Những tiến bộ này thu được một phần là nhờ việc đưa những giống lúa lai mới năng suất cao vào sản xuất, nhưng thường chất lượng gạo của những giống này thấp, mặt khác nhờ những thể chế m
Trang 1Nghiên cứu và phát triển sản phẩm có tên gọi
xuất xứ cho gạo Tám xoan hải hậu
TS Lê Quốc Doanh, TS Vũ Trọng Bình,
KS Đào Đức Huấn, ThS Lê Đức Thịnh, ThS Bùi Thị Thái, KS Phạm Thanh Hương (*)
I Bối cảnh nghiên cứu
Sản xuất lúa đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn Việt Nam Sau khoán 10, sản lượng lúa tăng lên nhanh chóng đáp ứng về cơ bản nhu cầu lượng thực trong nước và xuất khẩu Những tiến bộ này thu được một phần là nhờ việc đưa những giống lúa lai mới năng suất cao vào sản xuất, nhưng thường chất lượng gạo của những giống này thấp, mặt khác nhờ những thể chế mới được hình thành trong quá trình cải cách
Sự phát triển đã làm cho nhiều giống lúa cổ truyền nổi tiếng trước kia có nguy cơ bị biến mất trong sản xuất Sự lẫn lộn trên thị trường giữa gạo của các giống
cổ truyền có chất lượng đặc trưng với các giống mới làm cho nông dân ngày càng thu được ít lợi nhuận từ các giống lúa đặc sản
Trong khi đó, nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng cao về chủng loại
và chất lượng sản phẩm ở các thành phố như: Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh Sự xuất hiện một nhu cầu mới về gạo cao cấp ở thị trường trong nước và yêu cầu tăng khả năng cạnh tranh quốc tế với gạo chất lượng cao đã đặt ra những thách thức mới cho sản xuất lúa gạo của Việt Nam
Việc xây dựng các tên gọi xuất xứ địa lí cho phép bảo tồn trên thực địa các nguồn gen quí cổ truyền và văn hoá bản địa Các tên gọi nổi tiếng như cà phê Buôn Ma Thuột, chè Tân Cương, gạo Tám Xoan - Hải Hậu sẽ không bị mua bán như các thương hiệu thương mại và luôn thuộc sở hữu của cộng đồng dân cư các vùng đó Phát triển tên gọi xuất xứ còn là cách bảo hộ nguồn gen động, thực vật có hiệu quả theo các công ước quốc tế Ngoài ra nó còn là một động lực để phát triển nông nghiệp và nông thôn
Trên cơ sở thực tiễn đòi hỏi, từ năm 2003, Bộ môn Hệ Thống Nông Nghiệp – Viện KHKTNN Việt Nam đã bắt đầu triển khai hướng nghiên cứu này Lúa Tám Xoan - Hải Hậu là sản phẩm đầu tiên được lựa chọn nhằm xây dựng những cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc phát triển tên gọi xuất xứ cho các loại lúa đặc sản cũng như các cây trồng khác
Lúa đặc sản được sản xuất nhiều, đặc biệt là ở vùng Đồng bằng sông Hồng và ĐB sông Cửu Long Tỷ lệ diện tích gieo trồng lúa đặc sản của hai
đồng bằng này chiếm phần lớn diện tích của cả nước
Bảng 1 Tỷ lệ diện tích lúa đặc sản của cả nước năm 2002
(Đơn vị: %)
(*) Bộ môn Hệ thống nông nghiệp
Trang 2Lúa Mùa Lúa Hè - Thu Lúa Đông - Xuân
Nguồn: Báo cáo nền lúa gạo Việt Nam, 2003, Mispa project - ICARD
Trong lịch sử, lúa tám được cấy khá phổ biến ở Đồng bằng sông Hồng
trong vụ mùa Diện tích lúa tám giai đoạn trước cải cách chiếm đến 22% diện
tích gieo cấy Tập đoàn giống lúa tám khá đa dạng, có trên 20 giống khác nhau
(Bùi Huy Đáp, 1957), nhưng chỉ có 2 giống là Tám thơm và Tám Xoan là được
ưa chuộng hơn cả vì cơm của hai loại tám này có mùi và vị khá đặc biệt Tuy
nhiên đây là những giống khó tính, đặc biệt là lúa Tám Xoan Với thời gian
sinh trưởng trung bình dài đến 160 ngày, cây cao dễ đổ, điều kiện canh tác lúa
Tám Xoan lại đòi hỏi đất tốt, pH từ chua nhẹ đến trung tính Tám Xoan là giống
khó chuyển vùng, chất lượng gạo ngon nhưng phụ thuộc vào nhiều yếu tố canh
tác khác nhau như đất đai, quy trình kỹ thuật canh tác, bảo quản và chế biến
Hải Hậu là một trong số ít địa phương ở đồng bằng có điều kiện để phát triển
giống lúa đặc sản này, việc sản xuất lúa Tám Xoan đã trở thành nét đặc trưng
mang tính truyền thống về văn hoá, tinh thần của người dân huyện Hải Hậu Từ
vài thập kỷ nay, gạo Tám Xoan - Hải Hậu (Nam Định) đã đi sâu vào tiềm thức
của người tiêu dùng trong nước Những năm gần đây, chất lượng gạo tám Hải
Hậu đã giảm, trên thị trường có sự lẫn lộn và pha trộn, nông dân không quan
tâm đến nâng cao chất lượng gạo Tám Xoan, sản xuất không có tổ chức Do vậy
nguy cơ biến mất lúa Tám Xoan - Hải Hậu sẽ không xa nếu chúng ta không có
sự khôi phục sản phẩm này Trong nghiều năm qua Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn và tỉnh Nam Định cũng đã có nhiều dự án nhằm nghiên cứu và
phục hồi sản phẩm trên, nhưng đều không thành công trong sản xuất Chúng tôi
cho rằng việc xây dựng tên gọi xuất xứ gạo Tám Xoan - Hải Hậu là một cách
khả thi mang tính thực tiễn cao để bảo tồn và phát triển sản phẩm này
II Mục đích nghiên cứu
Khôi phục, bảo tồn sản xuất lúa Tám Xoan truyền thống trên cơ sở xây
dựng ngành hàng có sản phẩm tên gọi nguồn gốc xuất xứ
Xây dựng tổ chức sản xuất - kinh doanh ở địa phương của nông dân có
khả năng sản xuất và kinh doanh sản phẩm có tên gọi nguồn gốc xuất xứ
Giúp địa phương xây dựng quy trình thể chế cho việc quản lí sản phẩm
có tên gọi nguồn gốc xuất xứ
III Phương pháp nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu lịch sử phát triển của lúa Tám Xoan, những yếu tố
điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội ảnh hưởng đến tính chất đặc trưng của sản
phẩm gạo Tám Xoan, vùng sản xuất lúa Tám Xoan sẽ được xác định trên thực
Trang 3địa và trên bản đồ Vùng này sẽ là cơ sở để trình hồ sơ xin bảo hộ tên gọi xuất
xứ
địa lí
Nghiên cứu thực hành nông dân từ sản xuất, chế biến, bảo quản, cho phép các nhà khoa học tiến hành những thử nghiệm cùng nông dân về phục tráng và chọn lọc giống Tám Xoan chất lượng cao, quy trình kỹ thuật trong canh tác, thu hoạch, bảo quản và chế biến Tất cả những thử nghiệm trên đều dựa trên nền tảng kinh nghiệm cổ truyền và có sự tham gia của nông dân Mục
đích các nghiên cứu này là tìm ra quy trình sản xuất, thu hoạch, chế biến và bảo quản để gạo Tám Xoan có chất lượng cao nhất
Phương pháp nghiên cứu về tổ chức nông dân được sử dụng nhằm giúp hình thành tổ chức sản xuất nông dân (hiệp hội) như một tác nhân kinh tế chuyên nghiệp mới có khả năng tự giám sát và kiểm tra quy trình kỹ thuật, chọn lọc giống, phục tráng giống Ngoài ra các nghiên cứu và tổ chức ngàng hàng
đã được áp dụng nhằm giúp nông dân cùng chia sẻ lợi nhuận rủi ro và cùng liên kết với tác nhân chế biến và thương mại trong tổ chức ngành hàng gạo tám tại Hải Hậu Các nghiên cứu về thị trường, xúc tiến thương mại cũng được áp dụng nhằm giúp thương hiệu ngày càng nổi tiếng hơn
Phương pháp nghiên cứu thể chế được áp dụng nhằm giúp hình thành hệ thống thể chế nội bộ của tổ chức nông dân trong kiểm tra, giám sát các khâu từ sản xuất, thu hoạch, chế biến và thương mại Ngoài ra nghiên cứu thể chế còn tiếp cận các chính sách nhà nước, các cơ quan nhà nước liên quan đến việc xây dựng và hình thành hệ thống pháp luật cũng nhưng quản lí các tên gọi xuất xứ sau này
IV nội dung nghiên cứu
Chẩn đoán hệ thống sản xuất và thương mại gạo Tám Xoan tại Hải Hậu Khoanh vùng sản xuất lúa tám: Yêu cầu đảm bảo yếu tố đặc trưng của lúa tám và gạo tám.Việc khoanh vùng dựa trên các yếu tố lịch sử và điều kiện tự nhiên, sinh thái
Thử nghiệm quy trình kỹ thuật: Thử nghiệm các quy trình kỹ thuật là bước rất quan trọng nhằm chuẩn hoá quy trình từ giống, canh tác, thu hoạch, bảo quản, chế biến, đóng gói
Tổ chức các nhóm sản xuất, tổ chức hiệp hội sản xuất, chế biến và thương mại gạo tám Hiệp hội đóng vai trò quan trọng trong giám sát, kiểm tra
đảm bảo gạo sản xuất có chất lượng cao và đồng đều Nghiên cứu về các quy trình kiểm tra và giám sát nội bộ cùng như của nhà nước với sản phẩm tên gọi xuất xứ địa lí
Nghiên cứu xây dựng hồ sơ xin đăng bạ bảo hộ sản phẩm tên gọi xuất xứ cho lúa tám
Nghiên cứu thị trường, ngành hàng và xúc tiến thương mại
V Kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu này mới triển khai được một năm và chưa kết thúc, chúng tôi xin trình bày những kết quả nghiên cứu đã thực hiện được từ tháng 01 năm
Trang 42003 đến tháng 07 năm 2004
1 Kết quả chẩn đoán hệ thống sản xuất lúa Tám Xoan truyền thống ở huyện Hải Hậu
Hiện trạng của sản xuất
Theo kết quả nghiên cứu, cây lúa Tám Xoan đã tồn tại và gắn bó với người dân Hải Hậu hàng trăm năm nay Trong quá trình phát triển, do tác động của nhiều yếu tố như: năng suất cây trồng, hiệu quả kinh tế, sự phát triển của khoa học kỹ thuật của các giống mới mà diện tích sản xuất lúa Tám Xoan của huyện có những biến động theo hướng giảm dần trong một vài năm gần đây
Nguồn: Phòng thống kê huyện Hải Hậu
Trong hoạt động sản xuất lúa tám của người dân cũng đã có những thay
đổi so với sản xuất truyền thống, sự thay đổi đó được thể hiện qua hai xu hướng:
1 Tăng năng suất bằng các biện pháp thâm canh
- Sử dụng các giống có tiềm năng năng suất cao hơn (tám tiêu, tám cổ ngỗng thay cho Tám Xoan)
- Sử dụng phân hoá học (đạm) thay cho phân hữu cơ (phân chuồng) nhằm giảm đầu tư lao động trên đơn vị diện tích, áp dụng các biện pháp phòng trừ sâu bệnh để bảo vệ cây trồng
- Thu hoạch khi lúa đã chín trên đồng so với gặt non trước kia (lúa chín
được 8 phần)
2 Sự thay đổi của các yếu tố môi trường canh tác, cụ thể:
- Sự điều tiết nước trong hệ thống thuỷ lợi hiện nay chủ yếu quan tâm
đến tính an toàn mùa màng trên quy mô huyện chứ không phục vụ riêng cho mục đích sản xuất lúa tám
- Lịch gieo cấy cũng có tác động đến sản xuất và gián tiếp ảnh hưởng
đến chất lượng sản phẩm
- Chính sách an toàn lương thực cũng được các cấp địa phương quan tâm, bởi vậy người ta quan tâm đến việc tìm các biện pháp để thúc đẩy tăng năng suất hơn là việc cải thiện chất lượng lúa tám
2 Khoanh vùng sản xuất lúa tám:
Lịch sử hình thành và
phát triển đất đai ở Hải Hậu tạo
Bản đồ:
Khoanh vùng
sản xuất lúa tám, Hải Hậu
Trang 5nên các vùng sản xuất lúa tám
với các các đặc trưng và ưu thế
riêng biệt:
Vùng đất cao: Bao gồm
11 xã phiá Bắc huyện, là vùng
đất phát triển lúa tám lâu đời
nhưng tầng canh tác mỏng,
nghèo dinh dưỡng hơn đất vàn
Vì vậy trồng lúa tám tại vùng
này dễ đổ, chất lượng không
cao so với vùng
đất vàn
Vùng đất vàn: Bao gồm
15 xã vùng giữa của huyện, là
vùng đất khá giàu dinh dưỡng,
pH trung tính và chua nhẹ,
trong điều
kiện nhất định có một chút ảnh hưởng của độ mặn trong đất Sản xuất lúa tám là một thế mạnh và có phần vượt trội hơn so với các vùng khác về năng suất cũng như chất lượng của sản phẩm
Vùng thấp, ven biển: Mức độ ảnh hưởng chua mặn của đất đai lớn, đất nghèo dinh dưỡng, đang trong quá trình bồi đắp nên đất trũng vì thế sản xuất lúa tám hay bị đổ và năng suất thấp, chất lượng lúa không cao, do đó tại vùng 3
tỷ lệ sản xuất lúa tám còn rất thấp
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng vùng 2 với những đặc điểm về nông hoá, thổ nhưỡng, thuỷ lợi là vùng có đủ điều kiện phát triển cây lúa Tám Xoan để đảm bảo chất lượng của sản phẩm Đó cũng là cơ sở để hình thành lên vùng sản xuất lúa Tám Xoan đặc sản của huyện Trên cơ sở những nghiên cứu xác định vùng sản xuất lúa tám, UBND huyện Hải Hậu và Sở NN và PTNT Nam Định đã chuẩn y việc xây dựng các cột mốc bằng bê tông đánh dấu các điểm mốc của vùng sản xuất lúa Tám Xoan theo yêu cầu của qui định xây dựng sản phẩm có tên gọi nguồn gốc xuất xứ
3 Xây dựng quy trình kỹ thuật
Khái niệm quy trình kỹ thuật được hiểu bao gồm quy trình trong sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến, đóng gói sản phẩm để đưa ra thị trường
Quy trình sản xuất
Năm 2003, ba mẫu lúa Tám Xoan đã được chọn lựa từ nông dân thông qua các cuộc họp với các chuyên gia, các nhà kỹ thuật, những nông dân có kinh nghiệm và người buôn bán Trên cơ sở điều tra thực hành truyền thống trồng lúa tám, chúng tôi đã triển khai thử nghiệm và so sánh 3 mẫu lúa trên với 4 công thức phân bón khác nhau Kết quả thử nghiệm đã chọn được 02 mẫu giống Tám Xoan có chất lượng cao và năng suất đạt yêu cầu Trên cơ sở kết quả thử nghiệm năm 2003, năm 2004 quy trình sản xuất lúa Tám Xoan đã được trao đổi với nông dân và Sở NN và PTNT Nam Định để đưa ra đại trà Quy trình kỹ thuật tiếp tục được thử nghiệm năm 2004 với việc đưa vào một số yếu tố khác
Trang 6như điền thanh, lá xoan với các mức phân chuồng khác nhau Một số giống lúa tám của các Viện nghiên cứu cũng được đưa vào thử nghiệm so sánh với các mẫu lúa tám trồng tại địa phương Để có thể tiến hành chọn lọc cá thể tốt, chúng tôi đã lập chương trình hợp tác nghiên cứu năm 2004 và 2005 với Viện Khoa học Nông nghiệp Pháp để chọn lọc lúa tám theo một số chỉ tiêu mới như
đo đếm độ thơm của gạo tám
Nhằm đảm bảo cho sinh trưởng phát triển của lúa tám, quy trình phun thuốc trừ sâu, tưới tiêu trong các giai đoạn cũng được chuẩn hoá để triển khai trên thực địa
Quy trình thu hoạch và bảo quản
Tất cả diện tích lúa Tám Xoan chất lượng cao từ năm 2003 và năm 2004
đều tuân thủ quy trình thu hoạch non với độ chính khoảng 80 % Để xác định
được thời điểm gặt, Hiệp hội lúa tám đã thành lập đội kỹ thuật nhằm xác định thời điểm gặt dựa trên lịch gieo cấy và tình hình cụ thể trên thực địa Thóc tám phải tuân thủ theo quy trình phơi, bảo quản theo qui định của Hiệp hội Lúa gặt, phơi khô xong sẽ được đội kỹ thuật kiểm tra, nếu đạt yêu cầu thóc sẽ được đóng gói niêm phong số lô, tên chủ hộ, số thửa ruộng Lúa phơi khô được bảo quản bằng bao nilông dày hai lớp đóng kín, kê cao ít nhất khoảng 30 – 40 cm trên mặt nền
Quy trình chế biến và đóng gói
Để đảm bảo cho gạo Tám giữ được mùi thơm đặc trưng thì việc chế biến
là rất quan trọng Từ lâu người dân đã bỏ thói quen giã gạo thủ công mà sử dụng bằng máy xát Việc chế biến bằng máy có 2 tác động tiêu cực đó là:
- Quá trình chế biến do bị cọ sát nên nhiệt độ tăng quá cao, hạt gạo bị khô cứng và mất mùi thơm
- Gạo được sát quá trắng làm mất đi lớp màng vỏ bên ngoài của hạt gạo
và cũng ảnh hưởng tới mùi thơm và độ đậm, độ dẻo của hạt gạo
Trên cơ sở những kinh nghiệm truyền thống, một quy trình chế biến mới
được xây dựng: xay xát gạọ thủ công vào năm 2003 Năm 2004, phương pháp giã cốm làng vòng sẽ được áp dụng nhằm đảm bảo giã đúng quy trình thủ công nhưng được cơ giới hoá nhằm giảm sức lao động, chi phí và tăng độ đồng đều sản phẩm, chất lượng bảo đảm hơn Một quy trình từ gặt, phơi, bảo quản, chế biến, đóng gói cũng được xây dựng và tiếp tục được hoàn thiện vào năm nay Năm 2004 Hiệp hội sẽ đưa việc đóng gói chân không vào thử nghiệm trong bảo quản gạo tám bán trên thị trường
4 Xây dựng Hiệp hội gạo tám
Để sản phẩm lúa tám chất lượng cao ra được trên thị trường trong điều kiện qui mô sản xuất nhỏ hiện nay, nông dân cũng như người buôn bán nếu không liên kết với nhau sẽ không thể khống chế được các khâu kỹ thuật từ sản xuất, thu hoạch đến chế biến Mặt khác trong quá trình xây dựng tên gọi xuất
xứ địa lí cũng như tiếp cận thị trường, việc hình thành một tác nhân kinh tế địa phương chuyên nghiệp là hết sức cần thiết Năm 2003, hai nhóm nông dân và một nhóm chế biến thương mại đã được giúp đỡ thành lập Các nhóm nông dân
đã tiến hành thử nghiệm quy trình kỹ thuật trong sản xuất, thu hoạch và nhóm
Trang 7thương mại chế biến thử nghiệm quy trình bảo quản, chế biến, thương mại Vụ thu hoạch 2003, hai bên đã hình thành phương án ăn chia lợi nhuận thu được và bước đầu hình thành mối liên kết giữa hai bên Hai nhóm sản xuất và một nhóm chế biến đã xây dựng một Hiệp hội sản xuất, chế biến và thương mại gạo tám vào cuối năm 2003 Đến tháng 06 năm 2004, Hiệp hội đã phát triển thành 42 nhóm nông dân (với 432 hộ gia đình) hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện và
hỗ trợ nhau trong sản xuất tại bốn xã trọng điểm về sản xuất lúa Tám của huyện 42 nhóm nông dân và một nhóm chế biến đã cơ cấu tổ chức để hình thành 12 chi hội sản xuất lúa tám, một chi hội chế biến thương mại trong Hiệp hội Qua quá trình bầu cử dân chủ trong Hiệp hội, một ban chấp hành Hiệp hội với 20 thành viên đã được bầu lên với một chủ tịch và hai phó chủ tịch
Hệ thống giám sát quy trình kỹ thuật của Hiệp hội bước đầu đã được hình thành và hoạt động theo các nội dung sau:
Hiệp hội là người điều hành và
chỉ đạo hoạt động giám sát
Hệ thống giám sát được phân
làm 3 cấp:
+ Giám sát giữa các thành
viên: Trong quá trình sản xuất các
thành viên sẽ giám sát nhau trong việc
thực hiện quy trình kỹ thuật Mỗi đội
sản xuất đều có các thành viên hạt
nhân - họ sẽ thực hiện việc giám sát
theo nguyên tắc thông tin kín
+ Hệ thống giám sát cấp 2: Các
chi hội trưởng, nhóm trưởng sẽ là
người giám sát hoạt động của chi hội,
nhóm do mình quản lý
Thương mại SP
Chế biến
Nông dân
Chia sẻ lợi nhuận
+ Hệ thống giám sát cấp 1: Ban lãnh đạo hiệp hội và Ban kiểm sát sẽ hình thành các ban kiểm tra giám sát để tiến hành kiểm tra giám sát hoạt động của tất cả các thành viên tại những thời điểm quan trọng trong quá trình thực hiện quy trình kỹ thuật
- Hoạt động giám sát sẽ theo các tiêu chí cụ thể, trách nhiệm khi thành viên vi phạm thuộc về bản thân các thành viên, nhóm trưởng và chi hội trưởng
sẽ chịu trách nhiệm liên đới
- Các cơ quan địa phương sẽ là người trợ giúp trong vấn đề xử lý vi phạm của các thành viên
5 Kết quả sản xuất và thương mại
Năm 2003 Hiệp hội đã bước đầu xây dựng chiến lược tiếp thị và quảng bá sản phẩm theo các mạng lưới bán hàng trong nước, các phương tiện thông tin đại chúng…
Bảng 2 Kết quả của hoạt động tổ chức sản xuất
Trang 8TT Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004
1 Tổng số hộ tham gia vào nhóm sản xuất gạo Tám Xoan chất lượng cao 26 432
2 Tổng diện tích sản xuất (ha) 04 60
3 Các xã triển khai Hải Phong Hải Toàn, Hải Toàn, Hải Phong,
Hải Đường, Hải Anh
Bảng 3 Kết quả hoạt động của Hiệp hội năm 2003
TT Diễn giải Số lượng (kg) Giá bán (đ/kg) Thành tiền (đồng)
1 Tổng sản lượng thóc sản xuất 10.195,5
2 Lượng thóc tham gia chia sẻ lợi nhuận ( )1 7.100,8
3 Tổng lượng gạo đã tiêu thụ 6.748,9 79.856.000
4 Trong đó: Lượng gạo chế biến thủ công 6.183,5 12.000 74.202.000
Lượng gạo sát 565,4 10.000 5.654.000
V Kết luận và đề nghị
Những kết quả nghiên cứu năm 2003 đã khẳng định việc đặt vấn đề và
phương pháp nghiên cứu là đúng hướng, có tính lí luận cũng như thực tiễn cao
Kết quả nghiên cứu đã chứng minh khả năng phục hồi lúa Tám Xoan chất
lượng cao truyền thống trên cơ sở hoàn thiện kỹ thuật sản xuất và tiếp cận thị
trường Mặt khác việc tổ chức thành công Hiệp hội sản xuất, chế biến và thương
mại gạo tám đã mở ra hướng mới trong tổ chức nông dân theo hình thức tổ chức
sản xuất mới, đặc biệt trong bảo tồn các sản phẩm đặc sản nông nghiệp Năm
2004, kết quả nhân rộng và sự lớn mạnh của Hiệp hội với qui mô lớn là cơ sở để
hình thành vùng sản xuất lúa Tám Xoan chất lượng cao có kiểm soát quy trình
kỹ thuật chung ở tất cả các khâu Hiệp hội sẽ là tác nhân kinh tế của nông dân
và người chế biến thương mại cùng bảo tồn, phát triển và hưởng lợi nhuận từ
việc khôi phục lúa Tám Xoan truyền thống Để có thể hình thành được sản
phẩm có tên gọi xuất xứ địa lí được bảo hộ, các bước nghiên cứu tiếp theo sẽ
được Bộ môn Hệ thống Nông nghiệp triển khai tiếp trong các năm 2005 và
2006 Nhóm nghiên cứu đề nghị Viện KHKTNN Việt Nam, Bộ NN và PTNT
tiếp tục ủng hộ và tạo điều kiện cho nghiên cứu này trong những năm tới
( ) 1 Hình thức chia sẻ này dựa trên cơ sở tổng giá trị gạo bán được trừ đi chi phí sản xuất, chế biến, lưu
thông và lợi nhuận còn lại được chia đôi cho người sản xuất và người chế biến
Trang 9research and development of the products
with the name of the geographical origin
for tam xoan rice of hai hau district
(Summary)
The trend of consumption diversification and increasing demand on speciality products is the chance to restore these kinds of product Besides, the recovery of speciality products has a valuable meaning in conserving genetic sources and creating agricultural commodities possessing high competitiveness
in domestic and foreign markets For a long time, the agricultural production growth has caused the inexistence of specific speciality commodities in the market Because of this fact, all of speciality products (SP) were not protected and sold with a reasonable price Whereas, a lot of European countries have succeeded in establishing the protected geographical indication (PGI) for these kinds of products such as Bordeaux wine, Cognac, etc At the moment, WTO is also preparing to promulgate the Act on protecting geographical indication products (GIP) The Ministry of Agriculture and Rural Development of Viet Nam (MADR) is also cooperated with Republic of France to develop GIP Agrarian Systems Department VASI has implemented the research on build up the PGI for Hai Hau Tam Xoan aromatic rice The works of zoning geographical area, building up technical process, organizing the association of production-process-trade, creating the procedure of supervising product quality have gained a lot of positive results This paper aims to present all the early beginning steps of this research