ˆ Thành viên tham gia thị trường tiền tệ gO cd: ˆ Ngân hàng Trung ương, các Tổ chức tài chính, các Ngân hàng Thương mại, các Công ty và các 'Tổ chức lớn - những người tạo ra thị trường
Trang 1Tema see arete STE Xương
Đề tài NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG VIỆC TỔ CHỨC VÀ VẬN HÀNH
THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ Ở VIET NAM
Chương vinh: Nhimg vấn đề cơ bản trong tổ chức và vận hành
các thị trường tiền tệ, thị trường vốn đến năm 204} ở Việt nam
Trang 2THỊ TRƯỜNG TIỀN TE
l KHÁI QUÁT CHUNG
A Khái niêm về thị trường tiền tê
2 Các thành viên tham gia thị trường ‘ 5
B Các thành phần và công cụ của thì trường tiên tê
1.1, Cho vay/ vay e6 thế chấp hoặc không có thế chấp
!.2 Chiết khấu các loại phiếu
—CŒ, Phương thúc phát lãnh trên thị truone so cap
2 Tớ họp
} Đđu thần
DĐ Phương thức giqo dịch trên thi trường thứ cấp
1 Hợp dòng mua lại (hay vay tạm ng có thể chấp) 17
3 ái chiết khẩu - Củu sổ chiết khẩu _ 28
II ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƯỜNG TIỀN TẾ CỦA CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN
Trang 3to
2 Thị trường tiền té Anh
3 Thị trường tiên tô Đức
4 Thi trường tiền tê i "áp
5 Thị trưởng tiền tê Nhất
ñ s Thị trường tiền tê Thuy sĩ
II XÂY DỰNG THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
A Mo hinh t6 chite va cde cong on
Ll Tình hình hiện tại
1.1 Thị trường tín dụng
1.2 Thị trường nội tệ liên ngân hàng
†.3 Thị trường đấu thầu tin phiếu kho bạc
L.4 Thị trường ngoại tệ Hiên ngân hàng
2 Các biện pháp tăng Cường xây đựng thị trường tiền tệ
2.1 THỊ trường liên ngân hàng ˆ
4 Phuong thie hạch toán trên thị trường tiền tệ
trong giai đoạn tới
3] j4 ⁄
B Chinh sách tiền t6 và viếc sử tưng thị trường tiền te để phe vụ chính xách tiên tê của Nuân hang Trung wong
1 Các công cụ hiện nay của Ngân hàng Trung Hong
a Cơ cấu lãi suất
b Dự trữ bắt buộc
c Tái cấp vốn
_ Thể thức tái cấp vốn ngắn hạn
- €.Hạn mức tín dụng
to Sự cần thiết của các Công cụ giản tiếp
$†.- Có tiến và xây dựng các CÔng Cụ giản Hiếp
Trang 4THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ
KHÁI QUÁTP CHUNG
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường không thể tách rời.với các loại thị
trường, trong đó có: thị trường tài chính là hình thức cao nhất Thị trường tài
chính là nơi trao đổi vốn từ ngắn hạn đến dài hạn giữa các chủ thể kinh tế Muốn cho gự giao lưa vốn được thông suốt và huy động được tối đa các nguồn ˆ vốn trong và ngoài nước, cần phải có thị trường tài chính dược tổ chức tốt với nhiều công cụ đa đạng có những kỳ hạn khác nhau, nhằm đắn ứng yêu cầu của
Trong hơn một thập kỷ quái, hệ thống tài chính - tiền tệ trên thế giới phái triển nhanh chóng và không ngừng, trong đó đặc biệt là sự phát triển của hệ thống thị trường tài chính khu vực Đông Nam Á, một bộ phận hữu cơ trong tổng thể tài chính thế giới Trình độ phát triển của một nước sẽ được đ
theo mức độ và qui mô phát triển của hệ thống t
trường nước đó
ánh giá
ài chính trong nền kinh tế thị
Trong quá trình phát triển thị trường tài chính, dựa trên cơ sở kỳ hạn của
Các công cụ có liên quan và mục đích ra đời của chúng, người ta phân định ra các loại thị trường khác nhau, trong đó có thị trường cấu thành là thị trường tiền tệ Từng thị trường có đặc thù tiêng song chúng tác động và hỗ trợ lẫn nhau trong một tổng thể phát triển của thị trường Tài chính Trong phần này, chỉ bàn tới các vấn đề liên quan đến thị trường tiền lệ mà thôi
A Khai niém về thị trường tiền té
Tại các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, thị trường tiền tệ được hiểu là thị trường vốn ngắn hạn, nơi mọi chủ thể kinh tế đều có thể tham giá 'pÌao dịch các Công cụ nợ ngắn hạn theo cơ chế thị trường, với lãi suất biến động tự do Các giao dịch trên thị trường tiền tệ thường có kỳ hạn từ một năm trở xuống (những đặc biệt cũng có thể có kỳ lriạn tới 3 -5 năm) và thông thường dưới một năm như tín phiếu kho bạc, các khoản vay ngắn hạn giữa các ngân hàng, các thỏa thuận mua lại, các chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, thương phiếu
Theo nghĩa này, thị trường tiền tệ là giai đoạn phát triển cao hơn thị trường tiền gửi truyền thống ( hay thị trường tín dụng) giữa các Ngân hàng
với khách hàng của họ Thị trường tiền tệ có tính đa biên và công khai hơn
3
Trang 5là thị trường tín dụng - nơi quan hệ Ngân hàng - khách hàng là song biên, riêng biệt và khép kín ( khong thể chuyển nhượng) Nhưng theo một số quan niệm, thị trường tiền tệ theo nghĩa rộng nhất là bao gồm cả thị trường tín dụng truyền thống
+ Thị trường tiền tạ bao gdm hai 50 phan sau:
Day là nòng cốt của thị trường tiền lệ, là nơi trao đổi vốn khả dụng giữá các tổ chức tài chính và nhất là giữa các Ngân hàng Thuong
mại với nhau khi mối quan hệ cùng - cầu khăng khít giữa các Ngân hàng trở nên ngày một thiết yếu
Thị trường liên Ngân hàng biểu hiện mối quan hệ giữa các tổ chức |
tín dụng qua các nghiệp vụ vay Và cho vay ngắn hạn trên thị trường tiền tệ Liên ngân hàng Lãi suất thị trường hình thành trên cơ sở Củng
cầu với tính chất bán buôn bởi vì là thị trường giữa các nhà chuyên môn kinh doanh tiền tệ hiểu biết lẫn nhau, Mội mặt, các Ngân hàng
và các Tổ chức tín dụng đăng thiếu vốn thường là những tổ chức năng
- động, có hiệu suất sử dụng vốn cao hoặc có như cầu bù đấp thiếu hụt vốn khả dụng tạm thời Mặt khác, các Ngân hăng dư thừa vốn khi cho vay trên thị trường Liên Ngân hàng là muốn sử dụng vốn an toàn, lĩnh hoạt cao mà vẫn có lãi Do vậy, chênh lệch mức Hi suất vay/ cho vay trên thị trường này không cao vì thực ra nhủ cầu cho vay của các Ngân hàng là rất lớn để phân tán rủi ro và hạn chế việc để vốn khả dụng nhàn rỗi, lăng phí
Việc chuyển giao các nguồn vốn vay va cho vay gifta các tổ chức
tín dụng làm cho vòng quay của các ngưồn vốn tĩng lên và các nguồn - vốn được sử dụng linh hoạt hơn trong hệ thống tiền lệ thông qua thị
trường Ì iên ngân hàng
THỂ trường mở:
Là thị trường vốn giữa các chủ thể kinh tế (Nhà nước, Ngân hàng, Đoạnh nghiệp và cả các cá nhân) bao gồm nội đụng của thị trường, Liên ngân hàng Với thành phần mở rộng nữ vậy, đây là môi trường thuận lợi cho Ngân hàng Trung ương can thiệp để diều tiết lượng cùng ứng tiền lỆ thông qua việc mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường này Cúc hoạt động như vậy gọi là nghiệp vụ thị trường mở
‘
Trang 6Lịch sử phát triển của thị trường tiền tệ ở các nước đều cho thấy bao giờ thị trường liên ngân hàng cũng phát triển trước, sau đó mới
mở rộng ra với các đối tượng khác ngoài ngân hàng Khái niệm thị trường mở chính là xuất phát từ đó
Do kỳ hạn ngắn, piá của các công cụ thị trường tiền tệ thường ít biến động hơn số với các công cụ đài hạn khi lãi suất thị trường thay đổi, vì vậy chúng có độ an toàn cao hơn và khả năng thanh khoản cũng như mùa bán chuyển đổi dễ đàng hơn
Như vậy, thị trường tiền tệ là một bộ phận của thị trường tài chính, bổ sung cho thị trường tiền pửi (hay thị trường tín dụng qua hệ thống trung gian tài chính) và [à tiền đề của thị trường vốn dài hụn mà chủ yếu là thị trường chứng khoán
Sơ đồ của thị trường tiền tệ có thể duoc mo té nhur sau:
THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG THỊ TRUỜNG MỞ
(Các tổ chức tài chính được phép) - ( Cúc chủ thể kinh tế)
2 Cức thành viên thánh sữa thị (rtnồng tiền tệ:
Về nguyên tắc, mọi người đầu tư đều có thể tham gia thị trường Tiền tệ, nhưng do khối lượng giao địch trên thị trường rất lớn nên
thường chỉ có các nhà đầu tư có tổ chức mới đã khả năng tham gia, còn các nhà đầu tư cá thể thường phải thông qua các tổ chức đó để tham gia một cách gián tiếp ˆ
Thành viên tham gia thị trường tiền tệ gO cd:
ˆ Ngân hàng Trung ương, các Tổ chức tài chính, các Ngân hàng
Thương mại, các Công ty và các 'Tổ chức lớn - những người tạo ra thị
trường của các công cụ riêng biệt như tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi và công chúng nói chung - những người sử dụng tiên vào các mục đích khác nhau Cụ thể là các bên tham đự sau:
a Sirtham gia của Ngân hàng Trùng wong :;
Trang 76
Trên thế giới, mỗi thị trường có từng loại công cụ đặc trưng
và mức độ thưm gia của Ngân hàng Trung ương cũng có khác nhau, song nói chung thị trường Tiền tệ được đặt đưới sự kiểm tra
giám sát của Ngân hàng Trung ương Ngân hàng Trung ương
thường là người đưa ra các thiết chế, điều luật cho thị trường Tiền
tệ nhằm bảo đảm một thị trường 'Tiền tệ hoạt động năng động, có
hiệu quả, trôi chảy và có tổ chức ‘
Đồng thời, Ngân hàng Trung ương can thiệp vào hoạt động của thị trường bằng cách can thiệp vào quá trình tạo lập ra tiên
của các Tổ chức tín dụng và làm thay đổi Hi suất thị trường qua việc tác động đến cũng cầu tiền tệ thông qua các công cụ gián
tiếp như dự trữ tối thiểu bất buộc, nghiệp vụ thị trường mở và tái chiết khấu Ngân hàng Trung ưong can thiệp một cách có hiệu quả vào thị trường Tiền tệ qua việc phối hợp một cách Jinh hoat một loạt các công cụ đó
0 Sự Khàm gia của các Ngân hàng Thương thật,
Trong hệ thống Tài chính, Ngân hàng Thường mại có thể nói
là những trung gian hoạt động chính trên thị trường Tiền tệ Ngân hàng Thương mại tham gia thị trường này nhằm duy tì khà năng thanh toán hay khả năng chỉ trả của ngân hằng, tận dụng vốn tạm thời nhàn rỗi để kiếm lời ở mức tối đa cũng như vay vốn cần thiết với mức phí thấp nhất phục vụ mục tiêu trên Sự có mặt của các
Ngân hàng Thương mại với các tính năng hoại động riêng của nó
sẽ là động lực chính để thúc đẩy sự hoạt động của thị trường Tiền
tệ,
,
Trên thị trường “Tiền tệ, Ngân hàng Thương mại thường sử
dụng các công cụ như chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng, chấp nhận hối phiếu, khoản vay ngắn hạn giữa các ngân hàng
“nhằm: phục vụ cho các hoạt động tín dụng của mình thông qua
các nghiệp vụ ngân hàng, Các Ngân hàng Thương mại là yếu tố quan trọng để lưồng vốn luân chuyển có hiệu quá trên thị trường
Su tham gia cia cic tO chic phi tai chinh:
Các tổ chức phi thi chính gồm Chính phủ, Chính quyền các
địa phường, các Công 1y thương nại và công nghiệp
Trang 8tệ cũng là để đảm bảo khả năng thanh toán cao đồng thời vẫn thu ˆ được nhiều lợi nhuận Các đối tượng này có thể tham gia thị trường với tư cách người vay vốn - bằng việc phát hành các công
cu vay vốn ngắn hạn hoặc như một người đầu từ - thông qua việc mua các công cụ thị trường Để có thể tham gia tích cực với tư cách người vay vốn trên thị trường tiền tệ, các tổ chức loại này
phải có uy tín cao hoặc phải được các Ngân hàng hay 'Tổ chức tài
chính-có uy tín bảo lãnh Bên cạnh đó, Chính quyền các cấp
thường tham gia thị trƯỜNng với tư cách người vay vốn và với mục
tiêu nhằm huy động vốn một cách thuận lợi và tiết kiệm nhất cho chỉ tiêu ngân sách
d Sir tham gta của các tở chức tài chính Phi ngan hang:
Các tổ chức tài chính phi Ngân hàng là các đối tượng bao
gồm các Qui dau tr tập thể, các Công ty bảo hiểm, các Quï lưu trí
Đây là các tổ chức đầu tư tiềm tầng và rất quan trọng trên thị
trường vì họ có nguồn vốn đồi đào về cơ cấu, nguồn vốn này càng lớn thì thị trường càng linh hoạt và phát triển vì chúng là ngưồn tiếp sức cho việc mua đi bán lại các công cụ trên thị trường Là những tổ chức đầu tư chuyến nghiệp, các tổ chức này thường đâu
tư vào tất cả cáo loại công cụ trên thị trường một cách đa dang
nhằm vừa phân tần rủi ro, vừa đạt lợi nhuận bình quân tối ưu
e Sirtham gia cua các cá nhân:
Cúc cá nhân thường, tham gia thị trường tiền tệ với tư cách là
người đầu tư: Hình thức tham giá của họ có thể là người sở hữu
„các khoản tiền gửi tại Ngân hàng hay các công cụ thị trường khác Sự tham giá này tùy thuộc vào việc các cá nhân thích giữ tiền mặt hay là giữ các giấy tờ có giá khác, mà động cơ là phục vụ
cho mục đích giao dịch như thanh toán tiền mua hàng hoặc cho
ˆ mục dich phòng ngừa rủi ro hay cho mục đích đầu cơ kiếm lời từ
sự biến động lãi suất trên thị trường Trên cổở sở xác định lãi suất
và mức độ rủi ro và uy tín của các Ngân hàng, các quỹ mà các
cá nhân có thể dat long tin vaio đầu tư tại các cơ sở đó
Cc thành phần và công cụ của thí trường tiền tê _
Trang 9+, Thị trường Liên Nuân hang
Như trên đã nói, thị trường tiền tệ gồm bai bộ phận chính là a trường liên ngân hàng và thị trường mở; nhưng sự phân chia này chỉ là tương đối xét về phía các thành viên khác tham gia thị trường, Riêng
với các tổ chức tài chính, đặc biệt là các Ngân hàng thì không có ranh
giới giữa hai bộ phận thị trường đó vì những công cụ mà họ giao dịch
trên Thị trường liên Ngân hàng phần lớn cũng là các công cụ giao
dịch trên Thị trường tiền 1ệ nói chung, chỉ có đối tác cửa họ là kiuic
- ChỉỈ có những chủ thể kinh tế đủ khả năng mới dược phép phát
hành các công cụ nợ trên thị trường tiền tệ Chủ yếu có ba loại người phát hành là Kho bạc Nhà nước, các ngân hàng và các doanh nghiệp
Ngoài ra, ở một số nước không có hoặc có ít tín phiếu kho bạc thì có, thể Ngân hàng Trung ương phát hành ra tín phiếu Ngân hàng Trung ương để làm công cụ của chính sách tiền (tệ Tùy theo người phát hành, các công cụ có tên gọi khác nhau nhưng chúng có chung đặc
điểm là ngắn hạn và có thể chuyển nhượng ;
Thị trường Liên ngân hàng là thị trường vô hình hoạt động qua
nổi mạng giữa các phòng giao dịch của các thành viên tham gia thị trường (và các Công ty môi giới nếu có), đó là các Ngân hàng, Công
ty tài chính và có thể cả các Công ty bảo hiểm (đối với những nước coi các công-ty bảo hiểm là các công ty tài chính) Các giao dịch thị trường phần lớn thông qua các nhà môi giới thị trường tiền tệ Các nhà môi giới này phải được cơ quan có thẩm quyên (thường là Ngân hàng
Trung ương) cấp giấy phép Các thành viên phải là các tổ chức tài
chính và với tư cách đó, phải đáp ứng những điều kiện chặt chẽ vê vốn và về chuyên môn Hoạt động của thị trường tiền tệ liên ngân
hàng có thể được thể hiện qua một số hình thức như sau:
1.1, Thị tường vay nưượn có thé chap hoac không có thế Chủ?:
Thị trường này gắn với các khoản vay ngắn hạn giữa các chủ thể
- ngân hàng, vì vậy còn được gọi là thị trường tín dụng ngắn hạn liên
Ngân hàng loạt động chủ yến của thị trường này là cho vay không + kỳ hạn và có kỳ hạn từ một ngày cho đến một năm giữa các Ngắn hàng với nhau, Bên cạnh việc cho vay, tiền gửi niữa các ngân hàng đôi khi cũng được sử dụng như một phương tiện điều chỉnh vốn thanh toán giữa các Ngân hàng: Tham gia trên thị trường này, các Ngân hang Thương mại có cơ hội tìm nguồn tài trợ nhụ cầu tạm thời về vốn
Trang 10thiếu hụt cũng như cơ hội tranh thủ kiếm lỗi trên vốn lạm thời nhàn
rỗi trong thời gian ngắn
Đại bộ phận các giao dich trên Thị trường liên Ngân hàng là các Biao dịch vay nóng từ một ngày đến ba tháng, không có thế chấp hoặc
có thế chấp bằng các loại chứng phiếu Các giao dich trén ba tháng thường mang hình thức chiết khấu các chứng khoán ngắn hạn, nhất là tín phiếu kho bạc,
Ở Các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, thị trường liên Ngân hàng ra đời rất sớm, bắt đầu từ các giao dịch vay mượn không
có thế chất», sau đó mới đần đần phát triển các công cụ thế chấp và
1.2 Chiét khẩu trên thị trường liên ngân hàng:
Các công cụ trên thị trường liên Ngân hàng chủ yếu là Tín phiếu kho bạc, trái phiếu Chính phủ trung hạn, hối phiếu đủ tiêu chuẩn, kỳ
phiếu các loại Chiết khấu là một nghiệp vụ tín dụng chủ yếu của các
Ngân hàng Thương mại - trong đó các Ngân hàng chuyển nhượng quyền sở hữu chứng phiếu chưa đáo hạn cho các Ngân hàng khác để nhận một số tiền bằng mệnh giá của chứng phiếu trừ di ti chiết khẩu
và hơa hồng phí hoặc Ngược lại cho vay các Ngân hàng khác bằng cách chiết khấu chứng phiếu theo một lãi suất chiết khấu nhất định Các chứng phiếu mà Ngân hàng có trong tay thường là những chứng phiếu họ đã chiết khấu cho khách hàng, nhất là các thương phiếu ( gồm hối phiếu và kỳ phiếu) Thương phiếu có thể bán cho
Ngân hàng "Thương mai mang tinh chat tin dụng chiết khấu Giá mua
thương phiếu là toàn bộ sở tiền trả nợ kỳ phiếu đã trừ đi lãi suất, hoa hồng và các khoản chỉ phí khác Số tiền này được trả cho chủ thương phiếu bằng tiền niật lay séc chuyển vào tài khoán của chủ sở hữu thường phiếu ở Ngân hàng Từ đây thương phiếu được chuyển nhượng cho Ngân hàng và Ngân hàng trở thành chủ thương phiếu, Ngân hàng
có thể chờ đến hạn thanh toán xuất trình thương phiếu cho con nợ đòi thanh toán hoặc dem tai chiết khấu trước hạn trên thị trường liên Ngân
Thị trường mở;
Khác với phương thức chiết khấu có tính chất song biên và riêng
lẻ, nghiệp vụ thị trường mở là các piao dịch múa bán các cong cu ng
có thể chuyển nhượng trên cơ sở đa bien, theo giá niêm yết công khai,
ye:
Trang 1110
Các công cụ chủ yếu trên hi trường mở là tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi và kỳ phiếu công ty Dưới đây chúng ta có thể xem xét từng thị trường cụ thể
Thị tường Tĩn phiếu kho bạc (1B):
Tiên thị trường tín phiến kho bạc, các Tín phiếu kho bạc ngắn hạn thường được phát hành với nhiều loại kỳ hạn gốc khác nhau Theo
định kỳ hàng tuần hoặc hàng thắng tùy theo loại kỳ han Vi vay, gan như có một lưồng Hên tục các tín phiếu kho bạc mới được phat hanh
trên thị trường Tín phiếu kho bạc ngắn hạn được yết giá trên cơ sở
khấu trừ lãi tính trên số ngày thực tế đến hạn theo một năm là 360 ngày (nhưng ở Nhật cũng như mot vài nước khác vẫn tính theo một năm là 365 ngày cho nên dang muốn chuyển sang cách tính 360 ngày cho phù hợp với, xu hướng chúng hiện nay trên thế giới)
Công thức tính giá tín phiếu kho bạc như sau:
Ls: Lai suai tín phiếu kho bạc trứng thầu
T: SOngady kY han cia tin phidis
360: SO ngady guy ude cba mgt nam
Ngược lại, theo công thức trên có thể tù giá quy đổi ra lãi suất
Qua tham khảo mô hình Mỹ cho thấy Chính phủ Mỹ là chủ thể được coi là có uy tín - tín dụng lớn nhất trên thị trường tiền tệ Mỹ và
là nguồn cũng cấp các công cụ tài chính lớn nhất trên thị trường này
Ngoài tín phiếu kho bạc, Chính phủ Mỹ còn phát hành các loại trái phiếu kho bạc trung hạn, có kỳ hạn dài hơn Các nhà hoạt động trên thị trường có vốn đầu tư dưới một năm thường giao dịch các công cụ này, vÌ vậy thông thường cúc công cụ này được coi như là một phần của thị trường tiền tệ mặc dù kỳ han của chúng dài hơn,
Trang 12
tỤ-ˆ Kỳ hạn của các loại tín phiếu kho bạc thường là 3 tháng, 6 tháng,
9 tháng hoặc một năm, loại này có mức độ rủi ro thấp đối với người đầu tư và vì vậy lãi suất áp dụng cũng thường là thấp hơn so với các Công cụ thị trường tiền tệ khác
Việc khối lượng của mỗi đợt phát hành lớn nhỏ tùy thuộc vào khối lượng bù đắp thiếu hụt ngân sách tạm thời của Chính phủ được phân bổ cho các đợt phát hành Số lần phát hành, trị giấ giao dịch tối thiểu qui định và với mạng lưới các nhà giao dịch lính hoạt trên thị trường sơ cấp, thứ cấp của các chứng khoán Chính phủ đã mang lại khả năng thanh toán rat cao cho thị trường này, Các tín phiếu khó bạc tất lấp dẫn đối với dân chúng vì độ an toàn cao, dé chuyển nhượng hơn một số công cụ khác và lãi từ các chứng chỉ này thường là đối tượng không phải chịu thuế
Thị trường tín phiếu kho bạc gồm có thị trường sơ cấp (thị trường
ˆ phát hành lần đầu) và thị trường thứ cấp (thị trường mưa bán lại các tín phiếu đã phát hành) Tín phiếu kho bạc do Chính phủ phát hành, thông thường bằng phương pháp đấu giá hằng tuần, hàng tháng hoặc hàng quí qua hệ thống Ngân hàng Loại tín phiếu này thường có mặt trong danh níục đầu tư của các Ngân hàng Thương mại, các Quï đầu
tư tập thể, cũng như các Công ty chứng khoán Tại Ngân hàng Trung ˆ ương, loại này được sử dụng để điều hành chính sách tiền tệ thông qua hoạt động thị trường mở nhằm điều tiết cung ứng tiền tệ, phục vụ
- cho mục tiêu ổn định lạm phát và tăng trưởng
Phương thức piao dịch phổ biến nhất đối với lín phiếu kho bạc trên thị trường thức cấp là các hợp đồng mua tai (sẽ được mô tả ở phần đưới đây)
2.2 Thi trường chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng (CD):
Chứng chỉ tiền pửi cũng tương tự như các loại tiền gửi có kỳ hạn khác, với điểm khác biệt cơ bản là ở chỗ chứng chỉ tiền gửi có thể được tiần (hoặc chuyển nhượng) cho một bên thứ ba mà không bị phạt bởi các ngân hàng phát hành, Chứng chỉ tiền gửi thông thường có kỳ hạn từ 3 tháng tới 12 tháng Để tăng tính hấp dẫn của công cự này, lãi suất áp dụng cho chứng chỉ tiền gửi thường cao hơn lãi suất loại tiền gửi cùng kỳ hạn, đồng thời ở một số nước ngân hàng phát hành còn áp dựng các điều kiện làm 4ãng khả năng chuyển đổi thành tiền của công
cụ như cho phép người sở hữu chứng chỉ có thể bán chúng trước hạn
(với mức giá khấu trừ) cho một số Công ty chứng khoán và tài chính
nhất định Chứng chỉ tiền gửi thường được sử dụng để huy động các
Trang 13{2
nguồn vốn lớn, vì vậy các ngân hàng thường đặt mức tối thiểu đối với một chứng chỉ tiền piri
Chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng thể hiện rõ sự phát triển
của một công cụ đã được chuyên môn hóa nhằm mở ra một ngưồn vốn
mới Nguồn vốn truyền thống của các Ngân hàng Thương mại là các loại tiên gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn Đối với một Ngân hàng Thương mặi, các loại tiền gửi này là một phân của nghiệp vụ Ngân hàng truyền thống như các tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tài khoản
tiền gửi vãng lai Nếu một Ngân hàng muốn huy động vốn vượt quá nguồn vốn tiền gửi thì các thị trường tài chính là nơi lựa chọn thích
bop Vấn đề là ở chỗ làm thế nào để tạo ra một công cụ tài chính có sức hấp dẫn đối với thị trường Cách dễ nhất để một Ngân hàng
Thương mại phát huy tác dụng của một công cụ mới là biến công cụ
đó thành một loại tiền gửi do đó các Ngân hàng Thương mại được phép nhận tiên gửi và có quy chế điều tiết được công bố rộng rãi Cho nên vấn là ở chỗ phải xác định được loại hình tiền gửi nào có thể thu ` hút được khách hàng mới của Ngân hàng
Các nhà đầu tư quan tâm tới loại hình tiền gửi như vậy thường đầu
tư vào các loại kỳ liạn ngắn và có tính khả dụng cao Các khả năng có thể lựa chọn để đầu, tư ở ngân hàng một mặt là đầm bảo tính khả dụng
- đó là tiền gửi không kỳ hạn; mặt khác tà đảm bảo thú lãi cao hơn mà vẫn an toài và chỉ cần xuất trình số tới Ngân hàng là rút được tiền -
đó là tiền gửi có kỳ hạn Tuy nhiên, trừ các tài khoản tiền gửi tiết kiệm _ theo Ki suất hàng ngày thấp, các loại tiền pửi thường được giữ cho tới khi đến hạn vì nếu rút ra trước hạn sẽ bị mất lãi Theo cách này, chứng chỉ tiền gửi - một loại tiền gửi mới, đã cung cấp một sản phẩm mới
cho thị trường bằng cách tạo ra một loại tiền gửi có thể mua bán lại dê ding hon trên thị trường Nhằm tăng khả năng trao đổi trên thị trường, các loại chứng chỉ tiền gửi thường được phát hành thẳng cho người đầu tư Song các nhà giáo dịch chứng khoán cũng được khuyến khích
tham giá nhằm hỗ trợ thị trường thứ cấp của chứng chỉ tiền pửi,
- Hãu đâu, loại chứng chỉ tiền gửi mới được phát hành có lãi suất cao hơn Hi suất của các loại tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn; nhưng thấp hơn lãi suất của các loại tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn tương đương Về phía các nhà đâu tư, khả năng trao đối trên thị trường của chứng chỉ tiền gửi (khả năng này đảm bảo khả năng thanh toán của chứng chỉ tiền gửi nếu nó được bán trước khi đến hạn) bù đấp cho việc lãi suất của chứng chỉ tiền pửi thấp hơn lãi suất của các loại tiên gửi
có kỹ-hạn tường đương Về phía Ngân hàng phát hành, chứng chỉ tiền
gửi có khả năng thánh toán tường tự như tiền gửi có kỳ hạn (loại tiền
gửi không được rút trước hạn) những có chỉ phí thấp hơn, Về sau này,
Trang 14
12-lãi suất thị trường của các loại chứng chỉ tiền gửi có trị giá lớn thường
- cao hơn so với lãi suất tiền gửi có kỳ hạn trong nước
Cúc Ngân hàng Thương mại lớn được coi là các tổ chức có uy tín tín đụng đứng thứ hai troñg số những tổ chức phái hành: Mức thấp
hơn Kho bạc, những cao hơn các Công ty công nghiệp Vì vậy, chứng
chỉ tiền gửi có lãi suất cao hơn lãi suất của các tín phiếu kho bạc ngắn hạn, trong khi có khả năng thanh toán rất cao Do vậy chứng chỉ tiền pửi rất hấp dẫn đối với các nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận một người vay có uy tín tín dụng thấp hơn Kho bạc như một Ngân hàng Thương mại lớn để đổi lấy lợi nhuận cao hơn
Ngoài ra, việc có nhiều quy định áp dụng cho các loại tiện gửi như yêu cầu về dự trữ bắt buộc, giới hạn lãi suất trần, và các quy định ˆ
về an toàn vốn, cũng ảnh hưởng tới tính chất của chứng chỉ tiền gửi Nếu công cụ nào càng ít chịu ảnh hưởng của các quy định này thì chỉ phí của Ngân hàng cho công cụ đó càng giảm Đo vậy, các quy định này đã quyết định mức độ giá trị và kỳ hạn của các loại chứng chỉ tiền gửi đo các Ngân hàng thương mại phát hành Trị giá tối thiểu của chứng chỉ tiền gửi được xác định bởi mức qui định tối thiểu mà lớn hơn mức này sẽ không bị khống chế bởi qui định về lãi suất trần Lãi suất của chứng chỉ tiền gửi do Ngân hàng phát hành ấn định, chủ yếu là chịu ảnh hưởng của thị trường, có tính đến mức lãi suất ngắn hạn tổng quát cũng như uy tín tín dụng của Ngân hàng phát hành Trái ngược với phần lớn các công cụ khác trên thị trường tiền tệ
- là những công cụ được giao dịch trên cơ sở khấu trừ Hãi, chứng chỉ tiền gửi được trả lãi sau khi đến hạn, trừ trường hợp các chứng chỉ tiền gửi có kỳ hạn trên một năm thì được trả lãi nửa năm một
- Để phát triển một công cụ có khả năng trao đổi trên thị trường,
cần khuyến khích các thành viên tham gìa thị trường, mà sự đóng góp
của họ chủ yếu là để lập ra một thị trường mua bán lại (thị trường thứ cấp) - trái với các nhà đầu tư là những người giữ công cụ này Vì mục đíclí đầu tư cho tới khi quyết định bán nó Động lực đầu tiên để thành Tập thị trường thứ cấp cho chứng chỉ tiền gửi của các nhà giao dịch _ này kuất phát từ nhận thức rằng chứng chỉ tiền gửi đã đóng góp cho thị trường một sẵn phẩm mới mà có thể thu phí bảo lãnh phát hành nó,
- sau đó xuất phát từ việc các nhà giao dịch có thể có 1ãi khi giao dịch
chứng chỉ tiền gửi theo cách truyền thống, tức là thu lñi do chênh lệch
giữa giá mua và bán và do tranh thủ tình hình biến động lãi suất được
đự đoán trước
13- \
Trang 1523
14
Chứng chỉ tiền gửi dã cho phép các Ngân hàng sử dụng một
_ ngưồn vốn mới trên phạm vị toàn quốc và không chịu sự kiềm chế của Nhà nước như đối với các loại tiền gửi khác cũng như ở trên toàn thế giới Chứng chỉ tiền gửi có thể được bán cho các nhà đầu tư không
phải là khách hàng của Ngân hàng, trừ trường hợp là các Ngân hàng
phát hành Ngoài ra, do khả năng trao đổi trên thị trường mà các công
cụ này đã thu hút vốn đầu tư vào các loại kỳ hạn di hơn kỳ hạn của các loại tiền gửi có kỳ hạn thông thường, vì vậy làm tăng khả năng
thanh toán của Ngân hàng phát hành Đối tượng đầu tư vào chứng chỉ tiền gửi phổ biến nhất là các Công ty, các Ngân hàng và các nhà giao dịch ‘
Ngân hàng phát hành có trách nhiệm phải thông báo ra công chúng số lượng chứng chỉ tiền gửi Ngân hàng đã phát hành chưa thanh toán, Thông tin về tỷ trọng thị trường của các loại chứng chỉ tiền gửi đo một số Ngân hàng cụ thể phát hành trên thị trường thành phố và ở thị trường quốc gia sẽ được thông báo rộng Trãi qua các phương tiện thông tin đại chúng
Bên cạnh loại chứng chỉ tiền gửi có lãi suất ấn định còn có chứng chỉ tiền gửi có lãi suất thả nổi Lãi suất của loại chứng chỉ tiền gửi này được hình thành trên cơ sở li suất cơ bản của chứng chỉ tiền gửi cộng với một mức chênh lệch, lãi suất này được điều chỉnh hàng tháng hoặc
3 tháng một lần
Các đặc điểm khác nhau của chứng chỉ tiền gửi như khả năng giao dịch tiên thị trường, tý lệ dự trữ bất buộc, mức giá tối thiểu giữa chứng Chỉ tiền gửi có Hủ suất thả nổi và chứng chỉ tiền gửi có lãi suất
cố định thì tương tự nhau Tuy nhiên, cách tính lãi cho chứng chỉ tiền gửi có lãi suất thả nổi làm cho chứng chỉ tiền pửi có lãi suất thả nổi có thể thu hút được các ngưồn vốn đài hạn hơn, Nguồn vốn đài hạn hơn
này làm tăng khả năng thanh toán cho ngân hàng phát hành và đưa lại thu nhập cao hơn cho những người đầu tư trong thời gian đài hơn,
` Thị trường kỳ phiếu (C?):
Đây là thị trường mà các kỳ phiếu được sử dụng, thế chấp hoặc
trao đổi mua đi bán lại, Kỳ phiếu là những công cụ tài chính ngắn hạn,
- Rì giấy chứng nhận vay nợ vô điều kiện (hay giấy xác nhận người phát hành kỳ phiếu phải trả cho người có kỳ phiếu một số tiền nhất định ở thời điểm nhất định ghi trên kỳ phiếu) ˆ
Trong hoạt động mua bán hàng hóa, kỳ phiếu được coi là đại diện
của tín đụng thương mại - là giấy nhận nợ có kỳ hạn do người mắc nợ
Trang 16
I4-phát hành, ngược với hối phiếu là giấy đòi nợ do chủ nợ I4-phát hành (hối phiếu là công cụ được sử đụng tích cực nhất) Trong giao dịch tài chính, kỳ phiếu được phát hành trực tiếp hoặc gián tiếp qua người bảo lãnh phát hành bởi các chủ thể sau : các Công ty thương mại và công nghiệp có uy tín, các Ngân hàng, các Công ty tài chính, các Tổ chức tài chính khác
Kỳ phiếu do các doanh nghiệp công - thương có uy tín phát hành gọi là các kỳ phiếu công ty Đó là loại hình tương ứng với chứng chỉ tiền gửi trong lĩnh vực phí Ngân hàng (tiếng Anh gọi là chứng từ thương mại) Nhiều khi, các công ty phát hành là các Công ty tài chính, Công ty công nghiệp và các Công ty cổ phần có íƒ nhất một công ty con là Ngân hàng (nhưng không phải do Ngân hàng thương mại được thành lập bởi công ty cổ phần phát hành) Kỳ phiếu công ty
là loại giấy nhận nợ không được bảo đâm có kỳ hạn rất ngắn Mặc dù không tuân theo các quy định áp dụng cho chứng chỉ tiền gửi của Ngân hàng, kỳ phiếu công ty thường được phát hành với mệnh giá tối thiểu nhất định, song việc quy định cụ thể mức giá tối thiểu của từng
tổ chức phát hành có khác nhau
Lãi suất của các loại kỳ phiếu công ty thường cao hơn lãi suất của chứng chỉ tiền gửi có kỳ hạn tương đương Vì mức độ rủi ro tín dụng của người phát hành công cụ tài chính càng lớn thì mức lãi suất áp
- đụng cho các công cụ đó của họ căng cao, mà các loại tiền gửi có kỳ
hạn của Ngân hàng thương mại thường có rủi ro tín dụng thấp hơn so
với các kỳ phiếu công ty Kỷ hạn của kỳ phiếu công ty có thể tới 6 tháng Các kỳ phiếu công ty thường được giao dịch trên thị trường phần lớn có kỳ hạn dưới 14 ngày, diều này bổ sung cho sự khuyết thiếu của chứng chỉ tiền gửi, vì chứng chỉ tiền gửi chÍ được phát hành
với kỳ hạn bạn đầu tối thiểu là 14 ngày
Việc đầu tư vào các kỳ phiếu công ty có khó khăn hơn so với chứng chỉ tiền gữi có kỳ hạn tương đương, do cách tính phí cho các nhà bảo lãnh phát hành, Các nhà giao dịch lầm nhiệm vụ bảo lãnh
„phát hành được nhận phí tính theo tỷ lệ phần trăm trên năm, mức phí
này tăng lên theo kỳ hạn của kỳ phiếu công ty được đầu tr Góp phần vào chế độ khuyến khích này còn có những người mưốn tăng :khả
năng thanh toán của mình bằng cách vay vốn với kỳ hạn dài hơn
Kỳ phiếu công ty được bán trên cơ sở khấu trừ lñi chiết khấu và khối lượng kỳ phiếu công ty được phái hành được công bố theo định
kỳ Kỳ phiếu công ty có hạn chế là thị trường thứ cấp của nó rất hạn
Trang 17của các loại trái phiếu chính phủ do các Ngân hàng Thương mi và một số tổ chức tài chính khác nắm giữ Thị trường này cũng là nơi các Ngân hàng Trung ương điều hành hoạt động thị truờng mở để điều tiết lượng tiền cùng ứng ra lưu thông và tác động vào lãi suất
€Œ_ Phương thức phát lành trên thí trường sơ cấp
Là phương thức mà người phát hành ( Kho bạc, Ngân hàng, công
ty ) đứng ra thông báo và trực tiếp bán các loại chúng chỉ tiền lệ cho các đối tượng tham gia trên thị trường
Phương thức tổ hợp
Người phát hành chọn một tổ hợp Ngân hàng - Tài chính có uy tín
để xác định giá "bán buôn" và tổ hợp này đảm nhiệm việc lãnh phát cho đợt phát hành chứng khoán ngắn hạn, sau đó phân phối lại cho các tổ chức và cá nhân có nhụ cầu đầu tư vào các công cụ đó
Phuong thie dia thitu (dau gid)
Theo phương thức đấu thầu, những người muốn mua bất kỳ một
- số lượng chứng khoán mới phát hành nào của Chính phủ cũng đều
phải gửi phiếu thầu và giữ kín giá mình muốn mua, với trị giá tối
thiểu đặt mua cho từng loại chứng khoán Các chứng khoán này sau
đó được chỉ định bán cho ai cân cứ vào giá đấu thầu, ai trả giá cao hơn -và lãi suất thấp hơn sẽ được ưu tiên mua trước Cũng có thể đưa ra các
„giá đấu thầu không có tính cạnh tranh, theo đó người mua đồng ý mua
một lượng tín phiếu nhất dinh theo gid trung bình của các giá | đấu thầu được chấp nhận Iiệ thống đấu thầu này miễn mọi chỉ phí giao địch cho người mua Nếu người mua thắng thầu sẽ không phải chịu thêm một chỉ phí nào ngoài giá thầu
Phương thức này thường được áp dụng đối với tín phiếu kho bạc
là loại có uy tín cao nhất và thị trường rộng rãi Có thể đấu thầu theo kiểu Mỹ (lấy theo giá đăng ký đấu thầu cho đến khi đạt mức phát
Trang 18
16-hành)-hoặc kiểu Hà lan (lẤy giá đăng ký tại điểm đạt mức phát hành
áp dụng chung cho những người trúng thầu) Đây là hai phương thức
phát hành chủ yếu hiện đang được áp dụng phổ biến trên thế giới Hai
hình thức đấu thầu này đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng
- của từng loại, đo đó mỗi nước với truyền thống hoặc những điều kiện
cụ thể mà lựa chọn áp dụng cho phù hợp, như vừa qua chúng ta lựa chọn và áp dụng thành công phương thức đấu thầu tín phiếu kho bạc
+ Đấu giá kiểu Mỹ có ưu điểm là sòng phẳng theo đúng nguyên tắc
- thị trường vì ai đặt giá nào thì được mua theo giá ấy và tránh được sự thông đồng có thể có giữa những người tham gia đấu thầu Tuy nhiên, phương thức này dồi hỏi những thành viên thị trường phải rất thông thạo thị trường để đưa ra giá thầu rất sát, đồng thời các loại lãi suất trên thị trường cũng không chênh lệch nhau nhiều - chỉ vài phần tram của điểm cơ sở lãi suất, (1% Hi suất được coi là 100 điểm cơ sở) nếu không, các giá đặt thầu sẽ cách nhau quá xa và làm nắn lòng những ai đặt gid cao (phải chịu hưởng lãi suất thấp)
+ Theo kiểu Hà lan, những người trúng thầu đều được áp dụng giá
"cụt-off"-tức là giá đặt thầu thấp nhất tại đó đạt được khối lượng phát
"hành dự kiến [lay nói cách khác, khi xét về mặt lãi suất, mức lãi suất đặt thầu được lấy từ thấp tới cao, đến khi nào đạt số lượng phát hành
dự kiến thì lãi suất cao nhất trong số những mức trúng thầu sẽ được áp dụng chung cho những người trúng thầu, dù lãi suất họ chào thấp hơn mức đó Như vậy, cách thức này khuyến khích những người tham gia đấu thầu chào mức lãi suất thấp (hay giá cao) mà không sợ bị thiệt khi trúng thầu Do đó, phương thức này phù hợp hơn đối với những thị trường mới hình thành, các thành viên chưa thật thông thạo hoặc có những nhận định khác nhau về tình hình thị trường 'Tuy nhiên, nó còn mang tính chất “bình quân” và để làm nảy sinh sự thông đồng gia các thành viên tham gia đấu thầu nếu số lượng thành viên quá ít và việc kiểm soát không tốt
DĐ Phương thức piao dịch trên thị trường thứ cấp
cứ,
1
Trên thị trường thứ cấp các hoạt động diễn ra chủ yếu piữa các chủ-thể (Ngân hàng và các Tổ chức tài chính ) tham gia thị trường như đã nêu ở trên Các phương thức giao dịch được thể hiện theo các
Thỏa thuận mua lại (hay vay tam ting cb thé chap)
Trang 19
t7-18
Người sở hữu chứng từ có giá có thể sử dụng chúng thông qua hop dong mua lai am vat thé chap để vay vốn trên thị trường tiền tệ Đặc biệt là các nhà giao địch chứng khoán cần vốn để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh chứng khoán cia minh, Nhu cau nay Him phát sinh công cụ tài trợ chuyên biệt gọi lì khế ước mua lại (hay gọi là hợp đồng mua lại) Vì các trái phiếu Chính phủ chiếm tý lệ lớn nhất trên, thị trường tiền tệ, nên các nhà giáo dịch chứng khoán Chính phủ là những người sử dụng truyền thống công cụ này như một ngưồn tài trợ
Trong một hợp đồng mua lại, một hoặc vài chứng phiếu được thực
sự bán.cho người vay, thường là các công trái Tuy nhiên người đi vay cam kết sẽ mua lại chứng phiếu này theo giá cũ, cộng thêm một khoản lãi quy định Kỳ bạn của hợp đồng mua lại có thể được ấn định hoặc thôa thuận tự đo, trong cả hai trường hợp cả người cho vay và người đi vay đều có thể kết thúc thỏa thuận này bất kỳ lúc nào Phần lớn các hợp đồng mua lại là giao dịch qua đêm, tủy nhiên các thỏa thuận với
kỳ hạn một tuần hay 6 tháng cũng phổ biến trên thị trường
Thông thường, các Ngân hàng Thương mại là những nhà cùng cấp
ˆ vốn lớn cho các nhà giao địch chứng khoán Chính phủ dưới dạng hợp đồng mua lại Mặc dù vậy, một phần lớn vốn của các Ngân hàng
Thương mại được giữ đưới dạng các chứng khoán Chính phủ và họ
cñng thích sử đụng hợp đồng mua lại như một nguồn tài trợ vốn
Hợp đồng mua lại đã củng cấp cho các Ngân hing Thuong mai một phương tiện huy động vốn tích cực Nguồn vốn này không phải
áp dụng các quy định về dự trữ bất buộc và mức khống chế trần lãi suất, Do không phải áp dụng quy định về dự trữ bắt buộc nên chỉ phí đối với Hợp đồng mưa lại thấp hơn so với tiện gửi Và không có khống chế trần Hi suất nên các Ngân hàng Thương mại có thể lĩnh
hoạt trong khi cạnh tranh thu hút vốn trên thị trường (tiên tệ
.Đối với một Ngân hàng Thường mại, hợp đồng mua lại thường
„ được coi là nguồn vốn rẻ nhất Mon nia, k¥ han cha hap dong mua lại
có thể được lựa chọn phù hợp với nhụ cầu về vốn của Ngân hàng Uù điểm của việc dùng hợp đồng mua lại để tăng vốn khả dụng cho các
Ngân hàng thương mại thể hiện ở chỗ, các Ngân hàng có sẵn chứng
khoán Chính phủ trong danh mục đầu từ của nình có thể sử đụng
` chúng cho các thỏa thuận mua lại, Thực vậy, với các hợp đồng mua lại, Ngân hàng có thể sử dụng chính những danh mục đầu tư của mình
để đi vay, tạo ra nguồn: vốn khả dung moi.
Trang 20Người tham gia thị trường rất quan trọng và được coi là gắn bó
chặt chẽ với thị trường các khế ước mua lại là Ngan hang Trang wong
- Người tiến hành các hoạt động thị trường mở thông qua các công cụ
này, Vì vậy kỳ hạn, lãi suất và khối lượng hợp đồng mua lại của Ngân hàng Trung ương được theo đối một cách chặt chẽ như một dấu hiệu thể hiện ý đồ của Ngân hàng Trung ương đối với chính sách tiền tệ Với ý nghĩa này, hợp đồng mua lại được coi là một phương tiện tạm thời của Ngân hàng Trung ương nhầm tác động lên thị trường, thay vì mua bán đứt các chứng khoán Chính phù Như vậy hợp đồng mua lại cho phép điều chỉnh thị trường tiền tệ Kỳ hạn của hợp đồng mua lại càng dài thì ảnh hưởng của nó tới thị trường càng lớn
Chiét khau và bán dự
Hoạt động chiết khấu có thể diễn ra giữa các ngân hàng với các khách hàng của họ hoặc giữa các ngân hàng với nhau (trong đó có ngân hàng trung ương), và có thể được áp dụng cho tít cả các loại chứng khoán ngắn hạn, những chủ yếu vẫn là các thương phiếu và giấy chấp nhận ngân hàng (B.A) Thuộc tính của các hoạt động thương mại là hàng hóa được trao đổi lấy tiền Chứng từ thường được sử dụng
để thể hiện việc trả chậm này được gọi là hối phiếu trả chậm hay phiếu hẹn trả ( kỳ phiếu thương mại) Trong phiếu hẹn trả, bên trả tiền
ra lệnh cho một ngân hàng trả mot số tiền nhất định cho một bên cụ thể vào ngày đến hạn Người giữ phiếu hẹn trả hoặc hối phiếu có thể
có nhụ cầu về tiền mặt trước ngày đến hạn của chúng Trong trường
hợp này, nếu hối phiếu trả chậm là loại có khả năng chuyển nhượng, thì người giữ nó có thể mang hối phiếu đến ngân hàng để yêu cầu họ chấp nhận thanh toán và chịu trả một mức khấu trừ trên hối phiếu đó Khi ngân hàng chấp nhận hối phiếu tức là ngân hàng cam kết sẽ trả số tiền ghỉ trên hiối phiếu khi nó đến hạn Việc chấp nhận như vậy đã làm cho hối phiếu trả chậm trở thành phiếu chấp nhận thanh toán của ngân hàng Khi đó, từ một hối phiếu là lệnh đòi tiền củá tột người không có uy tín trên thị trường, đã trở thành cam kết trả tiền của một ngân hàng thương mại có dạnh tiếng, Do khả năng chuyển nhượng rên thị trường tăng lên, hối phiếu được chấp nhận có thể được bán
hoặc được chiết khấu trên thị trường Thực tế, thương phiếu đó thường
được chiết khấu tại ngân hàng chấp nhận, mà ngân hàng này lại có thể mang bán bại hoặc tái chiết khẩu nó trên thị trường,
Đối với Ngân hàng thương mại, việc chấp nhận một hối phiếu
chính là chấp nhận một trách nhiệm về nợ, và ngân hàng sẽ được thu
phí cho hành động này, Khi chiết khấu thương phiếu, thực chất là ngân hàng chiết khấu cấp tín dụng cho người giữ phiếu chấp nhận của
Trang 21
Ị0-20
ngân hàng Khoản tín đụng này được thế chấp bởi chính tờ hối phiếu
và được bảo tĩnh bởi chính ngân hằng Trong hầu hết các trường lợi,
Ngân hàng này chính là ngân hàng chiết khấu Ngoài ra, con cd val thế chấp thực là hàng hóa đã tham gia vao giao dich này Như vậy, thương phiếu là một văn bản được đảm bảo, điều đó làm cho nó trở thành một công cụ có rủi ro tín đụng thấp trên thị trường tiền tệ - thể hiện ở chỗ lñi suất của thương phiếu chỉ cao hơi một chút so với Hi suất của trái phiếu kho, bạc ngắn hạn có cùng kỳ hạn
Ngân hằng chiết khấu có thể giữ thương phiếu lại, trong trường
hợp này ˆ thương phiếu được coi như những khoản cho vay khả dụng
trong danh mục đầu tư của ngân hàng Hoặc ngân hàng này có thể mang thương phiếu đi tái chiết khẩu trên thị trường Khi ngân hàng chấp nhận tái chiết khấu thương phiếu, trách nhiệm về nợ ràng buộc trong phiếu chấp nhận của ngân hàng trở thành trách nhiệm thực Thực chất, thương phiếu tái chiết khấu được coi như những khoản nợ thông thường của ngân hàng chiết khấu Tuy nhiên ưu điểm của việc tái chiết khấu thương phiếu so với các nguồn vốn truyền thống khác (như chứng chỉ tiền gửi) thể hiện ở chỗ, vốn thu được do tái chiết khấu thương phiếu không bị coi như tiền bửi khi thương phiếu có thời hạn còn lại không vượt quá 6 tháng kể từ khi tái chiết khấu Do không phải tiền gửi nên thương phiếu không phải tuân theo các quy định về
dự trữ bất buộc, clii phí bảo lĩnh và giới hạn trần lãi suất:
Thực tế việc một ngân hàng thương mại có thể tái chiết khấu thương phiếu trên thị trường và việc huy động vốn theo cách này không phải tuân theo các quy định về dự trữ bất buộc và chi phí bảo lãnh, đã giải thích cho việc Hi suất của thương phiếu chỉ cao hơn chút
Ít so với lãi suất của trái phiếu kho bạc ngắn hạn và thấp hơn lãi suất của chứng chỉ tiền bửi Ngoài ra, thương phiếu còn có ưu điểm đối với người đi vay ở chỗ chỉ phí vay vốn tường đối thấp,
Đối với những hối phiếu có kỳ hạn có đủ điều kiện để được chấp
nhận, nhiều nước quy định một ngân hàng chỉ dược phép chấp nhận
.các hối phiếu với tổng trị giá tối da bằng hai [An vốn hoạt động của
ngân hàng đó Đo việc không phải chịu mức dự trữ bất buộc và clu
phí bảo hiểm đối với việc tài trợ qua thương phiếu (bằng việc tái chiết khẩu thương phiếu trên thị trường), mà công cụ này trở thành phương
tiện lý tưởng đối với mội ngân hàng, để mở rộng tín dụng cho khách
hàng của mình Vì vậy việc các ngân hàng lớn luôn giữ các thương phiếu tới tổng trị giá tối đa được phép là điều bình thường, đặc biệt trong những thời kỳ lãi suất trên thị trường cao,
Trang 22
20-Bên cạnh việc chiết khấu, Ngân hàng còn có thể mua đứt thương
phiếu cho khách hàng và như vậy, Ngân hàng gánh chịu hoàn toàn rủi
rơ liên quan đến việc thu nợ thương phiến về sau, Tuy không có giới hạn tối thiểu đối với thương phiếu, nhưng thương phiếu thường được giao địch theo lô chấn và cũng có khỉ thương phiếu được giao dịch
theo lô lẻ mặc dù vậy lãi suất cho lô lẻ cao hơn lô chẵn Mức gia tăng
này là chính đáng vì những lô lẻ thường khó thanh toán và khó bán
cho cde nha đầu tư hơn ,
Ngày đến hạn cụ thể của một thương phiếu do người đi vay quyết định khi lập phiếu Mặc dù vậy các nhà đầu tư thường thích những thương phiếu đến hạn trong vòng nữa tháng
Các thương phiếu thường có khả năng thanh toán cao vì trên thị trường này có một mạng lứơi rộng lớn các nhà giao dịch và các ngân hàng thương mại hoạt động Tỷ lệ lãi của thương phiếu được ấn định trước
Cíc phương thức khc -
Đó là các giao dịch có kỳ hạn và quyền lựa chọn về các Công cụ
nói trên Các giao dịch này chỉ phổ biến ở những thị trường ttiền tệ phát triển và chiếm tỷ trọng không lớn
F Vui 0 va hoat dong của Ngân hình Trung ương trên thí trường tiền tá:
Ie Nehiép vu thi truong més
“Nghiệp vụ thị trường mở là việc Ngân hàng Trung ương mua và bán các loại chứng chỉ có giá trên thị trường tiền tệ tùy theo mục tiêu
của chính sách tiền tệ của mình để tác động đến tiền dự trữ (hay tiền
trung tong) của các Ngân hàng thương mại, nhằm làm tăng hoặc giảm khối lượng cúng ứng tiền tệ trong lưu thông
Nếu muốn gia tăng tiền tệ lưu thông lên, Ngân hàng Trung trong, chủ động thực hiện nghiệp vụ này thông qua việc mua vào các
chứng chỉ hoặc giấy tờ có giá nhất định Khi Ngân hang Thuong mai
hoặc công chúng bán chứng chỉ có giá cho Ngân hàng Trung wong sẽ làm cho dự trữ của Ngân hàng Thương mại dư thừa ra do Ngân hàng
Thuong mui nhận được tiền của Ngân hàng Trung ương về việc mua
chứng khoán hoặc dọ dân chúng bán được chứng chỉ có giá và chuyển vào tài khoản tiền gửi của họ tại Ngân hàng Thương mại
5
Trang 23
21-Ngược lại, khi Ngân hàng Trung ương muốn giảm khối lượng cung ứng tiền lệ trên thị trường thì lại bán ra các chứng chỉ có giá và việc các Ngân hàng Thương mại mua chứng khoán sẽ làm giảm tiền
dự trữ của họ, hoặc dân chúng chuyển tiền cho Ngân hàng Trung ương
để mua chứng chỉ có gìá cũng làm g giảm dự trữ của Ngân hàng Thương
mại (nếu họ có tài khoản tại ngân hàng thương mai) hoặc piẩm tiền
trong lưu thông nói chung
Việc Ngân hang Trùng ương đưa ra một khối lượng tiền tệ xác định nhằm cùng ứng kịp thời lượng tiền mặt trong lưu thông hoặc thú
‘ve lượng tiền tệ (một khi lượng tiền mặt trôi nổi quá lớn trên thị trường tiền lệ làm ảnh hưởng đến nền kinh tế) là một trong những
nghiệp vụ rất quan trọng của Ngân hàng Trung trong trong diéu hanh chính sách tiền tệ của các nước kinh tế thị trường phát triển hiện nay, Ciic uu điểm của nghiệp vụ thị trường mở là :
—_ Nghiệp vụ thị trường mở được tiến hành và kiểm soát hoàn toàn bởi Ngân hang Trùng ương, trong khi đó ở nghiệp vụ chiết khấu thì Ngân hàng Trung ương có thể khuyến khích hoặc làm cho các Ngân hàng
không thích vay chiết khấu nhưng không thể trực tiếp kiểm soát khối lượng chiết khấu
— Nghiệp vụ thị trường mở linh hoạt và chính xác và có thể dược SỬ dụng ở bất cứ mức độ nào theo ÿ muốn của Ngân hàng Trung ương
bằng việc mua hoặc bán lượng chứng khoán (ít hoặc nhiều) trên thị trường, đo sẽ đảm bảo cho lượng tiền đự trữ mà Ngân hàng Trung wong mong muốn,
~ Nghiép vụ thị trường mở có thể để đàng được diều hành và có hiệu:
quả ngày lập tức qua việc: Khí mua bán các chứng khoán, thị trường
có sự thay đổi bất thường do nghiệp vụ thị trường mở gây ra, thì Ngân hàng Trung ương có thể lập tức sửa chữa bằng cách dừng, đảo ngược lại (bán hoặc mua), hoặc diều chỉnh ngay mức (lượng) các chứng
khoán được na bán để khác phục những phát sinh trên
—_ Nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện với các thủ tục đơn giân _ nhanh chóng và việc quyết định cũng như thực hiện nghiệp vụ này
cũng diễn ra tức thì theo ý muốn của Ngân hàng “Trung ương
Hiện này, nghiệp vụ thị trường mở là một trong những nghiệp vụ
có tính linh hoạt và nhạy bén nhất mà Ngân hàng Trung ương nhiều nước thường sử dụng trong việc điều tiết cũng ứng tiền tệ có hiệu quả
Trang 24_bởi vì thị trường của những chứng khoán này rất lình hoạt ( nhất là thị trường tín phiến kho bạc) và có dung lượng kinh doanh rất lớn Thị trường này có khả năng tiếp nhận được một lượng rất lớn hoạt động 'của Ngân hàng Trung ương mà không làm cho giá cả biến động quá
mạnh có thể làm cho thị trường đổ vỡ Nghiệp vụ này đóng một vai
trò quan trọng trong số các công cụ của chính sách tiền tệ nhầm điều
hành lượng cung ứng tiền tệ Quốc gia
Tuy nhiên, để có thể thực hiện nghiệp vụ thị trường mở, cần có những điều kiện sau :
+ Thị trường tiền tệ tương đối phát triển, các Ngân hàng có uy tín, nhậy cảm với sự thay đổi lãi suất và các điều kiện thị trường
+ Trong tay các Ngân hàng Thương mại cũng như Ngân hàng Trung ương phải có một lượng các công cụ nợ ngắn hạn đủ lớn, nhất là Tín phiếu kho bạc để dự trữ vốn khả dụng và sẵn sàng mua đi bán
lại khi cần
+ Các thể chế thị trường và chế độ pháp lý, thuế và lệ phí tạo diều
kiện thuận lợi cho các giao dịch thị trường
Dự trữ tới thiểu
Dự trữ tối thiểu là việc các Ngân hàng Thương mại phải để lại một khoản tiên (dự trữ) nhất định ở Ngân hàng Trung ương Ngân hàng Trung ương chủ động điều tiết hoạt động của các Ngân hàng
- Thương mại thông qua chính sách đự trữ tối thiểu Qui mô đự trữ được
căn cứ vào chính sách tiền tệ của từng nước Nhờ thay đổi qui mô dự
trữ tối thiểu mà Ngân hàng Trung ương tác động vào khả năng cho vay cla Ngan hang Thuong mai
Nguyên nhân chính của việc áp dụng chính sách dự trữ tối thiểu này Tà giữa khối lượng dự trữ và các nghiệp vụ ngân hằng tồn tại sự phụ thuộc lẫn nhau, Ngân hàng Trung ương có thể sử dụng mối liên
hệ đó nhằm tác động vào các hoạt động tường ứng của các Ngân hàng
Thương mại Công cụ này được Ngân hàng Trung ương thực hiện nằm trong mối quan hệ qua lại với các công cụ khác nhằm thực hiện chính sách tiền tệ của mình
Ban đầu, chính sách dự trữ bắt buộc tối thiểu xuất phát từ yêu cầu đâm bảo khả năng thành toán tiền mặt khi cần thiết của Ngân bàng Thương mại Ngày nay, có nhiều quy định về an toàn như hệ số vốn
Trang 2524 khả dụng, tỷ lệ vốn tự có tối thiểu đảm bảo kha năng thanh toán của
Ngân hàng, nên tác dụng của dự trữ bắt buộc về mặt này trở nên thứ
yếu Ngược lại, vai trò của dự trữ bất buộc như là mot cong cu cla chính sách tiền tệ còn rất quan trọng đối với nhiều nước, nhầm kiểm soát quá trình tạo tiền của các Ngân hàng Ngoài hai chức năng trên,
dự trữ bất buộc còn là một nguồn thụ nhập cho Ngân hàng, Trung
ương vì về tổng thể, các Ngân hàng thương mại bao giờ cũng thiếu
vốn, phải vay của Ngân hàng Trung ương để lập đự trữ bắt buộc Nếu mức dự trữ bất buộc cao thì đó là nguồn thụ nhập đáng kể cho Ngân hàng Trung ương qua tái cấp vốn cho các Ngân hàng
Tùy theo tình hình, Ngân hàng “Trung ương quy định mức dự trữ tối thiểu khác nhau, song đều theo mục tiêu chúng là các Ngân hàng
Thương mại bất buộc phải để một phần tiền huy động của họ tại Ngân hàng Trung ương Cơ sở để tính dự trữ bắt buộc thường là các ngưồn vốn ngắn hạn bên tài sân nợ của các Ngân hàng, chủ yếu là tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn Nhưng cũng có nước quy định dự trữ bái buộc căn cứ vào các khoản cho vay của Ngận hàng Thời gian tính dự trữ bắt buộc có thể là hàng tháng, hàng tuần, thậm chí hàng ngày Cách áp dụng mức dự trữ bắt buộc có thể là một mức cố định cho suốt
cả kỳ hay chỉ tính mức trung bình hàng ngày trong kỳ, còn giữa các ngày mức dự trữ bắt buộc có thể biến động rất lớn Các yếu tố nói trên ảnh hưởng lớn đến cơ cấu và hiệu quả của dự trữ bắt buộc, Khi Ngân hàng ‘Trung ương thay đổi dự trữ bắt buộc, cơ sở tiền tệ sẽ thay đổi và dẫn đến việc co hẹp hoặc mở rộng gấp nhiều lần lượng cùng ứng tiền
tệ
NỘI số tì điểm, nhược điển của nghiệp vụ dự trữ bắt buộc là +
— ˆ Ngân hàng Trung ương có thể tác động đến tất cả các Ngân hàng như nhau và có tác động toàn diện đến cùng ứng tiền tệ Đặc biệt, ở những nước thị trường tài chính chưa phát triển, chưa có điều kiện sử dụng và
phát hủy các công cự gián tiếp khác của chính sách tiền tệ, thì dự trữ bắt buộc là công cụ rất quan trọng để Ngân hàng Trung ương tác động
tiến khả năng tạo tiền của các Ngân hàng
—_ Tuy nhiên, việc tăng - giảm dự trữ bắt buộc sẽ dẫn đến kết quả thu hẹp hoặc mở rộng gấp nhiều lần tiền gửi, tức là làm tăng, giảm củng ứng tiền tệ rất nhiều, do đó ảnh hưởng mạnh đến hoạt động của các Ngân hàng
—_ Việc thay đổi chính sách dự trữ bắt buộc không thể thực hiện được thường xuyên vì như vậy sẽ gây xáo trộn trong hoại động của các
24-.
Trang 26Ngân hàng và làm cho việc quản lý vốn khả dụng của các ngân hàng trở nên khó khăn Vì vậy, dự trữ bắt buộc thường được các Ngân hàng Trung ương sử dụng phối hợp với các nghiệp vụ khác khi cần thiết, nhằm làm tăng hiệu quả của chính sách tiền tệ Ở các nước có thị trường tài chính phát triển, người ta có thể sử dụng có hiệu quả các nghiệp vụ thị trường mở và cliính sách tái chiết khấu thay cho đự trữ bất buộc Tuy nhiên, ngày ở các nước này, dự trữ bất buộc vẫn là một công cụ rất hữu ích cho các giải pháp tình thế, nhằm thất chặt cung ứng tiền tệ khi cần
3 Chính sách tái chiết khẩu - Cửa sổ chiết khẩu
Ở nhiều nước mà do những lý đo có tính đặc thù, nghiệp vụ thị trường mở được phát triển thì chính sách tái chiết khấu còn đóng vai trò quan trọng trong việc Ngân hàng Trung ương cung ứng vốn cho các ngân hàng thương mại (như ở Cộng hòa Liên bang Đức) Chính sách tái chiết khấu có thể là điều kiện thông thường áp dụng cho mọi ngân hàng, hoặc dưới hình thức “cửa số chiết khấu” là các điều kiện
ma theo đó: Ngân hàng Trung ương mua kỳ phiếu, tín phiếu của các
Ngân hàng có như cầu vay vốn bất cứ lúc nào, Những diêu kiện này là
tỷ lệ chiết khấu đặc biệt, thường cao hơn mức lãi chiết khấu thông thường (có tính chất như lãi suất phạt), áp dụng cho các chứng phiếu
đủ tiêu chuẩn để cung ứng vốn cho các Ngân hàng khi họ không thể - vay được theo các cách thông thường trên thị trường tiền tệ Vì vậy, người ta gọi phương thức này là cửa sổ chiết khấu, thể hiện chức năng
'người cho vay cuối cùng" của Ngân hàng Trung ương Ngân hàng
Trung ương có thể tác động đến khối lượng vay qua cửa số chiết khấu bằng hai cách: zmới / tác động đến giá cả của vốn khả đụng qua việc điều chỉnh lñi suất chiết khấu phạt, 02 /2 bằng cách tác động đến số
lượng vay thông qua việc Ngân hàng Trung ương quản lý cửa số chiết
khấu Nếu Ngân hàng Trung ương đóng cửa số chiết khấu lại, các Ngân hàng bị buộc phải quay ra thị trường tiền tệ để vay vốn hoặc mua bán chứng phiếu bằng mọi giá, như vậy là khối lượng vốn khả
dung bị hạn chế, nhưng nhụ cầu lại tăng lên Điều này sẽ làm phát
sinh sức ép đẩy lãi suất tăng lên Ngược lại, khi Ngân hàng 'Trung ương mở rộng cửa số chiết khấu, đó là đấu hiệu nới lỏng cùng ứng tiền
tê, giảm sức ép đối với lãi suất thị trường nói chung
Lin diểm và nhược điểm của cửa sở chiết khẩu là
—_ Ngân hàng Trung ương có thể dùng chính sách này để thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng của mình (tức là cùng cấp dự trữ cho hệ thống Ngân hàng khi toàn bộ hệ thống thiếu vốn khả dụng), nhất là
Trang 27
25-20
trong tình huống xảy ra khủng hoảng Ngân hàng, vốn khả dụng sẽ
được bơm ngày cho các ngân hàng nào cần thêm dự trữ hơn cả Với
tính chất đó, cửa sổ chiết khấu hoạt động như một cái van an toàn cho
hệ thống tiền tệ của một nước
Nhược điểm của chính sách chiết khấu này là có thể làm lẫn lộn những ý định của Ngân hàng Trung ương do việc thông báo những thay đổi lãi suất chiết khấu tạo nên Mặt khác, khi Ngân hàng Trung tương ấn định lãi suất chiết khấu với một mức đặc biệt nào đó, sẽ dẫn đến những biến động lớn trong khoảng cách giữa lãi suất thị trường và lãi suất chiết khấu
Do chính sách chiết khấu này thiếu linh hoạt và hiệu quả so với
nghiệp vụ thị trường mở trong việc kiểm soát cùng ứng tiền tệ trên thị trường, cho nên nó ít được Ngân hàng Trung ương sử dụng một cách
độc lập, mà thông thường được phối hợp chặt chẽ với nghiệp vụ thị trường mở và các công cự khác để tăng cường hiệu lực của chính sách
Trang 28
20-i DAC DIEM TH T RUONG TIỀN TỆ CÁC NƯỚC PHÁT TRIN
8
4
Thị trường tiền tệ N{Ƒ
Thị trường tiền tệ Mỹ là thị trường phát triển nhất và lớn nhất Thế
giới Đặc biệt, thị trường tín phiếu kho bạc với 406,6 tỷ Đôla giao dịch
vào cuối tháng 9/1989 là thị trường rất hiệu quả, khả năng thanh toán ổn định, hệ thống thanh toán tiên tiến và có nhiều đối tượng tham gia Thị
trường các chứng phiếu khác cũng rất phát triển, nhất là thị trường sơ cấp:
Vào tháng 9/1989, dư nợ kỳ phiếu công ty (CP ) là 506,8 tỷ Đôla, chứng chỉ tiền gửi là 395,8 tỷ Đôla, phiếu chấp nhận Ngân hàng là 64 tỷ Dola Cộng với thị trường liên Ngân hàng và các hợp đồng mua lại, số du nợ trên thị trường tiền tệ Mỹ lúc đó là 1551,3 tỷ Dola bằng 29% tổng sản
phẩm quốc dân danh nghĩa c của Mỹ Đó là một ty lệ rất cao
Thị trường mở với các giao dịch có thế chấp chiếm phần lớn trong thị trường tiền tệ ( 89%, ), trong đó thị trường mua tại là nòng cốt cho các
nghiệp vụ tiền tệ của Ngân hàng Trung ương,
Tỉ (trường tiền tệ Anh
Nếu chỉ tính riêng các giao dịch bằng đông Bảng Anh, thì thị trường tiền tệ Anh tương đối nhỏ - dư nợ chỉ có 163,4 tỷ Bảng vào thang 9/1989
Nhưng nếu tính cả các giao dịch ngoại tệ Châu âu, thì quy mô thị trường -
của Anh không thua kém nhiều so với thị trường Mỹ, với hơn 800 tỷ Bang
dư nợ (khoảng gan 1.200 ty Dota ), bing 32% tổng sản phẩm quéc dan’ danh nghĩa năm 1989 Bởi vì & Anh kk chong có quản lý ngoại hối, nên thị trường nội tệ và thị trường Quốc tế thực sự hòa nhập làm một Vẽ mặt Quốc tế, thị trường tiền gửi Liên ngân hàng ở Anh chiếm ty trong cao
trong thị trường tiền tệ - khoảng 50%, còn lại chủ yếu là các loại chưng
phiếu như chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu công ty Nhìn chung, các giao dịch không có thế chấp phát triển hơn các giao dịch có thế chấp
Trên thị trường chiết khấu và cho vay nóng, các hãng chiết khấu đóng
Vai trò trung pián giữa các Ngân hàng thương mại và Ngân hàng trung Af0ng, vừa môi giới vừa làm đối tác giao dịch giữa các Ngân hàng với nhau
và với Ngân hàng Trung ương trên thị trường này Vì vậy, hoại động tiên
tệ của Ngân hàng trang wong Anh chủ yếu được thực hiện qua các giao dịch về tín phiếu kho bạc và các loại phiếu nợ ngắn hạn thông qua các hãng chiết khẩu khác
Thị trường tiền tệ Đức
Trang 2928
Trong thị trường tiền tệ Đức, thị trường Liên ngân hàng chiếm vụrí áp
đão, còn thị trường chứng, chỉ tiền gửi và kỳ phiếu công ty rất kém phát triển so với ở Mỹ hay Anh,
Tổng đư nợ thị trường tiền tệ Đức vào tháng 9/1989 là 391.6 tỷ DM -
bằng khoảng 17% tổng sẵn phẩm quốc dân danh nghĩa Trong thị trường, Liên ngân hàng, thị trường vay nóng không thế chấp phát triển nhất, còn thị trường chiết khấu có quy mô nhỏ hơn, Thị trường tín phiếu kho bạc có
tồn tại, nhưng rất nhỏ bé (10,1 tỷ DM) ‘
Do cơ cấu thị trường như vậy, Ngân hàng trung ương điều tiết cùng
ứng tiền tệ chủ yếu thông qua việc tái chiết khấu và hoạt động mua lụi trái
phiếu Việc tái chiết khẩu được thực hiện theo lãi suất tái chiết khấu chính thức của Ngân hàng trung ương, trong hạn mức quy định cho từng Ngân hàng căn cứ vào vốn tự có của họ Còn việc mua lại trái phiếu được thực hiện theo phương pháp đấu giá hoặc theo công thức tính lãi giới hạn căn
cứ vào tình hình thị trường
Thị trường tiền tệ Phááp
Tại Pháp, thị trường Liên ngân hàng cũng đóng vai trò chủ đạo trong
- thị trường tiền tệ Các giao dịch cho vay trơn (không có thế chấp) và chiết khấu tín phiếu, kỳ phiếu rất phát triển Tuy nhiên, thị trường của các công
cụ nợ ngắn hạn như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu công
ty đang ngày càng phát triển: Tính đến năm 1992, có khoảng 450 Ngân hàng thương mại Pháp phát hành với chứng chỉ tiền gửi với số dư khoảng 1.200 tỷ FrF Ngoài các loại phiếu ngắn hạn, thị trường tiền tệ Pháp còn trao đổi cả các trái phiếu kho bạc trung hạn tới 5 năm Đặc biệt, tất cả các loại chứng khoán này đều chỉ tồn tại đưới đạng phí số với hệ thống thanh
toán và hạch toán tự động toàn quốc
Đối với Ngân hàng Trung ương, các hình thức tái cấp vốn chính thức
chiếm ưu thế hơn so với các hoạt động thị trường mở trong việc điều hành chính sách tiền tệ Iình thức tái cấp vốn quan trọng nhất là các đợt đấu giá tiền trung ương dịnh kỳ: Ngân hàng Trung ương yêu cầu các Ngân hằng có nhụ cầu vay vốn-đưa ra lãi suất vay, căn cứ vào số lượng tiền dự
kiến bơm ra, Ngân hàng tran gương sẽ chọn những Ngân hàng nào chào
lãi suất cao nhất và cho họ vay với các chứng khoán ngắn hạn hoặc hồ sơ tín dụng đủ tiêu chuẩn làm thế chấp Cúc khoắn cho vay này thường chỉ có
"thời hạn 3 tuần - một tháng Qua việc khống chế số lượng và Hú suất cho vay như vậy, Ngân hàng trung ương vừa kiểm soát cơ sở tiền tệ, vừa khống chế lãi suất thị trường Bên cạnh hình thức đấu giá, Ngân hàng
Trung ương còn có phương thức cho vay lựa phiếu song biên tường tự như
Trang 30
28-'cửa số chiết khấu' ở Mỹ Cho vay tái chiết khấu ngày nay ít được sử dụng tại Pháp, nhưng trước năm 1985, hình thức này đã từng chiếm vị trŸquan
trọng trong chính sách của Ngân hàng Trung ương Pháp
Thị trường tiền tê Nhật
Tuy thị trường Liên ngân hàng vẫn rất quan trọng trong thị trường tiền tệ Nhật bản, nhưng từ những năm 1970, các công cụ của thị trường
mở đã phát triển rất mạnh mẽ và đa dạng, bao gồm tín phiếu kho bạc, tín phiếu tài trợ (một loại chứng khoán chính phủ phát hành không định kỳ)
kỳ phiếu công ty và phiếu chấp nhận ngân hàng Năm 1995, thị trường Liên ngân hàng còn chiếm 68% thị trường tiền lệ so 32% của thị trường
mở, đến năm 1989, thị trường mở chiếm tỷ trọng lớn hơn 54% so với 46% của thị trường Liên ngân hàng Về quy mô thị trường so với tổng sẵn phẩm quốc dân, Nhật đã nhanh chóng đuổi theo Mỹ và các nước Châu âu: tới cuối năm 1989, số dư nợ trên thị trường bằng 20% Tổng sản phẩm quốc đân danh nghĩa, trong khi con số này vào năm 1985 mới là 10% Trên thị trường mở, các công cụ nợ của lĩnh vực tư nhân như chứng chỉ tiền piri, ky phiếu phát triển hơn so với tín phiếu kho bạc, tín phiếu tài trợ và các chứng khoán Chính phù khác bởi vì ngân sách Nhà nước Nhật ít thậm hụt (so với Chính phủ Mỹ)
Để điều tiết thị trường tiền tệ, hiện nay Ngân hàng Trung ương Nhật vẫn sử dụng các hình thức cho vay trực tiếp và chiết khấu các loại kỳ
"phiếu là chính Nghiệp vụ mua lại, mà Ở Nhật gọi là thị trường Gensaki được áp dụng chủ yếu với tín phiếu kho bạc và tín phiếu tài trợ, nhưng chưa phát triển lắm vì còn một số trở ngại về cơ chế và chế độ thuế
Thị trường tiền tệ Thụy sĩ
Thụy sĩ là một trong số ít Quốc gia có các quy chế đảm bảo tiền tệ hoàn toàn rõ rằng, phân mình với hệ thống pháp lý có những quy định
- chặt chế nhưng có sức hấp đẫn hơn một số nước khác Hơn nữa, với việc
bảo đảm chắc chắn khoản tiền gửi có tính truyền thống của hệ thống Ngân
- hàng Thụy sĩ, nên thị trường tiền tệ Thụy sĩ đã thu hút được một lượng đáng kể tiền gửi hoặc đầu tư từ nước ngoài vào Thụy sĩ Cho đến ngày
nay, hệ thống Ngân hàng Thụy sĩ được coi như là một trung tâm Ngân hàng có tính Quốc tế với hệ thống cổng nghệ Ngân hàng được trang bị -hiện đại Ngân hàng Trung ương Thụy sĩ sử dụng các công cụ, phương pháp mà Ngân hàng Trung ương các nước phát triển khác đã dùng Tuy
nhiên các phương pháp nãy có sự phân loại lớn ở Thụy sĩ, rong đó chính `ˆ
sách chiết khấu giữ vai trò thấp nhất vì nợ kỳ phiếu không phải là đặc
29.
Trang 31Trung ương Thụy sĩ có thể phát hành trái phiếu Thụy sĩ thời hạn thanh
toán không quá 2 năm để làm công cụ chính sách (vì ở Thụy sĩ không có
tín phiếu kho bạc) Từ năm 1979 áp dụng chính sách dự trữ tối thiểu,
Trang 32
30-Ill XAY DUNG THI TRUONG TIEN TE GO VIETNAM:
A Mohinh té chức và cấc công cụ
of Tình hình hiện tại
Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống Ngân hàng các nước trên Thế giới phát triển theo hướng phân rõ trách nhiệm giữa một bên là Ngân hàng “Trung ương với vai trò quần lý, giám sát thị trường tiền (Ệ
- cũng như thực hiện vai trò điều hành hành chính sách tiền tệ của đất
nước, một bên là các Ngân hàng Thương mại và Công ty tái chính
thực hiện kinh doanh tiền tệ thông qua các nghiệp vụ ngân hàng, trong khuôn khổ pháp luật và dưới sự giám sát chặt chẽ của Ngân hang Trung wong
Để đổi mới hệ thống Ngân hàng Việt nam, ngày 26/3/1988, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định 53/ HDBT mở đường chơ việc
tổ chức lại hệ thống Ngân hàng, tách chức năng quản lý Nhà nước của Ngân hàng Nhà nước với chức năng thương mại được giao cho các Ngân hàng chuyên doanh Tiếp đó với hai Pháp lệnh Ngân hàng ban
hành năm 1990, hệ thống Ngân hàng Việt nam đã đần đần phân rõ thành hai cấp, phù hợp với xu hướng chung trên thế giới Mô hình này
ngày càng được hoàn thiện và phát triển theo quá trình hiện đại hóa _ công nghệ Ngân hàng, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường Đến nay, hệ thống Ngân hàng thương mại Việt nam với mạng lưới rộng khắp và thành phần đa đạng ( Quốc doanh, Cổ phần, Nước
ngoài, Liên doanh) đã thực sự đi vào kinh doanh: tiền tệ, vay để cho
vay là chủ yếu, chấm dứt tình trạng trông chờ vào nguồn vốn của Ngân hàng Trung ương để rồi sau đó ' bạn phát với lãi suất ưu đãi cho các đoanh nghiệp Điều này có được trước hết là nhờ những thành tựu trong việc đẩy lùi và kiềm chế lạm „phát, trên cơ sở đó thực hiện chính sách-Hãi suất thực dương, song song với công cuộc đổi mới các doanh nghiệp và nền kinh tế nói chung
Bên cạnh thị trường tín dụng truyền thống, thị trường Liên ngân hàng về nội tệ và ngoại tệ đã được tổ chức Những phiên đấu gid tin phiếu kho bạc đầu tiên cũng như việc phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước đã tạo nên những công cụ đáng tin cậy cho thị trường tiền tệ
có điều kiện phát triển hơn nữa:
1.1 Thị trường tin dụng
Trang 33
I-Thi trường truyền thống này hiện vẫn giữ vị trí quan trọng nhất
trong hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt nam, thể hiện qua các
nghiệp vụ đi vay và cho vay của các Ngân hằng trong quan hệ vốn với
Nghiệp vụ đi vay thể hiện qua các hoạt động bên tài sản nợ, tạo nên nguồn vốn của các Ngân hàng, nà chủ yếu là các loại tiền gửi
Ngân hàng Trong những năm qua, các Ngân hàng Việt nam đã áp
dụng nhiều hình thức tiền gửi ngày càng phong phú như :
+_ Tiền gửi tiết kiệm với các kỳ hạn khác nhau (không kỳ hạn, 3 tháng, 6 tháng, Ø tháng, một năm trên một năm);
+ Tién gửi các tổ chức kinh tế với các loại kỳ hạn như tiền gửi tiết
+ Tài khoản tiền gửi thanh toán liên hàng;
+ Tiền gửi tư nhân
Bên cạnh việc nhận tiền gửi bằng đồng Việt nam, các Ngân hàng Thương mại còn nhận tiền gửi bằng ngoại tệ với các loại như tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ của các cá nhân và tài khoản tiền gửi thanh toán bằng ngoại tệ của các tổ chức kinh tế và cá nhân
Nhờ đó năm 1992, ngudn von huy động đã tăng đáng kể, đã tự giải quyết được gần 2/3 số cho vay tăng thêm của các Ngân hàng Thương mại, Ngân hàng Nhà nước chỉ cho vay hỗ trợ thêm 30%, Chat
lượng tín đụng cũng được nâng cño từng bước và hoàn thiện
Bên cạnh nguồn vốn tiền gửi, các ngân hàng còn xúc tiến phái
hành một số giấy tờ có giá như các loại kỳ phiếu nội tệ và ngoại tệ Đây là công cụ có lãi suất thường cao hơn tãi suất tiết kiệm và được phén chuyển nhượng, vì vậy tạo sự lình hoạt cho công cụ và lăng tính tiấp dẫn đối với khách hằng Tuy nhiên, vẫn còn sử dụng hình thức chứng chỉ đích danh và mới chỉ phát triển thị trường sơ cấp, thị trường
thứ cấp chưa được tổ chức một cách chính thức, yì vậy việc chuyển
nhượng cũng chưa dễ đàng và thuận lợi cho người mua kỳ phiếu, do
đó họ phải tự tìm kiếm bên có nhụ cầu mua lại kỳ phiếu Việc chuyển sang hình thức sử dụng các chứng chỉ võ danh và chứng từ ghí số để
đễ chuyển nhượng giữa các thành viên tham gia thị trường tín dụng là một việc cần quan tâm mà hệ thống Ngân hàng đần đần phải thực
hiện