Nhưng, tại nhiềuđịa phương khác các tổ chức hợp tác của nông dân chưa đáp ứngyêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá, cả về số lượng, cũng như vềchất lượng và hiệu quả liên kết.. Sự khô
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦUTính cấp thiết nghiên cứu
Từ thuở xa xưa, tổ tiên của loài người đã biết hợp sức, hợp trí đểsăn bắt thú rừng làm thức ăn, để tránh thú dữ, để bảo vệ lãnh địa,
để đối phó với thiên tai … Xã hội càng phát triển thì nhu cầu liênkết càng cấp thiết hơn, hình thức liên kết càng đa dạng hơn, nộidung liên kết càng phong phú hơn Ông Kofi Annan, cựu Tổng thư
ký Liên hiệp quốc (LHQ), khẳng định: “Các giá trị hợp tác như tinh thần tự lực, tương trợ, bình đẳng, đoàn kết… chính là cội nguồn của phát triển bền vững”.
Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương phát triển các hình thứcliên kết và đi kèm theo đó là nhiều chính sách, kinh phí hỗ trợ pháttriển các tổ chức hợp tác (hợp tác xã, tổ hợp tác), đặc biệt tronglĩnh vực nông nghiệp
Trong thực tế, tại một số nơi, mối liên kết giữa nông dân mang lạihiệu quả thiết thực cho những chủ thể tham gia Nhưng, tại nhiềuđịa phương khác các tổ chức hợp tác của nông dân chưa đáp ứngyêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá, cả về số lượng, cũng như vềchất lượng và hiệu quả liên kết
Sự không tương xứng giữa một bên là yêu cầu và kỳ vọng của chủtrương, sự đầu tư của Nhà nước qua các chính sách hỗ trợ pháttriển các tổ chức hợp tác, với một bên là vai trò hạn chế của mốiliên kết trong sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh kinh tế toàn cầu
đã đặt ra nhiều vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu Đây là lý dochính khiến tôi đã đăng ký nghiên cứu đề tài luận án với tên gọi
“Sự liên kết của nông dân vùng Tây - Nam bộ trong các nhóm
và tổ chức hợp tác để phát triển nông nghiệp hàng hóa”.
Trang 2Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu là nhận diện mối liên kết của nông dân vùngTây - Nam bộ trong các tổ chức hợp tác, phân tích một số yếu tốthúc đẩy và yếu tố làm hạn chế mối quan hệ liên kết trong sản xuấtnông nghiệp, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp phát triển mốiliên kết của nông dân nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nôngnghiệp hàng hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nhận dạng các cấp độ liên kết (tương ứng với các hình thức nhóm
và tổ chức hợp tác khác nhau) và phân tích sự tương quan giữa cấp
độ liên kết, mức độ liên kết với lợi ích của liên kết trong sản xuấtnông nghiệp tại vùng Tây - Nam bộ;
- Phân tích các yếu tố làm hạn chế quá trình liên kết của nông dântrong sản xuất nông nghiệp hàng hóa
- Phân tích các yếu tố thúc đẩy quá trình liên kết của nông dân trongsản xuất nông nghiệp hàng hóa
- Đề xuất một số giải pháp phát triển mối liên kết của nông dântrong sản xuất nông nghiệp hàng hóa tại các tỉnh Tây - Nam bộ
Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khách thể và đối tượng nghiên cứu Khách thể nghiên cứu là người
nông dân với tư cách là chủ nông trại gia đình trong sản xuất nông
nghiệp Đối tượng nghiên cứu là sự liên kết của nông dân trong các
nhóm và tổ chức hợp tác
Phạm vi nghiên cứu Về không gian, luận án nghiên cứu 13 tỉnh vùng
Tây - Nam bộ Về nội dung: nghiên cứu sự liên kết của nông dân
trong việc sản xuất và tiêu thụ lúa và trái cây
Trang 3Câu hỏi nghiên cứu
a Lợi ích của liên kết có quan hệ như thế nào với cấp độ và mức độliên kết?
b Vì sao, mặc dù Đảng và Nhà nước khuyến khích phát triển các tổchức hợp tác (tổ hợp tác, hợp tác xã) của nông dân và đi kèm theo
đó là nhiều chính sách, kinh phí để thúc đẩy mối quan hệ liên kết,nhưng dường như các mối liên kết của nông dân thiếu hấp dẫn vàkhông phát huy được sức mạnh liên kết trên diện rộng?
c Những yếu tố nào thúc đẩy sự liên kết của nông dân trong sản xuấtnông nghiệp hàng hóa, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa?
Các giả thuyết nghiên cứu
a Lợi ích mà nông dân nhận được từ liên kết (tổ chức hợp tác) cómối tương quan thuận với cấp độ liên kết và mức độ liên kết mànông dân tham gia trong sản xuất nông nghiệp
b Một trong những rào cản quá trình liên kết của nông dân trong sảnxuất nông nghiệp là mức độ nhận thức thấp của nông dân về bảnchất tổ chức hợp tác, về vai trò, quyền lợi và trách nhiệm của thànhviên khi tham gia liên kết
c Tiềm năng phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa (quy mô đấtcanh tác) trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự chuyển đổi cơ cấu laođộng từ lĩnh vực nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp trongquá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa là những yếu tố thúc đẩysự liên kết của nông dân trong sản xuất nông nghiệp
Trang 4tính đặc thù của từng loại hình tổ chức hợp tác Nhưng một khi họ
đã trở thành thành viên của tổ chức hợp tác, thì chính sự nhận thứcchưa đầy đủ (sai lệch) về vai trò, quyền và nghĩa vụ của thành viên
là một trong những lực cản lớn làm hạn chế tác dụng tích cực củaliên kết
Về mặt thực tiễn: Tính mới, độc đáo của luận án là công trình nghiên
cứu đầu tiên lượng hóa và đo lường mức độ nhận thức của nôngdân về đặc tính của các hình thức tổ chức hợp tác diễn ra tại vùngTây - Nam bộ Luận án góp phần trang bị những kiến thức cầnthiết cho các chủ thể liên kết để họ có thêm thông tin cần thiết khilựa chọn loại hình liên kết và duy trì tính bền vững của chúng Kếtquả của luận án sẽ góp phần bổ sung vào nguồn tài liệu về bản chấtcác tổ chức hợp tác và có ý nghĩa trong việc hoàn thiện khuôn khổpháp lý về các hình thức tổ chức hợp tác tại Việt Nam
Cấu trúc của luận án
Luận án dài 141 trang với 25 bảng, 9 hình, 4 phụ lục Ngoài phần
mở đầu và kết luận, kết cấu của luận án gồm 4 chương
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨUTổng quan các nghiên cứu có liên quan
Trên thế giới, sự liên kết của nông dân trong các tổ chức hợp tác
được nhiều tác giả như Marshall, Paul, Sapiro, Knapp, Sapiro,Hirsch…nghiên cứu Black liệt kê 16 điểm hạn chế mà kinh tế hộ
không thể thỏa mãn được, nếu như họ hành động đơn lẻ Đó là 16
ưu thế của mối liên kết ngang
Sự liên kết ngang giữa nông dân mang lại nhiều lợi ích kinh tế và
lợi ích xã hội cho chủ thể và cộng đồng Một vài tác giả cảnh báo giới hạn nguy hiểm của liên kết ngang Nếu tổ chức hợp tác vượt
Trang 5ra khỏi giới hạn này sẽ tạo ra lợi ích âm
Các tổ chức hợp tác mang bản chất rất đặc thù Chính vì vậy,
không có gì đáng ngạc nhiên nếu có sự hiểu biết không đúng, quan điểm sai lầm hay định kiến sai lệch về loại hình tổ chức đặc biệt này Đây là điểm nhấn quan trọng gợi ý dùng Thuyết lựa chọn hợp
lý có giới hạn làm nền tảng phân tích.
Tại Việt Nam, nghiên cứu sự liên kết của nông dân trong tổ chức
hợp tác (hợp tác xã, tổ hợp tác, nhóm liên kết) vốn không phải làmột chủ đề mới Sự thất bại của mô hình hợp tác xã “kiểu cũ” đãkhiến nhiều nhà nghiên cứu trong thời gian dài gần như lãng quênchủ đề liên kết ngang giữa nông dân
Trong tiến trình toàn cầu hoá về kinh tế và tự do hóa về thươngmại, một số đề tài nghiên cứu khoa học nhấn mạnh đến sự liên kếtdọc, liên kết “4 nhà” để tìm lời giải cho bài toán của nông dân:nghịch lý giữa sản xuất quy mô nhỏ với yêu cầu của sản xuất nôngnghiệp hàng hóa Kết luận từ các công trình nghiên cứu đã gợi mở
ý tưởng rằng để tham gia vào thị trường hiệu quả hơn thì các hình
thức liên kết ngang vô cùng cần thiết Một số đề tài nghiên cứu
nhấn mạnh vai trò của các tổ chức hợp tác, nhu cầu liên kết củanông dân Tuy nhiên, chưa có công trình nào thật sự nghiên cứusâu về các nguyên nhân ẩn chứa sau “hành động xã hội” liên kết,cũng như lực đẩy và lực cản quá trình liên kết của nông dân
Các lý thuyết sử dụng trong luận án
Quyết định liên kết của nông dân được xem như một hành động xã
hội Ba lý thuyết Xã hội học: (i) Thuyết hành động xã hội, (ii) Thuyết lựa chọn hợp lý; và (iii) Thuyết lựa chọn hợp lý có giới hạn
được sử dụng để xem xét nguyên nhân thúc đẩy và những giới hạntrong quyết định lựa chọn cấp độ liên kết của nông dân
Trang 6Xây dựng khung phân tích
liên quan đến vai
trò của liên kết
hộ, hình thành niềm tin và dẫn đến hành động xã hội Nguồn thôngtin không đủ tin cậy, cách thức chuyển tải không phù hợp, nănglực tiếp thu hạn chế, kinh nghiệm sai lệch … là những nguyênnhân dẫn đến nhận thức sai lệch về bản chất các tổ chức hợp tác ởnông dân Nhận thức đúng thì hành động đúng và kết quả là xã hộivận hành trong ổn định, trật tự và phát triển bền vững Nhận thứclệch lạc thì hẳn nhiên hành động lệch lạc và hậu quả là xuất hiệnnhững vấn đề “loạn nhịp” trong xã hội
Các khái niệm cơ bản sử dụng trong luận án
Nông dân là người có quyền kiểm soát đất nông nghiệp và trực tiếp
quản lý, khai thác hoạt động sản xuất nông nghiệp trên diện tíchđất ấy của mình
Sự liên kết của nông dân là thiết lập các mối quan hệ giữa các chủ thể
(nông dân) để hình thành nên một đơn vị tập thể (nhóm hay tổ
Trang 7chức hợp tác) với cấu trúc đặc trưng, trong đó một mặt các chủ thể này (người nông dân) hành động theo cam kết chung nhằm
bảo đảm duy trì sự tồn tại và phát triển kinh tế nông hộ, mặt khác
các chủ thể này hợp tác để xây dựng các chức năng mới (dịch vụ chung) của đơn vị tập thể, nhằm tối đa hóa lợi ích (tính bội sinh)
của chủ thể cấu thành nhưng không xóa bỏ tư cách riêng của họ
- Sự chuyển đổi từ “đoàn kết cơ học” sang “đoàn kết hữu cơ”
(Durkheim) minh chứng rằng sự liên kết của nông dân để hìnhthành các tổ chức hợp tác nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhautrong cuộc sống nói chung, và trong sản xuất nông nghiệp nóiriêng là xu hướng tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội
- Các mối liên kết kinh tế chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của mối quan
hệ phi kinh tế đặc thù của xã hội nông dân
- Liên kết ngang giữa nông dân là phương tiện cần thiết để họ rút ngắn chuỗi giá trị, tham gia hiệu quả hơn vào liên kết dọc, tiến
gần đến thị trường hơn
- Bốn cấp độ liên kết của nông dân trong sản xuất nông nghiệp: (i)
Nông dân không liên kết - không tham gia vào nhóm hay tổ chứchợp tác với tư cách thành viên; Nhóm tương trợ - liên kết, khônghình thành thực thể pháp lý; Tổ hợp tác - liên kết hình thành thựcthể pháp lý, nhưng không có tư cách pháp nhân; Hợp tác xã -liên kết hình thành tổ chức có tư cách pháp nhân
Nhóm và tổ chức hợp tác
- Nhóm tương trợ (tổ chức phi chính thức), tổ hợp tác và hợp tác
xã (tổ chức chính thức) là hình thức liên kết của nông dân với
cấp độ khác nhau
- Đặc điểm chung của các tổ chức hợp tác: Liên kết vì sự tiến bộ
của xã hội; Cấu trúc kép với hai cơ cấu cùng tồn tại song hành:
Trang 8(i) khía cạnh hiệp hội và (ii) khía cạnh doanh nghiệp; Thành viênvừa là người chủ sở hữu của tổ chức hợp tác, vừa là khách hàngsử dụng dịch vụ do tổ chức hợp tác cung cấp; Tự nguyện, có tính
mở, quản lý dân chủ và công bằng;
Hợp tác xã có thêm 2 đặc trưng: (i) Phân phối thu nhập (thặng
dư) theo mức độ sử dụng dịch vụ; (ii) Tài sản chung không chia
Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu Luận án sử dụng các phương pháp: phương
pháp diễn giải, thực chứng luận, phương pháp biện chứng,nghiên cứu so sánh lịch sử, nghiên cứu điền dã, tổng hợp, phântích, so sánh…
Thiết kế thang đo
Các cấp độ liên
kết
(i) không liên kết, (ii) liên kết thành nhómtương trợ, (iii) liên kết thành tổ hợp tác và(iv) liên kết thành hợp tác xã
Mức độ tham gia
liên kết
Về tinh thần: số điểm quy đổi về mức độ
tham gia và mức độ ghi nhớ nội quy hợp tác
Đơn vị khảo sát và thiết kế mẫu nghiên cứu
Khảo sát định lượng
Quy trình chọn mẫu: Đơn vị khảo sát là nông hộ Địa bàn khảo sát
tại 22 xã, trong 8 huyện, 6 tỉnh: An Giang, Tiền Giang, Long An,
Trang 9Đồng Tháp, Vĩnh Long và Sóc Trăng Mẫu nghiên cứu được xáclập theo phương pháp phân tầng, bao gồm cả 4 cấp độ liên kết:không liên kết, liên kết thành nhóm tương trợ, liên kết thành tổ hợptác và liên kết thành hợp tác xã
Lượng thông tin: Tổng số phiếu (bảng hỏi) phát ra là 585 phiếu.
Có 33 phiếu điều tra (5,6%) không đạt yêu cầu do có câu trả lờidưới 60% số lượng câu hỏi 552 bảng hỏi đảm bảo tính nhất quán
và độ tin cậy cao được đưa vào xử lý thống kê bằng phần mềm R
Cấu trúc bảng hỏi: Có 2 bộ bảng hỏi: (i) một bộ dành cho nông
dân không tham gia liên kết (36 câu hỏi); (ii) một bộ dành chonông dân có tham gia liên kết (41 câu hỏi)
Khảo sát định tính Số liệu định tính thu được trong các phỏng vấn
sâu và nghiên cứu chuyên gia từ 55 cán bộ các tổ chức hợp tác, cán
bộ chính quyền và đoàn thể cấp xã, Liên minh và Chi cục PTNTđược sử dụng để làm rõ những ý nghĩa ẩn chứa phía sau các số liệuđịnh lượng Ngoài ra, tác giả có nghiên cứu sâu 2 trường hợp điển
hình, bên ngoài mẫu nghiên cứu
CHƯƠNG 2TÍNH ĐA DẠNG CỦA MÔ HÌNH LIÊN KẾT TRÊN THẾ GIỚI
VÀ SỰ CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH HỢP TÁC TẠI VIỆT NAM Quá trình hình thành các mô hình liên kết trên thế giới
Ngược dòng lịch sử, cuộc Cách mạng công nghiệp mang lại nhiềuthành tựu, nhưng cũng tạo ra không ít khuyết tật trong xã hội như:sự phân hoá giàu nghèo, sự bần cùng hóa giai cấp công nhân, sựxuống cấp đạo đức của các giai cấp và nhiều vấn đề xã hội khác…
Từ đó, nhiều nhà tư tưởng và thực nghiệm hoài nghi những thànhtựu của Cách mạng công nghiệp, phê phán những “căn bệnh” xãhội do chế độ tư bản chủ nghĩa mang đến, chủ trương cải cách xã
Trang 10hội và xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn Các mô hình liên kếtkhác nhau là sản phẩm của những dòng tư tưởng khác nhau.
Mô hình liên kết nhất nguyên về sở hữu dựa vào lòng nhân ái và sự từ thiện của giai cấp tư sản
Đại diện cho mô hình liên kết này có thể kể đến Robert Owen,Saint Simon, Charles Fourier – những nhà chủ nghĩa xã hội khôngtưởng Họ nỗ lực liên kết những người nghèo khó thành một tổchức “cộng đồng xã hội mới” Các tổ chức này tồn tại biệt lập nhưnhững ốc đảo trong lòng kinh tế thị trường và xã hội tư bản Họkêu gọi sự thiện nguyện, lòng bác ái, cảm hóa giai cấp tư sản chấpnhận sự tồn tại của các “cộng đồng xã hội mới” và cứu trợ cho cáccông xã nghèo khó
Mô hình này nhanh chóng bị thất bại trong thực nghiệm, do khôngphát huy được tinh thần trách nhiệm cá nhân và tạo ra nhiều thànhphần “ăn theo”, ỷ lại Tuy vậy, nó đã đặt ra nền móng cho bướcchuyển tiếp quan trọng trong phong trào hợp tác trên thế giới
Mô hình liên kết dựa trên chế độ nhất nguyên về sở hữu (sở hữu tập thể) bằng con đường triệt tiêu giai cấp tư sản
Lenin là người đại diện rõ nét nhất cho xu hướng xây dựng hợp tác
xã dựa trên cơ sở thiết lập chế độ sở hữu tập thể xã hội chủ nghĩanhằm xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa Mô hình này được ápdụng tại Liên Xô, Trung Quốc trước đây Đây cũng là mô hình hợptác xã “kiểu cũ” tại Việt Nam
Mô hình liên kết dựa trên tập thể hóa tư liệu sản xuất, kế hoạchhóa quá trình sản xuất, hình thành chế độ nhất nguyên về sở hữu(sở hữu tập thể) Việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, phân phối theo côngđiểm, quản lý tập trung đã làm suy giảm động lực phấn đấu, gâynên trạng thái trì trệ trong phát triển, làm tiêu hao tinh thần tráchnhiệm cá nhân, kìm hãm sức sáng tạo và ý chí của nông dân Cuối
Trang 11cùng, mô hình liên kết này cũng đi đến sự tan rã.
Mô hình liên kết mang tính nhị nguyên về sở hữu theo cơ chế kinh tế thị trường
Buchez (Pháp), Liên minh những người tiên phong công bằngRochdale (Anh), Raiffeisen và Delitzsch (Đức) là những người đạidiện cho mô hình liên kết mang tính nhị nguyên về sở hữu (sở hữu
tư nhân và sở hữu tập thể), hoạt động theo cơ chế thị trường Các cá nhân liên kết với nhau, tổ chức những hoạt động chung,nhưng mỗi thành viên vẫn duy trì sự độc lập và tự chủ trong sảnxuất riêng của mình Sinh khí của kinh tế tập thể được tạo lập vànuôi dưỡng bằng sự phát triển của kinh tế riêng của mỗi thành viên(kinh tế hộ) Tính nhị nguyên còn thể hiện ở cơ cấu tổ chức: vừa là
tổ chức kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, vừa là hiệphội mang bản chất xã hội sâu sắc
Tính dung hòa của mô hình liên kết nhị nguyên tạo sức hấp dẫnmạnh mẽ để hình thành và thổi bùng phong trào hợp tác xã củanhiều quốc gia trên thế giới Hệ quả của sự lớn mạnh và lan rộngcủa phong trào hợp tác xã là sự thành lập Liên Minh hợp tác xãquốc tế (ICA), tổ chức đại diện cho các tổ chức hợp tác thế giớivào ngày 19/08/1895
Quá trình chuyển đổi mô hình hợp tác tại Việt Nam
Gắn với mỗi giai đoạn lịch sử là sự biến chuyển trong tư duy vềnhận thức bản chất của tổ chức hợp tác và vai trò của nó trong pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước
Giai đoạn trước “Đổi mới” (1986)
Phong trào hợp tác hóa nông nghiệp trải qua ba bước: (i) phát triển
tổ đổi công, (ii) phát triển hợp tác xã bậc thấp, nửa xã hội chủnghĩa và (iii) phát triển hợp tác xã bậc cao, xã hội chủ nghĩa hoàn
Trang 12toàn Các tổ chức hợp tác (tổ đổi công, hợp tác xã) phát triểnnhanh về số lượng theo “khuôn mẫu” mô hình liên kết dựa trên chế
độ nhất nguyên về sở hữu (sở hữu tập thể) Về khía cạnh tích cực,
mô hình này tập trung ý chí nông dân vào sản xuất nông nghiệp,
“tay cày, tay súng”, đáp ứng đòi hỏi của đất nước, nhất là trongthời kỳ chiến tranh Tuy nhiên, vai trò của kinh tế hộ gần như bịthay thế hoàn toàn bởi kinh tế tập thể, đã làm tiêu hao dần ý chí,giảm động lực liên kết, mất nguồn cảm hứng sáng tạo, phai nhạtlòng tin của nông dân đối với các tổ chức hợp tác
Từ “Đổi mới” (1986) đến khi có Luật hợp tác xã (1996)
Việc khẳng định quyền tự chủ của kinh tế hộ là “lời bố cáo chung”cho sự kết thúc của các hợp tác xã “kiểu cũ” Xã hội chứng kiến sựgiảm sút về số lượng hợp tác xã và sự đổ vỡ lòng tin của nông dânvào mô hình “làm ăn tập thể”
Từ khi có Luật hợp tác xã (1996) đến nay
Giai đoạn này đánh dấu bằng sự chuyển đổi từ mô hình hợp tác xã
“kiểu cũ” sang hợp tác xã “kiểu mới” tiệm cận dần với mô hìnhliên kết nhị nguyên do ICA khuyến cáo Các tổ chức hợp tác đượcbảo đảm bằng khuôn khổ pháp lý ngày càng được hoàn thiện hơn
Lịch sử phát triển các hình thức liên kết trong sản xuất nông nghiệp tại vùng Tây - Nam bộ
Sau khi được giải phóng và thống nhất đất nước, miền Nam tiếnhành công cuộc cải tạo XHCN đối với nông nghiệp Đến 1987 tạivùng Tây - Nam bộ có 7,1% hộ nông dân tham gia vào tổ chứchợp tác, rất thấp so với tỷ lệ ở các vùng còn lại trong cả nước.Luật hợp tác xã có hiệu lực (1997), một số hợp tác xã “kiểu mới”được thành lập nhằm đáp ứng tốt nhu cầu dịch vụ của xã viên, vớimục tiêu tối thượng là tối đa hóa lợi ích của xã viên và gắn kết với