Sự nghiệp đổi mới toàndiện, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Namđòi hỏi phải đào tạo một đội ngũ cán bộ pháp luật có trình độ cao cử nhân, thạ
Trang 1A THÔNG TIN ĐỀ TÀI
Cấp đề tài: Đề tài cấp Bộ
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Trần Ngọc Dũng, Chủ nhiệm Khoa Sau đại học, Trường Đại
học Luật Hà Nội
Cơ quan chủ quản: Bộ Tư pháp
Cơ quan chủ trì: Viện Khoa học pháp lý
Tuy vậy, trong quá trình nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống quốc tế,nhất là hội nhập về kinh tế, nhiều vấn đề, nhiều yêu cầu mới đang được đặt ra trước mắtcũng như lâu dài đối với đội ngũ cán bộ pháp luật
Trong quá trình hoạt động của mình, các cán bộ pháp luật được đào tạo trong thời gianqua đã đạt được nhiều thành công, nhưng khi đối mặt với những đòi hỏi do quá trình hộinhập khu vực và quốc tế, thì cán bộ pháp luật này chưa đáp ứng được Nhiều vấn đề liênquan đến bảo hộ sở hữu trí tuệ, thương mại quốc tế v.v… hầu như mới lạ đối với nhữngcán bộ pháp luật đã được đào tạo Việc các doanh nghiệp Việt Nam bị thua kiện trong cáctranh chấp thương mại quốc tế, bị mất các cơ hội đầu tư, mất đối tác kinh doanh…có mộtphần là lỗi của những cán bộ pháp luật Họ chưa đủ năng lực để đối mặt với các thách thứcmới
Trong bối cảnh đó, việc đào tạo được một đội ngũ cán bộ pháp luật có trình độ cao, cónăng lực toàn diện và phẩm chất tốt để giải quyết những yêu cầu do công cuộc hội nhậpquốc tế đặt ra là một yêu cầu vô cùng bức xúc
Cán bộ pháp luật có trình độ cao phục vụ hợp tác quốc tế là các chuyên gia am hiểusâu sắc những lĩnh vực pháp luật liên quan đến hội nhập quốc tế, có kỹ năng giải quyếtcác vấn đề đặt ra từ thực tiễn hội nhập quốc tế, am hiểu văn hoá, lịch sử, tập quán, kinh
tế - xã hội của Việt Nam cũng như của các nước và thông thạo ít nhất một ngoại ngữ phổbiến trên thế giới
Nghị quyết số 07/NQ-TW của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế đã nhấn mạnh tầmquan trọng của đội ngũ cán bộ có trình độ cao, có khả năng cạnh tranh với các đối tácnước ngoài trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực pháp luật Sự nghiệp đổi mới toàndiện, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Namđòi hỏi phải đào tạo một đội ngũ cán bộ pháp luật có trình độ cao (cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ),
có đủ khả năng giải quyết những vấn đề to lớn và trọng đại trong thời gian trước mắt cũng
ĐỀ TÀI ĐÀO TẠO CÁN BỘ PHÁP LUẬT CÓ TRÌNH ĐỘ CAO PHỤC VỤ CHO VIỆC HỘI
NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
Trang 2như lâu dài, nhất là trong giai đoạn hội nhập quốc tế mạnh mẽ như hiện nay.
Tuy vậy, việc đào tạo được những cán bộ pháp luật có trình độ cao không đơn giản.Cần phải tìm hiểu những vấn đề thuộc về đến phẩm chất và năng lực của cán bộ phápluật có trình độ cao, xác định các tiêu chí của khái niệm này cũng như cách thức để đạtđược những tiêu chí đó Việc này đòi hỏi sự nghiên cứu, tìm hiểu cả lý luận và thực tiễn,nhất là quy trình đào tạo cán bộ pháp luật, tìm ra cách thức khắc phục những khiếmkhuyết của quy trình đó
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích xác định những tiêu chí của người cán bộpháp luật có trình độ cao phục vụ yêu cầu hội nhập quốc tế của Việt Nam; và dựa trênnhững tiêu chí đó, đề xuất những giải pháp thiết thực, cụ thể nhằm đào tạo những cán bộpháp luật đáp ứng những tiêu chí đó
I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO CÁN BỘ PHÁP LUẬT CÓ TRÌNH ĐỘ CAO PHỤC VỤ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
1 Bối cảnh quốc tế, khu vực và chính sách hội nhập quốc tế của Việt Nam
Tham gia vào tiến trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế nói trên, Việt Nam đứng trướcnhững cơ hội thuận lợi và thách thức Hội nhập quốc tế tạo điều kiện để tận dụng cácnguồn lực và điều kiện quốc tế thuận lợi, phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lựccủa đất nước để phát triển kinh tế - xã hội
Tuy vậy, quá trình hội nhập quốc tế diễn ra cạnh tranh hết sức gay gắt có thể là nguyênnhân gây ra phá sản đối với những ngành kinh tế và những doanh nghiệp kém hiệu quảcủa nước ta, gây ra xáo trộn về công ăn việc làm cho nhiều người lao động Hệ thốngpháp luật thương mại của nước ta cũng còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với thông lệquốc tế
Trình độ cán bộ thực hiện hội nhập quốc tế chưa cao, công tác đào tạo, bồi dưỡngnguồn nhân lực cho công tác hội nhập quốc tế chưa được đẩy mạnh Trình độ cán bộ củaViệt Nam nhìn chung đã được nâng lên đáng kể sau hơn một thập kỷ tiến hành hội nhậpquốc tế, nhưng so với yêu cầu hiện nay và mặt bằng trình độ chung của các nước thì độingũ cán bộ của nước ta cần được nâng cao hơn nữa cả về chuyên môn và ngoại ngữ
2 Các chủ trương, chính sách về hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã nhận định: "Toàn cầu hoá kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh" [17, tr.13] Để đạt được mục tiêu đó, một trong những định hướng quan trọng là: "Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ phải đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước" [17, tr.26].
Song song với đường lối, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chủ trương trọng tâm về
đối ngoại của Đảng giai đoạn này là: "Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường.
Ngày 27/11/2001, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 07/NQ-TW về hội nhập kinh tế quốc
tế Ngày 14/3/2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 37/QĐ-TTg vềChương trình hành động của Chính phủ chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 07/NQ-TW Hội
Trang 3nghị toàn quốc quán triệt và triển khai Nghị quyết số 07/NQ-TW của Bộ Chính trị đã nhấttrí về năm nội dung cơ bản trong công tác hội nhập kinh tế quốc tế như sau:
- Thống nhất về nhận thức tư tưởng về hội nhập kinh tế quốc tế, tiếp tục tuyên truyềnnâng cao hiểu biết về hội nhập kinh tế quốc tế cho mọi tầng lớp nhân dân;
- Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế;
- Mở cửa thị trường và giảm thuế quan;
Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý phù hợp với các quy định của quốc tế về kinh tế thương mại;
Đào tạo nguồn nhân lực
Trong lĩnh vực pháp luật, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2-5-2005 về
Chiến lược cải cách tư pháp, trong đó có nhấn mạnh rằng “tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo cử nhân luật, đào tạo cán bộ nguồn của các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp; bồi dưỡng cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp theo hướng cập nhật các kiến thức mới về chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội, có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn,
có phẩm chất, đạo đức trong sạch, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”[4].
Các cơ sở đào tạo luật cần phải nghiên cứu đề ra định hướng, thực hiện các giải phápnhằm đổi mới cơ bản về nội dung chương trình, hình thức và phương pháp đào tạo đểbảo đảm đào tạo và cung cấp cho xã hội những cán bộ pháp lý có trình độ cao, có khảnăng giải quyết được những vấn đề pháp lý quan trọng; bảo vệ quyền lợi của Nhà nước,
cơ quan, tổ chức và công dân Việt Nam trong quan hệ dân sự, thương mại với các nước,
tổ chức quốc tế và cá nhân là người nước ngoài khác
3 Nhu cầu đội ngũ cán bộ pháp luật có trình độ cao phục vụ hội nhập quốc tế của Việt Nam
Trong tương lai, Việt Nam sẽ trở thành thành viên của nhiều điều ước quốc tế quantrọng, đồng thời sẽ gia nhập một số tổ chức quốc tế lớn, ví dụ như Tổ chức Thương mạiThế giới Điều này đòi hỏi nước ta cần phải có một lực lượng lớn những người có trình độpháp luật phù hợp với các công việc liên quan tới hội nhập quốc tế Xuất phát từ thực tếđội ngũ cán bộ pháp luật làm công tác hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam còn thiếu vàyếu, trước mắt cũng như lâu dài, việc đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ pháp luật có trình
độ cao để phục vụ hội nhập quốc tế là hết sức rất cấp thiết
1.3.1 Nhu cầu về đội ngũ cán bộ pháp luật có trình độ cao trong lĩnh vực cố vấn về kinh
tế và thương mại quốc tế;
1.3.2 Nhu cầu về cán bộ pháp luật đàm phán về vấn đề quốc tế;
1.3.3 Nhu cầu đối với cán bộ hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật cho hội nhậpquốc tế;
1.3.4 Nhu cầu đào tạo các chức danh tư pháp trong giai đoạn mới
Việc xác định chính xác nhu cầu đào tạo các chức danh tư pháp trong thời gian trước mắt
và lâu dài có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạchđào tạo Nhu cầu đào tạo được đánh giá qua hai tiêu chí: nhu cầu về số lượng cán bộ vànhu cầu về chất lượng cán bộ
1.4 Kinh nghiệm và mô hình đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ cao phục vụ việc hộinhập quốc tế của một số nước
Trang 4Qua việc nghiên cứu chương trình đào tạo luật gia tại các nước Nhật Bản, Hàn Quốc,Cộng hòa Philippines, Cộng hoà Liên bang Đức, Thụy Sĩ, Vương quốc Anh, Ôxtrâylia vàNew Zealand, Hoa Kỳ, và Canada, có thể đưa ra ba nhận định sau đây:
Thứ nhất, ở những nước XHCN, nền luật học chưa phát triển Luật pháp được đồng
nghĩa với cách hiểu của luật công, là những công cụ triển khai chính sách của Nhà nước.Dạy luật về cơ bản cũng dựa trên các phương pháp của luật công, lấy lý luận Mác-Lênin
về tổ chức bộ máy nhà nước làm công cụ tư tưởng chính, các ngành luật được lựa chọntùy theo nhãn quan quản lý nhà nước từng thời điểm khác nhau Trong hệ đại học, người
ta không rèn luyện các kỹ năng hành nghề cần có của luật sư như kỹ năng thẩm vấn, kỹnăng đàm phán, kỹ năng tranh tụng, mà chủ yếu diễn giảng tư tưởng và cầu trúc các đạoluật, cách hiểu và vận dụng chúng theo một đường lối thống nhất bởi Đảng cầm quyền.Sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa gặp khủng hoảng, ảnh hưởng của mô hình này suygiảm đáng kể Các quốc gia Đông Âu và các nước thuộc Liên Xô cũ quay trở lại với nềndân luật truyền thống ở Trung Quốc và Việt Nam, hệ thống pháp luật của mô hình Nhànước toàn trị được thay thế bởi một nền pháp luật tương thích với kinh tế thị trường Tưduy lại việc dạy và học luật ở các quốc gia này là một điều tất yếu đang diễn ra
Thứ hai, ở các quốc gia châu Âu lục địa, kể cả ở Anh và các quốc gia chịu ảnh hưởng của
người Anh, việc dạy luật được bắt đầu ở bậc đại học, học viên phần lớn là những tú tài trẻtuổi, chưa có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống Sau khi có bằng cử nhân luật, họ phải trảiqua những kỳ đào tạo nghiệp vụ mới có thể từng bước hành nghề luật Quy trình đào tạo luậtđược chia thành hai công đoạn: công đoạn hàn lâm, do các khoa luật phụ trách, công đoạndạy nghề, do Bộ Tư pháp, Hiệp hội Luật sư hoặc các tổ chức được ủy quyền tiến hành Cáccấp học thạc sĩ, tiến sĩ luật học là nối dài của quá trình đào tạo hàn lâm, người có bằng tiến sĩluật thường đạt được một số kỹ năng nghiên cứu, mà không được đào tạo về hành nghềluật Các khoa dạy luật thường thuộc các trường đại học công lập, giai đoạn dạy nghề luật ởmột số nước còn được xem như đào tạo công chức tập sự với chế độ lương bổng và nghĩa
vụ giống với công chức
Thứ ba, Hoa Kỳ không phân chia đào tạo luật thành hai công đoạn hàn lâm và dạy
nghề, mà nhập hai giai đoạn này vào chương trình đạo tạo luật cho những người đã có ítnhất một bằng cử nhân ở các ngành khoa học khác Dạy luật ở nước này mang tính rènluyện kỹ năng rõ rệt, sau khi có bằng luật (J.D.), người học có thể thi vào Hiệp hội Luật sưcác bang để hành nghề Các cơ sở đào tạo luật không được gọi là khoa luật, mà là cáctrường luật độc lập Các trường danh tiếng phần lớn là trường tư, vận hành với những cơchế không khác gì các công ty Thẩm phán được lựa chọn từ những luật sư có kinhnghiệm Giới luật sư có vai trò rất đáng kể trong đời sống kinh tế và chính trị nước Mỹ
Riêng kinh nghiệm đào tạo cán bộ pháp luật ở Trung Quốc, Đề tài rút ra một số nhận xét sau:
- Giáo dục pháp lý hiện nay, có rất nhiều vấn đề làm cho những người làm công tácgiáo dục pháp lý cảm thấy thiếu sót và áp lực, điều này chủ yếu biểu hiện ở: chạy đua về
số lượng, giáo dục pháp lý thể hiện giống như bọt xà phòng; Biện pháp dạy học đơn điệu,
mô hình giáo dục đơn nhất; giáo dục pháp lý tách rời nghề nghiệp pháp luật, nội dung dạyhọc cũ kỹ, tốc độ đổi mới chậm; đầu tư cho dạy học không đủ, cơ sở vật chất thiếu thốn
- Đào tạo pháp luật bậc cao chưa có mục tiêu rõ ràng chính xác Nhiều trường đại họcchưa nêu rõ mục tiêu cụ thể của đào tạo sinh viên chuyên ngành pháp luật trong các vănbản giới thiệu về trường mình
Trang 5- Tầng lớp giáo dục chưa có quy củ Đào tạo pháp luật ở Trung Quốc có tới 5,6 tầng lớp;các biện pháp dưới các tầng lớp này lại càng nhiều hơn Các trường, bất kể lực lượng giáoviên và điều kiện giảng dạy có đầy đủ hay không, chỉ cần thu hút được sinh viên là mở lớpvới quy mô lớn và tốc độ nhanh
- Thiếu tư tưởng đào tạo pháp luật Đào tạo pháp luật luôn luôn tồn tại phụ thuộc vàochính trị, pháp luật từ lâu được coi là công cụ chính trị, về cơ bản nội dung giáo dục pháp
luật là các văn kiện của Đảng, Nhà nước và lý luận của giai cấp vô sản chuyên chính Ở
Trung Quốc chưa hình thành được một tư tưởng đào tạo pháp luật độc lập, có hệ thống,hoàn chỉnh, đồng bộ Cho nên, sau cải cách mở cửa, là thời kỳ phục hồi và phát triển củađào tạo luật, nhưng đào tạo pháp luật của Trung Quốc đã tiến một cách mò mẫm tronghoàn cảnh thiếu tư tưởng đào tạo Thiếu tư tưởng đào tạo có nghĩa là thiếu sự hướng đạo
và sẽ mất phương hướng trong sự thay đổi của xã hội, nhất là trong thời đại toàn cầu hoángày nay Thiếu tư tưởng đào tạo pháp luật sẽ trở thành một căn bệnh nan y hạn chế sựphát triển đào tạo pháp luật tại Trung Quốc
Kinh nghiệm đào tạo cán bộ pháp luật tại Vương quốc Thụy Điển cho thấy tất cả cáctrường Đại học ở Thụy Điển đều là những trường đa ngành Cơ cấu của trường bao gồmcác khoa khác nhau, giảng dạy các chuyên ngành khác nhau như: y học, luật, thần học,khoa học xã hội và nhân văn, kỹ thuật Người đứng đầu trường đại học tổng hợp là Hiệutrưởng và mỗi khoa có Ban Chủ nhiệm khoa, mà người lãnh đạo là Trưởng khoa Mỗikhoa có ngân sách riêng và Chủ nhiệm khoa chịu trách nhiệm về nhân sự và tài chính.Chủ nhiệm khoa là người đứng đầu một viện và thông thường mỗi khoa có một số việnnghiên cứu Có một trường hợp ngoại lệ là Khoa Luật Trường Đại học Tổng hợp Lund:
đó là một Khoa và một Viện, tổ chức có một ban lãnh đạo khoa, một Trưởng khoa và mộtChủ nhiệm khoa
Chương trình đào tạo tại các trường đại học là đáp ứng nhu cầu đào tạo cán bộ chocác lĩnh vực hoạt động của Chính phủ Hầu hết các cơ quan vẫn thường đề nghị tiếp tụcđào tạo cán bộ về các vấn đề có liên quan tới luật công, luật hành chính, luật thuế và luậtcủa Liên minh châu Âu Nhưng tình hình đã có sự thay đổi Nhiều lĩnh vực đã tác động tớicông tác đào tạo tại các trường đại học, làm cho nó hợp lý hơn, năng động hơn trước vàthậm chí công tác nghiên cứu dường như cũng mất đi vai trò mũi nhọn, tiên phong trongmột thế giới phát triển
II THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO VÀ THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ PHÁP LUẬT LÀM CÔNG TÁC HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY TẠI VIỆT NAM
1 Thực trạng đào tạo cán bộ pháp luật ở Việt Nam
1.1 Mô hình hiện tại của việc đào tạo cán bộ pháp luật ở Việt Nam.
Trong 26 năm vừa qua, các cơ sở đào tạo cán bộ pháp luật đã đào tạo được hàng chụcnghìn cử nhân, hàng nghìn thạc sĩ và hàng trăm tiến sĩ luật học Đội ngũ cán bộ pháp luậtđược đào tạo đã hoạt động trong nhiều cơ quan và trong nhiều lĩnh vực khác nhau vàbước đầu đã phát huy được những tác dụng nhất định, góp phần xây dựng Nhà nướcXHCN cũng như nền kinh tế quốc dân ngày càng phát triển
Tuy vậy, việc đào tạo cán bộ pháp luật phục vụ cho việc hội nhập quốc tế của nước ta còn
có nhiều nhược điểm và bất cập, đó là:
a) Cơ sở vật chất của các cơ sở đào tạo cán bộ pháp luật, nhất là các giảng đường,phòng học, phòng làm việc, ký túc xá được xây dựng một cách chắp vá, manh mún,
Trang 6còn thiếu thốn; nhiều cơ sở thiếu thốn trầm trọng Các trang thiết bị giảng dạy còn nghèonàn, thô sơ; thư viện nhìn chung còn lạc hậu, chỉ có sách mà thiếu các tạp chí chuyênngành mới nhất; các phương tiện tin học còn quá ít Số tài liệu đã có chưa được khai thácmột cách tối đa Có quá ít tài liệu, sách báo của nước ngoài và số tài liệu đã có cũngchưa được khai thác, sử dụng một cách có hiệu quả.
b) Đội ngũ cán bộ giảng dạy còn nhỏ bé về số lượng, hạn chế về chất lượng và chưađược nâng cao trình độ ở mức cần thiết, thiếu hiểu biết về chính sách và pháp luật trong
cơ chế thị trường Việc cập nhật kiến thức và kỹ năng giảng dạy, nghiên cứu theo cơ chếmới còn có nhiều hạn chế Số lượng các giảng viên luật tham gia các công tác thực tiễncòn ít và có tính tự phát Trình độ ngoại ngữ của các giảng viên còn thấp và chưa đồngđều
c) Phần lớn các chương trình đào tạo có cơ cấu kiến thức không phù hợp Nhìn chung,chương trình đào tạo của các cơ sở đều nặng nề, chú ý nhiều đến lý thuyết và thiếu kiếnthức thực tiễn, kỹ năng hành nghề Thời gian dành cho việc tự nghiên cứu của sinh viên,học viên còn ít và chưa được sử dụng triệt để
d) Hệ thống giáo trình, giáo án, sách và tài liệu tham khảo còn chưa đầy đủ và có nhiềubất cập; Nội dung của nhiều giáo trình, tài liệu tham khảo trùng lặp, thiếu tính đa dạng,không chuyên sâu, ít kiến thức thực tiễn và chưa theo kịp sự phát triển của kinh tế và xãhội Công tác biên soạn giáo trình của nhiều cơ sở đào tạo chưa được coi trọng, thiếu tínhthống nhất trong toàn bộ hệ thống Hội đồng tư vấn xây dựng chương trình khung đào tạođại học ngành luật đã xây dựng xong chương trình khung, nhưng vẫn chưa biên soạn đượccác bộ giáo trình dùng chung trong các cơ sở đào tạo cán bộ pháp lý vì thiếu kinh phí đ) Mối quan hệ giữa các cơ sở đào tạo trong nước cũng như với các cơ sở đào tạo luật
ở nước ngoài vẫn chưa được khai thông ở mức cần thiết
e) Mục đích học tập của sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh đôi khi chưa chínhđáng Ý thức học tập của các sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh còn chưađáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp hội nhập quốc tế của nước ta.g) Chưa có sự gắn bó và liên thông giữa các bậc học, giữa các ngành học, giữa các cơ
sở đào tạo cán bộ pháp luật cũng như giữa lý luận và thực tiễn, giữa việc đào tạo và sửdụng cán bộ pháp luật
h) Việc sử dụng cán bộ pháp luật đã tốt nghiệp các hệ chưa thật hợp lý, gây ra sự lãngphí và không phát huy được hết những kiến thức mà các nhà trường đã trang bị cho cácluật gia này
Tất cả những điều đó cho thấy cần phải khẩn trương xây dựng một mô hình tổng thểmới về đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ cao phục vụ cho việc hội nhập quốc tế củaViệt Nam
1.2 Các cấp bậc đào tạo cán bộ pháp luật hiện hành.
Các cấp bậc đào tạo cán bộ pháp luật này có một số thành công và ưu điểm như:
- Người học có thể lựa chọn các cấp bậc đào tạo, thường xuyên nâng cao trình độ theonhu cầu công tác cũng như điều kiện và khả năng của mình;
- Bên cạnh việc đào tạo bài bản và chính quy một số cấp bậc, còn có việc đào tạo nghề
để các Luật gia sau khi tốt nghiệp có thể làm việc một cách thuần thục ngay;
Tuy vậy, có thể nhận thấy một số nhược điểm, bất cập của hệ thống các cấp bậc đàotạo cán bộ pháp luật này là:
Trang 7a) Ở cấp đào tạo đại học luật, các môn phụ trợ như: các môn chính trị, ngoại ngữ, thểdục, quân sự, tâm lý học…) chiếm một tỷ lệ khá lớn (30%)
b) Đến cấp cao học, tỷ lệ các môn phụ trợ như triết học, ngoại ngữ, phương pháp giảngdạy đại học, phương pháp nghiên cứu khoa học cũng vẫn chiếm một tỷ lệ khá lớn (25%) c) Các cấp học không có sự liên kết, gắn bó và bổ sung cho nhau, mà tách biệt nhau.d) Chưa thực hiện được vệc bồi dưỡng sau đại học để cung cấp những kiến thứcchuyên ngành, cập nhật mới về một lĩnh vực hoặc về một số vấn đề để trang bị chongười học (có thể là các cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ luật) những kiến thức cần thiết phục vụcho công việc hàng ngày của họ, đáp ứng tốt hơn những yêu cầu có tính chất thời sựcũng như lâu dài về hội nhập quốc tế của Việt Nam
1.3 Các hình thức đào tạo cán bộ pháp luật hiện hành
1.3.1 Đào tạo tập trung
Đào tạo tập trung có ưu điểm là quá trình đào tạo (dạy và học) được thực hiện mộtcách bài bản, tích cực và được chuẩn hóa Sinh viên, học viên cũng như nghiên cứu sinh
có điều kiện tập trung mọi khả năng, sức lực và thời gian vào việc học tập, không bị phântán vào những công việc khác, hoạt động khác nên có điều kiện đọc sách, báo, tài liệu,nhớ nhanh và nhớ lâu các kiến thức lý luận và thực tiễn được giảng viên truyền thụ
Về nội dung chương trình của hình thức đào tạo tập trung có một số nhận xét sau đây:
Những ưu điểm và thành công trong nội dung chương trình đào tạo luật
1 Chương trình đào tạo của các cơ sở đào tạo luật đã được xây dựng một cách thốngnhất trên cơ sở dự kiến chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chia thành haiphần cơ bản: Khối kiến thức giáo dục đại cương và khối kiến thức giáo dục chuyênnghiệp
2 Chương trình của các cơ sở đào tạo luật đã thay đổi theo hướng giảm số tiết của cácmôn học; bổ sung thêm một số môn học mới phù hợp với xu hướng phát triển chung của
xã hội
3 Các cơ sở đào tạo luật đã chú ý tăng thời gian thảo luận đối với từng môn học, tạođiều kiện cải thiện kỹ năng nói của người đọc
Những nhược điểm và hạn chế trong nội dung chương trình đào tạo luật
1 Chương trình của các cơ sở đào tạo còn khá nặng (200 đơn vị học tâp (ĐVHT).Chương trình đào tạo cao học ở Nhật Bản, Mỹ, Thái Lan là 130 - 150 ĐVHT
2 Thời gian giảng lý thuyết nhiều hơn thời gian thảo luận: 4,3 tiết lý thuyết có 1 tiết thảoluận Trên thế giới, số giờ thảo luận tương đương với số giờ giảng lý thuyết
3 Các cơ sở đào tạo luật vẫn chú trọng đến việc cung cấp kiến thức lý luận cho ngườihọc hơn là cung cấp và rèn luyện kỹ năng thực hành cho sinh viên
4 Trong khối kiến thức chuyên ngành, số học phần, chuyên đề tự chọn còn chưa đượcphong phú, chưa tạo cho người học nhiều sự lựa chọn
Sau khi nghiên cứu, phân tích chương trình đào tạo sau đại học tại một số cơ sở đào tạochuyên ngành luật đã nêu ở trên, có thể rút ra nhận xét về những ưu điểm và thành công củacác chương trình này như sau:
- Các cơ sở đào tạo sau đại học đều đã xây dựng chương trình đào tạo thạc sĩ và đàotạo tiến sĩ cơ bản tuân theo Quy chế Đào tạo sau đại học do Bộ Giáo dục và Đào tạo banhành Các chương trình đào tạo cao học đều được xây dựng bao gồm chương trình cơ
Trang 8bản, chương trình cơ sở, chương trình chuyên ngành, viết và bảo vệ luận văn thạc sĩ.Các chương trình đào tạo tiến sĩ đều bao gồm việc học chương trình tương tự như đàotạo thạc sĩ, học ngoại ngữ chuyên ngành, nghiên cứu sinh phải viết và bảo vệ ba chuyên
đề tiến sĩ, trình bày luận án ở bộ môn, luận án được phản biện độc lập và bảo vệ luận ántiến sĩ cấp nhà nước
- Các chương trình đào tạo sau đại học đã được các cơ sở đào tạo sau đại học xây dựngtương đối khoa học, hợp lý Thí dụ trong các chương trình có phần lý luận, có phần thực tiễn,
có phần pháp luật trong nước, có phần nghiên cứu lịch sử phát triển của các ngành luật, củacác chế định pháp luật; tìm hiểu và nghiên cứu áp dụng các kinh nghiệm thích hợp của nướcngoài phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của nước ta
- Các cơ sở đào tạo đã xây dựng được nhiều chương trình, mở ra nhiều mã số ngànhđào tạo để các học viên cũng như nghiên cứu sinh có điều kiện lựa chọn ngành khoa họcthích hợp với khả năng, trình độ cũng như những lĩnh vực hoạt động của họ
- Các cơ sở đào tạo đã xây dựng cơ cấu chương trình gồm các môn học bắt buộc vàmột số môn học tự chọn nhằm mục đích giảm tải (về số môn học, về số tiết cho mỗi môn)
để phù hợp với ngành nghề, công việc, vị trí công tác… của các học viên và nghiên cứusinh
- Các cơ sở đào tạo sau đại học đã thường xuyên nghiên cứu, tham khảo chương trìnhđào tạo sau đại học của các nước khác
Tuy vậy, các chương trình đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ sau đại học ở các cơ sởđào tạo luật ở nước ta có một số nhược điểm và bất cập như sau:
- Chương trình đào tạo của các cơ sở chưa thống nhất, không đồng đều, có nơi nặng,
có nơi nhẹ; có nơi rất bài bản, có nơi còn sơ sài, tuỳ tiện
- Có một số môn học không thích hợp, làm tốn nhiều thời gian, công sức, chi phí tàichính, hiệu quả thấp
Nội dung đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ sau đại học có những ưu điểm và thànhcông như:
1) Các chuyên đề được giảng dạy đã được cân nhắc và lựa chọn trong số các vấn đề
cơ bản và hiện đại, có tính lý luận và thực tiễn cao Điều này được thể hiện ở chỗ các cơ
sở đào tạo không giảng dạy tất cả các vấn đề của một môn học mà chỉ dạy một số vấn đề
cơ bản và hiện đại của các môn học đó;
2) Đa số các chuyên đề có tính phổ biến, và tương thích giữa các cơ sở đào tạo luật ở ViệtNam;
3) Một số chuyên đề, môn học thể hiện sự đặc sắc của cơ sở đào tạo, tạo ra sức hấpdẫn của cơ sở đào tạo đó;
4) Nội dung các chuyên đề được giảng dạy đã thể hiện được các vấn đề có tính cấpthiết của đời sống pháp lý;
5) Một số chuyên đề phục vụ có hiệu quả cho việc hội nhập quốc tế của Việt Nam; 6) Các chuyên đề nói chung đã được thường xuyên cải tiến, sửa đổi, bổ sung và cậpnhật những vấn đề mới của khoa học pháp lý và thực tiễn thi hành pháp luật Hệ thốngcác chuyên đề đã có nhiều đổi mới, vừa cơ bản, vừa hiện đại, đồng thời bám sát các vấn
đề có tính thời sự, cấp thiết, liên quan đến sự nghiệp hội nhập và mở cửa của Việt Nam.Tuy vậy, nội dung đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ sau đại học có những nhượcđiểm và bất cập như:
Trang 91) Một số môn học, chuyên đề không thích hợp, không cần thiết;
2) Một số chuyên đề được giảng dạy chồng chéo, lặp lại chương trình đại học;
3) Thiếu những chuyên đề liên quan hoặc phục vụ cho hội nhập quốc tế của Việt Nam,thí dụ như: Luật đầu tư chung của các nước ASEAN, Luật hình sự quốc tế, Luật về Trọngtài quốc tế, Luật thương mại điện tử, Luật tài chính quốc tế
+ Hình thức đào tạo cán bộ pháp luật ở các cơ sở đào tạo sau đại học
Hình thức đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ sau đại học có những ưu điểm và thànhcông như sau:
1) Có nhiều hình thức phong phú đáp ứng yêu cầu của nhiều đối tượng đào tạo, thí dụ cócác hình thức như: tập trung, tại chức; học trong giờ hành chính, học ngoài giờ hành chính,học vào những ngày cuối tuần
2) Có nhiều cấp bậc đào tạo cán bộ có trình độ cao (như đại học, thạc sĩ, tiến sĩ, bồi dưỡngsau đại học ) Mỗi cơ sở đào tạo sau đại học đã đào tạo các cấp bậc khác nhau tùy theo khảnăng, điều kiện của cơ sở đó
3) Hợp tác với các nước khác và tiếp thu được những kinh nghiệm tiên tiến của các nướcnày Các cơ sở đào tạo sau đại học đã thực hiện nhiều quan hệ hợp tác với nhiều nước khácnhau và đã tiếp thu được nhiều kinh nghiệm tiến tiến của các nước này
Hình thức đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ sau đại học có những nhược điểm vàbất cập như:
1) Có những hình thức đào tạo không bảo đảm chất lượng đào tạo sau đại học, hiệuquả không cao Hình thức vừa làm vừa học (tại chức) hoặc đào tạo ban đêm, cuối tuần lànhững hình thức đào tạo đạt hiệu quả không cao Học viên luôn luôn bị chi phối bởi nhiềuvấn đề cùng phải giải quyết ngay một lúc hoặc sau một ngày, một tuần làm việc căngthẳng, vất vả, thì học viên và ngay cả giảng viên cũng không còn sức lực và hứng thúgiảng dạy, học tập nữa
2) Các cơ sở đào tạo sau đại học triển khai quá chậm hình thức bồi dưỡng sau đại học; Mặtkhác, hình thức này chưa phù hợp với nguyện vọng và nhu cầu của người học, không khuyếnkhích, động viên được người học
+ Phương pháp đào tạo cán bộ pháp luật ở các cơ sở đào tạo sau đại học
Phương pháp đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ sau đại học có những ưu điểm và
thành công như sau:
1) Một số giảng viên đã sử dụng các phương pháp đào tạo thích hợp (như thuyết trình,hướng dẫn thảo luận, gợi ý nghiên cứu, trao đổi giữa thầy và trò );
2) Một số giảng viên đã học tập và sử dụng có hiệu quả các phương pháp giảng dạytiên tiến, như chương trình tin học phục vụ cho đào tạo đại học và sau đại học Côngnghệ Power Point đã làm tăng thêm tính hấp dẫn và nhớ lâu của các học viên, đòi hỏingười giảng viên phải đầu tư nhiều công sức, có nhiều kỹ năng trong soạn bài, hoànthành giáo án
3) Nhiều giảng viên đã coi học viên và nghiên cứu sinh là trung tâm của quá trình đàotạo; giảng viên cần làm mọi việc để phục vụ cho họ học tập và nghiên cứu một cách tốtnhất
Phương pháp đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ sau đại học có những nhược điểm
và bất cập như sau:
Trang 104) Một số giảng viên chưa sử dụng phương pháp đào tạo thích hợp Các giảng viên này
sử dụng chủ yếu phương pháp thuyết trình (độc thoại); hầu như không sử dụng phươngpháp trao đổi, thảo luận giữa giảng viên và học viên, nên không gợi được sự hăng say,sáng tạo, chủ động, chịu khó tìm tòi trong học tập và nghiên cứu khoa học của học viên,nghiên cứu sinh
5) Một số giảng viên chưa chịu khó học tập và sử dụng các phương pháp giảng dạy tiêntiến, làm cho các giờ giảng kém sức hấp dẫn, học viên không thể nhớ lâu nội dung bàigiảng của giảng viên và hệ thống các trang thiết bị hiện đại của cơ sở đào tạo khôngđược sử dụng một cách triệt để, gây ra sự lãng phí to lớn
6) Một số giảng viên chưa coi học viên và nghiên cứu sinh là trung tâm của quá trìnhđào tạo
+ Thực trạng đào tạo nghề ở Việt Nam
Có thể nhận định về đối tượng đào tạo nguồn bổ nhiệm các chức danh tư pháp nhưsau:
1) Các học viên của các lớp đào tạo nguồn bổ nhiệm các chức danh tư pháp đã nắmđược một số kỹ năng nghề nghiệp ban đầu Học viên được học kỹ năng nghề nghiệp mộtcách hệ thống với các mức độ nâng cao cần thiết để đảm bảo khi tốt nghiệp ra trường vàđược bổ nhiệm làm thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư, chấp hành viên, công chứng viêncác học viên có thể bắt tay vào công việc ngay
2) Các kỹ năng có được của học viên khi mới vào trường chủ yếu được hình thành từviệc học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước, do đó, bên cạnh những kỹ năng nghềnghiệp tốt còn có nhiều cách làm theo thói quen, không chính quy, chưa phù hợp với quyđịnh của pháp luật Điều này gây trở ngại nhất định cho việc tiếp thu những kiến thứcmới
3) Do nhiều học viên đã tốt nghiệp đại học từ lâu, trong quá trình công tác thực tiễnkhông được bồi dưỡng thường xuyên nên nhiều kiến thức mới về pháp luật nội dung vàpháp luật tố tụng không được cập nhật Kết quả khảo sát cho thấy phần lớn các học viênthường đề nghị bổ sung các chuyên đề pháp luật chuyên sâu liên quan đến hoạt độngnghề nghiệp của từng chức danh và các chuyên đề thông tin pháp luật trong chương trìnhđào tạo
4) Việc tuyển học viên các lớp thẩm phán, kiểm sát viên, chấp hành viên, công chứng
viên đã kết hợp giữa cử tuyển và thi tuyển; nhưng do việc lựa chọn những người đi họccác lớp này bị giới hạn trong phạm vi biên chế của các cơ quan tư pháp nên chưa lựachọn được những người thật sự giỏi về chuyên môn, có tư cách đạo đức tốt để đào tạonguồn bổ nhiệm các chức danh này
5) Đa số học viên luật sư khi mới vào trường còn chưa được tiếp cận với hoạt động tranhtụng hoặc tư vấn của Luật sư Chương trình đào tạo nghiệp vụ Luật sư cần trang bị mộtcách bài bản, hệ thống về các kỹ năng nghề nghiệp ban đầu để tạo cơ sở cho các học viênsau khi tốt nghiệp có thể thực hiện được một số hoạt động nghề nghiệp cần thiết trong thờigian làm luật sư tập sự
1.3.2 Đào tạo tại chức
Hình thức đào tạo tại chức được áp dụng để đào tạo các cử nhân luật theo một chươngtrình riêng nhằm tạo điều kiện cho các học viên tham gia các chương trình đào tạo khôngchính quy trong khi vẫn có khả năng tham gia vào các quá trình lao động xã hội Hình thức
Trang 11đào tạo tại chức giải quyết được việc nâng cao trình độ cho cán bộ trong các cơ quan, xínghiệp, đồng thời cung đảm bảo được quyền lợi của người học
Tuy nhiên, việc đào tạo theo hình thức tại chức có nhược điểm là trong cùng mộtkhoảng thời gian, người học phải vừa học, vừa làm, giải quyết nhiều công việc nên khôngthể chú tâm vào việc học, chất lượng học tập và nghiên cứu không cao Các học viên dễ
bị chi phối bởi công việc chuyên môn, nghề nghiệp hàng ngày; các học viên không tuântheo chương trình một cách chặt chẽ về số môn học; việc tổ chức giảng dạy các lớpđược rải ra trên nhiều địa bàn, rất khó khăn cho công tác quản lý trực tiếp…
1.3.3 Đào tạo từ xa
Hình thức đào tạo từ xa có đặc điểm giống đặc điểm của hình thức đào tạo tại chức, là:người học vừa công tác, vừa đi học nhằm nâng cao trình độ Nhưng nó khác với hình thứchọc tại chức là ở chỗ: Học viên học tại chức phải tập trung đến lớp để nghe giảng viêngiảng và hướng dẫn thảo luận; nhưng người học từ xa phải tự nghiên cứu các tài liệu họctập mà cơ sở đào tạo cung cấp là chủ yếu Khi nào cơ sở đào tạo chuẩn bị thi các môn thìmới tổ chức việc hệ thống hoá và giải đáp thắc mắc cho sinh viên Các sinh viên thi tốtnghiệp là chủ yếu Chỉ có rất ít sinh viên có kết quả học tập tốt trong các lớp ở các địaphương có điều kiện đi lại thuận tiện mới được viết và bảo vệ luận văn tốt nghiệp
1.3.4 Học lý thuyết kết hợp với thực tập trong thực tiễn.
Trong các cơ sở đào tạo cán bộ pháp luật, việc kết hợp giữa học tập lý luận với thực tậptrong thực tiễn đã được thường xuyên chú ý thực hiện Lý thuyết soi đường cho thực tiễn,nhưng thực tiễn cũng là môi trường để kiểm nghiệm lý thuyết, thể hiện sinh động những lýluận đã được giảng dạy Vì vậy, việc kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo về mặt lý thuyết và tạođiều kiện cho người học đi thực tập trong thực tiễn trong quá trình đào tạo cán bộ có trình
độ cao phục vụ cho hội nhập quốc tế của Việt Nam, đã được thường xuyên thực hiện mộtcách có kế hoạch Lý thuyết là vấn đề khoa học đã được nghiên cứu và đúc kết lại; cònthực tiễn có tính năng động, phát triển theo một quy luật riêng của nó và có tác dụng minhhoạ cho những điều mà lý luận đã nghiên cứu được
1.3.5 Đi học tập ở nước có nhiều kinh nghiệm về đào tạo cán bộ pháp lý phục vụ cho việc hội nhập quốc tế.
Trong những năm vừa qua, các cơ sở đào tạo cán bộ pháp luật của Việt Nam đã cónhiều mối quan hệ với các cơ sở đào tạo cán bộ pháp luật của các nước này Thí dụ như:Trường Đại học Luật Hà Nội đã có quan hệ chính thức với 14 cơ sở đào tạo luật và các tổchức quốc tế ở Pháp, Thuỵ Điển, Cộng hoà Liên bang Đức, Trung Quốc, Nhật Bản,Ôxtrâylia, Mỹ v.v… đã và đang thực hiện một số dự án quốc tế về đào tạo và nghiên cứuluật Trường đã hợp tác với Trường Đại học tổng hợp Pantheon Assas (Paris II) của nướcCộng hoà Pháp, hợp tác với Trường Đại học Tổng hợp Lund của Vương quốc Thuỵ Điển.Cho tới nay, đã có hơn 100 cán bộ, giảng viên của Trường Đại học Luật Hà Nội được đihọc tập, nghiên cứu ở nước ngoài và có hơn 40 giáo sư nước ngoài đến giảng dạy,hướng dẫn khoa học tại trường Số sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh làngười nước ngoài đến học tập, nghiên cứu tại Trường ngày càng đông Trường đã đàotạo được nhiều cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ là công dân Lào, Campuchia, Yêmen, TrungQuốc
Các cơ sở đào tạo luật khác như Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luậtthuộc Trường Đại học Cần Thơ, Khoa Luật thuộc Trường Đại học Đà Lạt, Khoa Luậtthuộc Trường Đại học Khoa học Huế…cũng đã không ngừng đẩy mạnh việc hợp tác quốc
Trang 12tế Việc hợp tác này đã đem lại nhiều kết quả khả quan, đóng góp phần quan trọng vàoviệc hoàn thiện chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo, chất lượng đào tạo, pháttriển năng lực đào tạo của các cán bộ, giảng viên trong các cơ sở đào tạo này.
Tuy vậy, hoạt động hợp tác quốc tế của các cơ sở đào tạo cán bộ pháp luật có nơi, cólúc vẫn chưa được coi trọng và chưa được xem như một biện pháp hữu hiệu để đổi mới
tư duy, nâng cao chất lượng giảng dạy của giảng viên và việc học tập, nghiên cứu củasinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh Hiệu quả của hoạt động hợp tác quốc tế
có lúc còn hạn chế và chưa bám sát yêu cầu đào tạo, thiếu sự phối hợp giữa các cơ sởđào tạo và sự điều phối của các cơ quan hữu quan Tình trạng mạnh ai nấy làm còn xảy
ra Một số cơ sở đào tạo luật còn chưa chủ động trong việc mở rộng hợp tác quốc tế và
có tính chủ động chưa cao
+ Các lĩnh vực đào tạo cán bộ pháp luật sau đại học hiện hành
Trong những năm vừa qua, các chương trình đào tạo của các cơ sở đào tạo cán bộ phápluật của Việt Nam đã bước đầu thể hiện được sự đa dạng về các lĩnh vực pháp luật được đàotạo phục vụ cho sự hội nhập quốc tế của Việt Nam Thí dụ, trong các chương trình đã cónhững môn học hoặc chuyên đề về hoặc liên quan đến hội nhập quốc tế, như: công pháp quốc
tế, tư pháp quốc tế, luật kinh tế quốc tế, luật so sánh, luật thương mại quốc tế, luật về sở hữu trítuệ, luật về chuyển giao công nghệ, luật hiến pháp các nước, luật hình sự quốc tế, lịch sử cáchọc thuyết chính trị…
2 Thực trạng đội ngũ cán bộ pháp luật làm công tác hội nhập quốc tế hiện nay của Việt Nam.
Nhận định về tình trạng hiện nay của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại, Nghị quyết
số 07/NQ-TW của Bộ Chính trị về Hội nhập quốc tế đã chỉ rõ: “Đội ngũ cán bộ làm công tác kinh tế đối ngoại còn thiếu và yếu.” Cán bộ làm công tác kinh tế đối ngoại được hiểu
là tất cả những người làm việc liên quan tới hội nhập kinh tế quốc tế ở trong và ngoài hệthống bộ máy nhà nước, tất nhiên trong đó bao gồm cả lực lượng cán bộ pháp luật tronglĩnh vực này Thực tế, đội ngũ cán bộ pháp lý phục vụ việc hội nhập quốc tế của Việt Namthể hiện ở chỗ còn thiếu về số lượng và còn yếu về chất lượng được phản ánh khá rõtrong kết quả điều tra, khảo sát một số cơ quan của hai thành phố lớn là Hà Nội và thành
phố Hồ Chí Minh vừa qua cho thấy: thứ nhất, còn thiếu những người làm công tác pháp luật trong lĩnh vực hội nhập quốc tế; thứ hai, trình độ chuyên môn của những người làm công tác pháp luật liên quan tới hội nhập quốc tế còn yếu
III QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP CHO VIỆC ĐÀO TẠO CÁN BỘ PHÁP LUẬT CÓ TRÌNH
ĐỘ CAO PHỤC VỤ CÔNG CUỘC HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
1 Quan điểm về việc đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ cao phục vụ công cuộc hội nhập quốc tế của Việt Nam.
1.1 Quan điểm về cán bộ pháp luật có trình độ cao phục vụ hội nhập quốc tế
Cán bộ pháp luật có trình độ cao phục vụ hội nhập quốc tế cần phải thoả mãn nhữngtiêu chí như sau:
1) Là những người được đào tạo chuyên ngành luật học từ trình độ đại học trở lên.2) So với những cán bộ pháp luật được đào tạo đại trà khác, những cán bộ pháp luật có
xu hướng tham gia các hoạt động hội nhập quốc tế phải có một trình độ cao hơn hẳn vềnhững kiến thức lý luận và thực tiễn liên quan trực tiếp đến các lĩnh vực hội nhập quốc tế
Trang 133) Thông thạo kiến thức nói chung và từ ngữ chuyên ngành luật của ít nhất một ngoạingữ phổ biến trên thế giới.
4) Có kiến thức sâu rộng về kinh tế, xã hội, lịch sử, văn hoá, tập quán của Việt Nam
và của nhiều nước trên thế giới
Việc này có thể thực hiện được bằng các biện pháp cụ thể và thiết thực như sau:
a) Tổ chức những khoá giảng dạy kiến thức sâu rộng về kinh tế, xã hội, lịch sử, văn hoá, tậpquán của Việt Nam và của nhiều nước trên thế giới cho nhóm cán bộ pháp luật có xu hướngtham gia hội nhập quốc tế;
b) Tổ chức những chuyến nghiên cứu, khảo sát, tìm hiểu về kinh tế, xã hội, lịch sử, vănhoá, tập quán của Việt Nam và của nhiều nước trên thế giới cho nhóm cán bộ pháp luật
có xu hướng tham gia hội nhập quốc tế
c) Nhóm cán bộ pháp luật có xu hướng tham gia hội nhập quốc tế phải có ý chí tự học,
tự tìm tòi, khám phá ở mọi nơi, mọi lúc để nâng cao sự hiểu biết về kinh tế, xã hội, lịch
sử, văn hoá, tập quán của nhiều nước trên thế giới
1.2 Phân loại cán bộ pháp luật có trình độ cao phục vụ cho hội nhập quốc tế.
Cán bộ pháp luật có trình độ cao phục vụ cho công tác hội nhập quốc tế có thể đượcchia thành những nhóm sau:
1) Cán bộ, chuyên gia nghiên cứu cơ bản công tác tại các viện nghiên cứu;
2) Giảng viên các trường đại học luật, các khoa, bộ môn luật của các học viện, trườngđại học, cao đẳng ở trung ương và địa phương;
3) Chuyên gia công tác ở các cơ quan nhà nước với tư cách là những chuyên gia xâydựng chính sách, pháp luật, chuyên gia đàm phán, công chức hành chính;
4) Cán bộ ở các cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp như thẩm phán, kiểm sát viên, luật
sư, công chứng viên, giám định viên, điều tra viên, cán bộ thi hành án ;
5) Các cán bộ quản lý, chuyên viên pháp lý, chuyên gia đàm phán ở các doanh nghiệpthuộc các thành phần kinh tế
1.3 Những yêu cầu đối với công tác đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ cao phục vụ hội nhập quốc tế.
Công tác đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ cao phải đáp ứng được những yêu cầunhư sau:
Toàn bộ quá trình triển khai công tác đào tạo cán bộ pháp luật phục vụ hội nhập quốc tếphải đảm bảo quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về hội nhập quốc
tế Chiến lược đào tạo cán bộ pháp lý nói chung và đào tạo cán bộ pháp lý phục vụ hội nhậpquốc tế nói riêng phải quán triệt Nghị quyết số 48/NQ-TW của Bộ Chính trị về Chiến lược xâydựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
và Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.Công tác đào tạo cán bộ pháp lý phải đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng phục
vụ hội nhập quốc tế
Cơ cấu đào tạo cán bộ pháp luật phải được thiết kế hoàn chỉnh, đồng bộ đối với từng
bậc, từng hệ, từng loại hình, từng chuyên ngành đào tạo
Chương trình đào tạo cán bộ pháp luật phải vừa thiết thực, đáp ứng nhu cầu thực tiễn phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước, vừa tiếp cận trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới
Trang 14Phương pháp và phương tiện đào tạo phải đồng bộ và phù hợp với các loại hình và quy
mô đào tạo cán bộ pháp lý phục vụ công tác hội nhập Phương pháp đào tạo cán bộ pháp
lý phải được cải tiến mạnh mẽ, có kết hợp hợp lý giữa các phương pháp truyền thống vàphương pháp hiện đại nhằm truyền đạt có hiệu quả chương trình đào tạo mới đã được đềcập ở trên Cần đầu tư thích đáng cho việc hoàn thiện và hiện đại hoá các phương tiệnđào tạo
Đội ngũ cán bộ giảng dạy đa dạng, được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, vừa giỏinăng lực chuyên môn, phương pháp sư phạm, giàu kinh nghiệm thực tiễn và có đạo đức
tác phong chân chính Bên cạnh việc nâng cao chất lượng của đội ngũ giảng viên chuyên
nghiệp tại các cơ sở đào tạo cần có chính sách khuyến khích và thu hút nhiều nhà quản
lý, nhà khoa học, nhiều cán bộ làm công tác chuyên môn ở các bộ, ngành, các công tylàm giảng viên kiêm chức phục vụ công tác đào tạo cán bộ hội nhập quốc tế
Để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia pháp luật đáp ứng yêu cầu hội nhậpquốc tế đang đặt ra hiện nay, cần phải xác định rõ các phương hướng đổi mới công tác đào tạo
bộ pháp luật có trình độ cao phục vụ cho việc hội nhập quốc tế của Việt Nam
Việc đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ cao phục vụ cho hội nhập quốc tế của Việt Nam bao gồm các giải pháp như sau:
1) Đổi mới chương trình đào tạo cán bộ pháp luật
2) Hoàn thiện tài liệu học tập, nghiên cứu cho người học
3) Đổi mới phương pháp giảng dạy
4) Đổi mới phương pháp học tập của sinh viên, học viên
5) Phát triển và nâng cao trình độ giảng viên
6) Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học trong giảng viên, sinh viên, NCS
7) Đổi mới phương thức tuyển chọn đối tượng đào tạo cán bộ pháp luật
8) Đổi mới việc sử dụng luật gia của các cơ quan làm công tác hội nhập quốc tế
9) Đổi mới việc đào tạo, rèn luyện kỹ năng hành nghề của cán bộ pháp lý
10) Tăng cường bồi dưỡng sau đại học cho các cán bộ pháp lý
Trang 15Mô hình tổng thể đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ cao phục vụ hội nhập quốc tế củaViệt Nam được thể hiện qua sơ đồ sau:
2.1 Đổi mới chương trình đào tạo cán bộ pháp luật.
a) Chương trình đào tạo thống nhất: Chương trình đào tạo thống nhất thể hiện ở chỗ các
cơ sở đào tạo cán bộ pháp luật trong cả nước cần ngồi lại với nhau để cùng trao đổi, bànbạc, thảo luận một cách thật sự dân chủ và khoa học về việc xây dựng một khung chươngtrình đào tạo cán bộ pháp luật phục vụ cho việc hội nhập quốc tế của Việt Nam với nhiều cấpbậc và hình thức khác nhau Chương trình này sẽ bao gồm những môn học, chuyên đề thiếtyếu cho việc đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ cao phục vụ cho việc hội nhập quốc tế củaViệt Nam và dành một phần thích hợp cho mỗi cơ sở đào tạo thể hiện những đặc sắc riêngcủa mình Có thể tham khảo khung chương trình đào tạo cử nhân luật nói chung mà các cơ
sở đào tạo luật đã hoàn thành dưới sự chủ trì của Bộ Giáo dục và Đào tạo
b) Chương trình đào tạo hiện đại: Chương trình đào tạo hiện đại thể hiện ở chỗ các cơ
sở đào tạo cán bộ pháp luật mạnh dạn áp dụng những nội dung, kiến thức mới phục vụcho việc hội nhập quốc tế Những nội dung và kiến thức mới thể hiện ở những kết quảnghiên cứu mới nhất từ lý luận và thực tiễn hội nhập quốc tế Chương trình đào tạo cán
bộ pháp luật phải tiếp tục hoàn thiện và phát huy tính tích cực của các kiến thức đã đượccho là cần thiết và đúng trong chương trình đào tạo hiện hành Ngoài ra, chương trìnhphải tham khảo các kinh nghiệm quốc tế, các môn học, các chuyên đề mà các nước khác
đã áp dụng thành công khi đào tạo cán bộ pháp luật phục vụ cho hội nhập quốc tế củanước họ
GIẢNG VIÊN(Tăng cường số lượng, chất lượng)
Đổi mới phương
pháp giảng dạy
ĐỐI TƯỢNG ĐÀO TẠO
Phương pháphọc tập
Hoàn thiệngiáo trình, tài liệu CHƯƠNG TRÌNH
ĐÀO TẠO
Phân côngcông tác
Môn thi đầu vào
Học sinh phổ thông
Những người đang làm việc
CÁC CƠ QUAN LIÊN QUAN TRỰC TIẾP ĐẾN HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Xét tuyển
Đào tạo nghề
Kinh nghiệm quốc tế
Trang 16c) Chương trình đào tạo thiết thực: Chương trình đào tạo cán bộ pháp luật phục vụ cho hộinhập quốc tế thiết thực được thể hiện ở chỗ cần mạnh dạn giảm bớt đến mức tối đa việcgiảng dạy các môn phụ trợ trong chương trình đào tạo cử nhân cũng như đào tạo thạc sĩ, đểcác sinh viên và học viên cao học có thời gian và điều kiện nghiên cứu sâu rộng các vấn đề lýluận, pháp luật thực định và thực tiễn thi hành pháp luật Có thể nêu ra một thí dụ về vấn đềnày là: Trong chương trình đào tạo thạc sĩ cũng như tiến sĩ luật của các nước khác, khôngthấy có việc giảng dạy môn triết học, ngoại ngữ, xã hội học, tin học Trong khi đó, chươngtrình đào tạo cán bộ pháp luật của các nước này lại rất chú trọng đến các môn như: thươngmại quốc tế, luật cộng đồng châu Âu, luật so sánh, luật cạnh tranh
d) Chương trình đào tạo có cơ cấu hợp lý: Chương trình đào tạo cán bộ pháp luật phục
vụ cho hội nhập quốc tế có cơ cấu hợp lý thể hiện ở chỗ: Càng ở bậc đào tạo cao hơn thì
tỷ lệ đào tạo về lý luận càng phải nâng cao lên, tỷ lệ nghiên cứu pháp luật thực định cầngiảm xuống Ngoài ra, ở cấp đào tạo nào cũng nên có thời gian đào tạo nghề cho ngườihọc với một tỷ lệ phù hợp, để các nhà luật gia, dù được đào tạo ở trình độ nào (đại học,cao học, tiến sĩ), sau khi học xong chương trình đó, đều không bỡ ngỡ khi bắt tay vào cáccông việc thực tiễn và cũng đều có thể phát huy được những kiến thức và trình độ củamình, phục vụ một cách tốt nhất cho việc hội nhập quốc tế của Việt Nam
2.2 Đổi mới chương trình đào tạo cử nhân luật
Cần tăng thêm thời lượng cho các môn học cung cấp kiến thức pháp lý trực tiếp phục vụcông tác hội nhập quốc tế và bổ sung thêm một số môn học mới vào chương trình đào tạo.Những môn luật liên quan trực tiếp đến hội nhập quốc tế sau đây cần được giảng dạy cho tất
cả các sinh viên học luật: cụ thể như:1) Công pháp quốc tế, 2) Tư pháp quốc tế, 3) Luật Hiếnpháp nước ngoài, 4) Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, 5) Luật hôn nhân và gia đình cóyếu tố nước ngoài, 6) Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, 7) Luật về đầu tư của Việt Nam ranước ngoài, 8) Luật sở hữu trí tuệ, 9) Luật chuyển giao công nghệ, 10) Luật so sánh, và 11)Luật biển
Ngoài ra, còn một số môn học hoặc chuyên đề khác cũng liên quan trực tiếp đến việc hộinhập quốc tế, nhưng nếu giảng dạy đại trà các môn này cho tất cả các sinh viên luật thì sẽkhông đủ thời gian và không khả thi Do đó, sau khi đã được cấp bằng cử nhân luật, các cửnhân có xu hướng tham gia trực tiếp vào hội nhập quốc tế cần học thêm trong thời gian 6tháng một số môn học hoặc chuyên đề khác liên quan trực tiếp đến hoạt động hội nhập quốc
tế để đạt được trình độ cao hơn, phục vụ có hiệu quả hơn cho việc hội nhập quốc tế của ViệtNam Đó là những môn học hoặc chuyên đề sau: 1) Luật về các tổ chức quốc tế, 2) LuậtThương mại Quốc tế, 3) Luật Môi trường Quốc tế, 4) Luật Cạnh tranh Quốc tế, 5) Luật Trọngtài Quốc tế, 6) Luật về ngoại hối, 7) Luật Tài chính quốc tế và về các định chế tài chính quốc
tế, 8) Luật về hải quan quốc tế, 9) Luật hàng hải và vận tải, 10) Liên hợp quốc và trật tự thếgiới, và 11) Luật ngoại giao và lãnh sự
Sau khi học xong các môn này, người học sẽ được cấp một chứng chỉ cử nhân có trình độcao phục vụ hội nhập quốc tế và sẽ được ưu tiên tuyển dụng vào các cơ quan có hoạt độngthực tiếp hội nhập quốc tế (như ngoại giao, ngoại thương, hải quan, xuất nhập khẩu, các tổchức quốc tế, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài )
Trang 17Có thể trình bày mô hình hai phương thức (I và II) đào tạo cử nhân Luật có trình độ caophục vụ hội nhập quốc tế của Việt Nam như sau:
Tỷ lệ các giờ giảng dạy các vấn đề về hoặc liên quan đến việc hội nhập quốc tế của Việt Namtrong tổng số giờ đào tạo cử nhân cũng như đào tạo thạc sĩ cũng cần phải được nâng cao lênnhiều hơn (cần phải chiếm từ 40% đến 50% tổng số giờ giảng của mỗi cấp bậc đào tạo) thìmới đáp ứng được việc đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ cao phục vụ cho hội nhập quốc tếcủa Việt Nam
Sau một thời gian làm việc với trình độ cử nhân luật, trình độ thạc sĩ luật, thậm chí cóthể với trình độ tiến sĩ luật, luật gia có thể tham gia chương trình bồi dưỡng sau đại học(chiếm khoảng 10% thời gian đào tạo thạc sĩ) để nắm bắt được những vấn đề lý luậnmới, những vấn đề thiết thực, có tính thời sự cho công việc của các cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩluật
Tỷ lệ các đề tài về hoặc liên quan đến việc hội nhập quốc tế của Việt Nam trong tổng sốcác đề tài luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ cũng cần phải được nâng cao lên nhiều hơn(cần phải chiếm từ 40% đến 50% trong tổng số các đề tài luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ)thì mới đáp ứng được các yêu cầu mà cuộc sống đặt ra, mới phục vụ một cách đắc lựccho việc hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và có hiệu quả cao hơn của Việt Nam
ĐÀO TẠO TIẾN SĨ
Lý luận chuyên sâu (40%)
Pháp luật (so sánh, khái quát) (30%)
Thực tiễn minh hoạ cho lý luận (15%)
ĐÀO TẠO CAO HỌC
Lý luận (mở rộng) 30%
Pháp luật (so sánh, khái quát) (40%)
Thực tiễn (so sánh, đánh giá)(15%)
Các môn phụ trợ (5%)
ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC
Lý luận(cơ bản)
(20%)
Pháp luật thực định (50%)
Kiến thứcthực tiễn (đơn thuần) (10%)
Các mônphụ trợ (10%)
Bồi dưỡng sau đại (cập nhật) (15%)
Bồi dưỡng sau ĐH (cập nhật) (10%)
Kỹ năng hành nghề (10%)
Luận văn cử nhân không liên quan đến HNQT
Đào tạo chuyên sâu một số môn liên quan HNQT (6 tháng)
CỬ NHÂN LUẬT HỌC CÓ TRÌNH ĐỘ CAO PHỤC VỤ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
II Đào tạo đại trà Chương trình đại học cũ (3 năm)
Hoạt động liên quan đến HNQT(>3 năm)
Làm việc trong lĩnh vực không liên quan trực tiếp đến hội nhập quốc tế
Chứng chỉ cử nhân
có trình độ cao phục vụ HNQT
Trang 18Đổi mới nội dung chương trình, hình thức và phương pháp đào tạo đại học ngành luật
là vấn đề có tính cấp bách
Có thể trình bày mô hình về mối tương quan giữa các cấp bậc đào tạo cán bộ pháp lý
và cơ cấu các mảng chương trình của mô hình đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ caophục vụ cho sự nghiệp hội nhập quốc tế của Việt Nam như sau:
Đổi mới việc đào tạo cán bộ pháp luật cần phải được thực hiện theo các phươnghướng sau đây:
- Một là, cần thống nhất về quan điểm và hành động theo hướng cải cách mạnh mẽ Sự
thống nhất tư tưởng và quan điểm sẽ tạo nên những điều kiện tốt về mặt tinh thần choquá trình xây dựng và triển khai các chiến lược đào tạo và chiến lược phát triển của nhàtrường Trong đào tạo cán bộ pháp lý cần có những định hướng chung, rõ ràng và thiếtthực
- Hai là, cần tổ chức lại hệ thống chuyên ngành giảng dạy và các khoa chuyên môn Lấy
đơn vị khoa làm đầu mối triển khai các chuyên ngành đào tạo
- Ba là, cần phải có sự đổi mới đồng bộ, thiết thực Quá trình đào tạo luật cần được đổi
mới toàn diện, từ khâu xây dựng nội dung, chương trình đến các lĩnh vực khác nhưphương pháp đào tạo, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật phục vụ đào tạo Cần sử dụngmạnh mẽ phương pháp chuyên gia và tăng cường dân chủ trong mọi mặt hoạt động đểtận dụng chất xám, khuyến khích tinh thần cống hiến cho khoa học pháp lý của các thànhviên nhà trường
- Bốn là, cần có sự đầu tư mạnh mẽ của Nhà nước và xã hội trong công tác đào tạo
luật Cơ sở vật chất tuy đã được từng bước xây dựng, tạo lập, song vẫn còn chưa đápứng được yêu cầu Việc mua sắm các trang thiết bị dựa trên cơ sở chỉ tiêu phân bổ hàngnăm, khó có thể cùng lúc giải quyết được các nhu cầu về cơ sở vật chất hiện đại Cơ sơvật chất chưa đáp ứng được đòi hỏi của một trường luật hiện đại Hiện tại, trường cònthiếu giảng đường, phòng thi, phương tiện giảng dạy… cho đến không gian dành cho cáchoạt động chuyên môn, hoạt động xã hội
Sau khi nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về đào tạo cán bộ pháp luật, Ban chủ nhiệm
đề tài đề xuất một số ý kiến sau:
Thứ nhất, Đào tạo cử nhân, thạc sĩ luật và dạy hành nghề luật không nên tách rời mà
cần được xây dựng hợp lý trong một tổng thể Việc đào tạo bậc cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩtốt nhất nên trao cho các khoa luật thuộc các trường đại học trong hệ thống của Bộ Giáodục và Đào tạo hoặc Trường Đại học Luật thuộc Bộ Tư pháp
Thứ hai, bên cạnh việc đào tạo về lý luận pháp luật, các cơ sở đào tạo luật cũng cần
đào tạo kỹ năng hành nghề cho các luật gia tương lai, không nên để cho Học viện Tưpháp giữ vị trí độc quyền trong lĩnh vực này đào tạo ở bậc đại học chủ yếu là truyền tảikiến thức cơ bản nhưng cũng cần được học kỹ năng Nên từng bước tập dượt cho sinh
viên làm quen với case study hay diễn án Trong thời lượng 4 năm đào tạo, nên giảm bớt
số môn và thời gian dạy các môn chính trị, phụ trợ mà tăng thêm thời gian cho việc họccác kiến thức thực tiễn và học về kỹ năng Tòa án tối cao thực hiện việc bồi dưỡng