Khảo sát ảnh hưởng của việc sử dụng chế phẩm enzyme glucoamylase đến tốc độ thủy phân tinh bột trong quá trình lên men rượu nếp than được thực hiện thông qua 3 thí nghiệm sau: 1.. Nhằm k
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
LÊN MEN RƯỢU NẾP THAN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
Mã ngành: 08
Người hướng dẫn
Th.S BÙI THỊ QUỲNH HOA
NĂM 2007
Trang 2Tôi kính gởi lòng biết ơn chân thành đến:
- Cha mẹ đã nuôi dạy, động viên khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con trong suốt quá trình học tập cũng như trong cuộc sống
- Toàn thể quý Thầy Cô trường Đại Học Cần Thơ và đặc biệt là quý Thầy Cô trong Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt những năm tháng học tập tại trường
- Cô Bùi Thị Quỳnh Hoa đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện đề tài
- Quý Thầy Cô phòng thí nghiệm bộ môn Công nghệ thực phẩm và thư viện Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng đã tạo điều kiện thuận lợi cho em thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp
- Các bạn lớp Công nghệ thực phẩm khóa 28 đã giúp đỡ, đóng góp ý kiến, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
Kính chúc tất cả quý Thầy Cô và các bạn thành đạt trong công việc và cuộc sống
Cần Thơ, ngày 28 tháng 05 năm 2007
Sinh viên thực hiện
ĐÀM THỊ HẢI YẾN
Trang 3
Trang
Lời cảm tạ i
Mục lục ii
Danh sách bảng v
Danh sách hình vii
Tóm tắt x
CHƯƠNG I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Nguyên liệu dùng trong sản xuất rượu nếp than 2
2.1.1 Gạo nếp than 2
2.1.2 Bánh men thuốc bắc 2
2.1.3 Chế phẩm enzyme Amylase 5
2.1.4 Cồn tinh khiết 5
2.1.5 Nước 6
2.2 Vai trò của enzyme amylase trong sản xuất rượu nếp than 7
2.2.1 Cấu trúc phân tử enzyme amylase 7
2.2.2 Cơ chất tác dụng của enzyme amylase 8
2.2.3 Đặc tính và cơ chế tác dụng của enzyme amylase 9
2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt tính enzyme amylase 12
2.3 Lý thuyết lên men rượu 15
2.3.1 Khái quát quá trình lên men rượu 15
2.3.2 Cơ sở lý luận của quá trình lên men rượu 16
Trang 42.4 Quy trình công nghệ sản xuất rượu nếp than 21
2.4.1 Qui trình sản xuất rượu nếp than 21
2.4.2 Thuyết minh qui trình 22
CHƯƠNG III PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Phương tiện nghiên cứu 24
3.1.1 Thời gian địa điểm 24
3.1.2 Nguyên vật liệu 24
3.1.3 Thiết bị - dụng cụ 24
3.1.4 Hoá chất sử dụng 25
3.2 Phương pháp nghiên cứu 25
3.2.1 Phương pháp lấy mẫu 25
3.2.2 Phương pháp phân tích 25
3.3 Nội dung và bố trí thí nghiệm 27
3.3.1 Thí nghiệm 1: Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ enzyme glucoamylase bổ sung đến hiệu suất thu hồi rượu 27
3.3.2 Thí nghiệm 2: Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và pH đến khả năng thuỷ phân của enzyme glucoamylase 29
3.3.3 Thí nghiệm 3: Khảo sát thời điểm bổ sung enzyme glucoamylase 30
CHƯƠNG IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ enzyme glucoamylase bổ sung đến hiệu suất thu hồi rượu 32
4.1.1 Biến đổi hàm lượng chất khô hòa tan 32
4.1.2 Biến đổi pH 34
4.1.3 Ảnh hưởng của tỷ lệ enzyme đến nồng độ rượu và hiệu suất thu hồi rượu 36 4.1.4 Ảnh hưởng của tỷ lệ enzyme đến mật độ quang A (màu sắc) của sản phẩm 38
Trang 54.2 Khảo sát ảnh hưởng của nhệt độ và pH đến khả năng thủy phân
của enzyme glucoamylase 40
4.2.1 Biến đổi hàm lượng chất khô hòa tan 40
4.2.2 Biến đổi pH 44
4.2.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ và pH đến nồng độ rượu và hiệu suất thu hồi rượu ở tỷ lệ 0.3% enzyme 46
4.2.4 Ảnh hưởng của nhiệt độ và pH đến mật độ quang A (màu sắc) của sản phẩm ở tỷ lệ 0.3% enzyme 49
4.2.5 Ảnh hưởng của nhiệt độ và pH đến cảm quan của sản phẩm ở tỷ lệ 0.3% enzyme 51
4.3 Khảo sát thời điểm bổ sung enzyme glucoamylase 52
4.3.1 Biến đổi hàm lượng chất khô hòa tan 52
4.3.2 Biến đổi pH 53
4.3.3 Ảnh hưởng của thời điểm bổ sung enzyme đến nồng độ rượu và hiệu suất thu hồi ở tỷ lệ enzyme 0,3%, nhiệt độ 35 - 380C và pH = 5,6 54
4.3.4 Ảnh hưởng của thời điểm bổ sung enzyme đến mật độ quang A (màu sắc) của sản phẩm ở tỷ lệ enzyme 0,3%, nhiệt độ 35 - 380C và pH = 5,6 57
4.3.5 Ảnh hưởng của thời điểm bổ sung enzyme đến cảm quan của sản phẩm ở tỷ lệ enzyme 0,3%, nhiệt độ 35 - 380C và pH = 5,6 59
CHƯƠNG V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57
5.1 Kết luận 61
5.2 Đề nghị 62
Tài liệu tham khảo 63
Trang 6trong vi khuẩn, malt đại mạch và nấm mốc 10 Bảng 5 Thống kê biến đổi hàm lượng chất khô hoà tan (độ Brix)
ở các tỷ lệ enzyme khác nhau 33 Bảng 6 Thống kê biến đổi pH ở các tỷ lệ enzyme khác nhau 34 Bảng 7 Ảnh hưởng của tỷ lệ enzyme đến nồng độ rượu và hiệu suất thu hồi 36 Bảng 8 Thống kê ảnh hưởng của tỷ lệ enzyme
đến mật độ quang A (màu sắc) của sản phẩm 38
Bảng 9 Thống kê ảnh hưởng của tỷ lệ enzyme đến cảm quan của sản phẩm 39
Bảng 10 Thống kê biến đổi hàm lượng chất khô hòa tan (độ Brix)
ở tỷ lệ enzyme 0,3% theo nhiệt độ, pH và thời gian lên men 41 Bảng 11 Thống kê biến đổi pH ở tỷ lệ enzyme 0,3%
theo nhiệt độ, pH và thời gian lên men 44 Bảng 12 Thống kê ảnh hưởng của nhiệt độ và pH
đến nồng độ rượu ở tỷ lệ enzyme 0,3% 46 Bảng 13 Thống kê ảnh hưởng của nhiệt độ và pH
đến hiệu suất thu hồi rượu ở tỷ lệ enzyme 0,3% 47 Bảng 14 Thống kê ảnh hưởng của nhiệt độ và pH
đến thể tích dịch sau lên men ở tỷ lệ enzyme 0,3% 47
Trang 7đến mật độ quang A (màu sắc)của sản phẩm ở tỷ lệ enzyme 0,3% 50
Bảng 16 Thống kê ảnh hưởng của nhiệt độ và pH
đến cảm quan của sản phẩm ở tỷ lệ 0,3% enzyme 51 Bảng 17 Biến đổi hàm lượng chất khô hòa tan (Brix) ở tỷ lệ enzyme 0,3%,nhiệt
độ 35 - 380C, pH = 5,6 theo thời điểm bổ sung enzyme và thời gian lên men 52 Bảng 18 Thống kê biến đổi pH ở tỷ lệ enzyme 0,3%, nhiệt độ 35 - 380C,
pH = 5,6 theo thời điểm bổ sung enzyme và thời gian lên men 54 Bảng 19 Ảnh hưởng của thời điểm bổ sung enzyme đến nồng độ rượu
và hiệu suất thu hồi ở tỷ lệ enzyme 0,3%, nhiệt độ 35 - 380C và pH = 5,6 55 Bảng 20 Thống kê ảnh hưởng của thời điểm bổ sung enzyme
đến mật độ quang A (màu sắc) của sản phẩm ở tỷ lệ enzyme 0,3%,
nhiệt độ 35 - 380C và pH = 5,6 58
Bảng 21 Thống kê ảnh hưởng của tỷ lệ enzyme đến cảm quan của sản phẩm 59
Trang 8DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 1 Nấm men Saccharomyces cerevisiae 4
Hình 2 Cấu tạo tế bào nấm men Saccharomyces 4
Hình 3 Một số nấm mốc thường gặp 5
Hình 4 Sơ đồ phân loại enzyme amylase 7
Hình 5 Cấu tạo phân tử Amylose 9
Hình 6 Cấu tạo phân tử Amylopectine 9
Hình 7 Cơ chế tác dụng của enzyme α-amylase lên mạch tinh bột 10
Hình 8 Cơ chế tác dụng của enzyme β-amylase lên mạch tinh bột 11
Hình 9 Cơ chế cắt của enzyme amylase lên mạch tinh bột 12
Hình 10 Ảnh hưởng của nồng độ cơ chất đến hoạt tính enzyme 13
Hình 11 Ảnh hưởng của nồng độ enzyme đến tốc độ phản ứng 13
Hình 12 Chất kìm hãm cạnh tranh 14
Hình 13 Chất kìm hãm không cạnh tranh 14
Hình 14 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tốc độ phản ứng enzyme 15
Hình 15 Ảnh hưởng của pH đến tốc độ phản ứng enzyme 15
Hình 16 Qui trình công nghệ sản xuất rượu nếp than 22
Hình 17 Nguyên liệu dùng trong sản xuất rượu nếp than 24
Hình 18 Cân phân tích 25
Hình 19.Thiết bị đo pH 25
Hình 20.Thiết bị đo độ hấp thụ màu 25
Hình 21 Sơ đồ thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ enzyme glucoamylase bổ sung đến hiệu suất thu hồi rượu 28
Trang 9đến khả năng thuỷ phân của enzyme glucoamylase 29 Hình 23 Sơ đồ thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của thời điểm bổ sung
enzyme glucoamylase đến khả năng thuỷ phân 31 Hình 24 Đồ thị biểu diễn sự thay đổi hàm lượng chất khô hòa tan (độ Brix)
theo tỷ lệ enzyme và thời gian lên men 33 Hình 25 Đồ thị biểu diễn sự thay đổi pH theo tỷ lệ enzyme và thời gian lên men 35 Hình 26 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của tỷ lệ enzyme đến nồng độ rượu 36 Hình 27 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của tỷ lệ enzyme
đến hiệu suất thu hồi rượu (ml rượu/100g gạo) 37 Hình 28 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của tỷ lệ enzyme
đến mật độ quang A của sản phẩm 38 Hình 29 Sản phẩm ở các tỷ lệ enzyme khác nhau 40 Hình 30 Đồ thị biểu diễn sự thay đổi hàm lượng chất khô hòa tan (độ Brix) ở tỷ lệ
enzyme 0,3% và nhiệt độ phòng thí nghiệm theo pH và thời gian lên men 41 Hình 31 Đồ thị biểu diễn sự thay đổi hàm lượng chất khô hòa tan (độ Brix)
ở tỷ lệ enzyme 0,3% và nhiệt độ 35 - 380C theo pH và thời gian lên men 42 Hình 32 Đồ thị biểu diễn sự thay đổi hàm lượng chất khô hòa tan (độ Brix)
ở tỷ lệ enzyme 0,3% và nhiệt độ 50 - 550C theo pH và thời gian lên men 42 Hình 33 Đồ thị biểu diễn sự thay đổi pH ở tỷ lệ enzyme 0,3%
và nhiệt độ phòng thí nghiệm theo pH và thời gian lên men 44 Hình 34 Đồ thị biểu diễn sự thay đổi pH ở tỷ lệ enzyme 0,3%
và nhiệt độ 35 - 380C theo pH và thời gian lên men 45 Hình 35 Đồ thị biểu diễn sự thay đổi pH ở tỷ lệ enzyme 0,3%
và nhiệt độ 50 - 550C theo pH và thời gian lên men 45 Hình 36 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ và pH
Trang 10Hình 37 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ và pH
đến hiệu suất thu hồi rượu ở tỷ lệ enzyme 0,3% 48 Hình 38 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ và pH
đến mật độ quang A của sản phẩm ở tỷ lệ enzyme 0,3% 50 Hình 39 Sản phẩm thu được ở các điều kiện nhiệt độ và pH khác nhau 52 Hình 40 Đồ thị biểu diễn sự thay đổi hàm lượng chất khô hòa tan (độ Brix)
Trang 11Với quy trình lên men rượu nếp than theo phương pháp cổ truyền thì đạt được hiệu suất thu hồi rượu không cao Do đó để cải tiến quy trình lên men rượu nếp than nhằm đạt được hiệu suất thu hồi rượu cao hơn, chúng tôi tiến hành bổ sung vào khối lên men enzyme glucoamylase có nguồn gốc từ vi sinh vật
Khảo sát ảnh hưởng của việc sử dụng chế phẩm enzyme glucoamylase đến tốc độ thủy phân tinh bột trong quá trình lên men rượu nếp than được thực hiện thông qua 3 thí nghiệm sau:
1 Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ enzyme glucoamylase bổ sung đến hiệu suất thu hồi rượu
2 Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và pH đến khả năng thuỷ phân của enzyme glucoamylase
3 Khảo sát thời điểm bổ sung enzyme glucoamylase
Qua thời gian tiến hành nghiên cứu, kết quả đạt được như sau:
Ở tỷ lệ 0,3% enzyme cho kết quả tốt nhất: nồng độ rượu đạt 9,20, hiệu suất thu hồi đạt 29,2 (ml rượu/100g gạo), rượu có mùi thơm và hậu vị vừa phải nhưng chưa hoàn toàn hòa hợp
Ở tỷ lệ 0,3% enzyme khi kết hợp với các điều kiện nhiệt độ và pH thích hợp thì hiệu suất thu hồi rượu đã tăng lên đáng kể Ở nhiệt độ 35 - 380C và pH = 5,6 cho kết quả tốt: nồng độ rượu đạt được là 9,70, hiệu suất thu hồi đạt 31,9 (ml rượu/100g gạo), rượu có mùi thơm dịu, hậu tốt và hoàn toàn đặc trưng cho sản phẩm
Ở thời điểm bổ sung enzyme vào thời điểm 1 ngày sau đường hóa cho nồng độ
và hiệu suất thu hồi rượu cao: nồng độ rượu đạt được là 10,70, hiệu suất thu hồi đạt 37,2 (ml rượu/100g gạo), rượu có mùi thơm dịu, hậu vừa phải và đặc trưng cho sản phẩm
Từ các kết quả thu nhận được ta thấy khi tiến hành lên men rượu với điều kiện bổ sung 0,3% enzyme glucoamylase vào ngày thứ nhất, ở nhiệt độ 35 - 380C và pH = 5,6 thì sẽ đạt được hiệu suất thu hồi rượu cao hơn rất nhiều so với phương pháp lên men
cổ truyền là không có bổ sung enzyme
Trang 12CHƯƠNG I ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Rượu cổ truyền từ lâu đã là niềm tự hào dân tộc của nhiều quốc gia trên thế giới
Người ta không chỉ biết đến hương vị độc đáo đặc trưng của nó, mà thông qua cách
thưởng thức rượu cổ truyền dân tộc có thể tìm về cội nguồn văn hóa của dân tộc mình
Ở Việt Nam rượu cổ truyền do các làng nghề và dân tự làm ra với sản lượng đáng kể
Nhiều làng nghề chuyên sản xuất rượu ngon nổi tiếng như rượu Làng Vân Bắc Giang,
rượu San Lùng Lào Cai, rượu Gò đen Tiền Giang, rượu nếp than của người Kinh…
Ngoài các rượu làng nghề có chất lượng cao thì phần lớn là rượu dân tự làm ra, do
trình độ công nghệ còn kém và thiết bị sản xuất thô sơ nên còn rất nhiều độc tố, tạp
chất có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của người tiêu dùng Mặt khác hiệu xuất thu hồi
rượu thấp, hao phí nguyên vật liệu lớn dẫn đến hiệu quả sản xuất chưa cao Nhằm kết
hợp hài hòa giữa công nghệ cổ truyền và kỹ thuật hiện đại để sản xuất những loại rượu
đặc sản có tính chất đặc trưng cho từng vùng, đề tài luận văn này sẽ tập trung nghiên
cứu việc ứng dụng chế phẩm enzyme amylase để đẩy nhanh tốc độ thuỷ phân tinh bột
trong quá trình lên men rượu nếp than - một loại rượu cổ truyền của dân tộc - nhằm
cải tiến công nghệ, nâng cao hiệu suất thu hồi và chất lượng rượu đặc sản làng nghề
Ở nước ta, nguồn nguyên liệu nếp than rất dồi dào, các nguyên liệu phụ khác như:
men thuốc bắc, cồn tinh khiết, enzyme amylase, … cũng được bán khá nhiều trên thị
trường Vì vậy, công tác nghiên cứu khảo sát qui trình sản xuất rượu nếp than dựa vào
nguồn nguyên liệu và những thiết bị sẵn có là rất thuận lợi Đồng thời qua đó tìm ra
được những phương pháp sản xuất tối ưu để góp phần nâng cao chất lượng rượu nếp
than để có thể sánh ngang hàng với các loại rượu nổi tiếng trên thế giới như: Martin,
Whisky, Brandy, Mao Đài, Sakê, Vodka, …
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề tài “khảo sát ảnh hưởng của việc sử dụng chế phẩm enzyme amylase đến tốc độ
thuỷ phân tinh bột trong quá trình lên men rượu nếp than” được thực hiện từ
nguyên liệu gạo nếp than, bánh men thuốc bắc và chế phẩm enzyme amylase dựa trên
qui trình sản xuất rượu nếp than cổ truyền với mục tiêu chính là nâng cao hiệu suất
thuỷ phân tinh bột để từ đó nâng cao hiệu suất thu hồi và chất lượng rượu nếp than
Đề tài tiến hành nghiên cứu với các mục tiêu nghiên cứu sau:
1 Khảo sát ảnh hưởng của tỉ lệ enzyme glucoamylase bổ sung đến hiệu suất thu hồi
Trang 13CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 NGUYÊN LIỆU DÙNG TRONG SẢN XUẤT RƯỢU NẾP THAN
2.1.1 Gạo nếp than
Gạo nếp than là một loại gạo đặc biệt được trồng nhiều ở vùng Nam Bộ vì thế rượu
nếp than là đặc sản của vùng Nam Bộ Gạo nếp than bao gồm 4 loại:
Nếp cẩm Đức Hòa
Nếp đen Khánh Vinh
Nếp than Long Đất
Lúa lứt nếp cẩm
Hiện nay, nếp than được phân loại dựa theo màu sắc của hạt gạo Theo cách phân loại
này, nếp than được phân ra thành hai loại:
Nếp than đen huyền Nếp than hồng đỏ
Các sắc tố của nếp than rất dễ tan trong nước, vì thế sản phẩm rượu sẽ mang đặc trưng
màu của loại gạo làm ra nó
Tuy khác nhau về màu sắc bên ngoài, nhưng các loại gạo nếp than có thành phần hóa
học không sai biệt nhau nhiều
Bảng 1 Thành phần hóa học của gạo nếp than
(Ngu ồn: Lượng, 2004)
Gạo nếp than chứa hàm lượng tinh bột rất cao, phù hợp với ngành công nghiệp sản
xuất rượu bằng phương pháp cổ truyền Thành phần tinh bột chủ yếu trong gạo nếp
than được cấu tạo từ amylopectin (gần như 100%) và một ít amylose
Ngoài ra trong gạo nếp than còn chứa một lượng nhỏ các chất khác như muối khoáng,
chất béo, protit, …
2.1.2 Bánh men thuốc bắc
Nguyên liệu chính để sản xuất men thuốc bắc là: bột gạo, men giống, các vị thuốc bắc
Bánh men thuốc bắc phải đảm bảo một số yêu cầu cơ bản sau:
Phải có vi sinh vật sinh tổng hợp enzyme amylase
Có chứa nhiều giống vi sinh vật thuộc vi khuẩn, nấm men, nấm mốc (nấm sợi) có
khả năng chuyển hóa đường thành rượu
Có các loài vi sinh vật có khả năng tạo hương thơm cho quá trình lên men
Việc cho thuốc bắc vào bánh men rượu có 2 tác dụng: tạo hương trong sản phẩm và
ức chế sự phát triển của các vi sinh vật không có ích
Trang 14Thành phần hóa học của các vị thuốc bắc có thể chia làm hai nhóm: nhóm các chất
độn và nhóm hoạt chất Nhóm các chất độn gồm nước, muối vô cơ, carbohydrate
(đường, tinh bột), chất béo (dầu mỡ, sáp), protein, diệp lục tố và các sắc tố, … Nhóm
hoạt chất bao gồm các acid hữu cơ, acid vô cơ, tinh dầu, ancaloit, chất nhựa (resine),
glucoside, tanin, flavon, vitamin, các men, hocmon, …
Các chất trong nhóm hoạt chất phần lớn tác động đến hệ thần kinh, hệ tuần hoàn, hệ
hô hấp, hệ nội tiết của động vật Một số chất như tinh dầu, phenol, ancaloit, chất nhựa
còn có tính kháng sinh như sinnamic aldehyde, eugenol, menthol, thymol, vanillin, …
Thuốc bắc gồm 20 vị, trong đó có 6 vị chính, được nghiền mịn trộn lẫn với bột và men
giống Trong đó có khoảng 17 vị thuốc bắc có ảnh hưởng tốt đến sự phát triển sinh
khối của nấm mốc Aspergillus niger và nấm men Saccharomyces cerevisiae như quế
khâu, tiểu hồi, cam thảo, bạch truật, nhục đậu khấu, Một số vị thuốc có chứa hàm
lượng chất kháng sinh thực vật khá cao như tinh dầu quế chứa 95% cinnamic
aldehyde, tinh dầu đinh hương chứa 85% eugenol, tinh dầu bạc hà chứa 50% menthol,
tinh dầu tiểu hồi chứa 70% anethol Một số vị khác chứa hàm lượng chất dinh dưỡng
đáng kể như nhục đậu khấu chứa 40% chất béo, cam thảo chứa 8% glucose, 6%
saccarose, 30% tinh bột, … Sự phối hợp các vị thuốc đó có tác động mạnh hơn từng vị
thuốc đơn lẻ, các vị thuốc này cũng có ảnh hưởng đến năng suất rượu
Hệ vi sinh vật có trong bánh men thuốc bắc gồm có các loài nấm mốc như mucor và
rhizopus, các loài nấm men như saccharomyces và candida, các loài vi khuẩn có khả
năng sinh tổng hợp enzyme amylase và tạo hương Như vậy bánh men thuốc bắc là
một hỗn hợp vi sinh vật, ở đó có sự cộng tác tương hỗ trong quá trình lên men Ở đây
đồng thời xảy ra một loạt quá trình sinh hóa khác nhau khi lên men như: quá trình
tăng sinh khối, quá trình đường hóa, quá trình rượu hóa
Hệ vi sinh vật trong bánh men thuốc bắc
Nấm men
Nấm men là tác nhân chuyển hóa đường thành rượu etylic Có cấu tạo đơn bào, sinh
sản bằng cách nảy chồi và phân cắt Đa số thường có hình oval, hình cầu, hình bầu
dục Kích thước của tế bào nấm men thường từ khoảng 3 - 3,5 x 10 µm
Nấm men tự nó không chuyển động được, trong môi trường nó chuyển động được là
nhờ sự xáo trộn của dịch lên men do CO2 bị thoát ra ngoài Nhiệt độ thích hợp cho
nấm men hoạt động từ 15 - 350C, cao hơn 500C nấm men sẽ bị chết pH hoạt động khá
rộng từ 2 - 8, pH tối thích là 4,5 - 5 Khi có O2, nấm men sẽ tăng sinh khối nhanh
chóng Khi không có O2, nấm men sẽ chuyển đường thành rượu Các loại nấm men sử
dụng trong sản xuất rượu phải là các loại nấm men ngoài việc tạo ra rượu còn tạo ra
một số sản phẩm khác góp phần tạo hương vị thơm ngon và đặc trưng của rượu
Trong mỗi gam bánh men thuốc bắc có từ vài chục triệu đến vài trăm triệu tế bào nấm
men Chúng gồm hai chi khác nhau:
Endomycopsis
Endomycopsis fibulligenes là loài nấm men rất giàu enzyme amylase, glucoamylase
Do đó chúng vừa có khả năng đường hóa, vừa có khả năng rượu hóa
Trang 15Saccharomyces
Saccharomyces cerevisae: đây là loại lên men nổi, kỵ khí không bắt buộc, chúng có
khả năng hô hấp và lên men Có khả năng lên men rất nhiều loại đường khác nhau như
glucose, saccharose, maltose, fructose, raffinose, galactose Chúng có khả năng lên
men được ở nhiệt độ cao (khoảng từ 36 - 400C), có khả năng chịu được độ acid
Đặc biệt chúng có khả năng chịu được thuốc sát trùng Na2SiF6 với nồng độ 0,02 -
0,025% Đặc điểm này rất thuận lợi cho lên men khi cần phải sử dụng thuốc sát trùng
Đặc điểm quan trọng hơn hết là loài nấm men này có khả năng lên men các loại
nguyên liệu rất khác nhau như gạo, ngô, khoai, sắn, với lượng đường trong dung dịch
từ 12 - 14% có khi 16 - 18% Nồng độ rượu trong dung dịch lên men là 10 - 12 %
Nhiệt độ lên men thích hợp là 28 - 320C
Ngoài ra trong men thuốc bắc còn thấy nhiều loài nấm men dại khác nhau Chúng vừa
có khả năng thủy phân tinh bột, vừa có khả năng chuyển đường thành cồn, tuy rằng sự
chuyển hóa này còn thấp Điều đặc biệt là các loài nấm men dại này chịu nhiệt rất cao,
có khi lên tới 60 - 650C và chịu được chất sát trùng ở nồng độ 0,05 - 1%
Nấm mốc (nấm sợi)
Có cấu tạo sợi, chúng thuộc loại thực vật hạ đẳng, có bào tử, không có diệp lục tố,
không có khả năng tổng hợp các chất hữu cơ từ khí CO2 mà sử dụng trực tiếp các chất
hữu cơ sẵn có trong môi trường để phát triển và đảm bảo hoạt động sống bình thường
Nấm mốc chỉ mọc tốt trong môi trường có nhiều không khí và ẩm Vì vậy thường phát
triển trên bề mặt cơ chất dưới dạng những lớp lún phún hình sợi, lớp màng nhện hay
khối sợi bông Trong cơ chất chúng phát triển trong các khoang hổng chứa không khí
Nấm mốc có khả năng sinh ra các enzyme amylase, đặc biệt là α-amylase và
amyloglucosidase có khả năng thủy phân tinh bột tạo ra đường chủ yếu là glucose
Nguồn tinh bột ban đầu được hồ hóa bằng cách nấu hay hấp, sau đó dịch hóa bằng
α-amylase, đường hóa bằng amyloglucosidase
Trong bánh men thuốc bắc có rất nhiều loài mốc khác nhau thuộc Aspergillus,
Penicillium, Mucor, Rhizopus Trong đó Mucor và Rhizopus phát triển nhiều hơn cả
Loài Mucor, đặc biệt là Mucor rouxi có nhiều đặc tính rất quí như khả năng chịu nhiệt
độ cao (32-350C), chúng vừa có khả năng đường hóa và vừa có khả năng rượu hóa
Trang 16Hình 3 Một số nấm mốc thường gặp
Vi khuẩn
Trong bánh men thuốc bắc có nhiều loài vi khuẩn phát triển Trong đó thấy chủ yếu là
các loài vi khuẩn lactic và vi khuẩn acetic Đây là các loài vi khẩn thường làm chua
môi trường Thời gian đầu của quá trình lên men, quá trình này xảy ra là có lợi vì rằng
pH môi trường do chúng tạo ra sẽ thích hợp cho nấm men và nấm sợi phát triển Tuy
nhiên pH xuống quá thấp lại ảnh hưởng xấu cho quá trình lên men Mặt khác nếu
trong dịch lên men có mặt của O2 thì vi khuẩn acetic sẽ oxy hóa rượu thành axit
acetic Quá trình này làm tổn hao lượng cồn tạo thành
2.1.3.Chế phẩm enzyme Amylase
Amylase là enzyme rất thông dụng, được dùng nhiều trong công nghệ thực phẩm
Enzyme này làm nhiệm vụ thủy phân tinh bột thành các phân tử đường đơn giản như
glucose, maltose, … gồm có α-amylase, β-amylase và glucoamylase Do đó việc bổ
sung chế phẩm enzyme amylase vào dịch đường hóa thì sẽ làm tăng cao hiệu suất thủy
phân Chế phẩm enzyme amylase có thể được sản xuất từ những hạt ngũ cốc nảy
mầm (thóc, ngô, đại mạch, tiểu mạch, lúa mì, …) và từ quá trình nuôi cấy vi sinh vật
Tùy theo nguồn chế phẩm enzyme amylase bổ sung vào mà hiệu suất thủy phân và
đặc tính tác dụng sẽ khác nhau Chẳng hạn như: α-amylase của nấm mốc và vi khuẩn
có nhiều đặc tính khác nhau như độ pH tối ưu của nấm mốc là 4,7 - 4,9 còn của vi
khuẩn là 5,9 - 6,1, nhiệt độ tối ưu của α-amylase nấm mốc là 55 - 660C và khả năng
chịu nhiệt là 700C trong khi đó nhiệt độ tối ưu của α-amylase vi khuẩn là 60 - 750C và
khả năng chịu nhiệt là 900C Tuy nhiên hoạt tính enzyme sinh ra từ nấm mốc và vi
khuẩn đều tương đương nhau nhưng khả năng đường hóa của enzyme amylase nấm
mốc khá hơn enzyme amylase vi khuẩn, ngược lại khả năng dịch hóa (tạo dextrin) của
enzyme amylase vi khuẩn lại cao hơn enzyme amylase nấm mốc
2.1.4.Cồn tinh khiết
Trong quá trình lên men rượu nếp than, lượng cồn tạo được chỉ khoảng 7 - 10% Với
nồng độ rượu này là thấp và rất dễ dàng bị oxy hóa tiếp (oxy hóa sinh học và oxy hóa
hóa học) để tạo CO2 và nước Do đó sau khi lên men xong phải cho thêm một lượng
cồn tinh khiết nhất định vừa để nâng cao hàm lượng cồn trong rượu, vừa tránh khả
năng oxy hóa rượu bởi vi khuẩn acetic
Cồn được dùng để pha thêm trong rượu nếp than là loại cồn thực phẩm có độ tinh sạch
cao và phải đạt được một số chỉ tiêu sau:
Rhizopus
Mucor Aspergillus
Trang 17Trong suốt, không màu và mùi lạ
Tiêu chuẩn của nước trong công nghiệp sản xuất rượu có yêu cầu chất lượng giống
như nước dùng trong sinh hoạt, nghĩa là: có độ cứng không quá 7mg đương lượng/lít,
trong suốt, không màu, không mùi
Bảng 2 Giới hạn hàm lượng muối trong nước
Ion Hàm lượng (mg/l) Ion Hàm lượng (mg/l)
Không có hoặc chỉ có rất ít các muối kim loại nặng như: Hg2+, Ba2+
Khả năng oxy hóa 1 lít nước không quá 2 ml dung dịch KMnO4 (0.01N)
Chất cặn không vượt quá 1000mg/l
pH kiềm không thích hợp cho quá trình nấu nguyên liệu, có khả năng tạo điều
kiện thuận lợi cho vi sinh vật gây hại phát triển và thúc đẩy quá trình tạo thành
glycerin trong quá trình lên men
Muối CaSO4, MgCl2, NaCl với lượng từ 300 - 400 mg/l thích hợp cho hoạt động
của enzyme amylase, lượng đường khử tăng lên nhưng độ thuần khiết của dung dịch
đường lại giảm
Muối sulfat (CaSO4, MgSO4) 400 - 800 mg/l sẽ làm tăng lượng đường không lên
men, làm giảm tốc độ đường hóa và lên men
Muối CaCO3, MgCO3, Fe2+, Fe3+ với lượng 400 mg/l, muối Nitrat 400 mg/l và
muối Nitơ 200 mg/l sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình lên men
NH3 với lượng ít hơn 20 mg/l lại có tác dụng làm tăng hiệu suất lên men Hàm
lượng lớn hơn thì lại không cho phép
Các muối Nitrat, Nitric, Photphat và Silicat với lượng nhỏ hơn 200 mg/l không
ảnh hưởng đến quá trình đường hóa Muối Bicacbonat với lượng không quá 200 - 400
mg/l không ảnh hưởng đến sự đường hóa, nhưng lượng lớn hơn ảnh hưởng rõ rệt đến
enzyme amylase
Chỉ tiêu E Coli < 20 tế bào/lít
Trang 182.2 VAI TRÒ CỦA ENZYME AMYLASE TRONG SẢN XUẤT RƯỢU NẾP
THAN
Enzyme amylase thuộc nhóm enzyme thủy phân, xúc tác sự phân giải các liên kết
glucoside nội phân tử trong các polysaccharide với sự tham gia của nước Enzyme
amylase thủy phân tinh bột, glycogen và các dextrin thành glucose, maltose và dextrin
mạch ngắn
2.2.1 Cấu trúc phân tử enzyme amylase
a Thành phần cấu tạo
Enzyme amylase thuộc loại hydrolase chỉ là những phân tử protein thuần, nghĩa là sản
phẩm của sự phân giải enzyme này hoàn toàn chỉ gồm toàn những acid amin Vì vậy
chúng thuộc loại enzyme đơn giản
Hiện nay, người ta biết có 6 loại enzyme amylase trong đó α-amylase, β-amylase,
γ-amylase (hay glucoγ-amylase) thủy phân các liên kết α-1,4-glucoside của tinh bột,
glycogen và các polysaccharide cùng loại Các enzyme amylase còn lại như:
dextrin-6-glucanhydrolase, amylopectin-6-glucanhydrolase và oligodextrin-6-glucanhydrolase
thủy phân các liên kết α-1,6-glucoside Sáu loại này xếp thành hai nhóm:
Endoamylase (enzyme nội phân): gồm α-amylase và nhóm enzyme khử nhánh
Exoamylase (enzyme ngoại phân): gồm có β-amylase và γ-amylase
Hình 4 Sơ đồ phân loại enzyme amylase
b Trung tâm hoạt động của enzyme
Enzyme amylase nói riêng hay tất cả các enzyme nói chung đều là loại protein đặc
biệt Ngoài cấu trúc giống như cấu trúc bình thường của một protein, enzyme còn có
cấu trúc rất đặc biệt liên quan đến hoạt động của enzyme Không phải toàn bộ enzyme
tham gia vào hoạt động xúc tác mà chỉ có những bộ phận rất đặc biệt mang tính đặc
hiệu trong phân tử protein của enzyme mới tham gia xúc tác phản ứng Bộ phận đặc
hiệu này được gọi là trung tâm hoạt động của enzyme
Amylase
Exoamylase
dextrin-6-glucanhydrolase
Khử gián tiếp Khử trực tiếp
Enzym khử nhánh γ-amylase
Endoamylase
và amylopectin-6-glucanhydrolase oligodextrin-6-glucanhydrolase
Trang 19Đối với enzyme amylase trung tâm hoạt động của nó thường là những nhóm chức
như: - NH2, - COOH, - SH, … Ngoài ra để thực hiện được chức năng của mình
enzyme amylase còn phải qua vai trò trung gian của phân tử H2O
c Tính đặc hiệu của enzyme
Tính đặc hiệu biểu hiện khả năng xúc tác của enzyme đối với cơ chất nhất định Mỗi
enzyme đều có tác dụng chọn lọc đối với một cơ chất hoặc một loại cơ chất nhất định
và đối với một phản ứng hóa học nhất định Do cấu trúc hóa lý đặc biệt của enzyme và
đặc biệt là trung tâm hoạt động mà enzyme có tính chất đặc hiệu rất cao so với các xúc
tác thông thường khác
Đặc hiệu kiểu phản ứng: mỗi enzyme chỉ có thể xúc tác cho một kiểu phản ứng
chuyển hóa nhất định trong các kiểu phản ứng oxy hóa khử, phản ứng chuyển vị, phản
ứng thủy phân, …
Đặc hiệu cơ chất: khi tham gia các phản ứng, các loại cơ chất phải được gắn vào trung
tâm hoạt động thích hợp và không phải cơ chất nào cũng có khả năng tiếp cận với
trung tâm hoạt động của enzyme
2.2.2 Cơ chất tác dụng của enzyme amylase
Cơ chất tác dụng của enzyme amylase là tinh bột và glycogen
a Tinh bột
Tinh bột thuộc nhóm carbohydrate có chủ yếu trong các loại củ như: khoai lang, khoai
mỳ, … và trong các loại ngũ cốc, các loại hạt và có công thức tổng quát là (C6H12O6)n
Tinh bột từ mọi nguồn khác nhau đều cấu tạo từ amylose và amylopectin Các loại
tinh bột giống nhau về thành phần nhưng tỉ lệ amylose và amylopectin khác nhau Tỉ
lệ giữa hai loại polysaccharide trong một số loại hạt được trình bày trong bảng 3
Bảng 3 Tỉ lệ amylose và amylopectin của các loại hạt
Tỉ lệ (%) Tinh bột
(Tú, Lê Ng ọc 2003 Luận văn tốt nghiệp Trường ĐHCT)
Tuy có sự khác biệt như vậy nhưng đa phần tinh bột đều chứa khoảng 20-30%
amylose và 70 - 80% amylopectin
Amylose: được cấu tạo từ những gốc glucose (C6H10O5) và liên kết với nhau bởi
nối α-1,4-glucoside nên tạo thành mạch thẳng Số gốc glucose trong phân tử amylose
có thể từ 200-1000 và tương ứng với phân tử lượng 34200-162000
Trang 20Amylose dễ tan trong nước nóng và tạo nên độ nhớt của dung dịch Nó hầu như không
có khả năng khử vì trong mỗi phân tử amylose chỉ có một nhóm aldehyde tự do
Amylopectin: cấu tạo từ những gốc glucose nhưng ngoài các nối α-1,4, trong
phân tử amylopectin có gốc glucose còn nối với nhau bởi các nối α-1,6 thường rất ít
so với nối α-1,4 nhưng rất bền Mạch chính của amylopectin có khoảng 400 - 2000
gốc glucose, các mạch nhánh bao gồm 15 - 18 gốc và cách đều 8 - 9 gốc Tùy theo
loại nguyên liệu, số gốc glucose trong phân tử amylopectin có thể từ 600 - 6000,
tương đương với phân tử lượng 96120 - 961200
Tinh bột là chất keo háo nước điển hình nhưng không hòa tan trong nước lạnh, trong
rượu và ete Trong nước nóng sẽ hút nước, trương nở và tạo dạng gel Mức độ trương
nở phụ thuộc vào nhiệt độ Khi tăng nhiệt độ (60 - 850C), dịch tinh bột sẽ biến thành
dạng keo Dưới tác dụng của enzyme amylase, tinh bột bị thủy phân do liên kết
glucoside bị phân giải Sự thủy phân tinh bột bởi enzyme amylase xảy ra theo hai mức
độ: dịch hóa và đường hóa Kết quả của sự dịch hóa là tạo ra sản phẩm trung gian
dextrin, khi dextrin tiếp tục bị đường hóa thì sản phẩm sẽ là maltose và glucose
b Glycogen
Glycogen (tinh bột động vật) là chất dự trữ đối với mọi cơ thể cũng như một số nấm
men và vi khuẩn Nó được cơ thể chuyển hóa và sử dụng từ từ Enzyme amylase có
vai trò quan trọng trong sự chuyển hóa glucide ở tế bào động vật và vi sinh vật
Glycogen có cấu tạo nhánh và có công thức chung là (C6H10O5)n Nó được cấu tạo từ
các gốc glucose liên kết với nhau bởi liên kết α-1,4-glucoside, ở vị trí phân nhánh
glucose nối với nhau bằng liên kết α-1,6-glucoside Glycogen có sự phân nhánh nhiều
hơn amylopectin của tinh bột, có phân tử lượng khoảng 2 - 3 triệu
2.2.3 Đặc tính và cơ chế tác dụng của enzyme amylase
a α-amylase
Đặc tính α-amylase
Trong phân tử α-amylase có ít nhất một ion Ca2+ có tác dụng làm bền cấu trúc bậc 2, 3
của phân tử enzyme, α-amylase khá giàu tyrosine, tryptophan nhưng ít methionine
α-amylase sẽ hoàn toàn mất hết khả năng thủy phân cơ chất nếu bị loại bỏ hết ion
Ca2+ Chúng được hoạt hóa bởi ion đơn trị nếu có nguồn gốc động vật và vi sinh vật
Nếu có nguồn gốc thực vật thì được hoạt hoá bởi ion hóa trị II Hoạt hoá bởi ion hoá
trị I như sau: Cl->Br->I- Chúng bị kìm hãm bởi ion kim loại nặng như Cu2+, Hg2+, …
Trang 21Protein của α-amylase có tính acid yếu và có tính chất của globuline Vì vậy, nó kém
bền trong môi trường acid nhưng khá bền nhiệt (bền nhất trong hệ enzyme amylase)
Điều kiện hoạt động của α-amylase từ các nguồn khác nhau thường không giống
nhau Nhiệt độ, pH tối thích cho hoạt động của α-amylase từ malt khác với vi sinh vật
Bảng 4 Khả năng chịu nhiệt của enzyme amylase trong vi khuẩn, malt đại mạch và nấm mốc
Nguồn gốc Nhiệt độ tối thích pH tối thích
(Ngu ồn: Hoa, 2006)
Cơ chế tác dụng của α-amylase
α-amylase có khả năng phân cắt các liên kết α-1,4-glucoside của cơ chất một cách
ngẫu nhiên và là enzyme nội, α-amylase không chỉ có khả năng thủy phân hồ tinh bột
mà còn thủy phân cả những hạt tinh bột còn nguyên vẹn
Sự thủy phân tinh bột của α-amylase trải qua nhiều giai đoạn
Giai đoạn đầu (giai đoạn dextrin hóa): tinh bột bị thủy phân thành các dextrin
phân tử lượng thấp Độ nhớt của hồ tinh bột giảm dần
Giai đoạn 2 (giai đoạn đường hóa): dextrin tiếp tục bị thủy phân tạo thành các
tetra và trimaltose, disaccharide và monosaccharide
Dưới tác dụng của α-amylase, amylose bị phân giải khá nhanh tạo thành
oligosaccharide gồm 6 - 7 gốc glucose, sau đó các mạch này bị phân cắt dần và bị
phân giải chậm đến maltose Sau thời gian thủy phân amylose, sản phẩm bao gồm
87% maltose và 13% glucose
Dưới tác dụng của amylase, amylopectin bị phân giải khá nhanh nhưng vì
α-amylase không cắt được liên kết α-1,6-glucoside nên dù có kéo dài thời gian thủy
phân nhưng sản phẩm sau cùng có khoảng 72% maltose, 19% glucose, dextrin phân tử
thấp và izomaltose là 8%
Sản phẩm do α-amylase tạo thành gồm dextrin, đường maltose và một ít đường khử
a, Cơ chế tác dụng của enzym α-amylase lên mạch amylose
b, Cơ chế tác dụng của enzym α-amylase lên mạch amylopectin
Trang 22b β-amylase
Đặc tính β-amylase
β-amylase là một loại albumin Tâm xúc tác của nó chứa gốc – SH, - COOH cùng với
vòng imidazol của các gốc histidin
β-amylase chỉ phổ biến trong thực vật đặc biệt có nhiều trong hạt nảy mầm Trong vi
khuẩn không có β-amylase
β-amylase rất bền khi không có ion Ca2+, bị kìm hãm bởi ion kim loại nặng như: Cu2+,
Hg2+, ure, iod, ozon, …
β-amylase bị vô hoạt ở 700C
Cơ chế tác dụng của β-amylase
β-amylase là một enzyme ngoại phân Tiến trình phân giải bắt đầu từ đầu không khử
của các nhánh ngoài cùng của cơ chất β-amylase cắt liên kết α-1,4-glucoside nhưng
khi gặp liên kết α-1,4-glucoside đứng kế cận α-1,6-glucoside thì nó ngưng tác dụng
Phần saccharide còn lại là dextrin phân tử lớn, có chứa nhiều liên kết α-1,6-glucoside
và được gọi là β-dextrin có màu tím đỏ với iod
β-amylase phân giải 100% amylose thành maltose, phân giải 54 - 58% amylopectin
thành maltose Sản phẩm tạo thành là đường maltose nên β-amylase còn được gọi là
enzyme đường hóa
Tác dụng của β-amylase lên tinh bột như sau:
Tinh bột Maltose (54-58%) + β-dextrin (42-46%)
Nếu tế bào bị thủy phân đồng thời bởi cả α-amylase và β-amylase thì lượng tinh bột
sẽ bị thủy phân 95% Cả hai enzyme này đều không cắt được nối α-1,6-glucoside
trong phân tử tinh bột Kết quả tác dụng của α-amylase và β-amylase ta thu được dịch
đường gồm 78 - 80% maltose và glucose, 20 - 22% là dextrin chứa tất cả các nối
α-1,6-glucoside
Hình 8 Cơ chế tác dụng của enzyme ββββ-amylase lên mạch tinh bột
a, Cơ chế tác dụng của enzyme β-amylase lên mạch amylose
b, Cơ chế tác dụng của enzyme β-amylase lên mạch amylopectin
β-amylase
Trang 23c γ-amylase (Glucoamylase hay amyloglucosidase)
Đặc tính γγγγ-amylase
Đa số glucoamylase có hoạt lực cao nhất ở vùng pH = 3,5 - 5,5 và nhiệt độ 500C Nó
bền với acid hơn β-amylase nhưng kém bền hơn trong rượu, aceton và không bền với
ion kim loại nặng: Cu2+,Hg2+, Có trong nấm mốc và một vài loại vi khuẩn Nó có
giá trị đặc biệt trong sản xuất rượu, chuyển những dextrin có phân tử cao không lên
men thành những hợp chất lên men được và do đó nâng cao được hiệu suất nấu rượu
từ các nguyên liệu là tinh bột
Enzyme này chứa nhiều trong một số nấm mốc như: A.usamii, A.niger, A.awamori,
Rhizopus delamar và nấm men Endomycopsip, … Enzym này có nhiều tên gọi khác
nhau như: α-1,4:1,6-glucan-4:6-glucohydrolase, glucoamylase, amyloglucosidase,
takaamylase β, γ-amylase, maltulase, … Glucoamylase là enzym ngoại bào exoenzym
Cơ chế tác dụng của γγγγ-amylase
Glucoamylase không chỉ có khả năng phân cắt nối α-1,4-glucoside mà còn phân cắt
được cả nối α-1,6-glucoside và biến 100% tinh bột thành đường glucose Khi thủy
phân liên kết α-1,4-glucoside trong chuỗi polysaccharide, glucoamylase tách lần lượt
từng phân tử glucose ra khỏi đầu không khử của mạch để tạo ra glucose Chúng không
thuỷ phân được các dextrin vòng
Ngoài các liên kết α-1,4-glucoside và α-1,6-glucoside, glucoamylase còn có khả năng
thủy phân các liên kết α-1,2-glucoside và α-1,3-glucoside
Glucoamylase có khả năng thủy phân hoàn toàn tinh bột, glucogen, amylopectin,
dextrin, panose, isomaltose và maltose thành glucose mà không cần có sự tham gia
của các loại enzyme amylase khác Glucoamylase thủy giải các polysaccharide có
phân tử lớn nhanh hơn so với các chất có phân tử nhỏ Các polysaccharide có nhánh
như amylopectin, glucogen, β-dextrin bị glucoamylase thủy phân khá nhanh
Hình 9 Cơ chế cắt của enzyme amylase lên mạch tinh bột
2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt tính enzyme amylase
a Ảnh hưởng của nồng độ cơ chất đến hoạt tính enzyme amylase
Cơ chế tác dụng của enzyme amylase vào cơ chất trải qua ba giai đoạn:
E + S ES P + E
Trang 24Trong đó: E: Enzyme; S: cơ chất; P: sản phẩm
Giai đoạn 1: enzyme sẽ tương tác
với cơ chất để tạo thành phức hợp
enzyme - cơ chất ES
Giai đoạn 2: phức hợp enzyme - cơ
chất sẽ được tách ra
Giai đoạn 3: enzyme sẽ được giải
phóng và hoạt động tự do, cơ chất sẽ
chuyển thành sản phẩm
Hiện tượng trên được xem xét trên cơ sở
phản ứng chỉ có một cơ chất duy nhất Ở
trường hợp này sẽ xảy ra ba giai đoạn khác biệt:
1- Ở giai đoạn đầu, nếu nồng độ cơ chất thấp thì tốc độ phản ứng (V) phụ thuộc tuyến
tính với nồng độ cơ chất
2- Ở giai đoạn kế tiếp, tốc độ phản ứng cực đại và nó hoàn toàn không phụ thuộc vào
nồng độ cơ chất
3- Ở giai đoạn tiếp theo, nếu nồng độ cơ chất vượt qua ngưỡng cực đại của tốc độ
phản ứng thì tốc độ phản ứng không có khả năng tăng theo Ở giai đoạn này các
enzyme đã bão hoà cơ chất do đó nó không thể có tốc độ phản ứng cao hơn được
b Ảnh hưởng của nồng độ enzyme
amylase đến tốc độ phản ứng
Trong trường hợp thừa cơ chất, nồng độ
enzyme tăng sẽ làm tăng tốc độ phản
c Ảnh hưởng của các chất kìm hãm đến hoạt tính enzyme amylase
Trong các phản ứng enzyme, một số chất như những ion kim loại, các chất vô cơ,
hữu cơ, … có khả năng kìm hãm tốc độ phản ứng enzyme Các chất này có thể kìm
hãm thuận nghịch hay không thuận nghịch, làm yếu hoặc chấm dứt hoàn toàn tác dụng
của enzyme nhưng lại không bị enzyme làm thay đổi tính chất hoá học, cấu tạo hoá
học và tính chất vật lý của chúng, …
Nhóm các chất kìm hãm cạnh tranh
Các chất kĩm hãm (I) cạnh tranh thường có cấu trúc không gian tương tự cấu trúc
không gian của cơ chất (S) Do đó, chúng có khả năng kết hợp với enzyme (E) ở trung
tâm hoạt động của enzyme Kết quả là một số chỗ kết hợp cần thiết ở enzyme bị chất
kìm hãm chiếm mất Do đó cơ chất mất một phần khả năng tương tác, làm cho tốc độ
phản ứng không tăng Phản ứng cạnh tranh có thể biểu thị như sau:
Tốc độ phản ứng
Trang 25E + I EI
E + S ES E + P
Nhóm các chất kìm hãm không cạnh
tranh
Các chất kìm hãm không cạnh tranh tham gia kết hợp với enzyme ở một vị trí không
phải trung tâm hoạt động của enzyme, mà là ở một vị trí ngoài trung tâm hoạt động
của enzyme Người ta còn gọi vị trí này là trung tâm kìm hãm của enzyme
Khi chất kìm hãm kết hợp với enzyme ở vùng ngoài trung tâm hoạt động của enzyme
sẽ làm thay đổi cấu trúc không gian của trung tâm hoạt động của enzyme Như vậy
phức hợp này sẽ làm thay đổi theo hướng không có lợi cho hoạt động xúc tác của
enzyme, chúng sẽ làm giảm tốc độ phản ứng của enzyme
Sau khi kết hợp với chất kìm hãm để tạo thành phức hợp EI, chúng vẫn có khả năng
kết hợp với cơ chất để tạo thành một
phức hợp EIS như phản ứng sau:
E + S = ES E + P
E + I = EI
ES + I = EIS
EI + S = EIS
Kiềm hãm bởi sản phẩm của phản ứng
Các sản phẩm được tạo thành do các phản ứng enzyme tham gia có thể trở thành chất
kìm hãm tốc độ của chính phản ứng đó
Thí dụ: nếu có một phản ứng kiểu:
S1 + S2 = P1 + P2
Do tính thuận nghịch của phản ứng trên, các enzyme có ái lực với P1 và P2 tương
đương với S1 và S2 Trong trường hợp như thế P1 + P2 được coi như chất kìm hãm với
Nếu có cơ chất thứ hai tham gia vào và nó có khả năng đính vào một vị trí nào đó trên
phức hệ ES (ngoài vùng xúc tác) làm cho chúng không hoạt động, khi đó phức hệ này
được coi như chất kìm hãm
ES + S = ESS
d Ảnh hưởng của các chất hoạt hoá đến hoạt tính enzyme amylase
Chất hoạt hoá là những chất có tac dụng làm cho enzyme amylase từ trạng thái không
hoạt động hoặc hoạt động yếu trở nên mạnh hơn
Hình 12 Chất kìm hãm cạnh tranh
Hình 13 Chất kìm hãm không cạnh tranh
Trang 26Các chất hoạt hoá enzyme có thể là các anion, các ion kim loại ở ô thứ 11 đến ô thứ 55
trong bảng tuần hoàn Mendeleev, các chất hữu cơ có cấu trúc phức tạp làm nhiệm vụ
chuyển hydro, các chất có khả năng phá vỡ một số liên kết trong phần tử tiền enzyme,
các chất có khả năng phục hồi nhóm chức trong trung tâm hoạt động của enzyme
e Ảnh hưởng của nhiệt độ đến hoạt tính enzyme amylase
Bản chất enzyme là protein Do đó, nhiệt độ có ảnh hưởng rất lớn đến cấu trúc của
chúng Tốc độ của phản ứng enzyme chỉ
có thể tăng ở giới hạn nhiệt độ nào đó
khi mà protein chưa bị phá vỡ cấu trúc
Vượt qua nhiệt độ đó, tốc độ phản ứng
enzyme sẽ giảm và dẫn đến mức triệt
tiêu Nhiệt độ tương ứng với tốc độ phản
ứng enzyme cao nhất được gọi là nhiệt
độ tối ưu
Nếu đưa nhiệt độ cao hơn mức nhiệt độ
tối ưu, hoạt tính của enzyme sẽ bị giảm
Khi đó enzyme không có khả năng phục
hồi lại hoạt tính
Nhiệt độ tối ưu của enzyme phụ thuộc rất nhiều vào sự có mặt của cơ chất, kim loại,
pH, …
f Ảnh hưởng của pH đến hoạt tính
enzyme amylase
pH thường ảnh hưởng đến mức độ ion
hoá cơ chất, enzyme và ảnh hưởng đến
độ bền của protein enzyme
2.3 LÝ THUYẾT LÊN MEN RƯỢU
2.3.1 Khái quát quá trình lên men rượu
Lên men rượu là một quá trình sinh hóa phức tạp, tác nhân của quá trình lên men rượu
trong sản xuất là các loại nấm men Saccharomyces Thực chất của quá trình lên men
rượu chính là quá trình trao đổi chất nhờ tác dụng của các enzyme tương ứng gọi là
chất xúc tác sinh học (được sinh ra từ sự trao đổi chất để duy trì sự sống của nấm
men) Trong quá trình lên men rượu, nguyên liệu là tinh bột cần phải qua quá trình
đường hóa bằng hệ enzyme amylase để chuyển tinh bột thành đường glucose, sau đó
glucose tiếp tục lên men yếm khí để chuyển hóa thành C2H5OH (rượu etylic hay còn
gọi là etanol), khí CO2 và đồng thời giải phóng năng lượng Phương trình tổng quát về
quá trình lên men rượu như sau:
C6H12O6 2C2H5OH + 2CO2 + 674 Kcal
Tốc độ phản ứng
Nhiệt 0 C
Hình 14 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tốc độ phản ứng enzyme
Tốc độ phản ứng
pH
Hình 15 Ảnh hưởng của pH đến tốc độ phản ứng enzyme
Trang 27Ngoài sản phẩm chính là cồn etylic trong quá trình lên men còn tạo thành khí CO2,
glyxerin, một vài loại cồn bậc cao, các acid hữu cơ như acid succinic, … và sinh khối
nấm men tích tụ đồng thời với sự hình thành các sản phẩm Do đó làm giảm chất
lượng tinh khiết của rượu etylic
Sản phẩm thu được sau quá trình lên men có tỷ lệ như sau: 44,4% rượu etylic, 46,6%
CO2, 3,3% glyxerin, khoảng 0,6% acid succinic và 5,1% các sản phẩm khác
Tùy theo sản phẩm tích tụ sau quá trình lên men, người ta chia làm nhiều kiểu lên men
khác nhau Tuy nhiên có hai hình thức lên men chính: lên men yếm khí và hiếu khí
Lên men hiếu khí: là sự thủy phân đường có mặt của O2 như các quá trình lên
men acid acetic, citric, …
Lên men yếm khí: là sự thủy phân đường không có sự hiện diện của O2 như quá
trình lên men lactic, lên men rượu, butylic, …
Trong quá trình lên men người ta chia làm hai thời kỳ chính:
Thời kỳ phát triển sinh khối: giai đoạn này với sự có mặt của O2, tế bào nấm men
phát triển sinh khối (gia tăng kích thước và số lượng)
Thời kỳ lên men chuyển đường thành rượu và CO2: giai đoạn này nấm men hấp
thụ các chất dinh dưỡng và sử dụng các enzyme sẵn có của mình để thực hiện xúc tác
sinh hóa trong quá trình trao đổi chất để duy trì sự sống tạo thành rượu và CO2
2.3.2 Cơ sở lý luận của quá trình lên men rượu
a Cơ chế của quá trình lên men rượu
Để lên men rượu, người ta cho vào môi trường một lượng tế bào nấm men nhất định
Tùy theo phương pháp lên men mà lượng nấm men cho vào khác nhau Thông thường
khi lên men, lượng tế bào nấm men phải đạt được > 100 triệu tế bào trong 1 ml dịch
lên men Do diện tích bề mặt của tế bào nấm men rất lớn nên khả năng hấp thụ các
chất dinh dưỡng rất mạnh Đường lên men và các chất dinh dưỡng khác trong môi
trường lên men trước tiên được hấp thụ trên bề mặt của nấm men sau đó khuyếch tán
qua màng vào bên trong tế bào nấm men, rượu và CO2 sẽ được hình thành
Rượu etylic tạo thành khuyếch tán ra môi trường bên ngoài qua màng tế bào nấm men
Rượu hòa tan vô hạn trong nước nên khuyếch tán rất nhanh vào môi trường CO2 cũng
hòa tan vào trong môi trường nhưng sự hòa tan không lớn Ở áp suất 800 mmHg, nhiệt
độ 25 - 300C là 0,856 - 0,837 lít CO2 trong một lít nước Vì thế CO2 sinh ra trong quá
trình lên men sẽ khuyếch tán vào môi trường và nhanh chóng đạt được trạng thái bão
hòa Khi bão hòa CO2 bám vào xung quanh tế bào nấm men hình thành những bọt khí
Tế bào nấm men thường dính liền với nhau, bọt khí sinh ra ngày càng nhiều và lớn
dần lên hình thành túi lớn, đến lúc nào đó có sự chênh lệch giữa khối lượng riêng của
môi trường và tế bào nấm men sẽ nổi lên trên bề mặt Khi đến bề mặt, do có sự thay
đổi đột ngột sức căng bề mặt nên chúng bị vỡ ra làm cho khí CO2 bị phóng thích ra
bên ngoài Lúc này do khối lượng riêng của nấm men đủ lớn trở lại nên chúng sẽ chìm
xuống Quá trình này diễn ra liên tục nên tế bào nấm men vốn từ trạng thái tĩnh
chuyển sang trạng thái chuyển động, làm gia tăng khả năng tiếp xúc giữa tế bào nấm
men và môi trường, điều này làm cho quá trình trao đổi chất diễn ra nhanh hơn, mạnh
mẽ hơn, khi đó sẽ làm tăng nhanh quá trình lên men
Trang 28Khí CO2 ức chế quá trình lên men, nhưng trong quá trình thoát khí làm tăng khả năng
lên men của nấm men Kích thước, vật liệu chế tạo của thiết bị lên men, các chất hòa
tan mang điện tích, các vật lơ lửng khác hiện diện trong dịch lên men, khi lên men đều
ảnh hưởng dến sự thoát khí CO2 nên cũng ảnh hưởng đến quá trình lên men
b Động học của quá trình lên men rượu
Tốc độ của quá trình lên men có thể xác định trực tiếp bằng cách theo dõi sự thay đổi
của hàm lượng đường trong dịch lên men, hoặc gián tiếp xác định lượng rượu tạo
thành và lượng CO2 thoát ra trong một đơn vị thời gian Cũng có thể xác định nhanh
tốc độ lên men bằng cách đo nồng độ biểu kiến của nồng độ dịch lên men
Quá trình lên men chia làm 3 thời kỳ chính:
Thời kỳ đầu: khoảng 60 giờ kể từ khi cho nấm men tiếp xúc với dịch lên men
Sự lên men xảy ra rất chậm, đường lên men không đáng kể
Thời kỳ 2: đây là thời kỳ lên men chính Chiếm khoảng 60 - 120 giờ sau thời kỳ
đầu Sự phát triển của nấm men và sự lên men sau mỗi giờ tăng nhanh đáng kể và đạt
đến trị số cực đại
Thời kỳ cuối: đây là giai đoạn lên men phụ xảy ra rất chậm đồng thời là thời kỳ
ổn định tạo mùi cho sản phẩm Tùy theo phương pháp lên men, loại sản phẩm mà thời
gian lên men phụ kéo dài khác nhau không quan sát được
Thời kỳ lên men chính là thời kỳ biến đổi sâu sắc các thành phần trong dịch lên men
Chúng ảnh hưởng đến kết quả của quá trình lên men Trong giai đoạn này, trong điều
kiện lên men bình thường sau mỗi giờ nồng độ đường trong dịch lên men sẽ giảm đi
khoảng 1 độ (Brix, %) tùy loại sản phẩm, dây chuyền sản xuất
Sự tồn tại của thời kỳ lên men cuối là đặc trưng đối với quá trình lên men dịch đường
hóa từ nguyên liệu chứa tinh bột
Trong dịch lên men nếu biểu thị hàm lượng đường có trong dịch lên men là 100% thì
4-6% là dạng chất không tan, 75-77% được chuyển thành maltose và 19% là dextrin
Trong giai đoạn lên men, sự đường hóa cũng xảy ra nhưng rất chậm và không hoàn
toàn, đặc biệt khó khăn đối với tinh bột không hòa tan Do đó tốc độ lên men trong
thời kỳ này không phụ thuộc vào số lượng tế bào nấm men mà chủ yếu phụ thuộc vào
sự thủy phân hàm lượng dextrin không lên men còn lại Tuy vậy chính những loại
đường không lên men này sẽ tạo thành vị ngọt cho sản phẩm Như vậy chu kỳ lên men
dịch đường hóa tinh bột phụ thuộc vào thời gian lên men cuối hay phụ thuộc vào khả
năng đường hóa của phức hệ enzyme amylase Rất nhiều thí nghiệm cho thấy càng
kéo dài thời gian lên men cuối thì càng gia tăng hiệu suất của quá trình lên men
Tuy vậy tùy theo sản phẩm của sự lên men, nồng độ glucid của sự đường hóa, phương
pháp lên men, nhà sản xuất cũng sẽ tạo ra một quy trình sản xuất riêng biệt với chất
lượng và thành phần mong muốn của họ
c Cơ chế quá trình chuyển hóa các chất trong lên men rượu nếp than
Các quá trình vi sinh vật
Thực chất của quá trình này là quá trình sinh sản và sinh trưởng của vi sinh vật Quá
trình này xảy ra rất nhanh ở giai đoạn đầu lên men, khi ta cho bánh men thuốc bắc vào
Trang 29nguyên liệu lên men Sự phát triển mạnh các vi khuẩn ở giai đoạn này, kéo theo sự tạo
thành một số acid hữu cơ Kết quả là pH môi trường giảm xuống tạo điều kiện thuận
lợi cho các loài nấm mốc phát triển Song song đó các loài nấm men bắt đầu phát
triển, tuy tốc độ phát triển của chúng có yếu hơn sự phát triển của nấm mốc
Các loài nấm mốc chỉ phát triển mạnh trong giai đoạn đường được tạo thành Hay
đúng hơn là cuối của giai đoạn nấm mốc phát triển
Việc phân ra các giai đoạn phát triển của vi khuẩn, nấm mốc và nấm men một cách
thật rõ ràng là điều rất khó khăn Vì thực tế sự phát triển của các loài vi sinh vật trong
khối lên men diễn ra đồng thời Chỉ có một điều khẳng định là sự phát triển đó thường
không cùng một mức độ Sự phát triển của một số vi khuẩn, nấm mốc đòi hỏi sự tồn
tại trong môi trường một lượng O2 nhất định Chính vì thế các loài vi sinh vật này phát
triển mạnh ở giai đoạn đầu Nấm men cũng cần sự có mặt của O2 để tăng sinh khối
Tuy nhiên mức độ đó không cao như của nấm mốc Mặt khác nấm men phát triển cần
đường, do đó nó cần phải có thời gian để nấm mốc chuyển hóa đường từ tinh bột
Các quá trình sinh hóa
Trong quá trình lên men rượu nếp than xảy ra ba quá trình sinh hóa cơ bản
Quá trình chuyển hóa đường và các thành phần khác thành các acid hữu cơ
Trong đó có hai quá trình tạo acid hữu cơ cơ bản Đó là quá trình tạo acid acetic và
quá trình tạo acid lactic Quá trình tạo acid lactic mạnh hơn quá trình tạo acid acetic
Cả hai quá trình này xảy ra với cường độ không mạnh vì giai đoạn đầu lượng đường
trong khối lên men chưa cao nên việc chuyển hóa đó không xảy ra mạnh
Quá trình chuyển hóa tinh bột thành đường
Do sự phát triển của nấm mốc và sự phát triển của nấm men Endomycopsis, tinh bột
được chuyển thành đường Các loài nấm mốc và nấm men này trong quá trình phát
triển tạo ra rất nhiều enzyme amylase, glucoamylase Các enzyme này hoạt động rất
thuận lợi trong giai đoạn đầu và được kéo dài suốt thời gian sau này Bản chất của các
enzyme này là các enzyme cảm ứng, do đó nguyên liệu là loại chứa nhiều tinh bột,
kích thích quá trình sinh tổng hợp rất mạnh mẽ Điểm quan trọng thứ hai cần đề cập
đến là các enzyme này chịu sự điều khiển bởi sản phẩm cuối cùng là glucose Bình
thường thì glucose sẽ ức chế phản ứng thủy phân tinh bột Nhưng các loài nấm mốc
Mucor rouxi, Rhizopus delemar, các loài nấm men thuộc Endomycopsis vừa có khả
năng sinh tổng hợp enzyme amylase, glucoamylase vừa có khả năng chuyển hóa
đường để tạo thành cồn Kết quả là lượng đường glucose được tạo thành bao nhiêu,
ngay lập tức được chuyển hóa hết thành cồn, một phần được phục vụ cho sinh sản và
phát triển của chính các loài vi sinh vật đó Do đó trong khối lên men này thường
không xảy ra cơ chế kìm hãm ngược bởi glucose
Quá trình chuyển hóa đường thành cồn
Quá trình này được thực hiện bởi:
Saccharomyces sp
Mucor và Rhizopus sp
Endomycopsis sp
Trang 30Trong đó các loài nấm men Saccharomyces đóng vai trò cơ bản
Song song với quá trình này là các quá trình chuyển hóa đường, các acid hữu cơ thành
các sản phẩm phụ khác
Điều đặc biệt lưu ý là tất cả các quá trình chuyển hóa được xảy ra xen kẽ nhau, hỗ trợ
nhau và tạo nên một quá trình hài hòa, để cuối cùng tạo ra sản phẩm ta thu được
không chỉ có nước và cồn mà là một hỗn hợp sản phẩm bao gồm rất nhiều thành phần
khác nhau Chính vì thế rượu nếp than là một loại rượu có hương vị đặc biệt và giá trị
cảm quan khác rất riêng
2.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lên men rượu
a Ảnh hưởng của nồng độ dịch lên men
Nồng độ dịch lên men là cơ chất của quá trình lên men Nếu nồng độ dịch đường quá
cao sẽ dẫn đến làm tăng áp suất thẩm thấu và làm mất cân bằng trạng thái sinh lý của
nấm men Kết quả là rượu hình thành nhiều sẽ ức chế không những các tạp khuẩn mà
cả nồng độ dịch đường cũng tạo điều kiện cho lên men vi khuẩn phát triển mạnh ở giai
đoạn đầu Mặt khác đường nhiều sẽ dẫn đến tổn thất hoặc phải kéo dài thời gian lên
men Ngược lại nếu nồng độ dịch đường thấp sẽ không kinh tế vì sẽ làm giảm năng
suất thiết bị lên men
Bình thường trong dịch lên men thường có nồng độ chất khô từ 16 - 18% (tùy theo
mức độ thuần khiết), tương đương với 13 - 15% đường đối với quá trình lên men rượu
và khoảng 10% đường đối với lên men lactic
b Ảnh hưởng của nồng độ enzyme và lượng tế bào nấm men
Trong trường hợp có đầy đủ hoặc thừa cơ chất, tốc độ phản ứng enzyme tỷ lệ thuận
với nồng độ enzyme Nồng độ enzyme càng lớn bao nhiêu thì lượng cơ chất bị biến
đổi càng nhiều bấy nhiêu Tuy nhiên cũng có trường hợp khi nồng độ enzyme tăng
quá cao, tốc độ phản ứng bị chậm lại Nhìn chung tốc độ phản ứng phụ thuộc tuyến
tính với lượng enzyme theo phương trình tổng quát sau:
V = K [E]
Trong đó: V: vận tốc phản ứng
K: hằng số tốc độ phản ứng
E: nồng độ enzyme
Ngoài ra số lượng tế bào nấm men cho vào dịch lên men cũng ảnh hưởng rất lớn đến
quá trình lên men Nếu số lượng tế bào nấm men cho vào thích hợp thì quá trình lên
men diễn ra tốt, hiệu suất thu hồi cao, chất lượng sản phẩm tăng lên Nếu lượng men
cho vào ít quá thì quá trình lên men diễn ra chậm, sinh khối tế bào nấm men thấp là
điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển Ngược lại nếu số lượng tế bào nấm men
quá nhiều thì môi trường dịch lên men không đủ chất dinh dưỡng cho tế bào nấm men
phát triển, tế bào nấm men sẽ bị chết, làm cho sản phẩm có mùi vị lạ, lãng phí đi một
lượng men không có ích
Trang 31c Ảnh hưởng của nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng rất lớn tới quá trình lên men Mỗi loại vi sinh vật đều có
nhiệt độ tối ưu cho sự phát triển của mình Đối với nấm men saccharomyces, nhiệt độ
tối ưu nằm trong giới hạn 28 - 320C Tuy nhiên nếu bắt đầu lên men ở nhiệt độ thấp thì
khả năng lên men sẽ cao và kéo dài hơn Mặt khác nếu có điều kiện làm lạnh dịch
đường tới 20 - 220C sẽ hạn chế được sự phát triển của tạp khuẩn Sau 8 - 10 giờ, nhiệt
độ lên men sẽ đến 28 - 300C, tiếp dó cần làm lạnh để ổn định nhiệt độ trong giới hạn
tối ưu Ở nhiệt độ cao, hoạt tính của nấm men sẽ giảm nhanh nhưng chủ yếu là dễ bị
nhiễm lactic và nấm men hoang dại Ở nhiệt độ 300C, men hoang dại phát triển nhanh
hơn saccharomyces từ 2 - 3 lần, còn ở nhiệt độ 35 - 380C chúng phát triển nhanh đến 6
- 8 lần Mặt khác, khi lên men ở nhiệt độ cao sẽ tạo nhiều este, aldehyde và tổn thất
rượu theo CO2 sẽ tăng
Đối với quá trình lên men thì nấm men sẽ chịu được giới hạn nhiệt độ khá rộng từ 1 -
450C Nếu nhiệt độ quá 500C thì nấm men sẽ chết
Tuy nhiên nhiệt độ ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và phát triển của nấm
men, còn gây nên một số phản ứng phụ như: gây nên sự bay hơi làm tổn thất cồn, mất
hợp chất gây mùi thơm, hình thành nên các sản phẩm phụ khác khi lên men ở nhiệt độ
quá cao Do đó thường tiến hành lên men ở nhiệt độ thích hợp để tránh hiện tượng tổn
thất cồn do bay hơi, giữ được mùi thơm đặc trưng của rượu và tránh được sự phát
triển của vi sinh vật ưa nhiệt
d Ảnh hưởng của pH
Nồng độ H+ trong canh trường có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của nấm men Chúng
có khả năng làm thay đổi điện tích các chất của vỏ tế bào, làm tăng hoặc giảm mức độ
thẩm thấu các chất dinh dưỡng cũng như chiều hướng của quá trình lên men Mỗi vi
sinh vật chỉ có thể hoạt động tốt trong trạng thái ion nhất định - trạng thái này lại phụ
thuộc vào pH của canh trường
Nấm men có thể phát triển trong môi trường có chỉ số pH = 2 - 8 nhưng thích hợp nhất
là trong khoảng pH = 4 - 4,5 Vi khuẩn bắt đầu phát triển ở pH = 4,2 và cao hơn Khi
pH < 4,2 chỉ có nấm men phát triển Trong điều kiện lên men rượu, pH tối ưu để tạo
alcol etylic là 4,5 - 5,0 Đối với dịch đường từ nguyên liệu tinh bột thường khống chế
ở pH = 4,8 - 5,2, nhằm kết hợp giữ cho enzyme amylase tiếp tục chuyển hóa tinh bột
và dextrin thành đường lên men được Nếu tăng pH thì dễ bị nhiễm khuẩn, glyxerin sẽ
tạo nhiều hơn và do đó làm giảm hiệu suất lên men Chính vì vậy trong lên men rượu,
để ngăn ngừa khả năng nhiễm khuẩn (lactic, nấm men hoang dại,…) người ta thực
hiện trong giới hạn pH = 3,8 - 4,0 Tuy nhiên trong thực tế có những loài vi khuẩn do
quen dần (thuần hóa) với độ pH thấp nên ngoài việc ứng dụng điều chỉnh pH thích
hợp còn phải kết hợp sử dụng các chất sát trùng Khi pH = 8 thì nấm men phát triển
rất kém, ngược lại vi khuẩn phát triển rất mạnh Ở pH = 3,8 nấm men phát triển mạnh
thì hầu như vi khuẩn chưa phát triển
Để tạo pH thích hợp trong môi trường nuôi cấy nấm men (kể cả lên men) người ta có
thể bổ sung vào môi trường một loại acid thích hợp nào đó sao cho anion của acid
không gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến trung tâm hoạt động của nấm men, không ảnh
hưởng đến chất lượng rượu thành phẩm và sức khoẻ người tiêu dùng
Trang 32e Ảnh hưởng của nồng độ rượu
Thường trong dịch lên men có khoảng 4 - 6% rượu Nồng độ rượu sinh ra có ảnh
hưởng đến tốc độ và khả năng phát triển của nấm men Nồng độ rượu ảnh hưởng đến
tốc độ phát triển riêng của nấm men còn phụ thuộc vào thời gian, số lượng tế bào và
nguyên liệu chuẩn bị môi trường nuôi cấy Cùng một thời gian nuôi cấy, số lượng tế
bào nấm men cho vào bằng nhau, điều kiện nuôi cấy giống nhau thì nồng độ rượu ban
đầu 1% chưa có ảnh hưởng đến tốc độ và khả năng phát triển của nấm men, từ 4 - 6%
đã có ảnh hưởng xấu
f Ảnh hưởng của một số hóa chất và chất sát trùng
Trong điều kiện sản xuất dù có vệ sinh sạch đến mấy cũng khó đảm bảo vô trùng tuyệt
đối, vì vậy cần phải dùng chất sát trùng để ngăn ngừa và hạn chế tạp khuẩn Có thể
dùng nhiều hóa chất khác nhau như: formon, Na2SiF6, NaF, CaOCl2,… các muối kim
loại nặng, các tia cực tím, … đều ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hoạt động sống của
nấm men Tùy theo chất lượng của hóa chất mà dùng nhiều hay ít, sao cho hạn chế
được sự phát triển của tạp khuẩn nhưng không làm ảnh hưởng xấu tới hoạt dộng của
nấm men
Khi sử dụng formon, Na2SiF6, nồng độ không được vượt quá 0,02% so với dịch lên
men Tùy theo tính chất và mức độ phân ly của mỗi acid mà tác hại của chúng lên nấm
men sẽ không giống nhau Ngoài các hóa chất kể trên, trong dịch đường lên men luôn
chứa một lượng furfurol, melanoidin, đều ít nhiều ảnh hưởng đến hoạt động của nấm
men
2.4 QUI TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT RƯỢU NẾP THAN
2.4.1 Qui trình sản xuất rượu nếp than
Rượu nếp than được sản xuất theo một qui trình rất đặc biệt Sản phẩm cuối cùng của
công nghệ sản xuất rượu nếp than không phải là sản phẩm qua chưng cất như rượu cao
độ thường thấy ở qui trình sản xuất công nghiệp hoặc qui trình sản xuất thủ công của
rượu đế Rượu nếp than là sản phẩm của quá trình lên men không chưng cất nguyên
liệu nếp than mà thành Dưới tác dụng của enzyme amylase, tinh bột nếp bị thủy phân
thành đường maltose và glucose, đường tạo thành qua giai đoạn thủy phân tiếp tục
được nấm men Saccharomyces chuyển hóa thành rượu và CO2 Sản phẩm rượu nếp
than không qua giai đoạn chưng cất nên vẫn còn giữ được mùi thơm đặc trưng và có
hậu vị hơi ngọt, đắng nhẹ Đặc biệt sản phẩm còn có màu nâu đỏ tự nhiên do nguyên
liệu hình thành nên rất hấp dẫn và tạo nên nét đặc trưng riêng cho sản phẩm rượu nếp
than
Tùy theo yêu cầu của người sản xuất và người tiêu dùng, sản phẩm rượu nếp than có
thể được chia thành hai loại sau: rượu nếp than trong và rượu nếp than có xác
Dưới đây là qui trình công nghệ sản xuất rượu nếp than:
Trang 332.4.2 Thuyết minh qui trình
Xử lý nguyên liệu
Chọn nguồn nguyên liệu có chất lượng tốt, không bị sâu mọt và ổn định về các thành
phần như: màu sắc, hàm lượng tinh bột, … để đảm bảo chất lượng rượu thành phẩm
Nguyên liệu được ngâm vào nước và làm sạch để tách các chất bẩn bám vào nguyên
liệu Đồng thời quá trình ngâm còn có mục đích là làm mềm gạo, làm gạo trương nở
để dễ nấu chín sau này
Nấu chín
Tinh bột của nếp than có màng tế bào bảo vệ nên enzyme amylase không thể tiếp xúc
trực tiếp được Mặt khác, tinh bột sống không hòa tan trong nước, do vậy khi đường
hóa enzyme amylase tác dụng vào rất chậm Do đó mục đích của công đoạn nấu là
nhằm phá vỡ màng tế bào của tinh bột, tạo điều kiện biến tinh bột từ trạng thái không
hòa tan thành trạng thái hòa tan trong dung dịch, giúp cho quá trình tiếp xúc giữa
enzyme amylase và tế bào tinh bột được dễ dàng, làm tăng nhanh hiệu quả của quá
trình đường hóa tiếp sau đó Sau khi nấu hàm lượng ẩm trong nguyên liệu phải đạt 60
Sau khi làm nguội, rắc men thuốc bắc đã được nghiền mịn vào, trộn đều và cho vào hũ
có miệng nhỏ, không đậy nắp trong thời gian 3 giờ để tiến hành ủ mốc Khoảng thời
Xử lý Nấu chín Làm nguội
Phối trộn Nghiền mịn
Trang 34gian này nhằm cung cấp O2 cho quá trình tăng sinh khối của vi sinh vật Sau đó bổ
sung thêm enzyme amylase vào theo tỷ lệ thích hợp, đậy hũ lên men lại và tiến hành
lên men
Trong thời gian tiến hành ủ mốc thì lượng enzyme amylase do nấm mốc sản sinh ra
cùng với lượng enzyme amylase bổ sung vào thì tinh bột sẽ bị thuỷ phân một phần tạo
rượu và CO2 Do đó khi dịch đường lên men được khoảng 3 ngày thì tiến hành chan
nước (nước đun sôi để nguội) theo tỷ lệ nguyên liệu : nước là 1 : 2 nhằm mục đích là
làm loãng dịch lên men để hạ thấp nồng độ rượu vì nếu nồng độ rượu quá cao sẽ ức
chế quá trình lên men, mặt khác tạo điều kiện cho enzyme amylase tiếp xúc với tinh
bột dễ dàng hơn nhờ đó mà nâng cao hiệu suất thu hồi rượu
Lên men chính
Tiến hành lên men ở nhiệt độ thường Trong thời gian này sẽ có ba quá trình song
song xảy ra, tức nhiên là mức độ các quá trình đó có khác nhau Ba quá trình đó là quá
trình tăng sinh khối của vi sinh vật, quá trình đường hóa và quá trình rượu hóa
Lên men phụ và ổn định
Sau khi lên men chính, hàm lượng cồn trong dịch lên men đạt khoảng 7-10%V Với
lượng cồn này rất khó bảo quản và chất lượng rượu không cao Do đó, ta phải cho
thêm cồn vào để tăng hàm lượng cồn trong sản phẩm, làm gia tăng khả năng bảo quản
sản phẩm và làm cho rượu ổn định trong giới hạn nhất định Có thể cho thêm đường
vào để điều vị cho sản phẩm
Sau khi cho cồn vào (lượng cồn cho vào tùy theo yêu cầu của người sản xuất và người
tiêu dùng), rượu nếp than được tồn trữ ít nhất là 6 tháng để tiếp tục quá trình lên men
phụ Do rượu nếp than là sản phẩm không qua quá trình chưng cất nên trong quá trình
lên men chính tạo thành nhiều sản phẩm rượu bậc cao, aldehyde, … ảnh hưởng xấu
đến chất lượng sản phẩm như gây đắng, rượu có mùi lạ, … Vì vậy kéo dài thời gian
lên men phụ nhằm tạo thời gian dài cho quá trình chuyển những hợp chất rượu bậc
cao, aldehyde thành những hợp chất tạo mùi và hương cho sản phẩm
Thành phẩm
Rượu nếp than có hai dạng: rượu nếp than đục và rượu nếp than trong:
Đối với rượu nếp than trong: sau thời gian lên men chính, tiến hành lọc bằng
vải lọc để bỏ phần xác, đồng thời để tách các phần tử không tan và các phần kết tủa
trong quá trình lên men ra khỏi dịch lên men Sau đó để lắng tự nhiên nhằm tiếp tục
tách các phần tử có kích thước nhỏ không tan và các phần kết tủa còn sót lại trong
dịch lên men sau quá trình lọc Dịch lên men sau khi qua hai công đoạn lọc, lắng ta sẽ
thu được một dung dịch lên men trong suốt gọi là rượu nếp than trong
Đối với rượu nếp than đục: sau thời gian lên men chính, để nguyên xác
Cả hai loại rượu trên đều có màu sắc và mùi vị đặc trưng riêng của nguyên liệu đưa
vào sản xuất Rượu nếp than khi đạt được một số chỉ tiêu nhất định thì đem đi phân
phối
Trang 35CHƯƠNG III PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Thời gian địa điểm
Thời gian: từ ngày 26/2/2007 đến ngày 25/5/2007
Địa điểm: Phòng thí nghiệm Bộ Môn Công Nghệ Thực Phẩm – Khoa Nông Nghiệp và
Sinh Học Ứng Dụng - Trường Đại Học Cần Thơ
3.1.2 Nguyên vật liệu
Gạo nếp than được mua ở chợ An Hòa - Quận Ninh Kiều – TP Cần Thơ, chọn gạo nếp
than có hạt đồng đều, không bị lộn gạo hoặc nếp khác, nếp than chỉ có một màu tím
đậm Nếp sử dụng trong suốt quá trình thí nghiệm phải mua một lần để tránh sai số
Chế phẩm enzyme glucoamylase được đặt mua từ công ty hoá chất Sài Gòn, có nguồn
gốc từ vi sinh vật, nhiệt độ tối thích là 600C, pH tối thích là 3.5 – 5.5
Bánh men thuốc bắc: sử dụng men thuốc bắc Hải Anh Quang, có địa chỉ nơi sản xuất
in trên bao bì là: 39 Ấp 3 - Trần Văn Mười – Xã Xuân Thới Thượng - Huyện Hóc
Môn – TPHCM (ĐT: 08.7129144, 0913.912753) Men thuốc bắc phải có chứa các vi
sinh vật có khả lên men và các vị thuốc bắc có tỷ lệ thích hợp giữa các thành phần để
tạo hương cho sản phẩm
3.1.3 Thiết bị - dụng cụ
Nồi cơm điện
Chiết quang kế cầm tay
Trang 36Cân phân tích
Thiết bị đo độ hấp thụ màu
Một số dụng cụ cần thiết khác trong phòng thí nghiệm
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2.1 Phương pháp lấy mẫu
a Phương pháp lấy mẫu
Nguyên liệu được chọn như đã trình bày ở phần nguyên vật liệu, bố trí một dãy thí
nghiệm với cùng một nguồn nguyên liệu
b Phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên 4 nhân tố với 3 lần lặp lại Kết quả được
tính toán bằng thống kê và phân tích phương sai, kiểm định LSD hoặc Duncan
3.2.2 Phương pháp phân tích
Hình 20.Thiết bị đo độ hấp thụ màu
Hình 19.Thiết bị đo pH Hình 18 Cân phân tích
Trang 37a Xác định khả năng thuỷ phân của enzyme glucoamylase
Khả năng thuỷ phân của enzyme glucoamylase có thể được xác định bằng hai phương
pháp:
Kiểm tra hoạt tính của enzyme glucoamylase
Kiểm tra hàm lượng đường của dịch thuỷ phân
Tuy nhiên phương pháp xác định hoạt tính của enzyme glucoamylase rất phức tạp và
khó thực hiện, trong giới hạn của đề tài này chỉ tiến hành theo phương pháp kiểm tra
hàm lượng đường của dịch thuỷ phân
Lượng đường sinh ra trong dịch thủy phân có thể được biểu thị bằng hàm lượng chất
khô hòa tan có trong dịch đường Lượng đường sinh ra nhiều hay ít sẽ thay đổi tuyến
tính với hàm lượng chất khô hòa tan Do đó có thể căn cứ vào sự thay đổi hàm lượng
chất khô hòa tan trong dịch lên men để kết luận về khả năng thủy phân tinh bột của
nguồn chế phẩm enzyme glucoamylase sử dụng
Mặt khác lượng đường sinh ra trong dịch đường hóa sẽ được nấm men sử dụng trực
tiếp để lên men tạo thành rượu Do đó có thể xác định khả năng thủy phân của enzyme
glucoamylase dựa vào hiệu suất thu hồi rượu
b Nồng độ chất khô hòa tan của dịch đường và dịch lên men
hòa tan, chủ yếu là tinh bột tan, dextrin và đường oligo có số gốc glucose khác nhau
Ngoài ra còn chứa một lượng chất hoà tan khác như: protein, chất khoáng Các chất
này mang tên chung là chất hoà tan hay chất khô của dịch đường và dịch lên men và
được đo bằng chiết quang kế cầm tay (Brix kế) ở điều kiện 200C
Tiến hành: Dùng đũa thuỷ tinh nhỏ một giọt dịch trong của dịch đường hóa
hay dịch lên men lên chiết quang kế để đo nồng độ chất khô hòa tan của dịch đường
Nếu khi đo nhiệt độ khác 200C thì cần hiệu chỉnh theo phụ lục B
c Xác định nồng độ rượu
Lượng rượu tạo thành (độ rượu) có thể xác định gián tiếp bằng cách chưng cất
màu anthocyan, khoáng, … và các chất không hoà tan khác như: dextrin, tạp chất, …
do đó rất khó có thể xác định độ rượu trực tiếp bằng cách đo tỷ trọng
rượu của dịch lên men bằng cách lấy dịch lên men đem chưng cất Sau đó dùng cồn kế
để đo tỷ trọng của rượu đã chưng cất Từ đó tính được lượng rượu tạo thành
Muốn đo độ rượu bằng cồn kế ta tiến hành như sau:
- Rót rượu vào ống đo đặt thẳng đứng, ống đo phải sạch, khô và phải tráng qua
dung dịch đo Nhiệt độ khi đo cần làm lạnh hoặc gia nhiệt đến xấp xỉ 200C
- Từ từ nhúng thước đo vào, buông tay để thước nổi tự do rồi đọc kết quả Đọc
2 đến 3 lần lấy kết quả trung bình Khi đọc phải đặt mắt ngang tầm mực chất lỏng và
không đọc ở phần lồi (hoặc lõm) Trong mỗi dung dịch đều chứa các chất hoạt động
Trang 38bề mặt và do đó làm ảnh hưởng tới sức căng bề mặt, chỉ số đọc được trên thước đo,
dẫn đến làm tăng hoặc giảm so với nồng độ thực tế
d Kiểm tra các chỉ tiêu hoá lý
Rượu sau khi lên men cần phải theo dõi các chỉ tiêu hoá lý sau:
pH: đo bằng pH kế
Hàm lượng chất khô: đo bằng chiết quang kế
Màu sắc: đo bằng thiết bị đo độ hấp thụ màu
e Đánh giá cảm quan sản phẩm
Đánh giá cảm quan sản phẩm bằng phương pháp cho điểm theo tiêu chuẩn Việt Nam
(TCVN 3251-79) Tiêu chuẩn này xây dựng trên một thang thống nhất có 6 bậc (từ 0
đến 5) và điểm 5 là cao nhất cho một chỉ tiêu
3.3 NỘI DUNG VÀ BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM
3.3.1 Thí nghiệm 1: Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ enzyme glucoamylase bổ sung
đến hiệu suất thu hồi rượu
Mục đích: Tìm ra tỷ lệ enzyme glucoamylase bổ sung thích hợp để tăng tốc độ
đường hoá, giúp cho quá trình đường hoá diễn ra một cách triệt để và không bị lãng
phí đi một lượng enzyme glucoamylase không có ích do bổ sung quá nhiều Nhờ đó
mà nâng cao hiệu suất thu hồi rượu
Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên theo phương
pháp thừa số 1 nhân tố, 3 lần lặp lại Mỗi mẫu sử dụng 100 gam gạo nếp than
Nhân tố A: tỷ lệ enzyme thay đổi ở 4 mức độ
Trang 39Sơ đồ thí nghiệm 1
Tiến hành thí nghiệm
Nếp than được xử lý theo sơ đồ trên
Chọn 4 bình tam giác, cho vào mỗi bình tam giác 200 gam xôi nếp than đã được
trộn men thuốc bắc với tỷ lệ 0,9%, muối 0,5% và tỷ lệ enzyme glucoamylase bổ sung
là A0 (0% ), A1 (0,3% ), A2 (0,5% ), A3 (1% )
Để tự nhiên ngoài môi trường 2 giờ cho nấm mốc phát triển sinh khối
Đậy bình tam giác lại bằng nút gòn
Tiến hành đường hoá ở nhiệt độ phòng trong thời gian thích hợp (3 ngày)
Chan nước theo tỷ lệ nguyên liệu : nước = 1 : 2
Tiến hành lên men trong thời gian thích hợp (3 ngày)
Kiểm tra độ Brix trong từng ngày lên men
Kiểm tra pH ở các mốc thời gian 0 ngày, 3 ngày, 6 ngày
Sau khi kết thúc quá trình lên men, tiến hành đo các chỉ tiêu: màu sắc (mật độ
quang A), nồng độ rượu, thể tích dịch lên men
Lặp lại thí nghiệm thêm 2 lần nữa để có kết quả chính xác hơn
Để nguội (30 – 350C) Ngâm (2 giờ)
Trộn
Ủ mốc (3 ngày)
Lên men (3 ngày)
Enzyme amylase
Hình 21 Sơ đồ thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ enzyme
glucoamylase bổ sung đến hiệu suất thu hồi rượu
Muối (0,5%)
A3 Chan nước
Nguyên liệu : nước = 1 :
2
Trang 403.3.2 Thí nghiệm 2: Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và pH đến khả năng thuỷ
phân của enzyme glucoamylase
Mục đích: Tìm ra nhiệt độ và pH thích hợp nhất cho khả năng thuỷ phân của
enzyme glucoamylase
Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên theo phương
pháp thừa số 2 nhân tố, 3 lần lặp lại Mỗi mẫu sử dụng 100 gam nếp than
Nhân tố B: nhiệt độ xử lý thay đổi ở 3 mức độ
B1: nhiệt độ phòng thí nghiệm
B2: nhiệt độ thích hợp cho nấm mốc Rhizopus trong men thuốc bắc phát triển
(35 – 380C)
B3: nhiệt độ thích hợp cho hoạt động của enzyme glucoamylase 50 - 550C
Nhân tố C: pH thay đổi ở 3 mức độ
C1: pH của dịch cháo
C2: pH = 5,6 (pH tối thích của enzyme glucoamylase trong nấm mốc)
C3: pH tối thích của enzyme glucoamylase nguồn (3,5 – 5,5)
Để nguội (30 – 350C) Ngâm (2 giờ)
Trộn
Ủ mốc (3 ngày) Chan nước Lên men (3 ngày)
Enzyme glucoamylase
W = 60-70%
T = 45-60 phút
0,9% men thuốc bắc
C2
Hình 22 Sơ đồ thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và pH đến
khả năng thuỷ phân của enzyme glucoamylase
C3
B1
B2B3
B2B3
Muối (0,5%) C1 B1 B2
B3
... 2: Khảo sát ảnh hưởng nhiệt độ pH đến khả thuỷphân enzyme glucoamylase
Mục đích: Tìm nhiệt độ pH thích hợp cho khả thuỷ phân
enzyme glucoamylase...
Lên men (3 ngày)
Enzyme amylase
Hình 21 Sơ đồ thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng tỷ lệ enzyme
glucoamylase bổ sung đến hiệu suất thu hồi rượu. ..
0,9% men thuốc bắc
C2
Hình 22 Sơ đồ thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng nhiệt độ pH đến
khả thuỷ phân enzyme glucoamylase