mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng công thương Hoàn Kiếm
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, hệ thống các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta đang ngày càng
chiếm vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế và sự nghiệp công nghiệp hoá hiện
đại hoá đất nước Với đặc điểm chung là không đòi hỏi nhiều vốn đầu tư, linh hoạt,
thích ứng nhanh với môi trường kinh doanh đầy biến động, bộ máy tổ chức gọn
nhẹ, cùng với sự quan tâm của Đảng và Nhà Nước, trong thời gian qua, loại hình
doanh nghiệp này ngày càng phát triển, thể hiện vai trò to lớn trong nền kinh tế xã
hội Đại hội Đảng lần thứ VIII đã chỉ rõ: “Ưu tiên quy mô vừa và nhỏ, công nghệ
tiên tiến, tạo nhiều việc làm , thu hồi vốn nhanh”
Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, các DNVVN đang phải đối mặt với
nhiều khó khăn, mà điển hình là khó khăn thiếu vốn Khả năng tiếp cận các nguồn
vốn rất hạn chế, đặc biệt là tiếp cận vốn ngân hàng Hầu hết các DNVVN đều có
nhu cầu đươc vay vốn ngân hàng để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, chứng tỏ
đây là một thị trường đầy tiềm năng nhưng lại chưa được các ngân hàng chú ý
Trong thời gian qua, các ngân hàng thương mại (trong đó có Ngân hàng
Công thương Hoàn Kiếm) hầu như chỉ tập trung đến các khách hàng lớn là các
doanh nghiệp nhà nước với quy mô lớn, các Tổng công ty 90, 91 với những món
vay có giá trị lớn mà chưa chú trọng đến đối tượng là các DNVVN Trong khi đó
nguồn vốn huy động của NHCTKH là rất dồi dào, đủ khả năng cung cấp cho mọi
nhu cầu, mọi đối tượng của nền kinh tế Vì vậy để nâng cao khả năng cạnh tranh,
chiếm lĩnh thị trường tín dụng đối với DNVVN thì ngân hàng cần đề ra biện pháp
nhằm thu hút những khách hàng này
Trong thời gian thực tập tại NHCTHK em có tìm hiểu mối quan hệ tín dụng
của ngân hàng với các DNVVN và nhận thấy sự cấp thiết của vấn đề , nên em đã
chọn đề tài : “Giải pháp nhằm mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm” cho chuyên đề tốt nghiệp với
Trang 2mong muốn đóng góp một số ý kiến giúp ngân hàng mở rộng thị trường cho vay
sang khu vực các DNVVN, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
Ngoài mở đầu và kết luận, bài viết gồm ba chương:
Chương 1 : Hoạt động cho vay của ngân hàng đối với DNVVN
Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay đối với DNVVN tại NHCTHK
Chương 3: Giải pháp nhằm mở rộng cho vay đối với DNVVN tại
NHCTHK
Do phạm vi đề tài rộng , thời gian thực tập có hạn , nhất là trình độ lí luận và
sự hiểu biết thực tế không nhiều nên bài viết của em không tránh khỏi những thiếu
sót Em rất mong nhận được sự quan tâm góp ý của các thầy cô giáo và các cán bộ
ngân hàng
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo cùng các anh chị cán bộ phòng khách
hàng số 2 tại NHCTHK đã hướng dẫn , giúp đỡ, tạo điều kiện cho em hoàn thành
chuyên đề này
Trang 3
Một nền kinh tế vững mạnh thì nhất thiết phải có những doanh nghiệp lớn
mang tầm vóc quốc gia và quốc tế Nhưng như vậy thì chưa đủ, các doanh nghiệp
lớn không thể tồn tại một mình và vươn tới mọi thị trường để đáp ứng nhu cầu ngày
càng phong phú đa dạng của con người một cách hiệu quả Quy luật lợi nhuận và
yêu cầu hiệu quả kinh tế làm xuất hiện và tồn tại đồng thời trong quan hệ chặt chẽ
với nhau giữa các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp vừa và nhỏ như những lực
lượng bổ sung, hỗ trợ cho nhau cùng phát triển
Thực tế đã chứng minh vai trò quan trọng không thể thiếu được của các
DNVVN trong nền kinh tế Ngay cả ở những nước phát triển cao với những tập
đoàn kinh tế khổng lồ như Mĩ, Nhật Bản thì DNVVN vẫn được coi trọng trong một
hệ thống luật lệ nhất quán và khuyến khích phát triển DNVVN vẫn được coi là
nguồn lực quan trọng đảm bảo sức sống cho nền kinh tế, là bộ phận hợp thành quan
trọng của cơ cấu quy mô nhiều tầng của các doanh nghiệp
Ở Việt Nam, với xuất phát điểm thấp nền kinh tế đang trong quá trình
CNH-HĐH thì việc phát triển DNVVN là rất phù hợp Bởi đối với những nước đang phát
triển như Việt Nam thì ngoài vai trò là bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc
dân, tạo ra công ăn việc làm, góp phần tăng trưởng kinh tế, các DNVVN còn có vai
trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tiến hành CNH-HĐH đất
nước, xoá đói giảm nghèo, giải quyết những vấn đề xã hội
Nhận thức được điều này nên Nghị định 90 của Chính phủ ngày 23/11/1990
đã khẳng định: “Phát triển DNVVN là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát
triển kinh tế xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước” Đồng thời
Trang 4trong cuộc gặp gỡ các doanh nghiệp ngày 14/9/2001 tại Hà Nội Thủ tướng Phan
Văn Khải đã nhấn mạnh: “Cần thấy rằng, DNVVN là loại hình rất phù hợp để phát
huy mọi tiềm năng kinh tế, kể cả các nước phát triển Đối với nước ta việc phát
triển DNVVN lại càng phù hợp với bước đầu thực hiện công nghiệp hoá hiện đại
hoá Vì vậy, phải quan tâm, tạo điều kiện cho DNVVN phát triển “
Trước hết chúng ta cần tìm hiểu về khái niệm , đặc điểm cũng như vai trò
của DNVVN
1.1.1.Khái niệm
Từ trước tới nay, có khá nhiều ý kiến bàn luận về khái niệm DNVVN
DNNNV nếu hiểu theo nghĩa thông thường là những cơ sở sản xuất kinh doanh
tương đối nhỏ với quy mô không lớn lắm Tuy nhiên, để có thể nói chính xác thế
nào là quy mô không lớn lắm thì có nhiều ý kiến khác nhau Vì thế, quan niệm và
tiêu chí đánh giá doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ chỉ mang tính tương đối và cần
phải tiếp tục nghiên cứu Không có một sự phân loại chung nào được thống nhất
trên bình diện quốc tế về những gì cấu thành nên một doanh nghiêp “vừa” và
“nhỏ” Các khái niệm và việc phân loại thay đổi từ nước này qua nước khác, thậm
chí thay đổi trong cùng một nước qua các thời kỳ khác nhau
Hiện nay có nhiều tiêu thức khác nhau để phân biệt DNVVN như số lao
động thường xuyên, vốn sản xuất, doanh thu, lợi nhuận, giá trị gia tăng Trong đó
có hai tiêu thức được sử dụng thông dụng và phổ biến là quy mô vốn và số lao
động Ở Việt Nam cũng phân loại doanh nghiệp chủ yếu theo hai tiêu thức là lao
động thường xuyên và vốn sản xuất
Ngày 20/6/1998, Thủ tướng chính phủ đã ban hành công văn số
681/CP-KNT về quy định tiêu chí xác định DNVVN: Đó là doanh nghiệp có vốn điều lệ
dưới 5 tỷ đồng và số lao động bình quân năm dưới 200 người
Ngày 23/11/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về
trợ giúp DNVVN Trong đó đã nêu rõ: “DNVVN là những cơ sở sản xuất độc lập,
đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng kí không quá 10 tỷ
Trang 5hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 ngưòi” Căn cứ vào tình hình
kinh tế xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện
pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn
và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu trên “
Theo quy định trong nghị định 90/CP thì các DNVVN bao gồm:
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo luật doanh nghiệp: Công ty
cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh
nghiệp tư nhân
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước:
các doanh nghiệp nhà nước
- Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo luật hợp tác xã
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng kí theo nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày
03/2/2000 của chính phủ về đăng kí kinh doanh
1.1.2 Đặc điểm của DNVVN
1.1.2.1 Những điểm mạnh
- Năng động, linh hoạt, tự do, sáng tạo trong kinh doanh:
Nhờ quy mô vừa nhỏ, mô hình tổ chức quản lí sản xuất giản đơn nên những
doanh nghiệp này rất năng động, linh hoạt, dễ chuyển hướng sản xuất kinh doanh,
đi vào những ngành nghề khác khi cảm thấy lĩnh vực đó có lợi hơn
Các DNVVN cũng dễ dàng và nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghệ, thích
ứng với cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại Một lợi thế đáng kể nữa là
DNVVN khi chuyển địa điểm sản xuất không gặp nhiều khó khăn như doanh
nghiệp lớn Trong khi đó các DNVVN lại có thể nắm bắt được cả những yêu cầu
nhỏ lẻ mang tính khu vực và địa phương Điều này càng làm cho DNVVN khai
thác hết năng lực của mình, đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất
- Có thể nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghệ, thích ứng với cuộc cách
mạng khoa học công nghệ hiện đại
Trang 6Khác với các doanh nghiệp lớn, DNVVN với yêu cầu vốn bổ sung không
nhiều và giảm được thiệt hại trong thay đổi vốn cố định khi có sự cạnh tranh phải
chuyển sang kinh doanh ngành khác nên DNVVN dễ dàng và nhanh chóng trong
việc đổi mới thiết bị công nghệ khi cần thiét
Trước khi bước vào hoạt động sản xuất kinh doanh, các DNVVN chỉ cần
một lượng vốn đầu tư ban đầu ít, hiệu quả cao mà lại thu hồi vốn nhanh Chính vì
vậy mà nó hấp dẫn nhiều cá nhân, tổ chức ở mọi thành phần kinh tế đầu tư vào khu
vực này
Hệ thống tổ chức sản xuất và quản lí ở các DNVVN gọn nhẹ, linh hoạt ,
công tác điều hành mang tính trực tiếp Bộ máy tổ chức của các DNVVN thường
đơn giản gọn nhẹ Các quyết định được thực hiện nhanh, công tác kiểm tra giám sát
được thực hiện khá chặt chẽ, không phải qua nhiều khâu trung gian, vì thế mà tiết
kiệm được chi phí quản lí doanh nghiệp
1.1.2.2 Những bất lợi
- Nguồn tài chính hạn chế
Đây là nhược điểm lớn nhất, dễ thấy nhất và đáng quan tâm nhất của các
DNVVN Trong khi các doanh nghiệp lớn có thể nhận được nhiều các nguồn tài
chính khác nhau từ ngân sách nhà nước cấp, từ viện trợ, vốn tín dụng thương mại,
tín dụng ngân hàng thì các DNVVN lại gặp nhiều khó khăn trong vấn đề này Bởi
lẽ, hơn 90% các DNVVN ở nước ta là thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh nên vốn tự có không thể do ngân sách nhà nước cấp được Hầu hết nguồn
vốn ban đầu của DNVVN đều là vốn tự có của chủ doanh nghiệp hay của người
thân, bạn bè của họ Vốn huy động từ bên ngoài như từ các tổ chức tín dụng là rất
hạn chế Phần lớn các ngân hàng thương mại cũng như các tổ chức tài chính khác
thường e ngại không muốn cho DNVVN vay vốn bởi họ chưa có quá trình kinh
doanh uy tín và chưa tạo lập được khả năng trả nợ Bởi vậy, quy mô vốn đầu tư của
các doanh nghiệp này nhỏ bé, hạn chế cũng là điều dễ hiểu
- Trình độ quản lí yếu kém, tay nghề lao động chưa cao
Trang 7Tại các DNVVN, các DNVVN, cán bộ quản lí hay chủ doanh nghiệp đều
trưởng thành từ thực tế và kinh nghiệm từ bạn bè, chỉ có một tỷ lệ nhỏ được đào tạo
qua các trường lớp chính quy về quản trị doanh nghiệp quản lí kinh tế Họ thành
lập doanh nghiệp chủ yếu do kinh nghiệm trong lĩnh vực hoạt động hay do có sẵn
mối quan hệ với các kênh cung ứng với thị trường… Có thể thấy các chủ doanh
nghiệp này thường yếu về trình độ quản lí điều hành doanh nghiệp theo thói quen,
chủ nghĩa gia đình…, kỹ năng chuyên môn và quản lí theo định hướng thị trường
hiện đại còn thiếu
Người lao động trong DNVVN có tay nghề kém, ít qua trường lớp đào tạo,
chủ yếu do được truyền nghề, cha truyền con nối… Bình quân số lao động phổ
thông, trình độ tay nghề giản đơn, chưa được đào tạo chiếm khoảng 60-70% Hầu
hết người lao động trong các DNVVN là người lao động ở vùng quê nông thôn ít
có cơ hội học tập, còn những nguời lao động có trình độ, có tay nghề, được đào tạo
từ những trường lớp cao đẳng, đại học, trưòng dạy nghề ra thưòng chỉ làm việc
trong một thời gian ngắn để lấy kinh nghiệm rồi sau đó bỏ việc để tìm một vị trí tốt
hơn ở doanh nghiệp lớn khác
- Cơ sở vật chất kĩ thuật, trình độ thiết bị công nghệ thường yếu kém lạc hậu
Do nguồn vốn nhỏ bé, thông thường các DNVVN chỉ sử dụng những công
nghệ trung bình, đơn giản nên năng suất lao động thấp làm giảm khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp Rất ít DNVVN được trang bị công nghệ hiện đại trừ khi
liên doanh với nước ngoài Hơn nữa, các DNVVN rất khó có thể vay được một
khoản tín dụng trung dài hạn cần thiết để nâng cấp công nghệ Trong những năm
qua, do sức ép của thị trường và những tác động của cơ chế quản lí kinh tế, các
DNVVN đã có sự đổi mới công nghệ ở mức độ nhất định Song nhìn chung, thiết
bị công nghệ của các DNVVN hiện vẫn còn lạc hậu và ở trình độ thấp, hiệu quả
chưa cao, đang gặp nhiều khó khăn đối với việc nâng cao năng suất, chất lượng sản
phẩm
Trang 8- Khả năng tiếp cận thông tin và tiếp thị của các DNVVN bị hạn chế rất
nhiều
- Thị trường của DNVVN thường nhỏ bé và không ổn định, lại phải chia sẻ
với nhiều doanh nghiệp khác
Trong những khó khăn trên, nguồn tài chính hạn hẹp là đặc điểm lớn nhất và
là nguyên nhân chính dẫn đến các bất lợi khác của DNVVN Và thực lực kinh tế
yếu nên khả năng vay vốn lại càng khó khăn Bên cạnh đó môi trường thể chế,
chính sách kinh tế còn nhiều bất cập , không tạo điều kiện bảo vệ và bảo đảm cho
sự phát triển của khu vực này, trong đó cơ chế chính sách về tín dụng ngân hàng ,
kể cả những vấn đề cụ thể về nghiệp vụ ngân hàng còn đang cản trở việc vay vốn
của các DNVVN Do vậy, các DNVVN còn đang gặp nhiều khó khăn và chưa được
hỗ trợ nhiều từ phía nhà nước như những doanh nghiệp khác
1.1.3 Vai trò
DNVVN đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc dân với nhiều hình thức
đa dạng phong phú hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế Cùng với những
lợi thế là không đòi hỏi nhiều vốn đầu tư, quản lí dơn giản , dễ thay đổi linh hoạt
theo thị trường, các DNVVN đã và đang phát huy những mặt tích cực và khẳng
định được vị thế của mình trong nền kinh tế Vai trò to lớn của DNVVN thể hiện ở
các mặt sau:
- DNVVN góp phần tạo ra việc làm cho người lao động
Đây là một ưu điểm của DNVVN và là một trong những nguyên nhân chính
khiến Đảng và Nhà nước phải đặc biệt quan tâm đến việc phát triển DNVVN ở
nước ta hiện nay Các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển có số
lượng lớn các DNVVN, loại hình doanh nghiệp này giải quyết việc làm cho khoảng
70% lực lượng lao động
Ở nước ta, việc làm vẫn đang là vấn đề cấp bách cần giải quyết Mặc dù
chính phủ và địa phương đã có những cố gắng trong việc giảm dân số cũng như tạo
Trang 9việc làm nhưng nhu cầu về việc làm vẫn tăng lên khoảng 3 triệu người mỗi năm
Họ có thể là những người mới gia nhập vào lực lượng lao động cũng có thể là
những người lao động dư ra từ quá trình sắp xếp cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà
nước hay người lao động từ nước ngoài trở về Số lượng này vẫn ngày một tăng lên
trong khi đó khả năng thu hút lao động mới vào các doanh nghiệp mới rất hạn chế
Vì vậy, một việc làm tại các DNVVN sẽ là một giải pháp tốt cho người lao động
- DNVVN có thể tận dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả Đó là các
nguồn lực: nguồn vốn, nguồn nhân lực, nguồn nguyên vật liệu
Vốn là một nhân tố cơ bản trong quá trình sản xuất và có vai trò quan trọng
đối với sự phát triển của doanh nghiệp cũng như nền kinh tế Dường như khi nền
kinh tế đang thiếu vốn thì nguồn vốn nhàn rỗi trong dân còn rất nhiều Sự ra đời và
phát triển của DNVVN với nhiều loại hình như DNNN, công ty tư nhân , công ty
cổ phần, công ty TNHH, …đã khơi dậy được rất nhiều khoản vốn đang nằm phân
tán trong dân cư Do quy mô vừa và nhỏ, dễ đi sâu vào các vùng, miền, hơn nữa
yêu cầu về số lượng vốn ban đầu không nhiều nên các DNVVN tỏ ra rất hiệu quả
trong việc thu hút các nguồn vốn nhỏ lẻ , nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư Tuy
lượng vốn thu hút vào mỗi doanh nghiệp ít nhưng do số lượng DNVVN khá lớn
nên tổng lượng vốn thu hút vào kinh doanh ngày càng tăng , góp phần tăng cường
đầu tư phát triển kinh tế , xã hội
Về nguồn nhân lực và nguyên vật liệu cũng là những yếu tố cơ bản của một
doanh nghiệp Các DNVVN có thể huy động các nguồn nhân lực nguyên nhiên vật
liệu ngay tại từng địa phương đưa vào sản xuất, phát triển kinh tế vùng, khai thác
hợp lí có hiệu quả những nguồn lực sẵn có tại chỗ
-Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta, đặc biệt là khu vực nông
thôn.
Sự phát triển của các DNVVN đã thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ở nước ta, đặc biệt với khu vực nông thôn Sự phát triển của các
DNVVN ở nông thôn đã thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ,
Trang 10đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại, dịch vụ phát triển , xoá dần tình trạng
thuần nông và độc canh ở nông thôn Sự phát triển của các DNVVN cũng góp phần
làm tăng tỉ trọng khu vực công nghiệp dịch vụ và làm thu hẹp dần tỷ trọng khu vực
nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân Phát triển các DNVVN còn có tác
dụng làm chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, thành phần kinh tế Các doanh nghiệp
này chủ yếu là kinh tế ngoài quốc doanh được tăng lên nhanh chóng làm cân đối
các thành phần kinh tế Ngoài ra, các doanh nghiệp còn được phân bố đều khắp
mọi nơi, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi Như vậy, sự linh
hoạt, năng động của các DNVVN đã hình thành một cơ cấu kinh tế có tính đổi mới
và thích ứng với nền kinh tế , tạo nên một cơ cấu ngành , thành phần , vùng hợp lí
-Đáp ứng nhu cầu về hàng hoá dịch vụ đa dạng của nền kinh tế
Các DNVVN hoạt động trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, từ sản
xuất công nghiệp , đến xây dựng , thương mại , dịch vụ, thủ công mĩ nghệ Do quy
mô vừa nhỏ, các DNVVN có thể tồn tại ở khắp nơi, kể cả vùng nông thôn , vùng
sâu vùng xa hay nó có thể hoạt động trong những lĩnh vực , những nơi mà mà các
doanh nghiệp lớn còn bỏ ngỏ Do vậy, nó sản xuất ra nhiều mặt hàng , ở rất nhiều
nơi , đáp ứng mọi nhu cầu tiêu dùng , sản xuất của mọi người dân, mọi ngành nghề
-Đóng góp một phần đáng kể vàp tăng trưởng kinh tế của cả nước
DNVVN là bộ phận có đóng góp không nhỏ vào GDP cả nước Theo số liệu
thống kê mỗi năm DNVNN đóng góp khoảng 26-27% GDP cả nước Đây là một
con số rất có ý nghĩa, chứng tỏ các DNVVN đóng góp một phần quan trọng vào sự
gia tăng thu nhập quốc dân và nếu khu vực này được quan tâm hỗ trợ đúng mức
của Nhà nước , của các tổ chức kinh tế xã hội thì khả năng đóng góp vào tăng
trưởng kinh tế xã hội còn lớn hơn nữa
-Góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trường
Do lợi thế của quy mô vừa và nhỏ là năng động, linh hoạt, sáng tạo trong
hoạt động kinh doanh, các DNVVN có nhiều khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển
hướng kinh doanh , đổi mới công nghệ, trang thiết bị… Đồng thời lượng DNVVN
Trang 11khá lớn , ngày càng tăng làm tăng khả năng cạnh tranh, tăng chất lượng, số lượng,
chủng loại hàng hoá dịch vụ Do đó, nó làm cho nền kinh tế năng động hơn, chuyển
biến nhanh nhạy, đáp ứng kịp thời những thay đổi của nền kinh tế trong nước, đồng
thời hoà nhịp được với sự biến động, phát triển của nền kinh tế thế giới
1.2 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Sự hình thành và phát triển
Lịch sử hình thành và phát triển của của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát
triển của nền sản xuất hàng hoá Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi
sự phát triển của ngân hàng , đến lượt mình , sự phát triển của hệ thống ngân hàng
trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp
vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các thợ vàng Hình thức ngân hàng đầu tiên – ngân
hàng của những thợ vàng , hoặc của những kẻ cho vay nặng lãi – thực hiện cho vay
với các cá nhân , chủ yếu là những người giàu như quan lại , địa chủ … nhằm mục
đích phục vụ tiêu dùng Do lợi nhuận từ cho vay rất cao , nhiều chủ ngân hàng đã
lợi dụng ưu thế của chứng chỉ tiền gửi ( lưu thông thay vàng hoặc bạc), phát hành
chứng chỉ tiền gửi khống để vay Thực trạng này đã đẩy nhiều ngân hàng đến chỗ
mất khả năng thanh toán và phá sản
Sự sụp đổ của các ngân hàng gây khó khăn cho hoạt động thanh toán, ảnh
hưởng xấu tới hoạt động buôn bán Hơn nữa , lãi suất cao nên không thể sử dụng
nguồn vay này Trước tình hình đó , nhiều nhà buôn tự thành lập ngân hàng , gọi là
ngân hàng thương mại Như vậy ngân hàng thương mại được hình thành xuất phát
từ tư bản thương nghiệp , và gắn liền với quá trình luân chuyển của tư bản thương
nghiệp Ngân hàng thương mại cũng thực hiện các nghiệp vụ truyền thống của ngân
hàng như huy động tiền gửi , thanh toán cất giữ hộ và cho vay
Tuy nhiên , điểm khác biệt giữa ngân hàng thương mại và ngân hàng thợ
vàng trước đó là ngân hàng thương mại chủ yếu cho các nhà buôn vay dưới hình
thức chiết khấu thương phiếu Đây là các khoản cho vay ngắn hạn , dựa trên quá
Trang 12trình luân chuyển của hàng hoá với lãi suất phải thấp hơn lợi nhuận được tạo ra do
sử dụng tiền vay Để đảm bảo an toàn , ngân hàng thương mại ban đầu không cho
vay đối với người tiêu dùng, không cho vay trung và dài hạn, không cho vay đối
với nhà nước
Cùng với sự phát triển kinh tế và công nghệ , hoạt động ngân hàng đã có
những bước tiến rất nhanh Trước hết, đó là sự đa dạng các loại hình ngân hàng và
các hoạt động ngân hàng Từ các ngân hàng tư nhân , quá trình tích tụ và tập trung
vốn trong ngân hàng đã dẫn đến hình thành ngân hàng cổ phần Quá trình gia tăng
vai trò quản lí Nhà nước đối với hoạt động ngân hàng đã tạo ra các ngân hàng
thuộc sở hữu nhà nước , các ngân hàng liên doanh , các tập đoàn ngân hàng phát
triển mạnh đã phát triển mạnh trong những năm cuối thế kỉ 20 Nhiều nghiệp vụ
truyền thống vẫn được giữ vững bên cạnh các nghiệp vụ mới đang ngày càng phát
triển Ngân hàng thương mại từ chỗ chỉ cho vay ngắn hạn là chủ yếu đã mở rộng
cho vay dài hạn , cho vay đầu tư vào bất động sản Nhiều ngân hàng mở rộng cho
vay tiêu dùng , kinh doanh chứng khoán , cho thuê Các hình thức huy động vốn
cũng ngày càng phong phú Các loại hình tiền gửi khác nhau được đưa ra chằm
đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng Bên cạnh các hình thức huy động tiền gửi ,
các ngân hàng đã mở rộng các hình thức vay như vay ngân hàng trung ương , vay
các ngân hàng khác Công nghệ ngân hàng đang góp phần làm thay đổi các hoạt
động cơ bản của ngân hàng Thanh toán điện tử đang dần thay thế thanh toán thủ
công, đẩy nhanh tốc độ , tính thuận tiện, an toàn trong thanh toán Các loại thẻ đang
thay thế tiền giấy và dịch vụ ngân hàng 24 giờ , dịch vụ ngân hàng tại nhà đang tạo
ra các tiện ích ngày càng lớn cho dân chúng
1.2.2 Chức năng của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại có ba chức năng chính sau:
-Trung gian tài chính
Trang 13Ngân hàng là tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức
trong nền kinh tế : (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi
cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổ xung
vốn; và (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu , tức là thu nhập hiện tại
của họ lớn các khoản chi tiêu cho hành hoá , dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết
kiệm Ngân hàng là trung gian có chức năng chuyển tiền từ nhóm (1) sang nhóm
(2) Do chuyên môn hóa ngân hàng có thể làm cho chi phi giao dịch giảm hơn
nhiều so với quan hệ tài chính trực tiếp
-Trung gian thanh toán
Ngân hàng thương mại là trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết
các quốc gia Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng
hoá và dịch vụ Để việc thanh toán được nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi
phí, ngân hàng đưa cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng
séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử ,
kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần Các ngân hàng còn thực
hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng Trung ương hoặc thông qua
các trung tâm thanh toán Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả
cao khi quy mô sử dụng công nghệ hiện đại qua ngân hàng thường được các nhà
quản lí tìm cách áp dụng rộng rãi Nhiều hình thức thức thanh toán được chuẩn hóa
góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong
một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới Các trung tâm thanh
toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả của thanh toán qua ngân hàng ,
biến ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả , phục vụ
đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu
-Chức năng tạo tiền
Quá trình tạo tiền của ngân hàng thương mại được thực hiện thông qua hoạt
tín dụng và thanh toán trong toàn bộ hệ thống ngân hàng Đó là khả năng biến mức
Trang 14tiền gửi ban đầu tại một ngân hàng thành một khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần khi
thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán qua nhiều ngân hàng
- Bảo quản vật có giá
- Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán
- Quản lí ngân quỹ
- Tài trợ hoạt động của chính phủ
- Bảo lãnh
- Cho thuê các thiết bị trung và dài hạn
- Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn
- Cung cấp các dịch cụ môi giới đầu tư chứng khoán
- Cungcấp các dịch vụ bảo hiểm
Trong mọi doanh nghiệp , vốn đều gồm hai bộ phận: vốn chủ sở hữu và nợ ,
mỗi bộ phận này được cấu thành bởi nhiều khoản mục khác nhau tuỳ theo tính chất
của chúng Tuỳ theo mỗi loại hình doanh nghiệp và đặc điểm cụ thể , mỗi doanh
nghiệp có thể có các phương thức huy động vốn khác nhau
Trang 15Trên lí thuyết , có ba phương pháp chủ yếu để tìm nguồn tài trợ cho doanh
nghiệp , đó là tăng vốn chủ sở hữu vay có kỳ hạn và thuê (thuê mua)
Tăng nguồn vốn chủ hữu là biện pháp đơn giản nhất và ít tốn kém nhất đối
với doanh nghiệp Bởi vốn chủ sở hữu là do các cổ đông đóng góp hoặc vốn của
một mình người chủ duy nhất , số vốn này không gây ra chi phí cho doanh nghiệp
nhưng các cổ đông chỉ có lượng tài chính giới hạn, thuê mua là một biện pháp đơn
giản và thuận lợi thay thế cho tín dụng trung và dài hạn , đặc biệt đối với các
DNVVN thường gặp khó khăn khi vay trung và dài hạn ở các ngân hàng Phương
thức này có thể tài trợ cho một số máy móc thiết bị riêng biệt nào đó chứ không cần
phải tài trợ hoàn toàn cho một dự án chung Ở Việt Nam hiện nay, đây là một hình
thức tài trợ vốn mới , chưa phát triển Các DNVVN Việt Nam còn chưa quen với
hình thức này Vì vậy , chủ yếu họ vẫn cần đến ngân hàng để vay vốn trung và dài
hạn
Gia đình và bạn bè là nơi dễ dàng cung cấp vốn cho chủ doanh nghiệp
Nhưng nguồn này không thường xuyên và chứa nhiều bất lợi Bởi việc vay tiền từ
bạn bè , người thân trong gia đình nhiều khi không có sự phân biệt rõ ràng giữa vay
và chung vốn, từ đó dẫn đến nhiều hiểu lầm , ảnh hưởng xấu đến mối quan hệ cá
nhân sau này Mặc dù vậy, đây vẫn là một kênh vốn khá hữu hiệu của doanh nghiệp
khi các khoản vay từ ngân hàng hạn chế, mà thực tế đối với các DNVVN Việt Nam
các khoản vay ngân hàng thực sự khan hiếm
Các doanh nghiệp cũng thường khai thác nguồn tín dụng thương mại hay còn
gọi là tín dụng người cung cấp Nguồn này hình thành một cách tự nhiên trong
quan hệ mua bán chịu hay mua bán trả chậm hay trả góp Nguồn vốn tín dụng
thương mại có ảnh hưởng hết sức to lớn không chỉ với các doanh nghiệp mà còn
với cả nền kinh tế Trong một số doanh nghiệp , nguồn vốn tín dụng thương mại
dưới dạng những khoản phải trả có thể chiếm tới 20% tổng nguồn vốn, thậm chí có
thể chiếm tới 40% tổng nguồn vốn
Trang 16Đối với doanh nghiệp, tài trợ bằng nguồn vốn tín dụng thương mại là một
phương thức tài trợ rẻ , tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh , hơn nữa nó còn
tạo khả năng mở rộng các mối quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền Tuy
nhiên , cần phải thấy rằng khi quy mô tài trợ quá lớn thì tính rủi ro của quan hệ tín
dụng này sẽ rất lớn
Vay vốn ngân hàng là giải pháp cổ điển, hầu hết các doanh nghiệp đều nghĩ
tới Ngân hàng đóng vai trò là người cung cấp vốn cho doanh nghiệp , bù lại ngân
hàng nhận tiền lãi do doanh nghiệp trả cho khoản cho vay đó Ngân hàng là một tổ
chức tài chính có thể huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, vì thế luôn có đủ
khả năng cung cấp các nguồn tài trợ trung và dài hạn cho các doanh nghiệp, vì vậy
ngân hàng cũng cần sử sụng vốn của mình có hiệu quả và an toàn Ở đây, ngân
hàng có thể cung cấp vốn cho doanh nghiệp từ khi mới thành lập , khi bước vào
hoạt động sản xuất kinh doanh , đồng thời cung cấp vốn lưu động khi doanh nghiệp
có nhu cầu
Như vậy, cần nhận thấy rằng trong các phương thức tài trợ, thì nguồn tín
dụng ngân hàng vẫn được coi là nguồn quan trọng nhất với những ưu điểm sẵn có
của mình Nhưng hiện nay các DNVVN lại rất khó tiếp cận với nguồn vốn này, đây
cũng là vấn đề mà chúng ta đang nghiên cứu
1.3.2Quy chế cho vay đối với các DNVVN ở nước ta hiện nay
Hiện nay ở Việt Nam hầu hết các ngân hàng thương mại chưa có một quy
chế cho vay riêng đối với các DNVVN Tuy nhiên , căn cứ vào quy chế cho vay đối
với các khách hàng nói chung, ta có thể rút ra những quy định về hoạt động cho
vay đối với các DNVVN
-Nguyên tắc vay vốn : Khách hàng vay vốn của ngân hàng phải đảm bảo các
nguyên tắc sau:
+Sử dụng vốn đúng mụch đích được nêu trong hợp đồng vay vốn
Trang 17+ Phải hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng hạn đã thoả thuận trong hợp đồng
+Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, và chịu trách nhiệm
dân sự theo quy định của pháp luật
+Có khả năng tài chính đảm bảo khả năng trả nợ trong thời hạn cam kết
+Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
+ Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh dịch vụ khả thi , có hiệu
quả hoặc có dự án đầu tư khả thi kèm theo phương án trả nợ khả thi
+Thực hiện theo quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ
, hướng dẫn của NHNN
-Thời hạn cho vay : Các ngân hàng thương mại và khách hàng căn cứ vào
chu kì sản xuất , kinh doanh , thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả
nợ của khách hàng và nguồn vốn cho vay của ngân hàng để thoả thuận về thời hạn
cho vay Thời hạn cho vay không được vượt quá thời hạn hoạt động còn lại theo
quyết định thành lập hoặc theo giấy phép hoạt động của doanh nghiệp
-Lãi suất : mức lãi suất cho vay do ngân hàng và doanh nghiệp thoả thuận
phù hợp với quy định của NHNN
-Quy trình cho vay : ngân hàng trước khi ra quyết định cho vay phải tiến
hành theo một quy trình có trình tự như sau:
+Bước 1: Khi khách hàng là các DNVVN đến ngân hàng đề xuất nhu cầu
vay vốn , cán bộ tín dụng sẽ hướng dẫn cụ thể khách hàng về các điều kiện vay vốn
ngân hàng theo cơ chế tín dụng hiện hành , đồng thời hướng đẫn khách hàng lập
hồ sơ vay vốn Hồ sơ vay vốn thường bao gồm : hồ sơ pháp lí chứng minh sự tồn
Trang 18tại hợp pháp của của doanh nghiệp , hồ sơ kinh tế và hồ sơ xin vay trong đó có giấy
đề nghị vay vốn, hợp đồng vay , hợp đồng bảo đảm tiền vay Cụ thể:
*Đối với DNNN, công ty TNHH, công ty cổ phần , và doanh nghiệp
tư nhân:
Hồ sơ pháp lí gồm :
Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh
Điều lệ doanh nghiệp (trừ doanh nghiệp tư nhân)
Quyết định bổ nhiệm Tổng giám đốc, kế toán trưởng (đối với các doanh
nghiệp ), Quyết định chứng nhận ban quản trị chủ nhiệm hợp tác xã (đối với hợp
tác xã)
Giấy phép hành nghề, giấy phép đầu tư (với doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài), hợp đồng liên doanh
Quyết định giao vốn và các văn bản bàn giao tài sản của cơ quan quản lí Nhà
nước có thẩm quyền cho các DNNN
Biên bản góp vốn , danh sách thành viên sáng lập với các công ty cổ phần,
công ty TNHH
Hồ sơ kinh tế gồm :
Kế hoạch sản xuất kinh doanh trong kì (3 tháng , 6 tháng hay một năm)
Bảng cân đối kế toán , kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh kì trước
Báo cáo thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh kỳ trước
Hồ sơ vay vốn gồm : Giấy đề nghị vay vốn
Hợp đồng vay vốn
Hợp đồng bảo đảm tiền vay
*Đối với hộ gia đình, tổ hợp tác:
Hồ sơ pháp lí gồm:
Sổ hộ khẩu
Giấy phép kinh doanh
Trang 19Giấy tờ hợp phép, hợp lệ được giao cho thuê quyền sử dụng đất , mặt nước
Giấy chứng nhận của UBND xã , phường cho phép hoạt động
Hồ sơ vay vốn gồm:
Giấy đề nghị xin vay vốn kèm theo phương án sản xuất kinh doanh (đối với
hộ không phải thế chấp , cầm cố tài sản)
Giấy đề nghị xin vay vốn , phương án sản xuất kinh doanh và hồ sơ bảo đảm
tiền vay (đối với hộ phải sử dụng thế chấp tài sản , cầm cố tài sản)
Bước 2: Điều tra , thu thập và tổng hợp các thông tin về khách hàng và
phương án vay vốn
Bước 3 : Phân tích thẩm định khách hàng và phương án vay vốn , bao gồm :
phân tích năng lực pháp lí của khách hàng, tính cách và uy tín khách hàng , năng
lực tài chính , đánh giá các bảo đảm tiền vay, bảo lãnh…
Bước 4 :Phát tiền vay
Bước 5 :Giám sát khách hàng sử dụng vốn vay và theo dõi rủi ro : mụch đích
của việc giám sát , theo dõi là nhằm kiểm tra tính hiện thực của kế hoạch trả nợ cho
vay và phát hiện kịp thời những rủi ro có thể phát sinh , phát hiện sớm các khoản
vay có vấn đề trước khi trở nên nghiêm trọng , nhằm đề xuất các giải pháp xử lí kịp
thời
Bước 7: Thu hồi nợ , gia hạn nợ : Khi khoản vay đến hạn , ngân hàng sẽ tiến
hành thu nợ của các doanh nghiệp ( bao gồm cả lãi và gốc) Với các khoản nợ có
vấn đề (tức là đến hạn mà doanh nghiệp vẫn không trả được hết nợ), doanh nghiệp
có thể sẽ đề nghị ngân hàng cho gia hạn nợ, giãn nợ… Khi đó cán bộ tín dụng phải
thẩm định , kiểm tra thực tế và lập trình cho giám đốc trong giới hạn thẩm quyền
Bước 8: Xử lí rủi ro : Đối với những món nợ đã dùng mọi biện pháp như
giãn nợ, gia hạn nợ …mà vẫn không thu hồi được nợ, thì ngân hàng buộc phải tiến
hành các biện pháp kiên quyết cuối cùng , như phát mại tài sản cầm cố …
Trang 201.3.3 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với sự phát triển
DNVVN
Đầu tiên phải khẳng định vai trò to lớn của cho vay của ngân hàng trong việc
cung cấp vốn cho doanh nghiệp từ khi mới thành lập, đầu tư xây dựng cơ bản cho
đến khi đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh , rồi mở rộng , phát triển sản xuất
Nhờ đó , hoạt động cho vay của ngân hàng đã đảm bảo cho quá trình hoạt động của
các DNVVN được liên tục và thận lợi Ngoài ra, cho vay trung và dài hạn của ngân
hàng giúp DNVVN tái sản xuất mở rộng, đầu tư trang thiết bị, công nghệ mới, nang
cao kĩ thuật, cải tiến chất lượng , mẫu mã sản phẩm , tăng năng suất lao động ,
giảm giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh , giúp cho doanh nghiệp mở
rộng thị phần, vươn tới những thị trường tiềm năng, hoạt động kinh doanh ngày
càng phát triển , đứng vững ở thị trường trong nước, hướng tới thị trường nước
ngoài, giúp doanh nghiệp liên tục đổi mới , liên tục phát triển
Sở dĩ như vậy là vì, ngân hàng huy động những nguồn nhàn rỗi trong dân
chúng, từ nguồn tiết kiệm của các cá nhân cho đến nguồn tiền tạm thời “thừa “ của
các tổ chức kinh tế xã hội…Vì vậy nguồn vốn của ngân hàng rất lớn, đủ để đáp ứng
mọi nhu cầu của nền kinh tế , trong đó có các DNVVN
Hơn nữa, dịch vụ ngân hàng hiện đại ngày càng phát triển , các hình thức tín
dụng ngày càng đa dạng, có thể kể đến như tín dụng cho vay thông thường , cho
vay chiết khấu, tín dụng bảo lãnh, thuê mua , cho vay tiêu dùng…Ngoài ra còn có
nhiều thời hạn khác nhau như cho vay ngắn hạn, trung hạn , dài hạn , với nhiều
phương thức cho vay như : cho vay từng lần , cho vay theo hạn mức tín dụng , cho
vay theo dự án đầu tư, cho vay hợp vốn, cho vay trả góp, cho vay theo thông qua
nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ, cho vay theo hạn mức thấu chi … từ đó các
doanh nghiệp nói chung , các DNVVN nói riêng được quyền tự do chọn lựa loại tín
dụng ngân hàng cho tiện lợi và phù hợp với khả năng của mình nhất
Mọi doanh nghiệp đều có thể vay vốn ngân hàng nếu như thoả mãn những
điều kiện nhất định về hiệu quả của dự án và khả năng trả nợ Chính vì vậy, ngoài
Trang 21vai trò trực tiếp cung cấp vốn cho doanh nghiệp ra thì hoạt động cho vay của ngân
hàng còn có những vai trò gián tiếp sau:
-Hoạt động cho vay của ngân hàng giúp DNVVN nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh Một trong những nguyên tắc tín dụng là trả lãi và trả gốc đúng thời
hạn Do đó người đi vay buộc phải tính toán chi phí sản xuất , tốc độ quay vòng
vốn vay , giá thành sản phẩm, doanh thu thu được … để sao cho đến cuối kì có thể
thu được lợi nhuận đủ để trả tiền vay ngân hàng và còn lợi nhuận để lại Rõ ràng,
với những điều kiện ràng buộc như vậy, ngân hàng đã góp phần giúp cho doanh
nghiệp nâng cao khả năng hạch toán kinh doanh , tổ chức sản xuất kinh doanh , sử
dụng vốn một cách có hiệu quả
-Thông qua hoạt động cho vay , ngân hàng có thể tư vấn cho các DNVVN
hoạt động có hiệu quả hơn Ngân hàng có quan hệ tín dụng rất rộng rãi với mọi
thành phần , mọi đơn vị sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế , kể cả các cá nhân ,
tổ chức xã hội… hoạt động này tạo cho ngân hàng một hệ thống thông tin phong
phú Hơn nữa việc cho vay đối với mọi đối tượng, mọi thành phần buộc cán bộ tín
dụng ngân hàng phải có những hiểu biết rộng rãi để có thể tư vấn cho doanh nghiệp
trong hoạt động sản xuất kinh doanh Tránh rủi ro làm ăn thua lỗ, phá sản cho
doanh nghiệp cũng chính là tránh rủi ro không thu hồi vốn được cho ngân hàng
Do đó , trong quy trình tín dụng , bao giờ cũng có các khâu kiểm tra trước, trong và
sau khi vay, qua đó giám sát chặt chẽ tiến độ của dự án, buộc các doanh nghiệp
phải làm ăn đúng đắn, sử dụng vốn đúng mục đích Khi doanh nghiệp gặp khó khăn
thì với sự hiểu biết và các mối quan hệ của mình, tín dụng ngân hàng có thể tư vấn ,
giúp các doanh nghiệp tháo gỡ vướng mắc, hoạt động có hiệu quả hơn
Hoạt động cho vay của ngân hàng còn giúp các DNVVN mở rộng giao lưu
quốc tế , hội nhập với thế giới.Với quan hệ rộng rãi của mình , tín dụng ngân hàng
giúp các DNVVN có được thông tin về thị trường quốc tế , tiếp cận công nghệ sản
xuất , tìm kiếm thị trường quốc tế tạo điều kiện cho các DNVVN gặp gỡ các đối tác
trong và ngoài nước , xúc tiến quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ cho các
Trang 22doanh nghiệp …Hoạt động cho vay của ngân hàng hỗ trợ vốn cho các DNVVN để
có thể nhập khẩu máy móc thiết bị , hàng hoá, dịch vụ… Ngoài ra, vốn từ ngân
hàng còn giúp cho các DNVVN tăng cường khả năng canh tranh ngay cả ở thị
trường trong nước và tiến tới là thị trường nước ngoài, đẩy mạnh quá trình thay thế
nhập khẩu hàng hoá trong nước, hướng tới xuất khẩu ra thị trường nước ngoài Nhờ
đó , hoạt động cho vay của ngân hàng đã giúp các DNVVN có cơ hội tiếp cận với
nền kinh tế khu vực và thế giới
Như vậy, có thể nói hoạt động cho vay của ngân hàng có vai trò rất quan
trọng hoạt động của các DNVVN Hoạt động cho vay của ngân hàng giúp cho các
DNVVN khắc phục được nhược điểm vốn có của mình, đó là khả năng tài chính
còn yếu, máy móc thiết bị còn lạc hậu… một vấn đề khá nan giải đối với mọi
DNVVN thì bây giờ đã có tín dụng ngân hàng giải quyết , tiếp nữa là trình độ của
các chủ DNVVN còn yếu, khả năng nắm bắt thông tin thị trường còn thiếu… thì
bây giờ ngân hàng hỗ trợ tư vấn… Qua đó, ngân hàng không chỉ là một nhà cung
cấp vốn thông thường, mà nó còn là một người bạn đồng hành đáng tin cậy của mỗi
doanh nghiệp , phục vụ vì lợi ích của doanh nghiệp như chính lợi ích của mình ,
giúp cho các DNVVN đứng vững và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự
phát triển chung của nền kinh tế , xã hội
1.4 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA
NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNVVN
1.4.1 Nhân tố từ phía ngân hàng
Chi phí giao dịch đối với việc cho vay các DNVVN, cao hơn nhiều so với
việc cho vay các món lớn (thường là đối với các doanh nghiệp nhà nước), khiến các
ngân hàng ngần ngại khi mở rộng cho vay đối tượng này Đối với các ngân hàng
trước đây chủ yếu cho vay doanh nghiệp lớn như ngân hàng ngoại thương , ngân
hàng công thương, ngân hàng đầu tư phát triển , mở rộng cho vay tới các DNVVN
Trang 23với quy mô khoản vay nhỏ ảnh sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới chi phí giao dịch, phương
pháp cho vay của họ
Các ngân hàng, đặc biệt là ngân hàng thương mại quốc doanh vẫn còn tâm lí
e ngại khi cho các DNVVN trong khu vực tư nhân Mặc dù thái độ với các doanh
nghiệp tư nhân đã được cải thiện đáng kể trong những năm qua, các ngân hàng vẫn
chưa hoàn toàn cảm thấy thoải mái về tâm lí khi cho vay đối tượng này Doanh
nghiệp nhà nước vẫn là đối tượng mà các ngân hàng theo đuổi Đối với các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh, mặc dù sự cạnh tranh về khách hàng ngày càng lớn, phần
lớn các ngân hàng đều lựa chon giải pháp an toàn là trên hết Sự cạnh tranh giữa
các ngân hàng về khách hàng vay vốn chủ yếu đối với khách hàng là doanh nghiệp
nhà nước
Nhiều ngân hàng muốn tiến hành khảo sát để nghiên cứu về hàng là DNVVN
để giúp cho họ có đầy đủ thông tin hơn về khách hàng Ngân hàng thương mại
chưa có chiến lược marketing tới các DNVVN, các chương trình quảng cáo nghèo
nàn, không thực sự mang lại những thông tin cần thiết cho khách hàng vay vốn
Nhiều ngân hàng không muốn mở rộng dư nợ tín dụng do nhiều lí do (i)
khuyến khích chế độ lương thưởng đối với cán bộ không có tính chất khuyến khích
đối với việc mở rộng cho vay ; (ii) cơ chế lã suất trong nội bộ ngân hàng không có
tính chất khuyến khích mở rộng tín dụng trên địa bàn ; (iii) hạn chế về năng lực
quản lí của ngân hàng
Sản phẩm cho vay cũng như quy trình cho vay của ngân hàng hiện nay chưa
phù hợp với nhu cầu các DNVVN Hầu hết các ngân hàng thương mại đều áp dụng
một quy trình chung về thẩm định đối với các dự án lớn và dự án nhỏ Các sản
phẩm cho vay còn cứng nhắc, thiếu tính linh hoạt về quy trình giải ngân, quy trình
trả nợ, kì hạn…
1.4.2Nhân tố về phía doanh nghiệp
Trang 24Các doanh nghiệp còn thiếu các dự án khả thi cả về mặt kĩ thuật và tài chính
Mặc dù môi trường kinh doanh cho các DNVVN đã được cải thiện đáng kể trong
những năm vừa qua, nhưng họ vẫn còn gặp nhiều khó khăn và rủi ro trong quá trình
hoạt động như: vấn đề cho thị trường và sản phẩm, năng lực chuyên môn…Thất bại
của một số dự án đầu tư của các doanh nghiệp và các hộ kinh doanh các thể làm
cho các ngân hàng thận trọng hơn trong việc đánh giá và xem xét những dự án kinh
doanh được đệ trình
Hệ số thông tin, sổ sách kế toán của các doanh nghiệp không đáng tin cậy
đối với ngân hàng Đối với các doanh nghiệp hộ gia đình, hệ thống sổ sách không
theo quy chuẩn và được thiết lập theo cách riêng của mỗi doanh nghiệp Do vậy,
các ngân hàng thường tốn nhiều thời gian để kiểm chứng các thông tin đó từ các
nguồn khác như bạn hàng , các nhà cung cấp, khách hàng , cơ quan thuế, hải quan
và các đối tượng có liên quan khác về doanh nghiệp
Số lượng khách hàng là DNVVN mới lần đầu tiên được vay vốn trong những
năm vừa qua là rất ít Các ngân hàng đều có xu hướng cho vay những khách hàng
cũ, đã có quá trình hoạt động, rất ít khi cho doanh nghiệp mới thành lập, trong khi
phần lớn các DNVVN là các doanh nghiệp mới được vay lập sau năm 2000 và
chưa thể chứng tỏ năng lực tài chính đối với ngân hàng để vay vốn Do vậy họ
phải tự tìm kiếm vốn ở khu vực tài chính phi chính thức để khởi sự hoạt động sự
nghiệp kinh doanh của họ
Trình độ quản trị doanh nghiệp của nhiều chủ doanh nghiệp còn nhiều hạn
chế, như ta đã phân tích ở phần trước nhiều chủ doanh nghiệp không thể viết được
một đề án sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của các ngân hàng thương mại để được
chấp thuận vay vốn Doanh nghiệp có ý tưởng kinh doanh, song còn có một khoảng
cách khá xa giữa việc biến các ý tưởng đó thành một kế hoạch thực hiện cụ thể có
tính toán đến các yếu tố tài chính và kĩ thuật …Đây cũng là một trong những
nguyên nhân dẫn đến việc các ngân hàng từ chối cho doanh nghiệp vay
Trang 25Hiểu biết về ngân hàng và các thủ tục vay vốn của các DNVVN rất hạn chế
Hầu hết các chủ doanh nghiệp khi nói đến ngân hàng đều có cảm giác đó là một địa
chỉ hoàn toàn xa lạ, nằm ngoài tầm với của họ Họ không biết được các dịch vụ
ngân hàng Do vậy cung cấp thông tin về các định chế tài chính là rất cần thiết cho
các DNVVN
Thủ tục vay vốn còn quá phức tạp Nhiều doanh nghiệp cho biết rằng yêu
cầu về thủ tục giấy tờ , mặc dù đã được giảm nhẹ rất nhiều trong những năm vừa
qua, vẫn còn rất phức tạp đối với họ Nhiều doanh nghiệp cho biết họ không tự
mình hoàn thiện được tất cả các yêu cầu về thủ tục hồ sơ do ngân hàng đặt ra, đặc
biệt là phương án sản xuất kinh doanh Các doanh nghiệp còn thiếu tài sản thế
chấp để được vay vốn Mặc dù trong những năm vừa qua ngành ngân hàng và các
chương trình vay vốn đã nỗ lực thay thế những khuôn khổ luật pháp nhắm nới lỏng
những điều kiện về tài sản thế chấp, và các ngân hàng đã chú trọng nhiều hơn tới
tính khả thi của các dự án đầu tư hơn là tài sản thế chấp, nhưng đây vẫn là một
trong những trở ngại lớn nhất đối với khả năng tiếp cận vốn tín dụng của các doanh
nghiệp nhỏ Hầu hết các DNVVN đều không có tài sản để đảm bảo vốn vay hoặc
nếu có thì giấy tờ chứng minh quyền sở hữu lại không đầy đủ Các nỗ lực nhằm mở
rộng tài sản có thể được sử dụng làm tài sản thế chấp , nâng cao giá trị của tài sản
… thông qua các thay đổi về chính sách, quy định về đảm bảo tiền vay vẫn chưa
thể cải thiện một cách căn bản về vấn đề này
Mặt khác, một trong những chỉ tiêu quan trọng để giải quyết việc ngân hàng
có cho vay đối với doanh nghiệp hay không chính là khả năng tài chính của bản
thân doanh nghiệp đó Nếu doanh nghiệp ở trong tình trạng tài chính tốt (kinh
doanh có lãi hay lãi thực dương, đủ khả năng thanh toán các khoản nợ, không có nợ
xấu…) ngân hàng có thể dễ dàng chấp thuận cho doanh nghiệp vay Ngược lại ngân
hàng sẽ khó có thể chấp thuận việc xin vay của khách hàng có tình hình tài chính
xấu do do lo sợ gặp phải rủi ro
Trang 26Cuối cùng, các ngân hàng chỉ quyết định cho vay sau khi đã phân tích kĩ
khách hàng về các yếu tố liên quan như khả năng tài chính , tính khả thi của dự án
, năng lực kinh doanh … Tuy nhiên tính trung thực và trách nhiệm của khách hàng
sau khi khoản vay được giải ngân có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng của
khoản vay trung dài hạn Khách hàng có thể lợi dụng mối quan hệ với ngân hàng
để chiếm đoạt vốn vay, hoặc sử dụng vốn vay sai mụch đích Ngoài ra tình trạng
hoạt động của doanh nghiệp cũng tác động đến hiệu quả sử dụng khoản vay thể
hiện qua các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp và trình độ quản lí của ban lãnh
đạo
1.4.3 Những nhân tố khác
-Môi trường kinh tế
Sự phát triển của nền kinh tế có tác động đến công tác tín dụng do nhu cầu
tín dụng trong nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào sự tăng trưởng kinh tế Một nền
kinh tế đang trên đà phát triển , môi trường kinh doanh thuận lợi , nhu cầu tiêu
dùng của dân cư tăng lên là cơ hội tốt cho doanh nghiệp đầu tư mở rông sản xuất
do đó nhu cầu tín dụng cũng tăng lên tương ứng Ngược lại trong giai đoạn kinh tế
trì trệ giảm phát, thất nghiệp cao, đầu tư không mang lại hiệu quả, hầu như các hoạt
động sản xuất đều bị thu hẹp , nhu cầu vốn cho đầu tư giảm mạnh thì tất nhiên ngân
hàng không thể mở rộng hoạt động cho vay của mình
Bên cạnh đó , trong cơ chế thị trường , doanh nghiệp luôn phải đương đầu
với các đối thủ cạnh tranh về cả sản phẩm cùng loại và khác loại , đối với với các
DNVVN có công nghệ lạc hậu , sản phẩm chưa đạt tiêu chuẩn về chất lượng sản
phẩm , mẫu mã, kinh nghiệm quản lí yếu kém có thể dễ dàng bị đẩy ra khỏi thị
trường Điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến việc cho vay của ngân hàng do lo
sợ về nguy cơ phá sản
-Môi trường pháp lí
Trang 27Các yếu tố pháp lí trong nền kinh tế thị trường là điều kiện đảm bảo cho
hoạt động sản xuất kinh doanh Nếu môi trường pháp lí chưa hoàn hảo và thiếu
đồng bộ thì sẽ kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp Do đó , nó tác động trở
lại tới việc cho vay của ngân hàng đối với các doanh nghiệp này
Hiện nay , qui chế pháp lí của Việt Nam còn nhiều bất cập như quy chế về
tín dụng hay một số điều luật gây ra sự bất bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước
với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh , gây cho ngân hàng nhiều khó khăn cho
vay các đối tượng là các DNVVN
Trang 28
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI CÁC DNVVN TẠI
NHCTHK
2.1 SƠ LƯỢC VỀ NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HOÀN KIẾM
2.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng Công thương Hoàn kiếm (NHCTHK) là một chi nhánh của
NHCTVN, có trụ sở chính đặt tại 37 Hàng Bồ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Trước
tháng 3/1988, NHCTHK thuộc về NHCT thành phố Hà Nội thực hiện nhiệm vụ
chính được giao là vừa kinh doanh tiền tệ, tín dụng và thanh toán, đồng thời vừa
đảm bảo nhu cầu về vốn cho các đơn vị ngoài quốc doanh và các tập thể trên địa
bàn quận Hoàn kiếm Nhưng kể từ sau khi chỉ thị số 218/CT ban hành ngày
13/7/1987 của HĐBT, thực hiện Điều lệ của NHCTVN, ngày 26/3/1988, NHCTHK
chính thức tách ra khỏi NHCT thành phố Hà nội để trở thành NHCTHK như ngày
nay
Không giống như các chi nhánh, thoạt tiên chi nhánh NHCTHK được
hình thành trên cơ sở là quỹ tiết kiệm Như vậy là xuất phát điểm của chi nhánh là
tương đối thấp Điều này ban đầu cũng là một khó khăn không nhỏ đối với chi
nhánh
Do NHCTHK là một chi nhánh của NHCTVN nên bên cạnh việc thực
hiện đầy đủ các chức năng của một chi nhánh thì ngoài ra NHCTHK còn thực hiện
các hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ như một NHTM
NHCTHK là một đơn vị hạch toán độc lập nhưng tương đối phụ thuộc
vào NHCTVN, có quyền tự chủ kinh doanh, có con dấu riêng và được mở tài khoản
Trang 29giao dịch tại NHNN cũng như các tổ chức tín dụng khác trong cả nước Kể từ khi
thành lập cho đến nay, NHCTHK đã và đang hoạt động kinh doanh trên cơ sở tự
kinh doanh, tự bù đắp và có lãi
Trải qua quá trình hoạt động trên 10 năm, NHCTHK đã hoà nhập vào
hoạt động chung của cả hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế thị trường Hơn nữa,
NHCTHK không những chỉ đứng vững trong cạnh tranh mà còn không ngừng mở
rộng và phát triển với hiệu quả ngày càng cao
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của ngân hàng công thương hoàn kiếm
Hiện nay, NHCTHK có hơn 200 cán bộ trên tổng số 1,2 vạn cán bộ của toàn
bộ hệ thống NHCT Trong đó có 40,8% có trình độ đại học và trên đại học, còn lại
đã được đào tạo qua hệ cao đẳng, trung học chuyên ngành Ngân hàng NHCTHK
có 12 phòng, hoạt động theo chức năng riêng đã được phân công theo sự chỉ đạo
điều hành của ban giám đốc
Trong ban giám đốc của NHCTHK có 1 giám đốc và 2 phó giám đốc Giám
đốc là tiến sỹ Hà Huy Hùng
Hai phó giám đốc là Phạm Thị Mai và Lê Tuyết Mai
Trang 30Sơ đồ cơ cấu tổ chức:
2.1.3 Tình hình hoạt động của NHCTHK trong thời gian qua
Phòng tiền tệ kho quỹ
Phòng tổng hợp tiếp thị
Phòng
kế toán
t i chính
Phòng kiểm tra nội
h ng
số 2
Phòng khách
h ng
cá nhân
Phòng
t i trợ thương mại
Phòng
kế toán giao dịch
Phòng giao dịch Đồng Xuân
Trang 312.1.3.1 Hoạt động huy động vốn:
Năm 2003 công tác huy động vốn gặp nhiều khó khăn với sự cạnh tranh
mạnh mẽ của các Ngân hàng thương mại trên địa bàn về điểm giao dịch lẫn lãi suất
huy động vốn và các hình thức khuếch trương, khuyến mại Sự biến động bất ổn
của lãi suất và những khó khăn trên đã đặt công tác huy dộng vốn của chi nhánh
đứng trước nhiều thách thức lớn Tuy nhiên, chi nhánh đã cố gắng duy trì, phát
triển nguồn tiền gửi của khách hàng truyền thống, tăng cường mở rộng mạng lưới,
lập thêm Quỹ tiết kiệm tại các khu vực có tiềm năng ( khai trương điểm giao dịch
tại khu công nghiệp sài đồng B, mở thêm Quỹ tiết kiệm số 2 tại 22 Lê thái Tổ)
Nhờ vậy, nguồn vốn huy động của Chi nhánh không ngừng tăng lên, cơ cấu nguồn
vốn được cải thiện theo hướng tích cực
Đến 31/12/2003, tổng nguồn vốn huy động đạt 4.986 tỷ đồng, tăng 6%
so với năm trước Trong đó:
- Nguồn vốn tiền VND đạt 4.723 tỷ đồng, chiếm 95%, nguồn vốn ngoại tệ
đạt 263 tỷ đồng, chiếm 5% nguồn vốn
- Nguồn vốn tiền gửi dân cư đạt 774 tỷ đồng chiếm 15,5% nguồn vốn tiền
gửi của các TCKT đạt 4.212 tỷ đồng chiếm 84,5% tổng nguồn vốn
- Nguồn tiền gửi không kỳ hạn đạt 633 tỷ đồng chiếm 13%, có kỳ hạn đạt
4.353 tỷ đồng chiếm 87% tổng nguồn vốn
2.1.3.2 Hoạt động tín dụng
Tiếp tục quán tiệt phương châm "Phát triển, an toàn, hiệu quả", thực
hiện nghiêm túc chỉ đạo của NHCTVN về việc kiềm chế tăng trưởng tín dụng
nóng, dư nợ tín dụng được chủ động tăng trưởng một cách hợp lý đi đôi với việc
cải thiện nâng cao chất lượng; thực hiện rà soát, sàng lọc lựa chọn khách hàng làm
ăn có hiệu quả, tình hình tài chính lành mạnh, có tín nhiệm với ngân hàng, nâng cao
điều kiện tín dụng, yêu cầu DNNN dùng tài sản cố định làm bảo đảm tiền vay; rút
dần dư nợ, chấm dứt quan hệ với khách hàng có tình hình tài chính yếu kém, sản
xuất kinh doanh thua lỗ, có nợ quá hạn , vốn chủ sở thấp, các khoản vay có độ an
Trang 32toàn thấp, chuyển hướng đầu tư vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho vay tiêu
dùng nhằm phân tán rủi ro Nhờ đó dư nợ tín dụng của chi nhánh tăng trưởng trong
khả năng có thể kiểm soát, cơ cấu dư nợ đã từng bước chuyển đổi theo hướng tăng
dần tỷ trọng cho vay kinh tế tư nhân, cho vay tiêu dùng, cho vay thêm những dự án
mới có tính khả thi cao như dự án của công ty TNHH Việt Nhật, công ty thép Việt
Tiến, công ty Cửu Long
Đến 31/12/2003, tổng dư nợ đầu tư và cho vay đạt 900 tỷ đồng, tăng 2%
so với cùng kỳ năm trước Trong đó:
- Dư nợ ngắn hạn 35%, trung dài hạn 65% tổng dư nợ
- Dư nợ đối với DNNN chiếm 69%, ngoài quốc doanh chiếm 31% tổng dư
nợ
Trong năm không để phát sinh nợ quá hạn mới khó đòi, hầu hết các
khoản nợ đều có khả năng thu hồi
Công tác thu hồi nợ đọng tiếp tục được chú trọng nhằm lành mạnh
hoá dư nợ, nâng cao hiệu quả kinh doanh Mặc dù các khoản nợ tồn đọng và tài sản
còn lại rất khó xử lý, các con nợ chây ỳ, nhưng với biện pháp xử lý nợ kiên quyết,
công khai, minh bạch, trong năm 2003, chi nhánh đã xử lý dứt điểm 16 khoản nợ
tồn đọng, thu hồi được 3.903 tỷ đồng nợ khó đòi, trong đó xử lý bán tài sản thu
được 2.243 triệu đồng, đưa tỷ lệ nợ quá hạn / dư nợ cho vay xuống còn 0.8%, góp
phần nâng cao chất lượng tín dụng và tăng thu nhập cho chi nhánh
2.1.3.3 Hoạt động dịch vụ
Nền kinh tế thị trường càng phát triển thì hoạt động dịch vụ càng được
chú trọng mở rộng và chiếm tỷ lệ cao trong thu nhập của ngân hàng Kinh nghiệm
cho thấy phát triển dịch vụ vừa mang lại thu nhập an toàn, vừa là biện pháp hữu
hiệu mang để hỗ trợ cho các sản phẩm chính, quảng bá cho ngân hàng, thu hút
khách hàng Nhận thức được điều đó, trong thời gian qua, chi nhánh đã luôn chú
trọng mở rộng nhằm nâng cao các dịch vụ nhằm mang lại tiện ích lớn nhất cho
Trang 33khách hàng Nhờ vậy, thu nhập từ dịch vụ ngày càng tăng, năm 2003 đạt hơn 3,5 tỷ
đồng, chiếm 21 % thu nhập hạch toán nội bộ
-Hoạt động thanh toán quốc tế và tài trợ thương mại
Trong năm 2003, doanh số thanh toán xuất nhập khẩu và tài trợ thương
mại đạt 66,5 triệu USD (trong đó thanh toán hàng nhập 54,8 triệu USD và thanh
toán xuất khẩu11,4 triệu USD) Doanh số mua bán ngoại tệ đạt 80 triệu USD
Đặc biệt, nhận thức rõ ưu thế của vị trí kinh doanh nằm trên địa bàn
trung tâm thương mại, du lịch Hà Nội, Chi nhánh đã mạnh dạn đưa các dịch vụ đối
ngoại như thu đổi ngoại tệ , thanh toán thẻ, séc du lịch…tại các quĩ tiết kiệm và
bước đầu thu được kết quả khả quan, đồng thời nâng cao trình độ cho đội ngũ cán
bộ của Chi nhánh trước thềm hội nhập Trong năm doanh số thanh toán thẻ, séc du
lịch chuyển trả kiều hối lên đến 1,6 triệu USD
-Thanh toán trong nước và chuyển tiền
Doanh số thanh toán đạt 24,283 tỷ đồng, tăng 27% so với năm 2002
Trong năm đã mở được thêm hơn 250 tài khoản mới, thực hiện 32.860 món
chuyển tiền và thanh toán điện tử Trong tháng 11/2003 đã hoàn thành chuyển đổi
hệ thống quản lý trên máy, hạch toán chính xác, xử lý giao dịch kịp thời, góp phần
quan trọng đưa INCAS vào hoạt động Nhiều dịch vụ hiện đại được đưa vào ứng
dụng như dịch vụ chuyển tiền nhanh, chi trả lương qua thẻ ATM, đảm bảo an toàn
mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng
-Hoạt động tiền tệ kho quỹ
Công tác Ngân quỹ bảo đảm việc thu chi tiền mặt nhanh chóng chính
xác, hiệu quả Nhân viên kiểm ngân luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trung thực,
liêm khiết và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Trong năm, bộ phận kiểm ngân
đã phát hiện và thu giữ hơn 16 triệu đồng tiền giả, trả lại tiền thừa cho khách hàng
với 113 món tổng số tiền 207 triệu đồng và 1200 USD Việc làm này đã làm khách
Trang 34hàng rất yên tâm, hài lòng và Chi nhánh trở thành "điểm tin cậy" cho các doanh
nghiệp
- Công tác thông tin, điện toán
Chi nhánh đã quan tâm đúng mức đến việc nâng cao chất lượng trang
thiết bị và trình độ cán bộ điện toán Nhờ vậy, mạng thông tin điện toán tại Chi
nhánh luôn đáp ứng nhanh, hiệu quả yêu cầu công việc, góp phần quan trọng đưa
chương trình hiện đại hoá INCAS của NHCT đi vào cuộc sống Đồng thời, Chi
nhánh cũng mạnh dạn ứng dụng công nghệ thông tin vào các sản phẩm dịch vụ
ngân hàng, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng dịch vụ, rút ngắn thời gian
giao dịch và thời gian xử lý chứng từ
- Các hoạt động khác
Công tác kiểm tra nội bộ được thực hiện thường xuyên, liên tục, theo
dõi định kỳ hoặc đột xuất, nhằm phát hiện, chấn chỉnh kịp thời những thiếu sót
trong tất cả các nghiệp vụ Cán bộ phòng kiểm tra đã cố gắng làm việc rất tích cực
bằng khả năng của mình để hoàn thành nhiệm vụ Đặc biệt trong năm vừa qua,
phòng kiểm tra đã tiến hành kiểm tra 100% hồ sơ khách hàng vay vốn, kiểm tra
nghiệp vụ kế toán, tiết kiệm và kiểm tra tình hình chi tiêu nội bộ Công tác kiểm tra
góp phần đưa các hoạt động thực hiện đúng chế độ an toàn
Công tác tổ chức nhân sự, tiền lương đã đi trước một bước trong việc
bố trí sắp xếp cán bộ hợp lý, phân công, phân nhiệm theo đúng qui định của ngành,
phân chia công bằng, lợi ích…tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động kinh doanh
phát triển có hiệu quả Trong năm chi nhánh đã thực hiện tốt việc cơ cấu lại bộ máy
tổ chức hoạt động kinh doanh theo mô hình mới, các phòng ban được chia tách đã
nhanh chóng ổn định và đi vào hoạt động bình thường Công tác bổ nhiệm cán bộ
thực hiện đúng qui định, tạo niềm tin đối với cán bộ công nhân viên
Công tác hạch toán thu chi nội bộ được thực hiện kịp thời, chính xác
,đúng qui chế tài chính Qua các đợt kiểm tra của NHCTVN, NHNN, Chi cục Thuế
Trang 35Hà Nội, Chi nhánh luôn luôn được đánh giá là đơn vị chấp hành tốt chế độ hạch
toán kế toán của Nhà nước
Công tác đào tạo được đặc biệt chú trọng để chuẩn bị nguồn lực cho
việc triển khai thành công dự án hiện đại hoá và hội nhập kinh tế Trong năm, đã có
11 cán bộ được đào tạo sau đại học, 240 lượt cán bộ được tham gia vào các khoá
đào tạo chuyên môn, vi tính, ngoại ngữ và kĩ năng nghiệp vụ như nhận biết ngoại
tệ, séc, thẻ du lịch…100% cán bộ được phổ cập chương trình tin học cơ bản Bên
cạnh đó, chi nhánh khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi để cán bộ công
nhân viên tự học tập, trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ
Thực hiện chương trình hiện đại hoá: Là một trong số ít những Chi
nhánh được NHCT Việt Nam lựa chọn thực hiện thí điểm dự án hiện đại hoá
CBCNV chi nhánh đã không quả ngày đêm, vượt qua gian khổ, Akhó khăn để hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ, vừa đảm bảo tiến độ của dự án mà không làm ảnh hưởng
đến khách hàng, đảm bảo an toàn cao trong quá trình chuyển đổi hệ thống
Tổ chức nghiên cứu khoa học : Trong năm tổ chức cứu và triển khai 3
đề tài nghiên cứu cấp sở bước đầu mang lại hiệu quả thiết thực và tạo điều kiện để
mở rộng nghiên cứu các đề tài mới phát huy được năng lực , khả năng sáng tạo của
đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn sâu
Các hoạt động đoàn thể, các phong trào thi đua cũng được chú trọng
như phong trào thi đua lập thành tích 15 năm ngày thành lập NHTCVN , chào
mừng đại hội công đoàn toàn quốc lần thứ IX … và đã đạt nhiều thành tích cao
như: 3 giải nhất trong kỳ thi nghiệp vụ cán bộ giỏi, giải nhất toàn đoàn hội diễn
văn nghệ ngân hàng công thương khu vực Hà Nội, giải nhì giải bóng đá NHNN
thành phố hà nội, giải nhất đội nam, giải ba đội nữ, giải ba đơn nam, đơn nữ giải
Tennis khu vực Hà nội Công đoàn, Đoàn thanh niên đã tổ chức các cuộc giao lưu
học hỏi với các ngân hàng bạn, với hách hàng làm phong phú đời sống tinh thần
của CBNV và củng cố thêm niềm tin, mối quan hệ tối đẹp với bạn hàng
Trang 36-Kết quả tài chính: năm 2003 lợi nhuận hoạch toán nội bộ đạt 16,4 tỷ đồng,
vượt kế hoạch NHCTVN giao 15 tỷ đồng Nếu không phải dự phòng rủi ro 31 tỷ
đồng lợi nhuận hoạch toán của chi nhánh sẽ đạt 47,4 tỷ đồng, tăng 12% so với năm
trước
2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DNVVN TẠI
NHCTHK
Trong thời gian qua , cùng với sự phát triển của tín dụng nói chung thì
NHCTHK cũng đã chú trọng đến việc cho vay các DNVVN
Đặc biệt trong quá trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng , thì NHCTHK cũng
đã chia phòng kinh doanh thành hai phòng là phòng khách hàng số 1 chuyên cấp tín
dụng cho các doanh nghiệp lớn và phòng khách hàng số 2 chuyên cấp tín dụng cho
các DNVVN Điều này cho thấy ngân hàng đã quan tâm hơn đến đối tượng khách
hàng là các DNVVN Sau đây là những kết quả đáng chú ý về hoạt động tín dụng
dối với các DNVVN mà ngân hàng đã làm được trong thời gian qua
2.2.1Quy mô cho vay đối với DNVVN của NHCTHK
Bảng 1 :Dư nợ cho vay của NHCTHK từ 2001đến 2003
Đơn vị :Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
Số tiền Tỉ trọng Số tiền Tỉ trọng Số tiền Tỉ trọng