1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vấn đề con người và định hướng phát triển nhân cách con người việt nam hiện nay

43 779 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề con người và định hướng phát triển nhân cách con người việt nam hiện nay
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 74,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ hiểu biết thông qua quá trình học tập về môn “ Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mac-Lenin” nhóm xin đưa ra một cách khái quát nhất về bản chất con người theo triết học Mac- Lenin

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Phát triển con người là mục tiêu cao cả của toàn nhân loại Bởi conngười là yếu tố để tạo nên xã hội Muốn xã hội phát triển thì trước tiên phảihiểu về con người.Chính vì lẽ đó, từ nhiều thế kỷ qua người ta luôn tìm hiểu

và nghiên cứu về con người và cũng chính lẽ đó mà có nhiều ý kiến trái chiều

về bản chất con người được đưa ra Tuy nhiên, triết học Mac- Lenin đã cónhững bước tiến vượt bậc với những luận chứng khoa học những vấn đề triếthọc về con người Triết học Mac-Lenin cho rằng, cần phải bắt đầu từ nhữngcon người hiện thực, cụ thể; rằng, hoạt động sản xuất là điều kiện nền tảng cho

sự tồn tại, phát triển của con người Với tính cách một thực thể sinh học - xãhội, có ý thức và năng lực sáng tạo, con người vừa là chủ thể, vừa là đối tượngcủa quá trình phát triển lịch sử Con người là lực lượng sáng tạo nên lịch sử.Những nhu cầu của con người trở thành động lực thúc đẩy tiến bộ xã hội Vớinhững quan niệm như vậy, triết học Mac - Lenin đã đặt nền móng vững chắccho việc nghiên cứu, nhận thức triết học về con người và con đường để hoàn

thiện bản chất người.

Chính vì vậy mà triết học Mac-Lenin được đưa vào giáo dục nhằm hoàn thiện hơn về nhân cách con người và giúp con người hiểu hơn về bản chất và sự phát triển nhân cách một cách đúng đắn.

Từ hiểu biết thông qua quá trình học tập về môn “ Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mac-Lenin” nhóm xin đưa ra một cách khái quát nhất về bản chất con người theo triết học Mac- Lenin để từ đó vận dụng vào việc định hướng nhân cách con người Việt Nam nhằm đưa Việt Nam thành một đất nước văn minh, phát triển bền vững trên con đường hội nh

Trang 2

CHƯƠNG I QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC TRƯỚC MÁC 1.1.Quan niệm về con người trong triết học phương Đông.

Trước triết học Mác Lênin,vấn đề bản chất con người vẫn chưa được lýgiải một cách khoa học Không những chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo mà cả chủnghĩa duy vật siêu hình cũng không nhận thức đúng bản chất con người

Từ thời cổ đại, con người bắt đầu tìm hiểu ngồn gốc của mình và cónhững ý thức ban đầu về sức mạnh chính bản thân mình Các nước chịu ảnhhưởng của Khổng giáo, Phật giáo và Lão giáo triết học cũng giải thích conngười được tạo ra từ một đấng thần linh tối cao hoặc từ một lực lượng siêunhiên nào đó

Tuy nhiên trong triết học Phật giáo lại cho rằng con người là sự kết hợpgiữa danh và sắc(vật chất và tinh thần) Đời sống của con người trên trần thếchỉ là hư ảo, ảo giác Do vậy con người khi sống chỉ là sống nhờ, sống gửi.Cuộc sống vĩnh cửu là khi đạt tới cõi Niết Bàn, nơi linh hồn con người đượcsiêu thoát để trở thành bất diệt Do sự chi phối của thế giới quan duy tâm hoặcduy vật chất phác mà quan niệm về bản chất con người trong Nho giáo, Lãogiáo cũng hết sức phong phú và đa dạng

Khổng Tử cho rằng “Thiên mệnh” là đấng tối cao chi phối quyết địnhbản chất con người, ở con người(bậc quân tử) đức “Nhân” chính là giá trị caonhất Khổng Tử bàn về con người có nhiều tiến bộ: đó là con người thực tế vàkhá toàn diện ở nhều mối quan hệ và mối quan hệ nào cũng yêu cầu “chínhdanh” Tuy nhiên, ông có hạn chế là không thấy được con người trong quan hệkinh tế Mạnh Tử lại quy tính thiện của con người vào năng lực bẩm sinh, doảnh hưởng của tập quán, phong tục xấu nên con người bị nhiễm cái xấu, xa rờicái tốt Vì vậy, muốn giữ được đạo đức của mình thì phải qua tu dưỡng, rèn

Trang 3

luyện thường xuyên Khổng Tử và Mạnh Tử đều thống nhất cho rằng phải lấylòng nhân ái, quan hệ đạo đức để dẫn dắt con người hướng tới giá trị cao đẹp.Ngược lại với Khổng Tử và Mạnh Tử, Tuân Tử lại cho rằng, con người sinh ra

đã có bản chất là ác, nhưng cái ác đó có thể loại bỏ, thay vào đó là cái tốt, biệnpháp để đạt đến cái tốt là chống lại cái ác

Trong triết học phương Đông cũng tồn tại quan điểm cho rằng, conngười và trời có thể hòa hợp được với nhau( Thiên Nhân hợp thể) đó là quanđiểm duy tâm Kế thừa nho giáo theo khuynh hướng duy tâm cực đoan, ĐốngTrọng Thư cho rằng con người và trời có thể thông hiểu lẫn nhau( Thiên nhiêncảm ứng) với mục đích ứng dụng những quan điểm Nho gia vào đời sống xãhội

Phái Đạo gia với đại diện tiêu biểu là Lão Tử, lại quan niệm rằng conngười sinh ra từ “Đạo” do vậy con người phải “vô vi” trong cuộc sống Đókhông phải là cái thụ động, bất động mà là hành động theo bản tính tự nhiêncủa Đạo Quan điểm này thể hiện tư tưởng duy tâm chủ quan của triết học Đạogia

Như vậy với nhiều hệ thống triết học khác nhau, triết học phương Đôngthể hiện sự đa dạng, phong phú khi bàn về bản chất con người Các quan niệm

đó thiên về vấn đề con người trong mối quan hệ chính trị, đạo đức Đó là quanniệm về con người với biểu hiện của sự pha trộn giữa yếu tố duy tâm với tínhduy vật chất phác ngây thơ trong quan hệ với tự nhiên và xã hội

1.2 Quan niệm con người trong triết học phương Tây trước:

Trước Mác, ở phương Tây cũng có rất nhiều quan điểm về con người.Nói chung các tôn giáo đều cho rằng con người do Thượng Đế, Thánh Thầnsinh ra, cuộc đời con người do đấng tối cao sắp đặt, an bài Đặc biệt Ki Tôgiáo quan niệm rằng con người là kẻ có tội Con người không chỉ có thể xác

Trang 4

mà còn có linh hồn Thể xác tồn tại tạm thời, nó sẽ mất đi nhưng linh hồn thìcòn lại Do vậy con người phải cứu lấy linh hồn còn của mình.

Linh hồn(hay tinh thần) là phần cao quý trong con người, thể xác là phần thấphèn, phần gần gũi với súc vật, là phần đáng khinh nhất trong cuộc sống conngười Do đó phải thường xuyên chăm sóc phần linh hồn

Với triết học Hy Lạp cổ đại, con người được xem là khởi đầu của tư duytriết học Con người và thế giới xung quanh phản chiếu lẫn nhau Bên cạnh đóProtago, một nhà triết học ngụy biện cho rằng “con người là thước đo của vũtrụ”

Arixtot cho rằng chỉ có linh hồn, tư duy,trí nhớ, ý chí, năng khiếu nghệthuật là làm cho con người nổi bật lên, con người là bậc thang cao nhất của vũtrụ

Rõ rằng triết học Hi Lạp cổ đại khi nghiên cứu về con người, bước đầu

đã có sự tách biệt con người với tự nhiên, nhưng chỉ là sự hiểu biết bên ngoài

về con người chưa hiểu sâu, hiểu rõ về bản chất của con người

Bước vào thời trung cổ, với sự thống trị của thần học đối với triết học

mà xuất hiện quan niệm con người là sản phẩm của Thượng Đế Mọi mặt cuộcsống con người, niềm vui, nỗi buồn, sự may rủi của con người đều do Thượng

Đế sắp đặt Con người trở nên nhỏ bé trước cuộc sống nhưng đành bằng lòng,cam phận với cuộc sống tạm bợ trên trần thế, vì hạnh phúc vĩnh cửu là ở thiênđường Đây là quan niệm duy tâm về bản chất con người

Thời Phục Hưng – Cận Đại triết học lại đặc biệt đề cao vai trò trí tuệ, lýtính của nước xem con người như một thực thể có trí tuệ Đó là yếu tố quantrọng nhằm giải thoát con người khỏi thế lực thần học thời Trung Cổ áp đặtcon người, tiến tới giải phóng con người khỏi sự thống trị của cường quyền vàthần quyền, tuy nhiên chưa có một trường phái nào nhận thức đầy đủ cả về

Trang 5

mặt sinh học và mặt xã hội thống nhất trong con người mà chỉ nhấn mạnh mặt

cá thể xem nhẹ mặt xã hội của con người

Thời Cận Đại, nhận thức về nguồn gốc và bản chất con người đã cómột bước tiến đáng kể, triết học duy vật và duy tâm đều phản ánh những vấn

đề mới mẻ do thực tiễn đặt ra

Tiếp tục phát triển quan điểm duy vật của các nhà triết học Pháp thế kỷXVIII, Phơ Bách-nhà triết học duy vật vĩ đại nhất trong triết học cổ điển Đức,Ông đã phê phán mạnh mẽ quan điểm duy tâm và tìm cách giải thích nguồngốc, bản chất con người theo quan điểm duy vật Phơ Bách đã từng khẳngđịnh: “ Không phải Chúa đã tạo ra con người theo hình ảnh của Chúa, màchính con người đã tạo ra Chúa theo hình ảnh của con người”

1.3 Quan điểm của triết học Mac- Lenin về bản chất con người:

Khi phê phán quan điểm của Phơ Bách, Mác đã khái quát bản chất conngười, điều đó được Mác khẳng định: “Phơ Bách hòa tan bản chất tôn giáo vàbản chất con người Nhưng bản chất con người không phải là một cái trừutượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất conngười là tổng hợp những mối quan hệ xã hội”

Bản chất con người được thể hiện trên các nội dung sau :

1.3.1 Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật và mặt xã hội:

Kế thừa quan niệm đúng đắn về con người trong lịch sử triết học, Mácvới quan điểm duy vật triệt để và phương pháp biện chứng đã phân biệt rõ haimặt sinh vật và xã hội thống nhất trong con người hiện thực

Khi tiếp cận bản chất con người ở góc độ này cần theo hướng :

Trang 6

Thứ nhất, con người là một thưc thể tự nhiên, là sản phẩm của tự nhiên,nhưng là sản phẩm cao nhất của tự nhiên Vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của

tự nhiên

Như vậy, tiền đề vật chất đầu tiên qui định sự tồn tại của con người làgiới tự nhiên Con người là động vật cao cấp, là sản phẩm của tự nhiên, là kếtquả của quá trình tiến hóa lâu dài của giới sinh vật, như thuyết tiến hóa củaĐác uyn đã chứng minh Vì vậy, con người là bộ phận của giới tự nhiên, giới

tự nhiên là thân thể vô cơ của con người Hiện nay, với sự phát triển của khoahọc công nghệ xuất hiện một số giả thuyết cố chứng minh học thuyết của Đácuyn là không có cơ sở như: con người hiện tại là sự lai tạp giữa người hànhtinh với con người ở trên trái đất, y học đã tạo ra được con người trong ốngnghiệm và thực tế đã thành công như trước kia chúa đã tạo ra con người bằngcách đó…Trên thực tế, con người hiện đại có cấu trúc cơ thể không khác gìcon người cách đây 50 vạn năm Nhưng về mặt xã hội thì con người hiện đại

có bước tiến xa hơn về năng lực, sự sáng tạo, lối sống

Thứ hai, là một thực thể tự nhiên, con người cũng có như động vật khácnhư nhu cầu về sinh lí và các hoạt động bản năng: đói phải ăn, khát phải uống,sinh hoạt tình dục…Nhưng giải quyết những nhu cầu đó ở con người có bướctiến xa hơn so với động vật, kể cả so với khi con người mới thoát thai khỏiđộng vật Chính quá trình sinh sản, phát triển và mất đi của con người qui địnhbản tính sinh học trong đời sống con người Như vậy, con người là một sinhvật có đầy đủ bản tính sinh vật

Thứ ba, mặt tự nhiên và mặt xã hội thống nhất trong con người, mặt tựnhiên là “nền” cho con người, mặt xã hội nâng mặt tự nhiên của con người lênđộng vật

Trang 7

Con người khác động vật ở chỗ có tư duy và hoạt động có mục đích.Mác không thừa nhận quan điểm cho rằng : cái duy nhất tạo nên bản chất conngười là đặc tính sinh vật Con người là một sinh vật nhưng có nhiều điểmkhác với sinh vật Vậy con người khác với con vật ở chỗ nào? Trong lịch sử

đã có nhiều nhà tư tưởng lớn đư ra tiêu chí về sự khác nhau giữa con người vàcon vật có sức thuyết phục như:

Phranklin cho rằng con người khác con vật ở chỗ biết sử dụng công cụlao động, Arixtốt đã gọi con người “là động vật có tính xã hội” Pascal nhấnmạnh đặc điểm và sức mạnh của con người ở chỗ biết suy nghĩ: con người là

“một cây sậy nhưng là cây sậy biết suy nghĩ” Các nhận định trên đều đúngkhi nêu lên một khía cạnh về bản chất con người, nhưng đều phiến diện,không nói lên được nguồn gốc của những đặc điểm ấy và mối quan hệ biệnchứng giữa chúng với nhau

Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhìn về bản chấtcon người một cách toàn diện, cụ thể, xem xét không phải một cách chungchung trừu tượng, phiến diện như các nhà tư tưởng khác

Theo Mác mặt xã hội của con người, có điểm nổi bật, hơn hẳn và phânbiệt với động vật là con người có hoạt động lao động sản xuất của cải vật chất.Qua quá trình lao đông sản xuất: con người sản xuất ra của cải vật chất phục

vụ cho cuộc sống của mình và cho đồng loại Sản xuất ra các giá trị tinh thầnlàm phong phú them đời sống của mình Lao động là yếu tố hình thành bảnchất xã hội của con người, hình thành nhân cách ở con người

Thứ tư, là sự thống nhất giữa tự nhiên và xã hội nên ở con người luônchịu sự chi phối của ba hệ thống quy luật:

Hệ thống quy luật tự nhiên: qui định sự phù hợp của cơ thể sống vớimôi trường, qui định trao đổi chất,qui luật biến dị, di truyền

Trang 8

Hệ thống qui luật tâm lí ý thức: như sự hình thành tình cảm, khát vọng,niềm tin, ý chí…

Hệ thống qui luật xã hội: qui định mối quan hê giữa con người với conngười, đó là qui định quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất, qui luật với cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thương tầng…

Tóm lại, con người khác với con vật ở cả ba mặt: quan hệ với tự nhiên,quan hệ với xã hội và quan hệ với bản thân Cả ba mối quan hệ đều mang tính

xã hội,trong đó quan hệ xã hội là quan hệ bản chất nhất, bao quát mọi hoạtđộng của con người, cả trong lao động sinh con đẻ cái và trong tư duy

1.3.2.Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội.

Để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, Mác đã viết…”Trongtính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”

Luận điểm trên chỉ rõ: không có con người trừu tượng thoát ly khỏi điềukiện cụ thể, con người luôn tồn tại trong điều kiện lịch sử nhất định Nghĩa làcon người cùng với xã hội mình khai thác thiên nhiên, sinh hoạt xã hội,pháttriển ý thức

Luận điểm đó được biểu hiện trên các góc độ sau:

Bản chất con người được qui định bởi tất cả các mối quan hệ xã hội, tức

là bị qui định bởi mối quan hệ giữa người với người Đó là các quan hệ giữangười với người ở một hình thái kinh tế xã hội đã bỏ qua, ở hình thái kinh tế -

xã hội đương đại, ở một ý nghĩa nào đó là quan hệ giữa người với người theođịnh tính, theo mục tiêu ý tưởng Đó là các mối quan hệ về vật chất, quan hệ

về tinh thần giữa người với người Quan hệ giữa người với người trong xã hộiđương đại qui định bản chất của con người thì suy đến cùng quan hệ vật chất,quan hệ kinh tế, quan hệ sản xuất là yếu tố quyết định nhất Bởi vì đời sống

Trang 9

vật chất quyết định đời sống tinh thần, động cơ chi phối hoạt động của người

là lợi ích, trong đó lợi ích kinh tế là quyết định nhất

Bản chất con người phải đặt trong quan hệ đồng loại (cộng đồng) với cánhân trong đó mặt cộng đồng có xu hướng xích lại gần nhau hơn Con ngườihòa nhập vào cộng đồng, mang bản chất của nó vào và thể hiện bản sắc của

nó Hòa nhập vào cộng đồng không có nghĩa đánh mất bản sắc cá nhân màngược lại củng cố thêm bản sắc cá nhân Khi đề cập tới yếu tố cộng đồng thìcộng đồng dân tộc, cộng đồng giai cấp là những công đồng cơ bản nhất chiphối con người

Bản chất con người vừa mang tính thời đại, vừa manh tính lịch sử Conngười luôn bị chi phối bởi điều kiện sinh hoạt vật chất,điều kiện sinh hoạt tinhthần của thời đại

1.4 Quan hệ giữa cá nhân và xã hội:

1.4.1.Khái niệm cá nhân và nhân cách.

Cá nhân là một khái niệm chỉ những con người cụ thể như một chỉnhthể đơn nhất bao gồm một hệ thống những đặc điểm cụ thể, khác biệt vớinhững cá nhân khác về cơ chất, tâm lý, trình độ hiểu biết và nhân cách Kháiniệm cá nhân khác khái niệm con người Con người là khái niệm dùng để chỉtính phổ biến trong bản chất người của tất cả các cá nhân

Nhân cách là khái niệm chỉ bản sắc độc đáo, riêng biệt của mỗi cá nhân,

là nội dung, trạng thái, tính chất và xu hướng bên trong riêng biệt của mỗi cánhân Đó là thế giới của cái "tôi", do tác động tổng hợp của các yếu tố cơ thể

và xã hội hết sức riêng biệt tạo nên Như vậy, nhân cách là khái niệm chỉ sựkhác biệt giữa các cá nhân Cá nhân là phương thức biểu hiện của giống loàicòn nhân cách vừa là nội dung, vừa là cách thức biểu hiện của mỗi cá nhânriêng biệt

Với những đặc điểm riêng về di truyền, sinh lý thần kinh, hoàn cảnh giađình, hoàn cảnh sống mỗi cá nhân bước vào cuộc sống, tiếp thu và chuyểnnhững giá trị văn hóa của loài người vào trong đầu óc của mình để thực hiệncác quá trình so sánh, lọc bỏ, đánh giá, qua đó tạo nên thế giới riêng cho mình.Nhân cách không phải là bẩm sinh, sẵn có mà được hình thành, phát triển phụthuộc vào ba yếu tố sau:

Trang 10

Thứ nhất, nhân cách phải dựa trên tiền đề sinh học và tư chất di truyền

học nhất định của cá nhân từng người

Thứ hai, môi trường xã hội là yếu tố quyết định sự hình hành và phát

triển nhân cách thông qua sự tác động biện chứng giữa gia đình, nhà trường và

xã hội với cá nhân

Thứ ba, hạt nhân của nhân cách là thế giới quan cá nhân, bao gồm các

yếu tố như quan điểm, niềm tin, tri thức, định hướng giá trị

1.4.2 Biện chứng giữa cá nhân và xã hội.

Xã hội là khái niệm dùng để chỉ cộng đồng các cá nhân trong mối quan

hệ biện chứng với nhau, bao gồm cộng đồng tập thể, gia đình, cơ quan, cộngđồng quốc gia, dân tộc và nhân loại

Quan điểm triết học Mác-Lênin về xã hội xuất phát từ quan điểm lịch sử

- cụ thể để xem xét mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội mà nền tảng của nó làmối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội Đó là mối quan hệ vừa cóthống nhất vừa mâu thuẫn Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, lực lượng sảnxuất thấp kém, để duy trì sự sinh tồn của mình, người nguyên thủy phải tiếnhành lao động tập thể trên cơ sở chế độ sở hữu công cộng của cộng đồng Vìvậy, trong xã hội cộng sản nguyên thủy, chưa có đủ điều kiện để mỗi conngười trở thành một cá nhân theo đúng nghĩa của nó, cá nhân bị hòa tan vàocộng đồng.Trong các xã hội dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sảnxuất, quan hệ giữa cá nhân và xã hội mang tính chất đối kháng dựa trên sự đốikháng về lợi ích giai cấp

Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng giải phóng con ngườisâu sắc và triệt để với mục đích cuối cùng của nó là phát triển tối đa năng lựcsáng tạo và tự do cho cá nhân Cách mạng xã hội chủ nghĩa sẽ tạo ra nhữngđiều kiện khách quan để thực hiện hài hòa mối quan hệ giữa cá nhân và xãhội; tạo ra những điều kiện phát triển tự do cá nhân và đồng thời sự phát triển

tự do cá nhân là điều kiện để phát triển tự do của mọi người Tuy nhiên, cầntránh hai thái cực cực đoan Một là, chỉ thấy cá nhân không thấy xã hội; đem

cá nhân đối lập với xã hội, đòi thực hiện nhu cầu cá nhân chưa phù hợp vớiđiều kiện phát triển của xã hội Khuynh hướng này dễ dẫn đến chủ nghĩa cánhân Hai là, chỉ thấy xã hội mà không thấy cá nhân, hoặc quan niệm sai về lợithế xã hội, về chủ nghĩa tập thể Khuynh hướng này dẫn đến chủ nghĩa bìnhquân, triệt tiêu động lực cá nhân trong phát triển Cả hai khuynh hướng nàyđều không đúng, cuối cùng sẽ dẫn đến triệt tiêu sự phát triển của cả xã hội, của

cả cá nhân

Trang 11

CHƯƠNG II : VẬN DỤNG TRIẾT HỌC MAC-LENIN VÀO

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY.

2.1.Sự hình thành nhân cách theo quan niệm của chủ nghĩa Lenin:

Mác-Nhân cách là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khácnhau, như triết học, xã hội học, kinh tế - chính trị học, luật học, tâm lý học, yhọc, giáo dục học, v.v Trong đó, quan điểm triết học về nhân cách con người,

về cơ bản, có những khác biệt so với quan điểm của các khoa học cụ thể.Triết học Mác - Lênin xem nhân cách là “những cá nhân con người với tínhcách là sản phẩm của sự phát triển xã hội, chủ thể của lao động, của sự giaotiếp, của nhận thức, bị quy định bởi những điều kiện lịch sử – cụ thể của đờisống xã hội”(1,43) Theo đó, nhân cách trước hết là đặc trưng xã hội của conngười, là “phẩm chất xã hội” của con người

Khi nghiên cứu về nhân cách, một trong những vấn đề đầu tiên và cũng là thenchốt, là vấn đề sự hình thành nhân cách Giải quyết vấn đề này theo nhữngcách khác nhau sẽ dẫn tới quan niệm khác nhau về bản chất của nhân cách

Trước hết, để giải quyết vấn đề nhân cách, chúng ta cần xem xét mốiquan hệ giữa cái sinh học và cái xã hội trong con người, bởi như C.Mác đãnói, con người là một thực thể sinh học - xã hội Trong quá trình phát triển củamình, con người bỏ xa giới động vật trong sự tiến hoá, nhưng điều đó không

có nghĩa là con người đã lột bỏ tất cả những cái tự nhiên, cái sinh học

Khi nói tới những yếu tố sinh học trong con người, có thể hiểu đó lànhững yếu tố hữu sinh, hữu cơ, những cái mà về mặt phát sinh, luôn gắn bóvới tổ tông động vật của con người, những cái làm cho con người hình thành

Trang 12

và hoạt động như một cá thể, một hệ thống phục tùng các quy luật sinh học;hoặc cũng có thể coi đó là toàn bộ tiền đề sinh học của con người.

Những yếu tố xã hội là tất cả những quan hệ, những biến đổi xuất hiện do ảnhhưởng của các điều kiện xã hội khác nhau, những sự quy định về mặt xã hộitạo nên cá nhân con người Trong đại đa số trường hợp, nếu thiếu chúng thìnhiều đặc tính, nhiều cấu trúc, ví dụ như ngôn ngữ, tư duy trừu tượng, quyphạm đạo đức…, sẽ không bao giờ hình thành được(2,43)

Cho đến nay, người ta vẫn còn tranh luận nhiều về mối quan hệ giữayếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong sự phát triển con người Nhìn chung, cóhai quan điểm cực đoan về vấn đề này và được biểu hiện trong các trường phái

“chủ nghĩa tự nhiên” (hay còn gọi là “chủ nghĩa sinh vật”) và “chủ nghĩa xãhội học” Quan điểm của chủ nghĩa tự nhiên dựa trên những thành tựu sinh vậthọc cũng như những thành tựu về dân tộc học của K.Lôrenxơ K.Lôrenxơ chorằng, hành vi xã hội của con người bao gồm trong nó những tính quy luật màchúng ta có thể biết rõ từ hành vi động vật: “người ta thừa nhận rằng hành vi

xã hội của con người… bao gồm trong nó tất cả những tính quy luật… màchúng ta được biết rõ ràng nhờ vào nghiên cứu những hành vi của độngvật”(3,43)

Vào những năm 70 của thế kỷ XX, trước sự phát triển của khoa học,đặc biệt là sinh vật học và khoa học xã hội nhân văn, chủ nghĩa sinh học xãhội đã ra đời như một trào lưu khoa học liên ngành mới ở Tây Âu Nhìn mộtcách tổng thể, chủ nghĩa này cũng không khác gì chủ nghĩa tự nhiên khi chorằng, “tất cả những gì của con người do bẩm sinh mà có, thì không thể bị thayđổi do các điều kiện xã hội” Theo họ, “sự phát triển của bộ não, sự chuyêntrách của bộ não, tốc độ và tính khuynh hướng của quá trình giáo dục conngười được hình thành trên trái đất, chủ yếu bằng con đường di truyền” hay

Trang 13

“lý tính của con người có thể được hiểu đúng đắn, rõ ràng nhất từ quan điểm

về quá trình phát triển do các gen di truyền quy định”(4,43)

Những người theo chủ nghĩa xã hội học đã xây dựng học thuyết của mình vềcon người dựa trên quan điểm lý luận của trường phái E.Durkheim (1858 –

1917, nhà triết học xã hội, nhà xã hội học Pháp, người theo chủ nghĩa thựcchứng) Theo họ, các hành vi của con người đều là do tư tưởng, ý thức xã hộitạo nên; đồng thời, trường phái này đã phủ nhận mối liên hệ khách quan giữahành vi con người với những điều kiện vật chất của sản xuất và tái sản xuấtcon người, với tự nhiên

Đối lập với hai quan điểm cực đoan trên, triết học Mac-Lenin cho rằng,trong con người, mối quan hệ giữa cái sinh học và cái xã hội không phải là đốilập nhau mà thống nhất với nhau Có thể thấy rằng, con người là một cơ thểhữu sinh có trình độ tổ chức sinh học cao nhất và do vậy, quan hệ giữa các yếu

tố sinh học - xã hội là rất phức tạp, sâu sắc Tổ chức cơ thể của con người, nhưcác giác quan, hệ thần kinh trung ương…, là những tiền đề sinh học, sinh lýhọc, tâm sinh học được xem như cơ sở vật chất và có ảnh hưởng tới sự pháttriển con người Thực tế đã chứng minh rằng, những khiếm khuyết về mặt cơthể, về gen… đã có ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển con người, tới thếgiới quan, định hướng giá trị… của họ; hay những năng khiếu bẩm sinh,những tài năng… chính là do các yếu tố sinh học chi phối Một ví dụ khác là,ngày nay, người ta thường nhắc tới nhịp điệu sinh học (đồng hồ sinh học) nhưmột cơ chế có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của con người; hay nhiều kếtquả nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng, khi có một gen nào đó hoạt động hoặcngừng hoạt động thì con người có sự thay đổi nhất định

Môi trường xã hội cũng ảnh hưởng tới sự phát triển con người, ảnhhưởng tới cơ cấu và chức năng… của cơ thể Nếu con người ít tiếp xúc, trao

Trang 14

đổi với người xung quanh hoặc sống trong môi trường xã hội quá đơn điệu thì

sẽ nghèo nàn về tâm lý, kém sự linh động Chẳng hạn, bác sỹ Sing, người Ấn

Độ, có kể về trường hợp cô Kamala được chó sói nuôi từ nhỏ Khi được đưa rakhỏi rừng, cô đã 12 tuổi Bình thường, cô ngủ trong xó nhà, đêm đến thì tỉnhtáo và đôi khi sủa lên như chó rừng Cô đi lại bằng hai chân, nhưng khi bị đuổithì chạy bằng bốn chi khá nhanh Người ta dạy nói cho Kamala trong bốnnăm, nhưng cô chỉ nói được hai từ Cô không thể thành người và chết ở tuổi

18 Đến nay, người ta đã biết được trên 30 trường hợp tương tự Những

sự thực đó đã khẳng định tính đúng đắn trong nhận xét của C.Mác: Trongtính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xãhội.Như vậy, có thể thấy rằng, đứa trẻ ra đời mới chỉ như một con người “dựbị” Nó không thể trở thành con người nếu bị cô lập, tách khỏi đời sống xãhội; nó cần phải học để trở thành người Trong Bản thảo kinh tế - triết họcnăm 1844, C.Mác đã viết: “Cá nhân là thực thể xã hội Cho nên mọi biểu hiệnsinh hoạt của nó - ngay cả nếu nó không biểu hiện dưới hình thức trực tiếp củabiểu hịên sinh hoạt tập thể, được thực hiện cùng với những người khác - làbiểu hiện và sự khẳng định của sinh hoạt xã hội”(5,43) Chính sự gia nhập xãhội và được xã hội điều chỉnh hành vi của mình mà đứa trẻ và hành vi của nómang nội dung xã hội

Nghiên cứu sự tác động qua lại giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hộitrong con người là để thấy được những hạn chế trong các quan niệm cực đoan

về cái sinh học, cái xã hội trong con người của một số trường phái triết học.Thực tế cho thấy rằng, những quy luật sinh học chi phối mặt sinh học, còn quátrình con người gia nhập xã hội sẽ quyết định mặt xã hội trong con người.Điều này thể hiện rõ nhất ở những đứa trẻ sinh ra từ cùng một trứng Nhữngđứa trẻ này giống nhau về mặt di truyền Điều đó có nghĩa là, trong quá trình

Trang 15

phát triển, chúng có thể mắc một số bệnh giống nhau, như bệnh về mắt haynội tiết, tức là ở đây, mặt sinh học đóng vai trò không nhỏ Song, nếu đượcnuôi dưỡng trong những môi trường xã hội khác nhau thì những đứa trẻ nàycũng có sự phát triển khác nhau Điều này có nghĩa là, con người vừa chịu sựtác động của quy luật sinh học, vừa chịu sự tác động của xã hội (nhưng cũngcần phải thấy được rằng, sự tác động của yếu tố sinh học và yếu tố xã hộikhông phải là ngang nhau, như nhau trong mỗi cuộc đời con người) Dĩ nhiên,cũng cần phải thấy rằng, với những mục đích nghiên cứu khác nhau, có thểcác nhà nghiên cứu nhấn mạnh tới mặt sinh học hoặc mặt xã hội của conngười (và chỉ nhấn mạnh, chứ không phải tuyệt đối hoá như chủ nghĩa tựnhiên, thuyết sinh học xã hội hay trường phái xã hội đã làm) Việc tuyệt đốihoá vai trò của yếu tố sinh học, di truyền trong con người sẽ dẫn đến tìnhtrạng, các tệ nạn xã hội được giải thích bằng những nguyên nhân tự nhiên và

do đó, người ta cho rằng, không thể khắc phục được những tệ nạn xã hội Điều

đó còn đưa đến một quan niệm về “giống thượng lưu”, về sự phân biệt chủngtộc Quan điểm này cho rằng, lịch sử loài người được tạo ra bởi một số ngườitiêu biểu, được chọn lọc và do đó, dù muốn hay không, con người phải chủđộng kiểm soát việc tái sản xuất ra giống người, thực hiện sự “tuyển chọn” vì

“lợi ích” loài người Ngược lại, việc quá đề cao yếu tố xã hội trong con ngườilại đưa đến một quan niệm khác – quan niệm cho rằng, mọi tệ nạn xã hội đềubắt nguồn từ khuyết điểm chính trị

Trên cơ sở đó, triết học Mac-Lenin cho rằng, sự hình thành và phát triểnnhân cách là do hai nhân tố quyết định: nhân tố bên ngoài - những yếu tố xãhội, tính quyết định xã hội và nhân tố bên trong - tính tích cực của chính cánhân

Trang 16

Nhân tố xã hội cơ bản có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triểnnhân cách con người là tồn tại xã hội, hoàn cảnh sống mang tính lịch sử - cụthể mà cá nhân đó sống Đó có thể là các tập đoàn xã hội, kiểu loại cộng đồngdân tộc, tập thể C.Mác đã nói: “Nếu như con người bẩm sinh đã là sinh vật

có tính xã hội thì do đó con người chỉ có thể phát triển bản tính của mình trong

xã hội và cần phải phán đoán lực lượng bản tính của anh ta, không phải căn cứvào lực lượng của cá nhân riêng lẻ mà căn cứ vào lực lượng của toàn xãhội”(6,43) Do vậy, ở mỗi thời đại khác nhau, như thời Cổ đại, Trung cổ, Cậnđại, Hiện đại… có những kiểu loại nhân cách khác nhau Thời Cổ đại, khi nềnkinh tế chưa phát triển, của cải còn ít, con người phải sống phụ thuộc vào tậpthể, nhân cách mỗi người hoà vào nhân cách tập thể Thời Trung cổ, với sự rađời Kitô giáo, nhân cách chủ yếu hướng về đời sống tinh thần, về những giá trịđạo đức thuần túy, con người sống nhưng luôn chuẩn bị cho đời sống củamình sau khi chết Thời Cận đại, với sự khẳng định giá trị con người, nhâncách đã mang tính độc lập sáng tạo…

Khi khẳng định tính quyết định của xã hội đối với nhân cách, cũng cầntránh quan điểm đồng nhất sự hình thành nhân cách với quy luật phát triển xãhội Lẽ dĩ nhiên, trong mỗi một kiểu xã hội nào đó, bao giờ cũng có kiểu mẫunhân cách (điển hình) cho xã hội đó và xã hội nào, nhìn chung, cũng thiết lậpmột số chuẩn mực, giá trị mà mỗi cá nhân muốn tồn tại và phát triển phảihướng tới Nhưng điều đó không có nghĩa là sự hình thành nhân cách đồngnhất với quy luật phát triển xã hội Bởi như vậy, sẽ không giải thích được tính

đa dạng của nhân cách trong mỗi xã hội

Quá trình hình thành và phát triển nhân cách là quá trình con người nắmlấy kinh nghiệm đời sống xã hội Ở mỗi giai đoạn lịch sử, kinh nghiệm đó thểhiện trình độ làm chủ của con người đối với lực lượng tự nhiên và lực lượng

Trang 17

xã hội Nó thể hiện một cách khách quan, được vật thể hóa trong nền văn hóavật chất và tinh thần của xã hội Nó có thể ở trong những vật thể cụ thể, trongcông cụ sản xuất, trong các quan hệ xã hội, trong ngôn ngữ hoặc trong nhữnghình thức và phương pháp tư duy… Quá trình con người nắm lấy kinh nghiệmcủa đời sống xã hội là sự thống nhất biện chứng giữa sự đối tượng hóa (kháchquan hóa) với việc cá thể con người giành lấy (chủ quan hóa) bản chất xã hộicủa mình Ví dụ, trong quá trình lao động, con người không chỉ phát triểnnăng lực của mình mà trong quá trình đó, con người đã đối tượng hóa cácnăng lực ấy trong các vật phẩm Các vật phẩm đó là kinh nghiệm của conngười được kết tinh dưới hình thức vật chất và mang tính khách quan Các thế

hệ sau sử dụng những vật phẩm đó cũng có nghĩa là nắm lấy những kinhnghiệm đã có Điều này cũng tương tự như trong các lĩnh vực khác của đờisống xã hội, như đạo đức, thẩm mỹ… Bên cạnh đó, chúng ta còn thấy, trongquá trình sống của mình, con người có vô vàn mối quan hệ, sự giao tiếp vớinhững người khác Trước tiên, khi sinh ra, họ là thành viên trong một gia đìnhnào đó và vì vậy, họ có thể là con cái, anh chị; sau nữa, họ có thể trở thành cha

mẹ, ông bà… Họ cũng có thể thuộc về một nhóm xã hội (giai tầng, giai cấp)nào đó và qua đó, cũng bị ảnh hưởng tư tưởng của nhóm xã hội (giai tầng, giaicấp) ấy Cuối cùng, họ cũng là một cá nhân trong một cộng đồng dân tộc nào

đó và do vậy, họ mang trong mình những những giá trị đặc trưng của dân tộcấy… Nghĩa là, trong cả cuộc đời mình, ở con người luôn diễn ra sự quan hệvới những người khác Chính những nhân tố này quyết định hoạt động, hành

vi của con người Môi trường xã hội chính là nguồn gốc trực tiếp mà ở đó, conngười hấp thụ và cũng rút ra những tư tưởng, tri thức, kinh nghiệm của mình.Con người sẽ không thể tồn tại, phát triển được nếu không có sự giao tiếp vớithế giới xung quanh, với cộng đồng người Hệ thống các quan hệ xã hội không

Trang 18

phải là cái gì trừu tượng, xa lạ, mà do chính con người tạo ra Để tồn tại vàphát triển, con người phải sản xuất và chính trong quá trình sản xuất, conngười tạo ra các mối quan hệ xã hội và ngược lại, các mối quan hệ xã hội nàylại quy định toàn bộ đời sống xã hội và bản chất mỗi người, như C.Mác đãnói: “Bản thân xã hội sản xuất ra con người với tính cách là con người như thếnào thì nó cũng sản xuất ra xã hội như thế”(7,43) Như vậy, mối quan hệ giữa

cá nhân - xã hội thể hiện ra như mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Cánhân nằm trong các quan hệ xã hội (mà các quan hệ xã hội đó chính là sự tácđộng lẫn nhau giữa cá nhân với nhau); nhưng qua đó, cá nhân đồng thời tíchcực giành lấy bản chất xã hội của các quan hệ xã hội đó, làm cho bản chất ấythành bản chất bên trong của mình, thành bản chất cá nhân Nhân cách là mức

độ “nội tâm hoá” bản chất xã hội của con người trong những điều kiện lịch sử

cụ thể Do vậy, con người muốn chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội và làmphong phú nhân cách của mình thì phải có sự hoạt động tích cực, bởi “sựphong phú tinh thần hiện thực cá thể hoàn toàn phụ thuộc vào sự phong phúcủa những quan hệ hiện thực của nó”(8,43)

Ở đây, xảy ra vấn đề, nếu môi trường xã hội đóng vai trò quyết định sựhình thành và phát triển nhân cách như vậy, vậy thì tại sao lại có những conngười có nhân cách khác nhau, tại sao trong cùng một điều kiện sống lại cónhững con người khác nhau và tại sao trong cùng một hoàn cảnh sống, conngười lại có những hành vi khác nhau Đây là một vấn đề không đơn giản Khinghiên cứu ảnh hưởng của môi trường xã hội đối với sự phát triển nhân cách,nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, môi trường xã hội bao gồm: môi trường vĩ mô

và môi trường vi mô Môi trường vĩ mô được coi là nguyên nhân chung củatính quyết định xã hội, còn môi trường vi mô là những hoàn cảnh xã hội trựctiếp, mang tính đặc thù của tính quyết định xã hội Đó có thể là hệ thống giáo

Trang 19

dục địa phương, là nhà trường, gia đình,… Việc đặt vấn đề môi trường vi mô,thiết nghĩ, là cần thiết, bởi nó cho phép chúng ta giải thích sự đa dạng củanhân cách, mà nếu chỉ dựa vào những tồn tại cơ bản của xã hội thì sẽ khônggiải thích được Thực ra, ngay ở cấp độ sinh học, sự phong phú, đa dạng củanhân cách cũng đã được thể hiện Khi sinh ra, mỗi người đã có một bộ genriêng của mình mà rất hiếm khi trùng với người khác Do vậy, mỗi người cókhí chất, thiên hướng, khả năng tư duy… hết sức khác nhau Cho nên, có thể,

dù cùng sống trong một thời đại, một nhóm xã hội (giai cấp, giai tầng), mộtmôi trường giáo dục giống nhau và thậm chí, ngay cùng một gia đình, nhưngcon người vẫn có những phẩm chất, kiểu loại nhân cách khác nhau Trongnhững hành vi của mình, con người thường dựa trên những kinh nghiệm sống,thiên hướng bẩm sinh, … để quyết định

Việc đặt ra tính đa dạng, phong phú của nhân cách trong xã hội là rấtquan trọng Bởi, nếu bỗng dưng vì những nguyên nhân nào đó mà mọi ngườitrong xã hội đều như nhau: bộ mặt, đầu óc, tư tưởng, tinh thần, năng lực… thìkhi đó, xã hội sẽ như thế nào? có được sự phát triển bình thường hay không? -

“Một cộng đồng toàn thể những cá thể đồng loạt giống nhau, không có độcđáo cá nhân và mục đích cá nhân - thì sẽ là một cộng đồng nghèo, không cókhả năng phát triển”(9,43) Thực ra, sự phát triển đa dạng, độc đáo của mỗingười là điều kiện, là hình thức biểu hiện sự phát triển tốt đẹp của xã hội Vàngược lại, đây không chỉ là biểu hiện của sự phát triển tốt đẹp của xã hội, màcòn là nhu cầu, yêu cầu phát triển của mỗi người

Khi nhấn mạnh vai trò quyết định của môi trường xã hội, chúng ta cũngđồng thời phải khẳng định tính tích cực của con người trong đời sống xã hội,trong sự hình thành bản chất của mình Môi trường xã hội không phải là "tủkính" trưng bày tất cả những giá trị xã hội mà qua đó, con người phải lựa chọn

Trang 20

những giá trị cần thiết cho mình Bởi lẽ, con người là một động vật xã hộikhác với toàn bộ thế giới động vật còn lại ở khả năng hoạt động có ý thức Sựhoạt động có ý thức là điều kiện cơ bản để phân biệt hoạt động của con ngườivới hoạt động của động vật Con người sáng tạo ra tất cả của cải vật chất và tinhthần, đồng thời cũng sáng tạo ra chính bản chất của mình.

Tính tích cực của nhân cách không mang tính tự nhiên, mà là bản chấtcủa con người Quan điểm của thuyết hành vi mới không tính đến yếu tố nàytrong sự hình thành và phát triển nhân cách, mà coi con người như một sảnphẩm thụ động của môi trường Theo quan điểm của họ, môi trường tác độngđến con người như thế nào, thì cũng tạo ra con người như thế ấy Đó là sự suydiễn máy móc Giải thích theo cách này không thể lý giải được tính độc đáocủa mỗi nhân cách Bởi như đã trình bày, con người khi sinh ra chỉ như là conngười “dự bị” Chính vì vậy, không ai nói tới nhân cách của đứa trẻ mới sinhhay còn ẵm ngửa Bước vào đời sống xã hội, đầu tiên là bắt chước, hành động

tự phát, sau đó, hoạt động của con người dần mang tính tự giác, con người bộc

lộ tính chủ thể của mình trong các hoạt động xã hội và qua đó, thể hiện tínhtích cực xã hội của mình Có thể thấy rằng, tính tích cực của nhân cách, mộtmặt, phụ thuộc vào nhu cầu và lợi ích của họ Quá trình thực hiện nhu cầu vàlợi ích là quá trình con người nỗ lực hoạt động, phát huy tính tích cực xã hộicủa mình Tuỳ thuộc vào nhu cầu và lợi ích của mình, các cá nhân hoạt độngvới những động cơ, tình cảm và lý trí khác nhau và qua đó, trong hoạt động,những mặt nhất định của tính tích cực xã hội xuất hiện trong mỗi cá nhân (cóthể cá nhân này tích cực hoạt động trong học tập, cá nhân khác là trong giaotiếp hoặc trong lao động…) Chúng tạo ra xu hướng phát triển của nhân cách

và dần đi vào cấu trúc nhân cách của mỗi người Chính ở đây, tính đa dạng,phong phú của nhân cách cũng được hình thành Song, cũng cần phải thấy

Trang 21

rằng, nếu nhu cầu và lợi ích của con người được thực hiện một cách tự động,không cần nỗ lực của chủ thể thì sẽ không khuyến khích chủ thể tìm kiếmphương thức thực hiện và thoả mãn nhu cầu Điều này sẽ gây ra tính ỷ lại, tínhthụ động của nhân cách Mặt khác, môi trường xã hội và khuynh hướng tiến

bộ xã hội cũng quy định tính tích cực của nhân cách Một môi trường xã hộilành mạnh, như nền dân chủ, các quan hệ xã hội, điều kiện văn hoá - tinh thầncủa xã hội có sự phát triển hài hoà… thì sẽ tạo điều kiện cho tính tích cực củanhân cách phát huy Ngược lại, tính tích cực xã hội của nhân cách sẽ bị thuichột đi, nếu môi trường xã hội không tạo điều kiện cho nó bộc lộ Trong mộtchừng mực nào đó, điều này không những làm cho nhân cách bị nghèo nàn,

mà còn có thể dẫn tới sự phá vỡ nhân cách, mà trong Bản thảo kinh tế – triếthọc năm 1844 C.Mác đã nói tới

Như vậy, có thể nói, sự hình thành và phát triển nhân cách là một quátrình lâu dài và phức tạp Trong quá trình đó, giữa các yếu tố bên trong và yếu

tố bên ngoài, giữa cái sinh học và cái xã hội thường xuyên tác động lẫn nhau

và vai trò của mỗi yếu tố đó thay đổi trong từng giai đoạn phát triển của mỗingười Trong quá trình sống, con người có được những kinh nghiệm sống,niềm tin, thói quen… và ngược lại, khi tiếp nhận bất cứ việc gì, nhân cáchcũng dựa trên chuẩn mực xã hội để điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp.Không chỉ thế, họ còn dựa vào những cái bên trong, những kinh nghiệm củamình để đánh giá, tiếp nhận hay gạt bỏ cái bên ngoài Như thế, quá trình nàyluôn gắn với năng lực tự đánh giá, tự ý thức của mỗi người và do vậy, gắn vớiquá trình tự giáo dục, quá trình thường xuyên tự hoàn thiện mình của nhâncách Nhân cách không phải là một cái gì đó đã hoàn tất, mà là quá trình luônđòi hỏi sự trau dồi thường xuyên

Ngày đăng: 29/08/2014, 20:22

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w