cơ quan thú y các cấp có kếhoạch tiêm phòng thích hợp nhằm duy trì tình trạng miễn dịch bảo hộ tốt chođàn gia cầm trên địa bàn
1.3 Mục tiêu và tính thực tiễn của đề tài
1.3.1 Mục tiêu của đề tài
Nắm được tỉ lệ nhiễm virus H5N1 ở gà và vịt
Đánh giá tình hình đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng
1.3.2 Đối tượng nghiên cứu
Mẫu dịch họng là loại bệnh phẩm có độ nhạy cao, cho kết quả đáng tin cậynhất khi xét nghiệm bằng phản ứng IHI (Hồ Quang Trung, 2006)
1.3.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu:
Từ 5/1/2009 đến 9/5/2009
Địa điểm nghiên cứu:
Phòng thí nghiệm vi sinh vật học, bộ môn ký sinh truyền nhiễm, khoaChăn nuôi thú y, trường Đại học Nông lâm Huế
Huyện Hương Thuỷ thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế
1.3.4 Tính thực tiễn của đề tài
Đề tài có tính thực tiễn cao vì vậy đáp ứng nhu cầu có phương pháp khảthi, rẻ tiền, nguyên liệu sẵn có và tính chủ động cao để chẩn đoán bệnh cúmgia cầm
Trang 4PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Giới thiệu chung về bệnh cúm gia cầm
2.1.1 Lịch sử tên bệnh
Dịch cúm gia cầm, tiếng Anh gọi là “Bird flu” hay “Avian ifluenza”, têngọi ám chỉ là dịch bệnh được phát hiện trong gia cầm như gà, vịt, chim tuygần đây người ta còn phát hiện ở beo, hổ, cầy hương Theo tổ chức thú y thếgiới (OIE), những virus có khả năng gây bệnh cúm gia cầm được chia làm hailoại là thể độc lực cao (HPAI) và thể độc lực thấp (LPAI)
Từ cuối năm 1870 đến 1981, bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao (HPAI) đượcbiết với nhiều tên gọi khác nhau, bao gồm dịch tả gà (fowl plague) hay fowl pest,peste aviaire geflugepest, typhus exudatious gallinarium, Brunswick bird plague,Brunswick disease, fowl disease và fowl grippe hoặc bird grippe Năm 1981,trong hội nghị chuyên đề về bệnh cúm gia cầm, thuật ngữ cúm gia cầm thể độclực cao (HPAI) đã được chính thức chấp nhận để đặt tên cho bệnh do virus cúm Agây ra trên gia cầm có tỉ lệ chết cao (Swayne và Halverson, 2003)
2.1.2 Bệnh cúm gia cầm trên thế giới và châu Á
Bệnh đầu tiên phát hiện ở Ý vào năm 1878 và virus bệnh nguyên đượcxác định vào năm 1955 Trong lịch sử bệnh giống như cúm lần đầu tiên đượcHippocrates mô tả rất kỹ vào năm 412 trước công nguyên và các ổ dịch giốngnhư dịch cúm từ năm 1173 đã được tác giả Hirsch tổng hợp một cách chi tiết(Cẩm nang phòng bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao, 2007)
Năm 1894, một vụ dịch cúm gia cầm thể độc lực cao xảy ra ở miền BắcItalia rồi lây lan sang cả Áo, Đức, Bỉ và Pháp Đầu thế kỷ 20, dịch cúm giacầm thể độc lực cao đã được thông báo ở Thụy Sỹ, Romani, Nga, Hà Lan,Hungary, Anh, Ai Cập, Trung Quốc, Nhật Bản, Brazil và Argentina Vào giữathế kỷ 20, bệnh đã xuất hiện ở hầu hết các nước Châu Âu, Nga, Bắc Phi,Trung Đông Châu Á, Nam và Bắc Mỹ Virus cúm gia cầm subtype H5 đãđược tìm thấy ở Canada vào năm 1966 và vùng Wisconsin thuộc nước Mỹnăm 1968 Từ năm 1977, nhiều subtype thuộc virus cúm A như H5 và H7 đã
Trang 5được phân lập và mô tả Trong năm 1972, virus cúm gia cầm đã được pháthiện từ vịt chạy đồng qua chương trình giám sát virus bệnh Newcastle và theodõi chim hải âu ở Australia Đầu năm 1996, bệnh cúm gia cầm được thôngbáo ở trên ngỗng Năm 1997, dịch xảy ra ở Hồng Kông được xác định là dovirus H5N1 gây ra đã phải tiêu huỷ khoảng 1,5 triệu con gà Đầu năm 2003,bệnh xảy ra ở Hà Lan rồi lây lan sang Đức và Bỉ làm hàng chục triệu gia cầm
bị chết và tiêu huỷ Ở châu Á, cuối năm 2003, bệnh xuất hiện đầu tiên ở HànQuốc sau đó xảy ra ở nhiều nước Đến cuối tháng 2/2004, đã có 11 nước vàvùng lãnh thổ công bố có dịch làm hơn 200 triệu gia cầm bị chết và tiêu huỷ.Đầu tháng 2/2004, dịch cúm gia cầm xảy ra ở Mỹ và Canada Tháng 7/2004,dịch bệnh lại bùng phát ở 2 tỉnh Thái Lan và một số thành phố ở Trung Quốc.Tháng 8/2004, người ta lại xác nhận sự xuất hiện dịch ở Malaysia Tại Nam
Mỹ, vào cuối tháng 2/2004, virus chủng H7N3 đã được phân lập tại nông trạiBritish Colombia Từ đầu tháng 1/2007 đến tháng 7/2007, theo thông báo của
tổ chức y tế thế giới (WHO) dịch cúm gia cầm thể độc lực cao đã xảy ra tại 28nước và vùng lãnh thổ thế giới trong đó có Việt Nam Tổng số gia cầm mắcbệnh và tiêu huỷ là hơn 15 triệu con (Nguyễn Ngọc Tiến, 2007)
Năm 2008, dịch cúm gia cầm trên gia cầm phát ra ở 22 quốc gia và vùnglãnh thổ trong đó có Việt Nam Đầu năm 2009, nhiều quốc gia và vùng lãnhthổ thông báo có dịch cúm gia cầm như: Canada, Đức, Ba Lan, Nepal, Ấn Độ,
Ai cập, Bangladesh, Indonesia, Trung Quốc Riêng tại Trung Quốc đã có 7 canhiễm virus cúm trên người (Cục thú y, 2009)
2.1.3 Tình hình bệnh cúm gia cầm ở Việt Nam
Diễn biến tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam từ cuối năm 2003 đếnnay có thể chia làm nhiều giai đoạn:
Từ cuối tháng 12/2003 đến hết tháng 1/2004:
Dịch cúm gia cầm xuất hiện từ cuối tháng 12/2003 tại trại gà giống củacông ty CP ở Hà Tây Cùng thời gian này, dịch xảy ra ở 2 tỉnh Tiền Giang vàLong An Ngay sau đó, dịch đã lây lan ra tất cả các huyện của hai tỉnh này,đồng thời dịch lây lan nhanh sang các tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Bến Tre,Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang
Trang 6Giữa tháng 1/2004 dịch xảy ra ở TP Hồ Chí Minh và các tỉnh miền ĐôngNam Bộ như Bình Dương, Tây Ninh, Đồng Nai; đồng thời ở miền Bắc dịchcũng xuất hiện ở các tỉnh và thành phố: Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định, Sơn
La, Hoà Bình, Thanh Hoá, Hà Nam, Phú Thọ; tiếp đó là các tỉnh miền Trung
và Tây Nguyên
Đợt cao điểm từ 1/2 đến 10/2/2004:
Trong những ngày đầu tháng 2 dịch bùng phát rất nhanh, xảy ra trên qui môlớn và diễn biến rất phức tạp Bình quân mỗi ngày có khoảng 150 – 230 xã, 15 –
20 huyện phát sinh ổ dịch mới trên phạm vi cả nước; ngày cao điểm nhất có 267
xã, 20 huyện thị xã mới phát sinh dịch Số gia cầm tiêu huỷ hàng ngày từ 2 – 3triệu con, ngày cao điểm nhất phải tiêu huỷ 4 triệu con (Văn Đăng Kỳ, 2008)
Từ 11/2 đến 27/2/2004:
Từ 11/2 đến 20/2, dịch có chiều hướng giảm dần, không có huyện, tỉnh phátsinh ổ dịch Từ 21/2 dịch cơ bản đã được khống chế, chỉ phát sinh thêm một vàithôn ấp của một số xã đã phát dịch trước đây, số gia cầm tiêu huỷ giảm rỏ rệt.Tính đến ngày 27/2, dịch bệnh đã xảy ra ở 2574 xã, phường; 381 huyện, thịthuộc 57 tỉnh, thành phố, trong đó: toàn bộ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long,Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Hồng đã xảy ra dịch (Văn Đăng Kỳ, 2008)
Tình hình dịch cúm gia cầm trong năm 2005 và 2006:
Đợt dịch thứ 1: từ ngày 1/1đến 29/4 dịch đã xảy ra ở 670 xã, tại 182huyện thuộc 35 tỉnh phía Bắc, 20 tỉnh phía Nam Số gia cầm mắc bệnh, chết,tiêu huỷ là 1847213 con trong đó 470495 gà; 825689 vịt ngan và 551029chim cút
Đợt dịch thứ 2: từ ngày 29/6 đến 23/8 dịch xảy ra ở 14 xã, 12 huyện
thuộc 8 tỉnh, thành phố Số gia cầm tiêu huỷ là 12164 con trong đó gà là 5249
con, vịt và ngan là 6870 con
Đợt thứ 3: từ ngày 1/10 đến 15/12, dịch đã tái phát và xuất hiện ở 305
xã, phường, thị trấn của 108 quận, huyện, thị xã của 24 tỉnh, thành phố Tổng
số gia cầm ốm chết, tiêu huỷ là 3972943 con, trong đó có 1338523 gà,
2135166 vịt, ngan và 499304 chim cút, bồ câu, chim cảnh
Trang 7 Đợt dịch cuối năm 2005: do chúng ta mới bắt đầu triển khai tiêm phòngvacxin, dịch xảy ra chủ yếu trên đàn gia cầm chăn nuôi nhỏ lẻ, chưa đượctiêm phòng hoặc chỉ mới tiêm được một mũi nên chưa có miễn dịch bảo hộ.
Năm 2006 ở cả 3 miền không xảy ra dịch, do sự chỉ đạo quyết liệt củaChính Phủ, Ban chỉ đạo quốc gia và hiệu quả chiến dịch tiêm phòng năm
2005 và đợt 1 năm 2006 (Văn Đăng Kỳ, 2008)
Tình hình dịch cuối năm 2006 đầu năm 2007:
Các ổ dịch chủ yếu xảy ra trên đàn vịt chăn nuôi nhỏ lẻ, dưới 3 thángtuổi, ấp nở trái phép và chưa được tiêm phòng vacxin Trừ Cà Mau, Bạc Liêu,
ở các địa phương khác dịch lây lan chậm, qui mô dịch nhỏ, được bao vây dậptắt do địa phương chủ động phát hiện dịch và tiêm phòng tốt
Đợt 1: từ ngày 6/12/2006 đến 7/3/2007 dịch đã xảy ra trên 83 xã,phường của 33 huyện, quận thuộc 11 tỉnh, thành phố Tổng số gia cầm mắcbệnh, chết, tiêu huỷ là 103094 con, trong đó gà 13622 con, vịt, ngan là 89472con, hai tỉnh bị nặng là Cà Mau và Bạc Liêu, còn ở các tỉnh khác dịch xảy ra
ở 1 hoặc 2 hộ chăn nuôi được phát hiện sớm và dập tắt nhanh chóng
Đợt 2: từ 1/5 đến 23/8/2007 dịch xảy ra ở 167 xã, phường của 70 huyện, thịthuộc 23 tỉnh, thành phố Tổng gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu huỷ là 294894 con.Dịch xảy ra nặng ở Nghệ An, Nam Định và Điện Biên (Văn Đăng Kỳ, 2008)
Tình hình dịch từ trong năm 2008:
Dịch cúm gia cầm xuất hiện tại 80 xã thuộc 54 huyện quận, thị xã của 27tỉnh, thành phố Tổng số gia cầm chết và tiêu huỷ là 106508 con Dịch chỉxuất hiện tại các điểm dịch ở những đàn gia cầm có quy mô từ 100 – 2000con không được tiêm vacxin (44,59%) hoặc đàn gia cầm mới tiêm phòng mộtmũi (16,21%) và ổ dịch trên thuỷ cầm chiếm 52,71% (Cục thú y, 2009)
Tình hình dịch từ đầu năm 2009:
Từ đầu năm đến ngày 15/02/2009, dịch cúm gia cầm đã xuất hiện tại 31
xã thuộc 16 huyện thuộc 9 tỉnh: Thanh Hoá, Thái Nguyên, Cà Mau, SócTrăng, Nghệ An, Hậu Giang, Quảng Ninh, Bắc Ninh và Quảng Trị Tổng số
Trang 8gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu huỷ là 31815 con trong đó gà là 11499 con, vịt
là 21018 con và ngan là 298 con Cụ thể:
Thái Nguyên: từ ngày 28/12/2008 đến 4/1/2009, dịch xảy ra ở 3 hộ chănnuôi ở xã Lương Sơn, thành phố Thái Nguyên với 2084 con gà, vịt, ngan mắcbệnh và tiêu huỷ
Thanh Hoá: dịch cúm gia cầm được phát hiện vào ngày 2/1/2009 ở xãĐiền Trung huyện Bá Thước, số gia cầm mắc bệnh và tiêu huỷ là 8835 con
Cà Mau: dịch cúm gia cầm được phát hiện vào ngày 15/1/2009 ở xãKhánh Bình huyện Trần Văn Thời Tính đến ngày 15/02/2009, dịch đã xảy ra
ở 19 ấp của 11 xã thuộc 6 huyện và thành phố Số gia cầm mắc bệnh, chết vàtiêu hủy là 7677 con
Nghệ An: ngày 3/2/2009 dịch cúm xảy ra trên một đàn vịt 500 con ở xãMinh Sơn huyện Đô Lương Toàn bộ đàn được tiêu huỷ
Sóc Trăng: dịch cúm được phát hiện vào ngày 3/2/2009 tại ấp Viên Bìnhthuộc huyện Mỹ Xuyên Tính đến 15/2/2009, dịch đã xảy ra ở 8 ấp của 4 xãthuộc 2 huyện Mỹ Xuyên và Ngã Năm Số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêuhuỷ là 5971 con trong đó có 5868 con vịt và 103 gà
Hậu Giang: dịch cúm được phát hiện vào ngày 9/2/2009 ở 3 xã và thịtrấn Tính đến ngày 15/2/2009, dịch cúm đã xảy ra ở 9 xã thuộc 2 huyện VịThuỷ và Long Mỹ, số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu huỷ là 4490 con (180 gà
và 4310 vịt)
Quảng Ninh: dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 9 hộ gia đình tại thôn NàCáng của xã Quảng An, huyện Đầm Hà làm chết 155 con trên tổng số 230con gia cầm
Bắc Ninh: ngày 8/2/2009 dịch cúm đã xảy ra trên đàn gia cầm thuộc 2 hộ
ở thôn An Đông xã Lạc Vệ của huyện Tiên Du Số gia cầm mắc bệnh là 387con vịt trong tổng số 1820 con vịt Toàn bộ số gia cầm trên đã bị tiêu huỷ.Quảng Trị: dịch cúm được phát hiện vào ngày 9/2/2009 tại thôn TườngVân xã Triệu An huyện Triệu Phong Tính đến ngày 15/2/2009, dịch đã xảy
Trang 9ra ở 2 xã thuộc huyện Triệu Phong Tổng số gia cầm ốm, chết và tiêu huỷ là
1200 con vịt
Tại Việt Nam, tính từ đầu năm 2009 đến nay có 2 ca nhiễm cúm tạiThanh Hoá và Quảng Ninh (Cục thú y, 2009)
2.2 Đặc điểm virus học mầm bệnh cúm gia cầm
2.2.1 Cấu trúc chung của virus
Virus cúm gia cầm là một thành viên thuộc họ Orthomyxoviridae Họ
này gồm có 5 chi: A, B, C, Thogotovirus và Isavirus Trong đó, Influenza virus A, B, C gây nhiễm cho bệnh cúm; Thogotovirus do virus truyền qua ve thường gây nhiễm cho các loài có vú; Isavirus gây bệnh thiếu máu truyền
nhiễm cho cá hồi Virus thuộc họ Orthomyxoviridae có đặc tính cấu trúcchung là hệ gen chứa axit ribonucleic (ARN) một sợi, có cấu trúc là sợi âmđược kí hiệu là ss(-)RNA (negative single stranded ARN) Sợi âm ARN của
hệ gen có độ dài từ 10000 – 15000 nucleotid, mặc dù nối với nhau thành mộtsợi ARN liên tục, nhưng hệ gen lại chia thành 6 – 8 phân đoạn (segment), mỗiphân đoạn là một gen chịu trách nhiệm mã hoá cho mỗi loại proteine củavirus (Lê Thanh Hoà, 2004)
Hạt virus (virion) có cấu trúc hình khối, đôi khi có dạng hình khối kéodài, đường kính khoảng 80 – 120 nm
Vỏ virus có bản chất là proteine, có nguồn gốc từ tế bào mà virus đã gâynhiễm, bao gồm một số proteine được glycosyl hoá (glycoproteine) và một sốproteine dạng trần không được glycosyl hoá
Proteine bề mặt có cấu trúc từ các loại glycoproteine, trong đó là nhữnggai, mấu có độ dài 10 – 14 nm, đường kính 4 – 6 nm
Nuclecapsid bao bọc lấy lõi virus là tập hợp của nhiều proteine phânđoạn, cấu trúc đối xứng xoắn, kích thước 130 – 150 nm, tạo vòm (loop) ở giớihạn của mỗi phân đoạn và liên kết với nhau qua cầu nối các peptid
Trang 102.2.1.1 Hình thái và cấu trúc
Vỏ bọc virus là glycoproteine có các kháng nguyên bề mặt như: loạiproteine gây ngưng kết hồng cầu có tên gọi là Haemagglutinin (HA) và loạiproteine có chức năng là một loại enzym phá huỷ thụ thể của virus có tên gọi
là Neuraminidae (NA) Chúng là glycoproteine riêng biệt
Hình 1: Virus cúm gia cầm dưới kính hiển vi điện tử
Hình 2: Cấu trúc virus cúm A
Trang 11Hạt virion có cấu trúc là axit ribonucleic, là một sợi đơn có độ dài 13500nucleic chứa 8 phân đoạn kế tiếp nhau mã hoá cho 10 loại proteine khác nhaucủa virus: HA, NA, NP, M1, M2, PB1, PB2, PA, NS1 và NS2 Đoạn ARN cótrọng lượng nhỏ nhất mang mật mã cho 2 loại không có cấu trúc proteine làNS1 và NS2 chúng dễ dàng tách được ở các tế bào bị nhiễm Tất cả 8 đoạncủa sợi ARN có thể tách và phân biệt dễ dàng qua phương pháp điện di.
3 phân đoạn lớn đầu tiên mã hoá cho 3 loại proteine PB1, PB2 và PA(RNA polymerase) Các proteine này có vai trò tổng hợp axit ribonucleicnguyên liệu cho hệ gen và các ARN thông tin tổng hợp proteine của virus
Phân đoạn 4 mã hoá cho proteine Haemagglutinin (HA) là một proteine
bề mặt cắm gốc vào bên trong, có chức năng bám dính vào thụ thể của tế bào,
có khả năng gây ngưng kết hồng cầu, có khả năng hợp nhất vỏ virus với màng
tế bào nhiễm và tham gia vào phản ứng trung hoà virus HA là polypeptidgồm 2 chuỗi HA1 và HA2 nối với nhau bằng oligopeptid ngắn, thuộc loạihình mô típ riêng đặc trưng cho các subtype H (H1 – H16) trong tái tổ hợp tạonên biến chủng Mô típ của chuỗi oligopeptid này chứa một số axit amin cơbản làm khung, thay đổi đặc hiệu theo từng loại hình subtype H Sự thay đổithành phần của chuỗi nối quyết định độc lực của virus thuộc biến chủng mới
Phân đoạn 5 mã hoá cho proteine Nucleoproteine (NP) một loạiproteine được photphoryl hoá, có biểu hiện tính kháng nguyên đặc hiệu theonhóm (group-specific) tồn tại trong hạt virion ở dạng liên kết với mỗi phânđoạn ARN nên NP còn được gọi là Ribonucleoproteine
Proteine enzym Neuraminidae (NA) do phân đoạn 6 mã hoá, có chứcnăng là một enzym phân cắt HA sau khi virus vào bên trong tế bào nhiễm
Phân đoạn 7 mã hoá cho 2 tiểu phần proteine đệm (Matrix proteine) M1
và M2 là proteine màng không được glycosyl hoá, có vai trò làm đệm bao bọcARN hệ gen M1 có vai trò tham gia vào quá trình tổng hợp và nảy mầm củavirus Còn M2 có chức năng tạo khe H+ giúp cởi bỏ virus sau khi xâm nhậpvào tế bào cảm nhiễm
Trang 12 Phân đoạn 8 có độ dài ổn định (890 nucleotid) mã hoá cho 2 tiểu phầnproteine cấu trúc NS1 và NS2 có chức năng chuyển ARN từ nhân ra kết hợpvới M1, kích thích phiên mã và chống interferon.
2.2.1.2 Thành phần hoá học của virus
ARN của virus chiếm 0,8 – 1,1%; proteine chiếm 70 – 75%; lipid chiếm 20 –24%; hidratcacbon chiếm 5 – 8% khối lượng hạt virus Lipid tập trung ở màngvirus chủ yếu là lipid có gốc phosphor, số còn lại là cholesterol, glucolipid và một
ít hydrate carbon gồm các loại galactose, ribose, fructose, glucosamin Thànhphần proteine chính của virus chủ yếu là glycoproteine (Lê Văn Năm, 2004)
2.2.2 Quá trình tái sản của virus
Murphy và cs (1987), Kingsbury (1985) đã mô tả quá trình sinh sản củavirus như sau:
Virus xâm nhập vào tế bào nhờ proteine HA thông qua hiện tượng ẩm bào(endocytosis) qua cơ chế trung gian tiếp hợp thụ thể Thụ thể liên kết tế bàocủa virus cúm có bản chất là axit sialic cắm sâu vào glycproteine hayglycolipit của vỏ virus Trong khoang ẩm bào, khi nồng độ pH được điều hoà
để giảm xuống mức thấp nhất sẽ xảy ra quá trình hợp nhất màng tế bào vàvirus Sự hợp nhất này phụ thuộc vào sự cắt rời proteine HA nhờ enzymepeptidase và enzyme protease của tế bào Lúc này nucleocapsid của virus đivào trong nguyên sinh chất rồi vào trong nhân tế bào, chuẩn bị quá trình tổnghợp ARN nguyên liệu hệ gen cho các virion mới
Hệ thống enzyme sao chép của virus ngay lập tức tạo nên các ARN hệ genđược mã hoá ở 10 – 13 nucleotit đầu 5’ với nguyên liệu mã hoá lấy từ ARN tếbào, nhờ vào hoạt tính enzyme PB2 của virus ARN thông tin của virus saochép trong nhân được chuyển vận ra nguyên sinh chất, được ribosome trợgiúp tổng hợp nên proteine cấu trúc và proteine nguyên liệu Proteine H, N,M2 ở lại trong nguyên sinh chất, được vận chuyển thông qua hệ thống võngmạc nội bào và hệ Golgi sau đó được cắm lên màng tế bào nhiễm ProteineNS1, NP, M1 được chuyển vận vào nhân để bao bọc nguyên liệu ARN hệ genmới được tổng hợp
Trang 13Song song với quá trình sao chép ARN thông tin và tổng hợp proteine cấutrúc, proteine nguyên liệu, virus tiến hành tổng hợp nguyên liệu di truyền làcác sợi ARN mới Từ sợi ARN âm đơn của virus ban đầu, một sợi dươngARN toàn vẹn được tạo ra theo cơ chế bổ sung, sợi dương mới này lại làmkhuôn để tổng hợp nên sợi âm ARN mới làm nguyên liệu Các sợi âm ARNmới, một số vừa làm nguyên liệu để lắp ráp virion mới, số khác lại làm khuôn
để tổng hợp ARN theo cơ chế như với sợi ARN của virus đầu tiên Các sợiARN hệ gen được tạo ra là một sợi hoàn chỉnh về độ dài và được các proteineđệm (NS1, M1, NP) bao gói tạo nên ribonucleocapsid (nucleoriboproteine)ngay trong nhân tế bào nhiễm, sau đó được chuyển vận ra nguyên sinh chấtrồi được chuyển vận đến vị trí màng tế bào có sự biến đổi đặc hiệu với virus
Sự kết hợp cuối cùng của tổ hợp nucleoriboproteine với các proteine cấutrúc (HA, NA, M2) tạo nên các hạt virion hoàn chỉnh mới và được giải phóng
ra khỏi tế bào nhiễm theo hình thức nảy chồi
2.2.3 Sự biến đổi gen di truyền của virus cúm
Virus cúm luôn biến đổi về gen di truyền tạo ra những chủng virus mới
Có hai khả năng biến đổi của virus cúm đó là: đột biến điểm và đột biến do tái
tổ hợp
Đột biến điểm (còn gọi là đột biến ngẫu nhiên hoặc hiện tượng trôi trượthoặc lệch lạc về kháng nguyên – antigenic drift) Đột biến điểm là kiểu độtbiến xảy thường xuyên đặc biệt là kháng nguyên H và kháng nguyên N Hàngnăm có thể phát hiện những thay đổi nhỏ về trình tự nucleotid của gen mã hóacho kháng nguyên H và kháng nguyên N của một virus cúm Hiệu quả củabiến dị điểm là ở chổ nếu như quá trình dập dịch không triệt để, virus vẫn tồntại trong đàn gia cầm và biến đổi
Đột biến do tái tổ hợp (còn gọi là đột biến thay đổi bản chất khángnguyên – antigenic shift) đột biến này là sự tái tổ hợp di truyền xảy ra định kìtrong đó có sự sắp xếp lại các nucleotic do sự trộn lẫn 2 bộ gen của 2 viruscúm khác nhau Điều đó tạo nên những sai khác về bộ gen của virus đời con
so với virus đời bố mẹ Khi nhiều virus khác nhau cùng xâm nhập vào một tếbào chủ, các thế hệ của virus được sinh ra sau có thể được sinh ra từ sự tái tổ
Trang 14hợp của các gen của bố mẹ Do kiểu gen của virus cúm type A gồm 8 phânđoạn nên từ hai virus bố mẹ có thể xuất hiện 256 tổ hợp của các virus thế hệsau (Chu Thị Thơm, 2006).
2.2.4 Sức đề kháng của virus
Virus cúm gà có trong hầu hết các cơ quan nội tạng của gà bị bệnh kể cảmáu, tuỷ xương, nước dãi, phân, lông
Điều kiện ngoại cảnh có ảnh hưởng rõ rệt đến sức đề kháng của virus cúm
gà Virus thường sống lâu hơn trong không khí có độ ẩm tương đối thấp,trong phân ở điều kiện nhiệt độ thấp và độ ẩm cao
Virus có thể sống lâu trong chuồng gà tới 35 ngày, trong phân gia cầmbệnh đến 3 tháng
Virus cúm dễ dàng bị tiêu diệt ở nhiệt độ 60 – 70 oC trong 5 phút Trong tủlạnh và tủ đá virus sống được hàng tháng
Những chất sát trùng thông thường đều diệt được virus cúm gia cầm như:xút 2%, formol 3%, crezyl 5%, chloraminB 3%, cồn 70 – 90o, vôi bột hoặcnước vôi 10%, nước xà phòng đặc Người ta có thể sử dụng các chất này đểtổng tẩy uế chồng trại, dụng cụ chăn nuôi và các thiết bị chăn nuôi khi cơ sở
bị đe dọa (Cẩm nang phòng bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao, 2007)
2.2.5 Độc lực của virus
Virus cúm gia cầm trong thời gian lưu hành có thể chia làm hai nhóm: thểđộc lực cao (HPAI – highly pathogenic avian influenza) và thể độc lực thấp(LPAI – low pathogenic avian influenza) Các loài chim hoang, mang trùng ởthể độc lực thấp nhưng sau một thời gian lưu hành trong đàn gia cầm sẽ biếnđổi thành loại bệnh ở thể độc lực cao (HPAI) gây nên tỉ lệ ốm và tỉ lệ chết cóthể lên đến 100%
Tất cả các virus thuộc họ Orthomyxoviridae và tất cả các phân nhóm viruscúm A đều có thể gây nhiễm cho các loài chim Chi virus cúm nhóm A đượcchia thành các phân nhóm dựa vào các proteine kháng nguyên bề mặt làkháng nguyên H (Haemagglutinin) và kháng nguyên N (Neuraminidae) Hiệnnay có 16 subtype H (từ H1 đến H16) và 9 subtype N (từ N1 đến N9), như
Trang 15vậy tổ hợp lại hai loại kháng nguyên này có thể tạo ra 256 phân nhóm viruscúm gia cầm khác nhau Ở gia cầm, chỉ có subtype H5 và H7 của virus AI làgây bệnh ở thể độc lực cao.
Người ta lo ngại rằng các loại virus cúm gia cầm có thể chuyển đổi tínhkháng nguyên để có khả năng vượt qua các rào cản khác loài (từ gia cầm có thểlây sang người) Các trường hợp nhiễm bệnh gần đây ở người do virus cúm gàH5N1, H9N2 và H7N7 đã làm cho người ta nghĩ nhiều đến nguy cơ xuất hiệnliên tục các chủng virus cúm gà mới từ các nguồn tàng trữ virus trong tự nhiên
Sự nhân lên của các chủng virus cúm gia cầm trên con người bị hạn chế và khókhăn chủ yếu là do các virus cúm này không khớp với các thụ cảm quan trên bềmặt tế bào của người và trong đường hô hấp của người có các chất ức chế virusngoại bào Bằng cách sử dụng các loại tế bào biểu mô khác nhau của đường hôhấp, các nhà khoa học Nhật Bản gần đây đã chứng minh được rằng các viruscúm thâm nhập vào mô đường hô hấp thông qua các tế bào đích đặc biệt và có
sự khác nhau đáng kể về khả năng này giữa virus cúm gia cầm và virus cúmngười Khi gây nhiễm lần đầu tiên, các virus cúm người ưa gây nhiễm các tếbào không có lông, trong khi đó các virus cúm gia cầm cũng giống như cácbiến chủng của virus cúm người đã được thích ứng trên trứng gà với tính đặchiệu của các thụ cảm quan giống như virus cúm gà lại chủ yếu gây nhiễm các
tế bào có lông Mặc dù các virus cúm gà có thể gây nhiễm các tế bào trênđường hô hấp của con người nhưng sự nhân lên của chúng trên các tế bào ấy lại
bị hạn chế do tính hướng tế bào không tối ưu (Chu Thị Thơm, 2006)
2.2.6 Nuôi cấy và lưu giữ virus cúm
Phần lớn các chủng virus có thể phát triển ổn định ở trứng gà có phôi hoặc
ở các loại tế bào mầm Đây là điểm quan trọng để nhân giống virus trongphòng thí nghiệm để nghiên cứu, bảo tồn cũng như để sản xuất vacxin Viruscúm type A chỉ phát triển trong môi trường tế bào không có huyết thanh chứatrypsin Một số hệ thống tế bào, kể cả dòng tế bào MDCK (Maxdin DarbyCanine Kidney) cần được nuôi cấy trong môi trường không có huyết thanh cóchứa trypsin để tách các proteine HA của virus giúp cho việc hình thành các
“khuẩn lạc” (hay plaque – “nốt điểm”) Ngược lại một số loại môi trường tế
Trang 16bào như tế bào gan HepG2 của người, tế bào thận phôi lợn ESK và tế bàothận gà CK đã được chứng minh là chứa nhiều hứa hẹn và nhạy cảm hơn vớivirus cúm (Cẩm nang phòng chống bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao, 2007).
2.3 Miễn dịch học chống bệnh cúm gia cầm
Hệ thống miễn dịch đóng vai trò quan trọng trong phòng chống bệnh ở giasúc, gia cầm, giúp cơ thể động vật có khả năng chống lại sự xâm nhập củamầm bệnh ở một mức độ nhất định
Miễn dịch (immunity) là khả năng của cơ thể không cảm thụ đối với mộttác nhân có hại cho cơ thể (trong đó có vi sinh vật gây bệnh) ở một mức độnhất định Những yếu tố bảo vệ cơ thể chống cảm nhiễm mầm bệnh cúm gàbao gồm nhiều yếu tố bên ngoài và bên trong cơ thể Có thể chia các yếu tốthành hai nhóm, miễn dịch đặc hiệu và miễn dịch không đặc hiệu (PhạmHồng Sơn và Bùi Quang Anh, 2006)
2.3.1 Miễn dịch không đặc hiệu
Miễn dịch không đặc hiệu (còn gọi là miễn dịch bẩm sinh hay là miễndịch tự nhiên) là sức đề kháng bẩm sinh thường là thuộc tính chung củaloài Ở gia cầm, hàng rào vật lý như da hoặc hệ thống lông nhầy bìnhthường sẽ ngăn cản tác nhân gây bệnh vào cơ thể Đối với mầm bệnh lầnđầu tiên xâm nhập vào cơ thể, sự phòng thủ đầu tiên của kí chủ sẽ do cơchế miễn dịch tự nhiên như tế bào thực bào, bổ thể và các tế bào diệt tựnhiên (NK) quyết định
Các bổ thể, interferon là những phần quan trọng và nhạy cảm của hệthống phòng thủ thể dịch không đặc hiệu chống lại mầm bệnh hiện diệntrong huyết tương của động vật Bổ thể có tác dụng làm tan màng vi khuẩn,làm tăng khả năng thực bào nhờ oposin hoá Interferon (IFN) do nhiều loại
tế bào tiết ra nhưng nhiều nhất là tế bào diệt tự nhiên (NK) Khi interferonđược sản sinh ra nó gắn vào tế bào bên cạnh và cảm ứng tế bào đó sản sinh
ra proteine kháng virus làm cho virus xâm nhập vào trong tế bào nhưngkhông nhân lên được
Trang 17Các tế bào tham gia vào quá trình thực bào bao gồm:
Tiểu thực bào, quan trọng nhất là bạch cầu đa nhân trung tính chiếm 60 –70% tổng số bạch cầu trong máu ngoại vi, nó thực bào những phân tử nhỏ và
vi khuẩn ngoài tế bào
Đại thực bào là tế bào lớn có khả năng thực bào, khi được hoạt hoá nó sẽnhận biết và loại bỏ các vật lạ, ngoài ra nó giữ vai trò quan trọng trong sựtrình diện kháng nguyên với tế bào T và kích thích tế bào T sản sinh ra IL1.Những tế bào diệt tự nhiên của gia cầm là tế bào lympho hạt lớn và gâynên sự phá huỷ các tế bào đích gắn kháng thể Ở gia cầm, tế bào diệt tự nhiên
có thể tái tạo ở nhiều nơi như lách, máu và ruột là một phần của hệ thốngphòng vệ (Tô Long Thành, 2009)
2.3.2 Miễn dịch đặc hiệu
Miễn dịch đặc hiệu (còn gọi là miễn dịch tiếp thu) là trạng thái miễn dịchxuất hiện trong quá trình sinh sống của cá thể sau khi cá thể tiếp xúc với mầmbệnh hoặc thành phần của mầm bệnh và có phản ứng sinh kháng thể chống lạichúng Kháng thể đặc hiệu có thể là dịch thể hoặc tế bào (tế bào lympho Tmẫn cảm) Miễn dịch đặc hiệu được chia làm hai nhóm: miễn dịch dịch thể vàmiễn dịch qua trung gian tế bào (Phạm Hồng Sơn và Bùi Quang Anh, 2006)
2.3.2.1 Miễn dịch dịch thể
Miễn dịch dịch thể do các tế bào lympho B đảm nhiệm, các lympho bàobắt nguồn từ tế bào nguồn tuỷ xương đi tới túi Fabricius Ở đây chúng đượcbiệt hoá để trở thành các lympho B, sau đó di chuyển đến các cơ quan lymphongoại biên
2.3.2.2 Miễn dịch qua trung gian tế bào
Quá trình đáp ứng miễn dịch đặc hiệu qua trung gian tế bào do tế bàolympo T đảm nhiệm Các lympo bào bắt nguồn từ tuỷ xương di chuyển đếntuyến ức, tại đây chúng được huấn luyện và biệt hoá để thành tiền lympo T,rồi chuyển thành lympo T chưa chín, rồi thành lympo T chín Từ tuyến ứcchúng di chuyển đến các cơ quan lympo ngoại biên như các hạch lâm ba, cácmảng payer ở ruột hoặc tới lách Khi đại thực bào đưa thông tin đến các
Trang 18lympho T rồi thành tế bào mẫn cảm với kháng nguyên có chức năng như mộtkháng thể đặc hiệu gọi là kháng thể tế bào.
Sự hình thành kháng thể và quá trình đáp ứng miễn dịch phụ thuộc vàorất nhiều yếu tố như trạng thái sức khoẻ của cơ thể, điều kiện ngoại cảnh, sựchăm sóc nuôi dưỡng nhưng quan trọng hơn cả là phụ thuộc vào bản chấtkháng nguyên
Bản chất kháng nguyên: kháng nguyên có bản chất proteine và có tínhkháng nguyên cao sẽ sinh kháng thể đặc hiệu
Đường xâm nhập kháng nguyên: tốt nhất là dưới da hoặc trong bắp thịt
Liều lượng kháng nguyên: khi đưa vào một liều lượng vừa đủ sẽ kíchthích cơ thể sinh miễn dịch ở mức độ tối đa mà không gây ức chế hay tê liệtmiễn dịch
Số lần đưa kháng nguyên vào cơ thể: tiêm nhắc lại vacxin có tác dụngtốt, kháng thể sinh ra nhiều hơn và duy trì được lâu hơn
Chất bổ trợ: chất bổ trợ khi đưa vào vacxin với mục đích giữ và duy trìlượng kháng nguyên lâu trong cơ thể nhờ đó tạo ra kích thích liên tục, đều đặnlên các cơ quan có thẩm quyền miễn dịch tạo kháng thể ở mức cao và duy trìlâu hơn Những chất bổ trợ thường dùng là keo phèn, nhũ tương, dầu khoánghoặc dầu thực vật
2.4 Dịch tễ học bệnh cúm gia cầm
2.4.1 Động vật cảm nhiễm
Các virus cúm gà có thể gây nhiễm cho rất nhiều loài cầm khác nhau, baogồm: các loài chim sống tự do, các chim cảnh, vịt nhà, gà, gà tây và các loạigia cầm khác (Alexander, 2007)
Virus cúm gà có thể gây bệnh cho các loài động vật có vú như lợn, ngựa,
và kể cả con người
Lợn mắc bệnh cúm thường do subtype H1N1, H3N3 Người ta giả thiếtrằng lợn đóng vai trò là nơi tái tổ hợp các virus khác nhau để tạo thành chủngvirus mới gây bệnh cho gia cầm và con người Năm 1983, Halverson thông
Trang 19báo đã phân lập virus H1N1 gây cúm lợn và từ lợn lây sang gà tây, tạo thànhdịch cúm gà tây (Phạm Sỹ Lăng, 2002).
Vịt nuôi bị nhiễm virus cúm nhưng ít có triệu chứng lâm sàng hoặc chết dovịt có sức đề kháng với virus gây bệnh kể cả thể độc lực cao gây bệnh nặng ở
gà và gà tây Tuy nhiên, năm 1961 ở Nam Phi người ta đã phân lập được viruscúm type A (H5N1) gây bệnh cho cả gà và vịt
Loài chồn cảm nhiễm cao với virus cúm Trong một ổ dịch tại một trạinuôi chồn ở Thụy Điển, đã phân lập được virus cúm type A (H4N1) Phântype này cũng đang lưu hành trong quần thể gia cầm (Bùi Quang Anh, 2004)
2.4.2 Động vật mang virus
Hầu hết các loài chim hoang dã như: vịt trời, thiên nga, hải cẩu, vẹt, mòngbiển, diều hâu, chim sẻ đều mang virus cúm Tuy nhiên, tần suất và sốlượng virus cúm phân lập ở các loài thuỷ cầm cao hơn ở các loài khác Kếtquả điều tra thuỷ cầm di trú ở Bắc Mỹ cho thấy trên 60% chim con bị nhiễmvirus do tập hợp đoàn trước khi di trú Trong các loài thuỷ cầm di trú thì vịttrời có tỉ lệ nhiễm cao hơn các loài khác (Bùi Quang Anh, 2004)
Ở các loài chim hoang dã mà đặc biệt là vịt trời có sự kết hợp các khángnguyên bề mặt H và N của các subtype virus cúm A Những virus này khônggây độc với vật chủ, chúng được nhân lên ở đường ruột khiến cho các loàinày mang virus và là nguồn gieo rắc mầm bệnh cho các loài khác đặc biệt làgia cầm
Vịt nuôi có thể là nguồn tàng trữ thầm lặng đối với virus cúm H5N1 gâybệnh thể độc lực cao cho gà vì vật nuôi nhiễm virus, gà bệnh bài thải mộtlượng virus xấp xỉ nhau nhưng ở vịt nuôi không thể hiện các triệu chứng lâmsàng bệnh lý Việc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng ở những vùng chănnuôi vịt thả và nguồn nước dùng chung cho các hoạt động chăn nuôi Trênthực tế, trong một khu vực có thể có một số đàn gia cầm bị nhiễm virus vàphát bệnh còn một số đàn lại không phát bệnh mà chỉ có phản ứng huyếtthanh dương tính Hiện tượng này xảy ra do virus bài thải từ vịt rất dễ bị thayđổi tính kháng nguyên Những đàn vịt có phản ứng huyết thanh dương tính đã
Trang 20nhiễm virus H5N1 không cường độc thải ra từ vịt bệnh hoặc vịt nhiễmvirus H5N1 không độc (Tô Long Thành, 2005).
2.4.3 Đường lây truyền bệnh
Truyền trực tiếp giữa con mắc bệnh và con khoẻ Lây trực tiếp do convật mẫn cảm tiếp xúc với con vật mắc bệnh thông qua các hạt khí dungđược thải ra từ đường hô hấp hoặc qua phân, thức ăn và nước uống có chứamầm bệnh
Lây lan gián tiếp qua các khí dung trong không khí với khoảng cáchgần hoặc những dụng cụ chứa virus do gia cầm mắc bệnh bài thải qua phânhoặc lây lan qua chim, thú, thức ăn, nước uống, lồng nhốt, quần áo, phươngtiện vận chuyển, côn trùng
Truyền gián tiếp thông qua không khí, gió đưa bụi phân có chứa virus
đi xa, dụng cụ chăn nuôi, thức ăn, nước uống, phân rác, hoặc tay chân, giàydép của người có tiếp xúc với gia cầm mắc bệnh và vô tình truyền mầmbệnh đi nơi khác (Bùi Quý Huy, 2005)
2.4.4 Mùa vụ phát bệnh
Bệnh cúm thường xảy ra quanh năm nhưng thường tập trung vào vụĐông Xuân Khi đó những biến đổi bất lợi về thời tiết như nhiệt độ thấpnhư nhiệt độ thấp, độ ẩm cao, thời tiết thay đổi đột ngột làm giảm sức đềkháng của con vật, làm tổn thương cơ quan hô hấp nên động vật dễ cảmnhiễm mầm bệnh Mặt khác tại thời điểm trong chăn nuôi, mật độ nuôithường cao, các hoạt động vận chuyển, giết mổ gia cầm cao hơn trong nămcũng là điều kiện để dịch bệnh phát sinh và lây lan nhanh (Bùi Quý Huy,2005)
Ở Châu Á, các ổ dịch cúm gà xảy ra khi thời tiết chuyển từ ấm áp sanglạnh ẩm Theo một số nhà khoa học, các loài chim di cư (vịt trời, ngỗngtrời, quạ) mang mầm bệnh từ phương Bắc trong mùa đông giá lạnh truyềncho các loài gia cầm ở các nước Đông và Nam Á khi chúng đến trú đông(Chu Thị Thơm, 2006)
Trang 212.5 Triệu chứng
Sau khi lây nhiễm bệnh tốc độ lây lan rất nhanh trong một bầy và từ khi xuấthiện triệu chứng đến thời điểm chết cũng rất nhanh và tỉ lệ chết cao từ 95 – 100% Thời gian ủ bệnh từ vài giờ đến 3 ngày từ khi nhiễm virus đến khi xuấthiện những triệu chứng đầu tiên
Triệu chứng lâm sàng gồm: sốt cao, ho, thở nhanh, khó thở, chảy nướcmắt, chảy dãi ở mỏ, phù đầu và mặt, xuất huyết ở vùng da không có lông đặcbiệt là ở chân; da tím bầm, lông xù, đứng tụm một chỗ, khát nước, bỏ ăn vàchết nhanh
Biểu hiện thần kinh như đi lại không bình thường, loạng choạng, nghẹođầu, đi quay vòng
Gà tiêu chảy mạnh, phân loãng màu trắng hoặc trắng xanh, ở những conđang đẻ thì năng xuất trứng giảm hẳn, thậm chí gà đẻ trứng không có vỏ.Trong một số trường hợp bệnh bùng phát nhanh trước khi gia cầm bị chếtkhông có triệu chứng lâm sàng
Vịt và ngỗng nuôi có triệu chứng ủ rủ, ỉa chảy giống như gà đẻ mắc bệnh,các xoang thường có hiện tượng sưng, tích nước
Vịt nhiễm virus cúm gia cầm và bài thải virus ra ngoài môi trường trongkhi không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng hoặc bệnh tích (Nguyễn XuânBình, 1999)
2.6 Bệnh tích
Sau khi gà chết xác nhanh cứng
Xác chết đỏ và có xung huyết rõ ở các tổ chức dưới da
Trong cơ quan nội tạng và mỡ vùng bụng có những đám máu tạo thànhcục hoặc lan rộng bằng hạt đỗ hoặc nhỏ hơn
Dạ dày tuyến và mề xuất huyết Đây là bệnh tích đặc trưng nhất của bệnh.Đôi khi bệnh tích lan từ dạ dày tuyến và mề xuống ruột non Thể hiệnbằng những điểm vàng xám trên niêm mạc và ngay cả trên gan, lách và thận
Trang 22Một số trường hợp có viêm fibrin (viêm dính màng tim với tim và viêmdính phúc mạc với xoang bụng) Bệnh tích này xuất hiện nhiều khi bệnh khởiđầu với triệu chứng đường hô hấp hoặc bệnh kéo dài sau 4 – 7 ngày (NguyễnXuân Bình, 1999).
* Bệnh cúm gia cầm có tính lây lan rất nhanh và mạnh
* Chim hoang được coi là nguồn truyền lây bệnh Chim mang mầm bệnhtruyền virus qua nước dãi, dịch nước mũi và phân
* Chim và gia cầm mẫn cảm có thể bị nhiễm bệnh khi tiếp xúc trực tiếpvới chim mắc bệnh hoặc gián tiếp qua các bề mặt nhiễm bẩn
* Ngoài chim và gia cầm ra, một số loài khác cũng có thể mắc bệnh như:người, lợn, ngựa (Cục thú y, 2005)
2.7.1.2 Chẩn đoán triệu chứng
* Gia cầm xù lông, bỏ ăn, ủ rủ, giảm đẻ
* Đầu, mặt sưng, phù xung quanh Mào tích sưng, xuất huyết
* Mắt bị viêm kết mạc và có thể xuất huyết
* Có triệu chứng về hô hấp
* Con vật mắc bệnh thường chết trong vòng 24 – 48 giờ sau khi xuất hiệncác triệu chứng ban đầu (Cục thú y, 2005)
Trang 23Sơ đồ chẩn đoán bệnh cúm gia cầm
2.7.1.3 Chẩn đoán bệnh tích
* Xuất huyết tràn lan ở các cơ quan nội tạng
* Gia cầm bị phù thủng dưới da vùng đầu, cổ và ngực
* Miệng chứa nhiều dịch
* Khí quản xuất huyết, chứa nhiều dịch nhầy
* Đường tiêu hoá xuất huyết
* Ở gà đẻ thì buồng trứng xuất huyết (Cục thú y, 2005)
Đặc điểm dịch tễ học Kiểm tra lâm sàng
Lấy mẫu bệnh phẩm (Huyết thanh, Phủ tạng ) Phát hiện kháng thể Phát hiện kháng nguyên
RRT-PCR
Giám định (HI)
Phân lập lần 2
Phân lập virus
Kết luận bệnh
Trang 242.7.2 Chẩn đoán phân biệt
Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh có triệu chứng lâm sàng và bệnh tíchgần giống như:
Bệnh Newcastle giai đoạn mãn tính cũng có triệu chứng thần kinh, thởkhò khè và bệnh tích cũng xuất huyết dạ dày tuyến và mề Nhưng bệnhNewcastle tốc độ lây lan chậm hơn và triệu chứng ban đầu ít có dấu hiệu vềđường hô hấp mà chỉ biểu hiện ở đường tiêu hoá như tiêu chảy phân trắngxanh
Bệnh CRD cũng biểu hiện triệu chứng hô hấp, thở khò khè Nhưngbệnh tích không có xuất huyết ở dạ dày tuyến và mề Khi dùng kháng sinhTylosin, Spiramicin điều trị bệnh khỏi
Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm và viêm thanh phế quản truyềnnhiễm cũng biểu hiện ở triệu chứng hô hấp thở khó, nhưng bệnh ít chết vàbệnh tích không xuất huyết dạ dày tuyến và mề
Bệnh Coryza: bệnh cũng sưng phù đầu, chảy nước mũi, nước mắtnhưng bệnh xảy ra và lây lan với tốc độ chậm tỉ lệ chết ít Điều trị bằng khángsinh tiamulin, tylosin, streptomycin bệnh khỏi nhanh (Nguyễn Xuân Bình,1999)
Phân lập và giám định virus (lấy bệnh phẩm từ những con gà bệnh vàcòn sống) Làm phản ứng huyết thanh học như: Phản ứng ngăn trở ngưng kếthồng cầu (đây là phản ứng đặc biệt quan trọng để phân biệt với bệnhNewcastle), phản ứng trung hoà, phản ứng kết tủa và khuếch tán trên thạch.Những phản ứng huyết thanh học đối với bệnh này mang tính chất quan trọngtrong nghiên cứu tính chất dịch tễ học và xác định các ổ dịch trong thực tế
2.7.3 Chẩn đoán phòng thí nghiệm
Phát hiện kháng nguyên:
Phân lập virus trên trứng gà có phôi:
Mẫu bệnh phẩm là dịch ngoáy ổ nhớp, họng, khí quản hoặc tổ chức phủtạng (phổi, khí quản, não, gan, lách, tim Người ta thường dùng trứng gà có
Trang 25phôi 9 – 10 ngày tuổi khoẻ mạnh hoặc tế bào dòng thận chó MDCK Mẫu saukhi lấy được bảo quản trong dung dịch PBS ở 4 oC và phải tiến hành phân lậptrong vòng 48 giờ, nếu muốn bảo quản dài hơn phải giữ ở -70 oC Sau khinuôi cấy bệnh phẩm, đưa vào ấp từ 2 – 3 ngày, những trứng sống và chếtđược thu riêng Thu dịch niệu mô để phân lập virus.
Giám định virus phân lập
Kiểm tra nước trứng bằng phản ứng HA:
Nếu HA cho kết quả dương tính (+), chứng tỏ có virus, tiếp tục giám địnhbằng phản ứng HI với kháng huyết thanh chuẩn của một số subtype H viruscúm A và kháng huyết thanh chuẩn Newcastle để xác định virus phân lập.Nếu virus âm tính (-) mà phôi chết, có bệnh tích phôi lấy nước trứng tiêm truyền lần 2.Nếu HA âm tính (-) mà phôi phát triển bình thường, có thể tiêm lại hoặc không
Giám định virus phân lập bằng phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu.Phản ứng dương tính (+), hồng cầu lắng xuống đáy Như vậy virus phânlập và kháng huyết thanh chuẩn tương ứng với nhau
Một virus phân lập được xác định subtype khi nó phản ứng với một khánghuyết thanh chuẩn hiệu giá cao hơn 4 lần so với các kháng huyết thanh chuẩnkhác Hiệu giá càng cao chứng tỏ có sự tương đồng của virus phân lập vớikháng huyết thanh chuẩn càng lớn
Phương pháp RT-PCR
ARN virus có tính đặc hiệu cao đặc trưng cho loài và có thể dùng làmkhuôn tổng hợp in vitro phân tử ADN tương bù một sợi nhờ enzym sao chépngược (RT: reverse transcriptase) Sau đó ADN một sợi được tách khỏi ARNkhuôn và lại làm khuôn để tổng hợp sợi ADN tương bù với nó nhờ enzymeDNA-polymeraza Nhờ phản ứng chuổi polymeraza (PCR: polymeraza chainreaction) đoạn ADN có kích thước đặc hiệu phù hợp với một cặp mồioligonucleotid được tổng hợp Tổ hợp hai phản ứng trên được gọi là RT-PCR(Phạm Hồng Sơn và Bùi Quang Anh, 2004)
Trang 26Phương pháp RRT-PCR là phương pháp dựa vào một primer đánh dấuhuỳnh quang chỉ phát quang khi gắn kết DNA và thiết bị phân tích huỳnhquang (Phạm Hồng Sơn và Bùi Quang Anh, 2006)
RRT-PCR là một biến thể mới của kỹ thuật PCR được phát triển trên cơ
sở tiến bộ về kỹ thuật của thiết bị luân nhiệt, thiết bị này được gắn thêm bộphận chụp hình để ghi lại những thay đổi tức thì của chuổi DNA trong quátrình nhân lên của phản ứng PCR Đi kèm với sự phát triển của điện - điện tử,người ta bổ sung vào trong thành phần phản ứng một mẫu dò huỳnh quang(probe) đặc biệt chỉ phát quang khi ở điều kiện nhất định Khi sản phẩm PCRđích tăng lên, mẫu dò bám vào các sản phẩm tổng hợp (amplicons) và thuốcnhuộm được phân tách từ đầu 5’ của mẫu dò bởi men Tab polymerase, lượngthuốc nhuộm phát quang từ phân tử mẫu dò được phân tách ngày càng nhiều,tín hiệu huỳnh quang từ đó cũng tăng lên Tín hiệu huỳnh quang được giámsát theo dõi mỗi chu kỳ, biểu thị sự tăng về sản phẩm PCR mỗi khi nó xuấthiện (Phan Hữu Đức, 2008)
Hiện nay người ta thường sử dụng một trong hai bộ kit sau: Kit RT-PCR 1bước của hãng Qiagen và kit RT-PCR của hãng Invitrogen Phương pháp nàycho kết quả chính xác nhưng đòi hỏi nơi chẩn đoán phải có trang thiết bị vàcán bộ kỹ thuật chuyên sâu
Phát hiện kháng thể:
Phản ứng HI phát hiện kháng thể:
Huyết thanh của gia súc, gia cầm nghi mắc bệnh hoặc kiểm tra sau tiêm phòng.Phản ứng dương tính (+) khi hồng cầu lắng xuống đáy và hiệu giá lớn hơnhiệu giá của kháng huyết thanh chuẩn (thường lớn hơn 4log2)
Khi kiểm tra huyết thanh của các loài khác không phải là gà nên có mộtgiếng chỉ có huyết thanh và hồng cầu để kiểm tra hiện tượng ngưng kết hồngcầu không đặc hiệu Nếu phát hiện có hiện tượng ngưng kết hồng cầu khôngđặc hiệu xảy ra với mẫu huyết thanh nào thì cần xử lý lại mẫu huyết thanh đó
và kiểm tra lại bằng phản ứng HI
Trang 27 Phản ứng ELISA:
Hiện nay trên thị trường có nhiều bộ kit ELISA thương mại Các bộ kitnày chỉ phát hiện được kháng thể gia cầm với kháng nguyên Nucleocapsid,tức là chỉ phát hiện được kháng thể cúm A mà không phân biệt được subtypecủa kháng thể có trong huyết thanh
Phương pháp phát hiện kháng thể dễ thực hiện do thời gian kháng thể tồntại trong máu kéo dài Tuy nhiên, kết quả xét nghiệm kháng thể dương tínhchỉ cho ta biết rằng:
Có thể đàn động vật bị cảm nhiễm mầm bệnh tự nhiên trong quá khứhoặc hiện đang mắc bệnh
Có thể chúng đã có đáp ứng miễn dịch với vacxin
Có thể chúng bị cảm nhiễm thui (abortive infection) Tức là đã có sựxâm nhập của mầm bệnh vào cơ thể gây đáp ứng miễn dịch nhưng mầm bệnh
bị đào thải ra khỏi cơ thể
Các phương pháp phát hiện mầm bệnh (kháng nguyên) có tính thuyết phụccao hơn vì kết quả dương tính tức là cơ thể động vật đang mang mầm bệnh(Cục thú y, 2005)
2.8 Phòng bệnh
Bệnh cúm gia cầm đã trở thành đại dịch chung của thế giới, không nhữnggây thiệt hại về kinh tế mà còn gây hại đến sức khoẻ và tính mạng của conngười Do đó việc phòng chống bệnh cúm gia cầm đã và đang là vấn đề bứcxúc và nóng hổi nhất đối với các nước trên hành tinh chúng ta
Sự nghiệp phòng chống bệnh cúm là công việc vô cùng khó khăn, lắmgian nan và yêu cầu phải triển khai đồng bộ nhiều biện pháp cùng một lúc,trong một thời gian khá dài với sự tham gia tích cực của các cấp chính quyềnchứ không chỉ riêng là việc của ngành thú y
Trang 282.8.1 Kiểm soát dịch bệnh
Những quốc gia có nền chăn nuôi gia cầm phát triển đều có chính sách vềkiểm soát dịch bệnh cúm gia cầm để đảm bảo công tác phòng chống bệnh cóhiệu quả Các chính sách này nhằm mục đích nhằm ngăn chặn sự xâm nhập củavirus gây bệnh cúm thể độc lực cao ở gia cầm (HPAI) qua đường thương mại vàthực hiện việc tiêu huỷ hàng loạt ở cấp quốc gia khi có dịch bệnh xảy ra
Các bệnh pháp thường được áp dụng trong chính sách kiểm soát dịch bệnhcúm gia cầm thể độc lực cao (HPAI) bao gồm:
Chẩn đoán khi có gà bệnh nghi nhiễm virus cúm để phát hiện sớm và xử
lý kịp thời với các biện pháp mạnh, ngăn không cho dịch lây lan
Bao vây cách ly khu vực có dịch, xác định bán kính vùng có dịch và tiêuhuỷ toàn bộ gia cầm trong ổ dịch bằng một trong hai biện pháp sau:
Giết chết gia cầm bằng cách phun formol 3% (nếu có điều kiện) rồitập trung vào một chỗ, đổ dầu và đốt toàn bộ Sau khi đốt xác gia cầm, thantro được chôn sâu
Giết chết gia cầm rồi chôn sâu dưới hố (sâu 2 m) có đổ thuốc sáttrùng mạnh như: crezyl 5%, formol 3%, dung dịch xút 5%, vôi bột
Vệ sinh tiêu độc toàn bộ chuồng trại và khu vực chăn nuôi bằng thuốc sáttrùng, để trống chuồng 1 – 2 tuần và chỉ nuôi lại gia cầm khi bãi bỏ lệnhchống dịch
Các phương tiện chăn nuôi như: dụng cụ chăn nuôi, xe chở gia cầm,nguồn nước uống trong vùng có dịch phải xử lý chu đáo, cẩn thận để diệtmầm bệnh
Khi vào làm việc trong ổ dịch, mọi người cần có phương tiện bảo hộ vàkhi ra khỏi ổ dịch phải để phương tiện bảo hộ lại để tiêu độc
Kiểm dịch nghiêm ngặt, không cho gà bệnh ra khỏi ổ dịch, ngược lạicũng không cho gà khỏe mang vào khu vực có dịch
Tuyên truyền, nâng cao ý thức cho người chăn nuôi gia cầm và ngườidân về cúm gia cầm, các biện pháp ngăn chặn dịch bệnh xâm nhập, lây lan
Trang 29Việc kiểm soát dịch bệnh được thực hịên rất sớm và có hiệu quả tại Anh(1963, 1979), Australia (1976, 1985) và tại Ireland (1983, 1984) Tại Ireland
đã tiêu huỷ 270000 con vịt tuy không có triệu chứng lâm sàng nhưng đã phânlập được virus cúm gia cầm
Tại Mỹ (1983 – 1984) bệnh cúm gia cầm chỉ được khống chế khi nướcnày tiêu huỷ 17000000 gia cầm thuộc 448 đàn trong bang Pensylvania
Các cố gắng để kiểm soát dịch bệnh, cụ thể là việc tiêu huỷ hơn 100 triệugia cầm đã hạn chế và giảm nguy cơ lây lan dịch bệnh Tuy nhiên, do khókhăn trong việc thu thập số liệu điều tra và việc tồn tại chủng virus cúm độclực thấp trong đàn gia cầm nên không thể giả định rằng virus cúm đã đượcloại trừ ra khỏi quần thể gia cầm và do đó nguy cơ bùng phát dịch bệnh là rấtlớn (Tô Long Thành, 2007)
2.8.2 Áp dụng các biện pháp an toàn sinh học
Áp dụng biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm nhằm bảo
vệ đàn gia cầm không bị xâm nhập bởi mầm bệnh (virus, vi khuẩn, kí sinhtrùng, nấm mốc ) Những cơ sở chăn nuôi gia cầm khi áp dụng các biện pháp
an toàn này thì dịch bệnh không xảy ra và cơ sở đó được bảo vệ an toàn
a Cách ly triệt để
Nuôi riêng theo từng giai đoạn sản xuất hoặc theo nguồn gốc Khôngnuôi nhiều loại gia cầm trong một trại và không nuôi các loại động vật kháctrong trại
Thực hiện việc cùng nhập và cùng xuất Nếu không thực hiện được thìkhi nhập đàn mới về phải cách ly để theo dõi dịch bệnh ít nhất 2 tuần
b Kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển động vật, sự đi lại của con người, phương tiện vận chuyển, dụng cụ chăn nuôi vào trại hoặc qua trại chăn nuôi.
Con người: không được vào trại chăn nuôi khi chưađược phép, và khi được vào trại thì phải đi từ đàn nhỏ tuổi đến đàn lớn tuổi