1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng công thương Hoàn Kiếm

73 344 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp nhằm mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm
Trường học Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 794,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng công thương Hoàn Kiếm

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Hiện nay, hệ thống các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta đang ngày càng

chiếm vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế và sự nghiệp công nghiệp hoá hiện

đại hoá đất nước Với đặc điểm chung là không đòi hỏi nhiều vốn đầu tư, linh hoạt,

thích ứng nhanh với môi trường kinh doanh đầy biến động, bộ máy tổ chức gọn

nhẹ, cùng với sự quan tâm của Đảng và Nhà Nước, trong thời gian qua, loại hình

doanh nghiệp này ngày càng phát triển, thể hiện vai trò to lớn trong nền kinh tế xã

hội Đại hội Đảng lần thứ VIII đã chỉ rõ: “Ưu tiên quy mô vừa và nhỏ, công nghệ

tiên tiến, tạo nhiều việc làm , thu hồi vốn nhanh”

Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, các DNVVN đang phải đối mặt với

nhiều khó khăn, mà điển hình là khó khăn thiếu vốn Khả năng tiếp cận các nguồn

vốn rất hạn chế, đặc biệt là tiếp cận vốn ngân hàng Hầu hết các DNVVN đều có

nhu cầu đươc vay vốn ngân hàng để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, chứng tỏ

đây là một thị trường đầy tiềm năng nhưng lại chưa được các ngân hàng chú ý

Trong thời gian qua, các ngân hàng thương mại (trong đó có Ngân hàng

Công thương Hoàn Kiếm) hầu như chỉ tập trung đến các khách hàng lớn là các

doanh nghiệp nhà nước với quy mô lớn, các Tổng công ty 90, 91 với những món

vay có giá trị lớn mà chưa chú trọng đến đối tượng là các DNVVN Trong khi đó

nguồn vốn huy động của NHCTKH là rất dồi dào, đủ khả năng cung cấp cho mọi

nhu cầu, mọi đối tượng của nền kinh tế Vì vậy để nâng cao khả năng cạnh tranh,

chiếm lĩnh thị trường tín dụng đối với DNVVN thì ngân hàng cần đề ra biện pháp

nhằm thu hút những khách hàng này

Trong thời gian thực tập tại NHCTHK em có tìm hiểu mối quan hệ tín dụng

của ngân hàng với các DNVVN và nhận thấy sự cấp thiết của vấn đề , nên em đã

chọn đề tài : “Giải pháp nhằm mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và

nhỏ tại Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm” cho chuyên đề tốt nghiệp với

Trang 2

mong muốn đóng góp một số ý kiến giúp ngân hàng mở rộng thị trường cho vay

sang khu vực các DNVVN, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế

Ngoài mở đầu và kết luận, bài viết gồm ba chương:

Chương 1 : Hoạt động cho vay của ngân hàng đối với DNVVN

Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay đối với DNVVN tại NHCTHK

Chương 3: Giải pháp nhằm mở rộng cho vay đối với DNVVN tại

NHCTHK

Do phạm vi đề tài rộng , thời gian thực tập có hạn , nhất là trình độ lí luận và

sự hiểu biết thực tế không nhiều nên bài viết của em không tránh khỏi những thiếu

sót Em rất mong nhận được sự quan tâm góp ý của các thầy cô giáo và các cán bộ

ngân hàng

Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo cùng các anh chị cán bộ phòng khách

hàng số 2 tại NHCTHK đã hướng dẫn , giúp đỡ, tạo điều kiện cho em hoàn thành

chuyên đề này

Trang 3

Một nền kinh tế vững mạnh thì nhất thiết phải có những doanh nghiệp lớn

mang tầm vóc quốc gia và quốc tế Nhưng như vậy thì chưa đủ, các doanh nghiệp

lớn không thể tồn tại một mình và vươn tới mọi thị trường để đáp ứng nhu cầu ngày

càng phong phú đa dạng của con người một cách hiệu quả Quy luật lợi nhuận và

yêu cầu hiệu quả kinh tế làm xuất hiện và tồn tại đồng thời trong quan hệ chặt chẽ

với nhau giữa các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp vừa và nhỏ như những lực

lượng bổ sung, hỗ trợ cho nhau cùng phát triển

Thực tế đã chứng minh vai trò quan trọng không thể thiếu được của các

DNVVN trong nền kinh tế Ngay cả ở những nước phát triển cao với những tập

đoàn kinh tế khổng lồ như Mĩ, Nhật Bản thì DNVVN vẫn được coi trọng trong một

hệ thống luật lệ nhất quán và khuyến khích phát triển DNVVN vẫn được coi là

nguồn lực quan trọng đảm bảo sức sống cho nền kinh tế, là bộ phận hợp thành quan

trọng của cơ cấu quy mô nhiều tầng của các doanh nghiệp

Ở Việt Nam, với xuất phát điểm thấp nền kinh tế đang trong quá trình

CNH-HĐH thì việc phát triển DNVVN là rất phù hợp Bởi đối với những nước đang phát

triển như Việt Nam thì ngoài vai trò là bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc

dân, tạo ra công ăn việc làm, góp phần tăng trưởng kinh tế, các DNVVN còn có vai

trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tiến hành CNH-HĐH đất

nước, xoá đói giảm nghèo, giải quyết những vấn đề xã hội

Nhận thức được điều này nên Nghị định 90 của Chính phủ ngày 23/11/1990

đã khẳng định: “Phát triển DNVVN là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát

triển kinh tế xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước” Đồng thời

Trang 4

trong cuộc gặp gỡ các doanh nghiệp ngày 14/9/2001 tại Hà Nội Thủ tướng Phan

Văn Khải đã nhấn mạnh: “Cần thấy rằng, DNVVN là loại hình rất phù hợp để phát

huy mọi tiềm năng kinh tế, kể cả các nước phát triển Đối với nước ta việc phát

triển DNVVN lại càng phù hợp với bước đầu thực hiện công nghiệp hoá hiện đại

hoá Vì vậy, phải quan tâm, tạo điều kiện cho DNVVN phát triển “

Trước hết chúng ta cần tìm hiểu về khái niệm , đặc điểm cũng như vai trò

của DNVVN

1.1.1.Khái niệm

Từ trước tới nay, có khá nhiều ý kiến bàn luận về khái niệm DNVVN

DNNNV nếu hiểu theo nghĩa thông thường là những cơ sở sản xuất kinh doanh

tương đối nhỏ với quy mô không lớn lắm Tuy nhiên, để có thể nói chính xác thế

nào là quy mô không lớn lắm thì có nhiều ý kiến khác nhau Vì thế, quan niệm và

tiêu chí đánh giá doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ chỉ mang tính tương đối và cần

phải tiếp tục nghiên cứu Không có một sự phân loại chung nào được thống nhất

trên bình diện quốc tế về những gì cấu thành nên một doanh nghiêp “vừa” và

“nhỏ” Các khái niệm và việc phân loại thay đổi từ nước này qua nước khác, thậm

chí thay đổi trong cùng một nước qua các thời kỳ khác nhau

Hiện nay có nhiều tiêu thức khác nhau để phân biệt DNVVN như số lao

động thường xuyên, vốn sản xuất, doanh thu, lợi nhuận, giá trị gia tăng Trong đó

có hai tiêu thức được sử dụng thông dụng và phổ biến là quy mô vốn và số lao

động Ở Việt Nam cũng phân loại doanh nghiệp chủ yếu theo hai tiêu thức là lao

động thường xuyên và vốn sản xuất

Ngày 20/6/1998, Thủ tướng chính phủ đã ban hành công văn số

681/CP-KNT về quy định tiêu chí xác định DNVVN: Đó là doanh nghiệp có vốn điều lệ

dưới 5 tỷ đồng và số lao động bình quân năm dưới 200 người

Ngày 23/11/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về

trợ giúp DNVVN Trong đó đã nêu rõ: “DNVVN là những cơ sở sản xuất độc lập,

đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng kí không quá 10 tỷ

Trang 5

hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 ngưòi” Căn cứ vào tình hình

kinh tế xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện

pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn

và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu trên “

Theo quy định trong nghị định 90/CP thì các DNVVN bao gồm:

- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo luật doanh nghiệp: Công ty

cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh

nghiệp tư nhân

- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước:

các doanh nghiệp nhà nước

- Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo luật hợp tác xã

- Các hộ kinh doanh cá thể đăng kí theo nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày

03/2/2000 của chính phủ về đăng kí kinh doanh

1.1.2 Đặc điểm của DNVVN

1.1.2.1 Những điểm mạnh

- Năng động, linh hoạt, tự do, sáng tạo trong kinh doanh:

Nhờ quy mô vừa nhỏ, mô hình tổ chức quản lí sản xuất giản đơn nên những

doanh nghiệp này rất năng động, linh hoạt, dễ chuyển hướng sản xuất kinh doanh,

đi vào những ngành nghề khác khi cảm thấy lĩnh vực đó có lợi hơn

Các DNVVN cũng dễ dàng và nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghệ, thích

ứng với cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại Một lợi thế đáng kể nữa là

DNVVN khi chuyển địa điểm sản xuất không gặp nhiều khó khăn như doanh

nghiệp lớn Trong khi đó các DNVVN lại có thể nắm bắt được cả những yêu cầu

nhỏ lẻ mang tính khu vực và địa phương Điều này càng làm cho DNVVN khai

thác hết năng lực của mình, đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất

- Có thể nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghệ, thích ứng với cuộc cách

mạng khoa học công nghệ hiện đại

Trang 6

Khác với các doanh nghiệp lớn, DNVVN với yêu cầu vốn bổ sung không

nhiều và giảm được thiệt hại trong thay đổi vốn cố định khi có sự cạnh tranh phải

chuyển sang kinh doanh ngành khác nên DNVVN dễ dàng và nhanh chóng trong

việc đổi mới thiết bị công nghệ khi cần thiét

Trước khi bước vào hoạt động sản xuất kinh doanh, các DNVVN chỉ cần

một lượng vốn đầu tư ban đầu ít, hiệu quả cao mà lại thu hồi vốn nhanh Chính vì

vậy mà nó hấp dẫn nhiều cá nhân, tổ chức ở mọi thành phần kinh tế đầu tư vào khu

vực này

Hệ thống tổ chức sản xuất và quản lí ở các DNVVN gọn nhẹ, linh hoạt ,

công tác điều hành mang tính trực tiếp Bộ máy tổ chức của các DNVVN thường

đơn giản gọn nhẹ Các quyết định được thực hiện nhanh, công tác kiểm tra giám sát

được thực hiện khá chặt chẽ, không phải qua nhiều khâu trung gian, vì thế mà tiết

kiệm được chi phí quản lí doanh nghiệp

1.1.2.2 Những bất lợi

- Nguồn tài chính hạn chế

Đây là nhược điểm lớn nhất, dễ thấy nhất và đáng quan tâm nhất của các

DNVVN Trong khi các doanh nghiệp lớn có thể nhận được nhiều các nguồn tài

chính khác nhau từ ngân sách nhà nước cấp, từ viện trợ, vốn tín dụng thương mại,

tín dụng ngân hàng thì các DNVVN lại gặp nhiều khó khăn trong vấn đề này Bởi

lẽ, hơn 90% các DNVVN ở nước ta là thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc

doanh nên vốn tự có không thể do ngân sách nhà nước cấp được Hầu hết nguồn

vốn ban đầu của DNVVN đều là vốn tự có của chủ doanh nghiệp hay của người

thân, bạn bè của họ Vốn huy động từ bên ngoài như từ các tổ chức tín dụng là rất

hạn chế Phần lớn các ngân hàng thương mại cũng như các tổ chức tài chính khác

thường e ngại không muốn cho DNVVN vay vốn bởi họ chưa có quá trình kinh

doanh uy tín và chưa tạo lập được khả năng trả nợ Bởi vậy, quy mô vốn đầu tư của

các doanh nghiệp này nhỏ bé, hạn chế cũng là điều dễ hiểu

- Trình độ quản lí yếu kém, tay nghề lao động chưa cao

Trang 7

Tại các DNVVN, các DNVVN, cán bộ quản lí hay chủ doanh nghiệp đều

trưởng thành từ thực tế và kinh nghiệm từ bạn bè, chỉ có một tỷ lệ nhỏ được đào tạo

qua các trường lớp chính quy về quản trị doanh nghiệp quản lí kinh tế Họ thành

lập doanh nghiệp chủ yếu do kinh nghiệm trong lĩnh vực hoạt động hay do có sẵn

mối quan hệ với các kênh cung ứng với thị trường… Có thể thấy các chủ doanh

nghiệp này thường yếu về trình độ quản lí điều hành doanh nghiệp theo thói quen,

chủ nghĩa gia đình…, kỹ năng chuyên môn và quản lí theo định hướng thị trường

hiện đại còn thiếu

Người lao động trong DNVVN có tay nghề kém, ít qua trường lớp đào tạo,

chủ yếu do được truyền nghề, cha truyền con nối… Bình quân số lao động phổ

thông, trình độ tay nghề giản đơn, chưa được đào tạo chiếm khoảng 60-70% Hầu

hết người lao động trong các DNVVN là người lao động ở vùng quê nông thôn ít

có cơ hội học tập, còn những nguời lao động có trình độ, có tay nghề, được đào tạo

từ những trường lớp cao đẳng, đại học, trưòng dạy nghề ra thưòng chỉ làm việc

trong một thời gian ngắn để lấy kinh nghiệm rồi sau đó bỏ việc để tìm một vị trí tốt

hơn ở doanh nghiệp lớn khác

- Cơ sở vật chất kĩ thuật, trình độ thiết bị công nghệ thường yếu kém lạc hậu

Do nguồn vốn nhỏ bé, thông thường các DNVVN chỉ sử dụng những công

nghệ trung bình, đơn giản nên năng suất lao động thấp làm giảm khả năng cạnh

tranh của doanh nghiệp Rất ít DNVVN được trang bị công nghệ hiện đại trừ khi

liên doanh với nước ngoài Hơn nữa, các DNVVN rất khó có thể vay được một

khoản tín dụng trung dài hạn cần thiết để nâng cấp công nghệ Trong những năm

qua, do sức ép của thị trường và những tác động của cơ chế quản lí kinh tế, các

DNVVN đã có sự đổi mới công nghệ ở mức độ nhất định Song nhìn chung, thiết

bị công nghệ của các DNVVN hiện vẫn còn lạc hậu và ở trình độ thấp, hiệu quả

chưa cao, đang gặp nhiều khó khăn đối với việc nâng cao năng suất, chất lượng sản

phẩm

Trang 8

- Khả năng tiếp cận thông tin và tiếp thị của các DNVVN bị hạn chế rất

nhiều

- Thị trường của DNVVN thường nhỏ bé và không ổn định, lại phải chia sẻ

với nhiều doanh nghiệp khác

Trong những khó khăn trên, nguồn tài chính hạn hẹp là đặc điểm lớn nhất và

là nguyên nhân chính dẫn đến các bất lợi khác của DNVVN Và thực lực kinh tế

yếu nên khả năng vay vốn lại càng khó khăn Bên cạnh đó môi trường thể chế,

chính sách kinh tế còn nhiều bất cập , không tạo điều kiện bảo vệ và bảo đảm cho

sự phát triển của khu vực này, trong đó cơ chế chính sách về tín dụng ngân hàng ,

kể cả những vấn đề cụ thể về nghiệp vụ ngân hàng còn đang cản trở việc vay vốn

của các DNVVN Do vậy, các DNVVN còn đang gặp nhiều khó khăn và chưa được

hỗ trợ nhiều từ phía nhà nước như những doanh nghiệp khác

1.1.3 Vai trò

DNVVN đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc dân với nhiều hình thức

đa dạng phong phú hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế Cùng với những

lợi thế là không đòi hỏi nhiều vốn đầu tư, quản lí dơn giản , dễ thay đổi linh hoạt

theo thị trường, các DNVVN đã và đang phát huy những mặt tích cực và khẳng

định được vị thế của mình trong nền kinh tế Vai trò to lớn của DNVVN thể hiện ở

các mặt sau:

- DNVVN góp phần tạo ra việc làm cho người lao động

Đây là một ưu điểm của DNVVN và là một trong những nguyên nhân chính

khiến Đảng và Nhà nước phải đặc biệt quan tâm đến việc phát triển DNVVN ở

nước ta hiện nay Các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển có số

lượng lớn các DNVVN, loại hình doanh nghiệp này giải quyết việc làm cho khoảng

70% lực lượng lao động

Ở nước ta, việc làm vẫn đang là vấn đề cấp bách cần giải quyết Mặc dù

chính phủ và địa phương đã có những cố gắng trong việc giảm dân số cũng như tạo

Trang 9

việc làm nhưng nhu cầu về việc làm vẫn tăng lên khoảng 3 triệu người mỗi năm

Họ có thể là những người mới gia nhập vào lực lượng lao động cũng có thể là

những người lao động dư ra từ quá trình sắp xếp cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà

nước hay người lao động từ nước ngoài trở về Số lượng này vẫn ngày một tăng lên

trong khi đó khả năng thu hút lao động mới vào các doanh nghiệp mới rất hạn chế

Vì vậy, một việc làm tại các DNVVN sẽ là một giải pháp tốt cho người lao động

- DNVVN có thể tận dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả Đó là các

nguồn lực: nguồn vốn, nguồn nhân lực, nguồn nguyên vật liệu

Vốn là một nhân tố cơ bản trong quá trình sản xuất và có vai trò quan trọng

đối với sự phát triển của doanh nghiệp cũng như nền kinh tế Dường như khi nền

kinh tế đang thiếu vốn thì nguồn vốn nhàn rỗi trong dân còn rất nhiều Sự ra đời và

phát triển của DNVVN với nhiều loại hình như DNNN, công ty tư nhân , công ty

cổ phần, công ty TNHH, …đã khơi dậy được rất nhiều khoản vốn đang nằm phân

tán trong dân cư Do quy mô vừa và nhỏ, dễ đi sâu vào các vùng, miền, hơn nữa

yêu cầu về số lượng vốn ban đầu không nhiều nên các DNVVN tỏ ra rất hiệu quả

trong việc thu hút các nguồn vốn nhỏ lẻ , nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư Tuy

lượng vốn thu hút vào mỗi doanh nghiệp ít nhưng do số lượng DNVVN khá lớn

nên tổng lượng vốn thu hút vào kinh doanh ngày càng tăng , góp phần tăng cường

đầu tư phát triển kinh tế , xã hội

Về nguồn nhân lực và nguyên vật liệu cũng là những yếu tố cơ bản của một

doanh nghiệp Các DNVVN có thể huy động các nguồn nhân lực nguyên nhiên vật

liệu ngay tại từng địa phương đưa vào sản xuất, phát triển kinh tế vùng, khai thác

hợp lí có hiệu quả những nguồn lực sẵn có tại chỗ

-Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta, đặc biệt là khu vực nông

thôn.

Sự phát triển của các DNVVN đã thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ

cấu kinh tế ở nước ta, đặc biệt với khu vực nông thôn Sự phát triển của các

DNVVN ở nông thôn đã thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ,

Trang 10

đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại, dịch vụ phát triển , xoá dần tình trạng

thuần nông và độc canh ở nông thôn Sự phát triển của các DNVVN cũng góp phần

làm tăng tỉ trọng khu vực công nghiệp dịch vụ và làm thu hẹp dần tỷ trọng khu vực

nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân Phát triển các DNVVN còn có tác

dụng làm chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, thành phần kinh tế Các doanh nghiệp

này chủ yếu là kinh tế ngoài quốc doanh được tăng lên nhanh chóng làm cân đối

các thành phần kinh tế Ngoài ra, các doanh nghiệp còn được phân bố đều khắp

mọi nơi, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi Như vậy, sự linh

hoạt, năng động của các DNVVN đã hình thành một cơ cấu kinh tế có tính đổi mới

và thích ứng với nền kinh tế , tạo nên một cơ cấu ngành , thành phần , vùng hợp lí

-Đáp ứng nhu cầu về hàng hoá dịch vụ đa dạng của nền kinh tế

Các DNVVN hoạt động trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, từ sản

xuất công nghiệp , đến xây dựng , thương mại , dịch vụ, thủ công mĩ nghệ Do quy

mô vừa nhỏ, các DNVVN có thể tồn tại ở khắp nơi, kể cả vùng nông thôn , vùng

sâu vùng xa hay nó có thể hoạt động trong những lĩnh vực , những nơi mà mà các

doanh nghiệp lớn còn bỏ ngỏ Do vậy, nó sản xuất ra nhiều mặt hàng , ở rất nhiều

nơi , đáp ứng mọi nhu cầu tiêu dùng , sản xuất của mọi người dân, mọi ngành nghề

-Đóng góp một phần đáng kể vàp tăng trưởng kinh tế của cả nước

DNVVN là bộ phận có đóng góp không nhỏ vào GDP cả nước Theo số liệu

thống kê mỗi năm DNVNN đóng góp khoảng 26-27% GDP cả nước Đây là một

con số rất có ý nghĩa, chứng tỏ các DNVVN đóng góp một phần quan trọng vào sự

gia tăng thu nhập quốc dân và nếu khu vực này được quan tâm hỗ trợ đúng mức

của Nhà nước , của các tổ chức kinh tế xã hội thì khả năng đóng góp vào tăng

trưởng kinh tế xã hội còn lớn hơn nữa

-Góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trường

Do lợi thế của quy mô vừa và nhỏ là năng động, linh hoạt, sáng tạo trong

hoạt động kinh doanh, các DNVVN có nhiều khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển

hướng kinh doanh , đổi mới công nghệ, trang thiết bị… Đồng thời lượng DNVVN

Trang 11

khá lớn , ngày càng tăng làm tăng khả năng cạnh tranh, tăng chất lượng, số lượng,

chủng loại hàng hoá dịch vụ Do đó, nó làm cho nền kinh tế năng động hơn, chuyển

biến nhanh nhạy, đáp ứng kịp thời những thay đổi của nền kinh tế trong nước, đồng

thời hoà nhịp được với sự biến động, phát triển của nền kinh tế thế giới

1.2 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1 Sự hình thành và phát triển

Lịch sử hình thành và phát triển của của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát

triển của nền sản xuất hàng hoá Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi

sự phát triển của ngân hàng , đến lượt mình , sự phát triển của hệ thống ngân hàng

trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp

vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các thợ vàng Hình thức ngân hàng đầu tiên – ngân

hàng của những thợ vàng , hoặc của những kẻ cho vay nặng lãi – thực hiện cho vay

với các cá nhân , chủ yếu là những người giàu như quan lại , địa chủ … nhằm mục

đích phục vụ tiêu dùng Do lợi nhuận từ cho vay rất cao , nhiều chủ ngân hàng đã

lợi dụng ưu thế của chứng chỉ tiền gửi ( lưu thông thay vàng hoặc bạc), phát hành

chứng chỉ tiền gửi khống để vay Thực trạng này đã đẩy nhiều ngân hàng đến chỗ

mất khả năng thanh toán và phá sản

Sự sụp đổ của các ngân hàng gây khó khăn cho hoạt động thanh toán, ảnh

hưởng xấu tới hoạt động buôn bán Hơn nữa , lãi suất cao nên không thể sử dụng

nguồn vay này Trước tình hình đó , nhiều nhà buôn tự thành lập ngân hàng , gọi là

ngân hàng thương mại Như vậy ngân hàng thương mại được hình thành xuất phát

từ tư bản thương nghiệp , và gắn liền với quá trình luân chuyển của tư bản thương

nghiệp Ngân hàng thương mại cũng thực hiện các nghiệp vụ truyền thống của ngân

hàng như huy động tiền gửi , thanh toán cất giữ hộ và cho vay

Tuy nhiên , điểm khác biệt giữa ngân hàng thương mại và ngân hàng thợ

vàng trước đó là ngân hàng thương mại chủ yếu cho các nhà buôn vay dưới hình

thức chiết khấu thương phiếu Đây là các khoản cho vay ngắn hạn , dựa trên quá

Trang 12

trình luân chuyển của hàng hoá với lãi suất phải thấp hơn lợi nhuận được tạo ra do

sử dụng tiền vay Để đảm bảo an toàn , ngân hàng thương mại ban đầu không cho

vay đối với người tiêu dùng, không cho vay trung và dài hạn, không cho vay đối

với nhà nước

Cùng với sự phát triển kinh tế và công nghệ , hoạt động ngân hàng đã có

những bước tiến rất nhanh Trước hết, đó là sự đa dạng các loại hình ngân hàng và

các hoạt động ngân hàng Từ các ngân hàng tư nhân , quá trình tích tụ và tập trung

vốn trong ngân hàng đã dẫn đến hình thành ngân hàng cổ phần Quá trình gia tăng

vai trò quản lí Nhà nước đối với hoạt động ngân hàng đã tạo ra các ngân hàng

thuộc sở hữu nhà nước , các ngân hàng liên doanh , các tập đoàn ngân hàng phát

triển mạnh đã phát triển mạnh trong những năm cuối thế kỉ 20 Nhiều nghiệp vụ

truyền thống vẫn được giữ vững bên cạnh các nghiệp vụ mới đang ngày càng phát

triển Ngân hàng thương mại từ chỗ chỉ cho vay ngắn hạn là chủ yếu đã mở rộng

cho vay dài hạn , cho vay đầu tư vào bất động sản Nhiều ngân hàng mở rộng cho

vay tiêu dùng , kinh doanh chứng khoán , cho thuê Các hình thức huy động vốn

cũng ngày càng phong phú Các loại hình tiền gửi khác nhau được đưa ra chằm

đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng Bên cạnh các hình thức huy động tiền gửi ,

các ngân hàng đã mở rộng các hình thức vay như vay ngân hàng trung ương , vay

các ngân hàng khác Công nghệ ngân hàng đang góp phần làm thay đổi các hoạt

động cơ bản của ngân hàng Thanh toán điện tử đang dần thay thế thanh toán thủ

công, đẩy nhanh tốc độ , tính thuận tiện, an toàn trong thanh toán Các loại thẻ đang

thay thế tiền giấy và dịch vụ ngân hàng 24 giờ , dịch vụ ngân hàng tại nhà đang tạo

ra các tiện ích ngày càng lớn cho dân chúng

1.2.2 Chức năng của ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại có ba chức năng chính sau:

-Trung gian tài chính

Trang 13

Ngân hàng là tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là

chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức

trong nền kinh tế : (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi

cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổ xung

vốn; và (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu , tức là thu nhập hiện tại

của họ lớn các khoản chi tiêu cho hành hoá , dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết

kiệm Ngân hàng là trung gian có chức năng chuyển tiền từ nhóm (1) sang nhóm

(2) Do chuyên môn hóa ngân hàng có thể làm cho chi phi giao dịch giảm hơn

nhiều so với quan hệ tài chính trực tiếp

-Trung gian thanh toán

Ngân hàng thương mại là trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết

các quốc gia Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng

hoá và dịch vụ Để việc thanh toán được nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi

phí, ngân hàng đưa cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng

séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử ,

kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần Các ngân hàng còn thực

hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng Trung ương hoặc thông qua

các trung tâm thanh toán Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả

cao khi quy mô sử dụng công nghệ hiện đại qua ngân hàng thường được các nhà

quản lí tìm cách áp dụng rộng rãi Nhiều hình thức thức thanh toán được chuẩn hóa

góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong

một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới Các trung tâm thanh

toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả của thanh toán qua ngân hàng ,

biến ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả , phục vụ

đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu

-Chức năng tạo tiền

Quá trình tạo tiền của ngân hàng thương mại được thực hiện thông qua hoạt

tín dụng và thanh toán trong toàn bộ hệ thống ngân hàng Đó là khả năng biến mức

Trang 14

tiền gửi ban đầu tại một ngân hàng thành một khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần khi

thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán qua nhiều ngân hàng

- Bảo quản vật có giá

- Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán

- Quản lí ngân quỹ

- Tài trợ hoạt động của chính phủ

- Bảo lãnh

- Cho thuê các thiết bị trung và dài hạn

- Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn

- Cung cấp các dịch cụ môi giới đầu tư chứng khoán

- Cungcấp các dịch vụ bảo hiểm

Trong mọi doanh nghiệp , vốn đều gồm hai bộ phận: vốn chủ sở hữu và nợ ,

mỗi bộ phận này được cấu thành bởi nhiều khoản mục khác nhau tuỳ theo tính chất

của chúng Tuỳ theo mỗi loại hình doanh nghiệp và đặc điểm cụ thể , mỗi doanh

nghiệp có thể có các phương thức huy động vốn khác nhau

Trang 15

Trên lí thuyết , có ba phương pháp chủ yếu để tìm nguồn tài trợ cho doanh

nghiệp , đó là tăng vốn chủ sở hữu vay có kỳ hạn và thuê (thuê mua)

Tăng nguồn vốn chủ hữu là biện pháp đơn giản nhất và ít tốn kém nhất đối

với doanh nghiệp Bởi vốn chủ sở hữu là do các cổ đông đóng góp hoặc vốn của

một mình người chủ duy nhất , số vốn này không gây ra chi phí cho doanh nghiệp

nhưng các cổ đông chỉ có lượng tài chính giới hạn, thuê mua là một biện pháp đơn

giản và thuận lợi thay thế cho tín dụng trung và dài hạn , đặc biệt đối với các

DNVVN thường gặp khó khăn khi vay trung và dài hạn ở các ngân hàng Phương

thức này có thể tài trợ cho một số máy móc thiết bị riêng biệt nào đó chứ không cần

phải tài trợ hoàn toàn cho một dự án chung Ở Việt Nam hiện nay, đây là một hình

thức tài trợ vốn mới , chưa phát triển Các DNVVN Việt Nam còn chưa quen với

hình thức này Vì vậy , chủ yếu họ vẫn cần đến ngân hàng để vay vốn trung và dài

hạn

Gia đình và bạn bè là nơi dễ dàng cung cấp vốn cho chủ doanh nghiệp

Nhưng nguồn này không thường xuyên và chứa nhiều bất lợi Bởi việc vay tiền từ

bạn bè , người thân trong gia đình nhiều khi không có sự phân biệt rõ ràng giữa vay

và chung vốn, từ đó dẫn đến nhiều hiểu lầm , ảnh hưởng xấu đến mối quan hệ cá

nhân sau này Mặc dù vậy, đây vẫn là một kênh vốn khá hữu hiệu của doanh nghiệp

khi các khoản vay từ ngân hàng hạn chế, mà thực tế đối với các DNVVN Việt Nam

các khoản vay ngân hàng thực sự khan hiếm

Các doanh nghiệp cũng thường khai thác nguồn tín dụng thương mại hay còn

gọi là tín dụng người cung cấp Nguồn này hình thành một cách tự nhiên trong

quan hệ mua bán chịu hay mua bán trả chậm hay trả góp Nguồn vốn tín dụng

thương mại có ảnh hưởng hết sức to lớn không chỉ với các doanh nghiệp mà còn

với cả nền kinh tế Trong một số doanh nghiệp , nguồn vốn tín dụng thương mại

dưới dạng những khoản phải trả có thể chiếm tới 20% tổng nguồn vốn, thậm chí có

thể chiếm tới 40% tổng nguồn vốn

Trang 16

Đối với doanh nghiệp, tài trợ bằng nguồn vốn tín dụng thương mại là một

phương thức tài trợ rẻ , tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh , hơn nữa nó còn

tạo khả năng mở rộng các mối quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền Tuy

nhiên , cần phải thấy rằng khi quy mô tài trợ quá lớn thì tính rủi ro của quan hệ tín

dụng này sẽ rất lớn

Vay vốn ngân hàng là giải pháp cổ điển, hầu hết các doanh nghiệp đều nghĩ

tới Ngân hàng đóng vai trò là người cung cấp vốn cho doanh nghiệp , bù lại ngân

hàng nhận tiền lãi do doanh nghiệp trả cho khoản cho vay đó Ngân hàng là một tổ

chức tài chính có thể huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, vì thế luôn có đủ

khả năng cung cấp các nguồn tài trợ trung và dài hạn cho các doanh nghiệp, vì vậy

ngân hàng cũng cần sử sụng vốn của mình có hiệu quả và an toàn Ở đây, ngân

hàng có thể cung cấp vốn cho doanh nghiệp từ khi mới thành lập , khi bước vào

hoạt động sản xuất kinh doanh , đồng thời cung cấp vốn lưu động khi doanh nghiệp

có nhu cầu

Như vậy, cần nhận thấy rằng trong các phương thức tài trợ, thì nguồn tín

dụng ngân hàng vẫn được coi là nguồn quan trọng nhất với những ưu điểm sẵn có

của mình Nhưng hiện nay các DNVVN lại rất khó tiếp cận với nguồn vốn này, đây

cũng là vấn đề mà chúng ta đang nghiên cứu

1.3.2Quy chế cho vay đối với các DNVVN ở nước ta hiện nay

Hiện nay ở Việt Nam hầu hết các ngân hàng thương mại chưa có một quy

chế cho vay riêng đối với các DNVVN Tuy nhiên , căn cứ vào quy chế cho vay đối

với các khách hàng nói chung, ta có thể rút ra những quy định về hoạt động cho

vay đối với các DNVVN

-Nguyên tắc vay vốn : Khách hàng vay vốn của ngân hàng phải đảm bảo các

nguyên tắc sau:

+Sử dụng vốn đúng mụch đích được nêu trong hợp đồng vay vốn

Trang 17

+ Phải hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng hạn đã thoả thuận trong hợp đồng

+Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, và chịu trách nhiệm

dân sự theo quy định của pháp luật

+Có khả năng tài chính đảm bảo khả năng trả nợ trong thời hạn cam kết

+Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp

+ Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh dịch vụ khả thi , có hiệu

quả hoặc có dự án đầu tư khả thi kèm theo phương án trả nợ khả thi

+Thực hiện theo quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ

, hướng dẫn của NHNN

-Thời hạn cho vay : Các ngân hàng thương mại và khách hàng căn cứ vào

chu kì sản xuất , kinh doanh , thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả

nợ của khách hàng và nguồn vốn cho vay của ngân hàng để thoả thuận về thời hạn

cho vay Thời hạn cho vay không được vượt quá thời hạn hoạt động còn lại theo

quyết định thành lập hoặc theo giấy phép hoạt động của doanh nghiệp

-Lãi suất : mức lãi suất cho vay do ngân hàng và doanh nghiệp thoả thuận

phù hợp với quy định của NHNN

-Quy trình cho vay : ngân hàng trước khi ra quyết định cho vay phải tiến

hành theo một quy trình có trình tự như sau:

+Bước 1: Khi khách hàng là các DNVVN đến ngân hàng đề xuất nhu cầu

vay vốn , cán bộ tín dụng sẽ hướng dẫn cụ thể khách hàng về các điều kiện vay vốn

ngân hàng theo cơ chế tín dụng hiện hành , đồng thời hướng đẫn khách hàng lập

hồ sơ vay vốn Hồ sơ vay vốn thường bao gồm : hồ sơ pháp lí chứng minh sự tồn

Trang 18

tại hợp pháp của của doanh nghiệp , hồ sơ kinh tế và hồ sơ xin vay trong đó có giấy

đề nghị vay vốn, hợp đồng vay , hợp đồng bảo đảm tiền vay Cụ thể:

*Đối với DNNN, công ty TNHH, công ty cổ phần , và doanh nghiệp

tư nhân:

Hồ sơ pháp lí gồm :

Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh

Điều lệ doanh nghiệp (trừ doanh nghiệp tư nhân)

Quyết định bổ nhiệm Tổng giám đốc, kế toán trưởng (đối với các doanh

nghiệp ), Quyết định chứng nhận ban quản trị chủ nhiệm hợp tác xã (đối với hợp

tác xã)

Giấy phép hành nghề, giấy phép đầu tư (với doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài), hợp đồng liên doanh

Quyết định giao vốn và các văn bản bàn giao tài sản của cơ quan quản lí Nhà

nước có thẩm quyền cho các DNNN

Biên bản góp vốn , danh sách thành viên sáng lập với các công ty cổ phần,

công ty TNHH

Hồ sơ kinh tế gồm :

Kế hoạch sản xuất kinh doanh trong kì (3 tháng , 6 tháng hay một năm)

Bảng cân đối kế toán , kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh kì trước

Báo cáo thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh kỳ trước

Hồ sơ vay vốn gồm : Giấy đề nghị vay vốn

Hợp đồng vay vốn

Hợp đồng bảo đảm tiền vay

*Đối với hộ gia đình, tổ hợp tác:

Hồ sơ pháp lí gồm:

Sổ hộ khẩu

Giấy phép kinh doanh

Trang 19

Giấy tờ hợp phép, hợp lệ được giao cho thuê quyền sử dụng đất , mặt nước

Giấy chứng nhận của UBND xã , phường cho phép hoạt động

Hồ sơ vay vốn gồm:

Giấy đề nghị xin vay vốn kèm theo phương án sản xuất kinh doanh (đối với

hộ không phải thế chấp , cầm cố tài sản)

Giấy đề nghị xin vay vốn , phương án sản xuất kinh doanh và hồ sơ bảo đảm

tiền vay (đối với hộ phải sử dụng thế chấp tài sản , cầm cố tài sản)

Bước 2: Điều tra , thu thập và tổng hợp các thông tin về khách hàng và

phương án vay vốn

Bước 3 : Phân tích thẩm định khách hàng và phương án vay vốn , bao gồm :

phân tích năng lực pháp lí của khách hàng, tính cách và uy tín khách hàng , năng

lực tài chính , đánh giá các bảo đảm tiền vay, bảo lãnh…

Bước 4 :Phát tiền vay

Bước 5 :Giám sát khách hàng sử dụng vốn vay và theo dõi rủi ro : mụch đích

của việc giám sát , theo dõi là nhằm kiểm tra tính hiện thực của kế hoạch trả nợ cho

vay và phát hiện kịp thời những rủi ro có thể phát sinh , phát hiện sớm các khoản

vay có vấn đề trước khi trở nên nghiêm trọng , nhằm đề xuất các giải pháp xử lí kịp

thời

Bước 7: Thu hồi nợ , gia hạn nợ : Khi khoản vay đến hạn , ngân hàng sẽ tiến

hành thu nợ của các doanh nghiệp ( bao gồm cả lãi và gốc) Với các khoản nợ có

vấn đề (tức là đến hạn mà doanh nghiệp vẫn không trả được hết nợ), doanh nghiệp

có thể sẽ đề nghị ngân hàng cho gia hạn nợ, giãn nợ… Khi đó cán bộ tín dụng phải

thẩm định , kiểm tra thực tế và lập trình cho giám đốc trong giới hạn thẩm quyền

Bước 8: Xử lí rủi ro : Đối với những món nợ đã dùng mọi biện pháp như

giãn nợ, gia hạn nợ …mà vẫn không thu hồi được nợ, thì ngân hàng buộc phải tiến

hành các biện pháp kiên quyết cuối cùng , như phát mại tài sản cầm cố …

Trang 20

1.3.3 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với sự phát triển

DNVVN

Đầu tiên phải khẳng định vai trò to lớn của cho vay của ngân hàng trong việc

cung cấp vốn cho doanh nghiệp từ khi mới thành lập, đầu tư xây dựng cơ bản cho

đến khi đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh , rồi mở rộng , phát triển sản xuất

Nhờ đó , hoạt động cho vay của ngân hàng đã đảm bảo cho quá trình hoạt động của

các DNVVN được liên tục và thận lợi Ngoài ra, cho vay trung và dài hạn của ngân

hàng giúp DNVVN tái sản xuất mở rộng, đầu tư trang thiết bị, công nghệ mới, nang

cao kĩ thuật, cải tiến chất lượng , mẫu mã sản phẩm , tăng năng suất lao động ,

giảm giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh , giúp cho doanh nghiệp mở

rộng thị phần, vươn tới những thị trường tiềm năng, hoạt động kinh doanh ngày

càng phát triển , đứng vững ở thị trường trong nước, hướng tới thị trường nước

ngoài, giúp doanh nghiệp liên tục đổi mới , liên tục phát triển

Sở dĩ như vậy là vì, ngân hàng huy động những nguồn nhàn rỗi trong dân

chúng, từ nguồn tiết kiệm của các cá nhân cho đến nguồn tiền tạm thời “thừa “ của

các tổ chức kinh tế xã hội…Vì vậy nguồn vốn của ngân hàng rất lớn, đủ để đáp ứng

mọi nhu cầu của nền kinh tế , trong đó có các DNVVN

Hơn nữa, dịch vụ ngân hàng hiện đại ngày càng phát triển , các hình thức tín

dụng ngày càng đa dạng, có thể kể đến như tín dụng cho vay thông thường , cho

vay chiết khấu, tín dụng bảo lãnh, thuê mua , cho vay tiêu dùng…Ngoài ra còn có

nhiều thời hạn khác nhau như cho vay ngắn hạn, trung hạn , dài hạn , với nhiều

phương thức cho vay như : cho vay từng lần , cho vay theo hạn mức tín dụng , cho

vay theo dự án đầu tư, cho vay hợp vốn, cho vay trả góp, cho vay theo thông qua

nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ, cho vay theo hạn mức thấu chi … từ đó các

doanh nghiệp nói chung , các DNVVN nói riêng được quyền tự do chọn lựa loại tín

dụng ngân hàng cho tiện lợi và phù hợp với khả năng của mình nhất

Mọi doanh nghiệp đều có thể vay vốn ngân hàng nếu như thoả mãn những

điều kiện nhất định về hiệu quả của dự án và khả năng trả nợ Chính vì vậy, ngoài

Trang 21

vai trò trực tiếp cung cấp vốn cho doanh nghiệp ra thì hoạt động cho vay của ngân

hàng còn có những vai trò gián tiếp sau:

-Hoạt động cho vay của ngân hàng giúp DNVVN nâng cao hiệu quả sản xuất

kinh doanh Một trong những nguyên tắc tín dụng là trả lãi và trả gốc đúng thời

hạn Do đó người đi vay buộc phải tính toán chi phí sản xuất , tốc độ quay vòng

vốn vay , giá thành sản phẩm, doanh thu thu được … để sao cho đến cuối kì có thể

thu được lợi nhuận đủ để trả tiền vay ngân hàng và còn lợi nhuận để lại Rõ ràng,

với những điều kiện ràng buộc như vậy, ngân hàng đã góp phần giúp cho doanh

nghiệp nâng cao khả năng hạch toán kinh doanh , tổ chức sản xuất kinh doanh , sử

dụng vốn một cách có hiệu quả

-Thông qua hoạt động cho vay , ngân hàng có thể tư vấn cho các DNVVN

hoạt động có hiệu quả hơn Ngân hàng có quan hệ tín dụng rất rộng rãi với mọi

thành phần , mọi đơn vị sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế , kể cả các cá nhân ,

tổ chức xã hội… hoạt động này tạo cho ngân hàng một hệ thống thông tin phong

phú Hơn nữa việc cho vay đối với mọi đối tượng, mọi thành phần buộc cán bộ tín

dụng ngân hàng phải có những hiểu biết rộng rãi để có thể tư vấn cho doanh nghiệp

trong hoạt động sản xuất kinh doanh Tránh rủi ro làm ăn thua lỗ, phá sản cho

doanh nghiệp cũng chính là tránh rủi ro không thu hồi vốn được cho ngân hàng

Do đó , trong quy trình tín dụng , bao giờ cũng có các khâu kiểm tra trước, trong và

sau khi vay, qua đó giám sát chặt chẽ tiến độ của dự án, buộc các doanh nghiệp

phải làm ăn đúng đắn, sử dụng vốn đúng mục đích Khi doanh nghiệp gặp khó khăn

thì với sự hiểu biết và các mối quan hệ của mình, tín dụng ngân hàng có thể tư vấn ,

giúp các doanh nghiệp tháo gỡ vướng mắc, hoạt động có hiệu quả hơn

Hoạt động cho vay của ngân hàng còn giúp các DNVVN mở rộng giao lưu

quốc tế , hội nhập với thế giới.Với quan hệ rộng rãi của mình , tín dụng ngân hàng

giúp các DNVVN có được thông tin về thị trường quốc tế , tiếp cận công nghệ sản

xuất , tìm kiếm thị trường quốc tế tạo điều kiện cho các DNVVN gặp gỡ các đối tác

trong và ngoài nước , xúc tiến quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ cho các

Trang 22

doanh nghiệp …Hoạt động cho vay của ngân hàng hỗ trợ vốn cho các DNVVN để

có thể nhập khẩu máy móc thiết bị , hàng hoá, dịch vụ… Ngoài ra, vốn từ ngân

hàng còn giúp cho các DNVVN tăng cường khả năng canh tranh ngay cả ở thị

trường trong nước và tiến tới là thị trường nước ngoài, đẩy mạnh quá trình thay thế

nhập khẩu hàng hoá trong nước, hướng tới xuất khẩu ra thị trường nước ngoài Nhờ

đó , hoạt động cho vay của ngân hàng đã giúp các DNVVN có cơ hội tiếp cận với

nền kinh tế khu vực và thế giới

Như vậy, có thể nói hoạt động cho vay của ngân hàng có vai trò rất quan

trọng hoạt động của các DNVVN Hoạt động cho vay của ngân hàng giúp cho các

DNVVN khắc phục được nhược điểm vốn có của mình, đó là khả năng tài chính

còn yếu, máy móc thiết bị còn lạc hậu… một vấn đề khá nan giải đối với mọi

DNVVN thì bây giờ đã có tín dụng ngân hàng giải quyết , tiếp nữa là trình độ của

các chủ DNVVN còn yếu, khả năng nắm bắt thông tin thị trường còn thiếu… thì

bây giờ ngân hàng hỗ trợ tư vấn… Qua đó, ngân hàng không chỉ là một nhà cung

cấp vốn thông thường, mà nó còn là một người bạn đồng hành đáng tin cậy của mỗi

doanh nghiệp , phục vụ vì lợi ích của doanh nghiệp như chính lợi ích của mình ,

giúp cho các DNVVN đứng vững và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự

phát triển chung của nền kinh tế , xã hội

1.4 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA

NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNVVN

1.4.1 Nhân tố từ phía ngân hàng

Chi phí giao dịch đối với việc cho vay các DNVVN, cao hơn nhiều so với

việc cho vay các món lớn (thường là đối với các doanh nghiệp nhà nước), khiến các

ngân hàng ngần ngại khi mở rộng cho vay đối tượng này Đối với các ngân hàng

trước đây chủ yếu cho vay doanh nghiệp lớn như ngân hàng ngoại thương , ngân

hàng công thương, ngân hàng đầu tư phát triển , mở rộng cho vay tới các DNVVN

Trang 23

với quy mô khoản vay nhỏ ảnh sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới chi phí giao dịch, phương

pháp cho vay của họ

Các ngân hàng, đặc biệt là ngân hàng thương mại quốc doanh vẫn còn tâm lí

e ngại khi cho các DNVVN trong khu vực tư nhân Mặc dù thái độ với các doanh

nghiệp tư nhân đã được cải thiện đáng kể trong những năm qua, các ngân hàng vẫn

chưa hoàn toàn cảm thấy thoải mái về tâm lí khi cho vay đối tượng này Doanh

nghiệp nhà nước vẫn là đối tượng mà các ngân hàng theo đuổi Đối với các doanh

nghiệp ngoài quốc doanh, mặc dù sự cạnh tranh về khách hàng ngày càng lớn, phần

lớn các ngân hàng đều lựa chon giải pháp an toàn là trên hết Sự cạnh tranh giữa

các ngân hàng về khách hàng vay vốn chủ yếu đối với khách hàng là doanh nghiệp

nhà nước

Nhiều ngân hàng muốn tiến hành khảo sát để nghiên cứu về hàng là DNVVN

để giúp cho họ có đầy đủ thông tin hơn về khách hàng Ngân hàng thương mại

chưa có chiến lược marketing tới các DNVVN, các chương trình quảng cáo nghèo

nàn, không thực sự mang lại những thông tin cần thiết cho khách hàng vay vốn

Nhiều ngân hàng không muốn mở rộng dư nợ tín dụng do nhiều lí do (i)

khuyến khích chế độ lương thưởng đối với cán bộ không có tính chất khuyến khích

đối với việc mở rộng cho vay ; (ii) cơ chế lã suất trong nội bộ ngân hàng không có

tính chất khuyến khích mở rộng tín dụng trên địa bàn ; (iii) hạn chế về năng lực

quản lí của ngân hàng

Sản phẩm cho vay cũng như quy trình cho vay của ngân hàng hiện nay chưa

phù hợp với nhu cầu các DNVVN Hầu hết các ngân hàng thương mại đều áp dụng

một quy trình chung về thẩm định đối với các dự án lớn và dự án nhỏ Các sản

phẩm cho vay còn cứng nhắc, thiếu tính linh hoạt về quy trình giải ngân, quy trình

trả nợ, kì hạn…

1.4.2Nhân tố về phía doanh nghiệp

Trang 24

Các doanh nghiệp còn thiếu các dự án khả thi cả về mặt kĩ thuật và tài chính

Mặc dù môi trường kinh doanh cho các DNVVN đã được cải thiện đáng kể trong

những năm vừa qua, nhưng họ vẫn còn gặp nhiều khó khăn và rủi ro trong quá trình

hoạt động như: vấn đề cho thị trường và sản phẩm, năng lực chuyên môn…Thất bại

của một số dự án đầu tư của các doanh nghiệp và các hộ kinh doanh các thể làm

cho các ngân hàng thận trọng hơn trong việc đánh giá và xem xét những dự án kinh

doanh được đệ trình

Hệ số thông tin, sổ sách kế toán của các doanh nghiệp không đáng tin cậy

đối với ngân hàng Đối với các doanh nghiệp hộ gia đình, hệ thống sổ sách không

theo quy chuẩn và được thiết lập theo cách riêng của mỗi doanh nghiệp Do vậy,

các ngân hàng thường tốn nhiều thời gian để kiểm chứng các thông tin đó từ các

nguồn khác như bạn hàng , các nhà cung cấp, khách hàng , cơ quan thuế, hải quan

và các đối tượng có liên quan khác về doanh nghiệp

Số lượng khách hàng là DNVVN mới lần đầu tiên được vay vốn trong những

năm vừa qua là rất ít Các ngân hàng đều có xu hướng cho vay những khách hàng

cũ, đã có quá trình hoạt động, rất ít khi cho doanh nghiệp mới thành lập, trong khi

phần lớn các DNVVN là các doanh nghiệp mới được vay lập sau năm 2000 và

chưa thể chứng tỏ năng lực tài chính đối với ngân hàng để vay vốn Do vậy họ

phải tự tìm kiếm vốn ở khu vực tài chính phi chính thức để khởi sự hoạt động sự

nghiệp kinh doanh của họ

Trình độ quản trị doanh nghiệp của nhiều chủ doanh nghiệp còn nhiều hạn

chế, như ta đã phân tích ở phần trước nhiều chủ doanh nghiệp không thể viết được

một đề án sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của các ngân hàng thương mại để được

chấp thuận vay vốn Doanh nghiệp có ý tưởng kinh doanh, song còn có một khoảng

cách khá xa giữa việc biến các ý tưởng đó thành một kế hoạch thực hiện cụ thể có

tính toán đến các yếu tố tài chính và kĩ thuật …Đây cũng là một trong những

nguyên nhân dẫn đến việc các ngân hàng từ chối cho doanh nghiệp vay

Trang 25

Hiểu biết về ngân hàng và các thủ tục vay vốn của các DNVVN rất hạn chế

Hầu hết các chủ doanh nghiệp khi nói đến ngân hàng đều có cảm giác đó là một địa

chỉ hoàn toàn xa lạ, nằm ngoài tầm với của họ Họ không biết được các dịch vụ

ngân hàng Do vậy cung cấp thông tin về các định chế tài chính là rất cần thiết cho

các DNVVN

Thủ tục vay vốn còn quá phức tạp Nhiều doanh nghiệp cho biết rằng yêu

cầu về thủ tục giấy tờ , mặc dù đã được giảm nhẹ rất nhiều trong những năm vừa

qua, vẫn còn rất phức tạp đối với họ Nhiều doanh nghiệp cho biết họ không tự

mình hoàn thiện được tất cả các yêu cầu về thủ tục hồ sơ do ngân hàng đặt ra, đặc

biệt là phương án sản xuất kinh doanh Các doanh nghiệp còn thiếu tài sản thế

chấp để được vay vốn Mặc dù trong những năm vừa qua ngành ngân hàng và các

chương trình vay vốn đã nỗ lực thay thế những khuôn khổ luật pháp nhắm nới lỏng

những điều kiện về tài sản thế chấp, và các ngân hàng đã chú trọng nhiều hơn tới

tính khả thi của các dự án đầu tư hơn là tài sản thế chấp, nhưng đây vẫn là một

trong những trở ngại lớn nhất đối với khả năng tiếp cận vốn tín dụng của các doanh

nghiệp nhỏ Hầu hết các DNVVN đều không có tài sản để đảm bảo vốn vay hoặc

nếu có thì giấy tờ chứng minh quyền sở hữu lại không đầy đủ Các nỗ lực nhằm mở

rộng tài sản có thể được sử dụng làm tài sản thế chấp , nâng cao giá trị của tài sản

… thông qua các thay đổi về chính sách, quy định về đảm bảo tiền vay vẫn chưa

thể cải thiện một cách căn bản về vấn đề này

Mặt khác, một trong những chỉ tiêu quan trọng để giải quyết việc ngân hàng

có cho vay đối với doanh nghiệp hay không chính là khả năng tài chính của bản

thân doanh nghiệp đó Nếu doanh nghiệp ở trong tình trạng tài chính tốt (kinh

doanh có lãi hay lãi thực dương, đủ khả năng thanh toán các khoản nợ, không có nợ

xấu…) ngân hàng có thể dễ dàng chấp thuận cho doanh nghiệp vay Ngược lại ngân

hàng sẽ khó có thể chấp thuận việc xin vay của khách hàng có tình hình tài chính

xấu do do lo sợ gặp phải rủi ro

Trang 26

Cuối cùng, các ngân hàng chỉ quyết định cho vay sau khi đã phân tích kĩ

khách hàng về các yếu tố liên quan như khả năng tài chính , tính khả thi của dự án

, năng lực kinh doanh … Tuy nhiên tính trung thực và trách nhiệm của khách hàng

sau khi khoản vay được giải ngân có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng của

khoản vay trung dài hạn Khách hàng có thể lợi dụng mối quan hệ với ngân hàng

để chiếm đoạt vốn vay, hoặc sử dụng vốn vay sai mụch đích Ngoài ra tình trạng

hoạt động của doanh nghiệp cũng tác động đến hiệu quả sử dụng khoản vay thể

hiện qua các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp và trình độ quản lí của ban lãnh

đạo

1.4.3 Những nhân tố khác

-Môi trường kinh tế

Sự phát triển của nền kinh tế có tác động đến công tác tín dụng do nhu cầu

tín dụng trong nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào sự tăng trưởng kinh tế Một nền

kinh tế đang trên đà phát triển , môi trường kinh doanh thuận lợi , nhu cầu tiêu

dùng của dân cư tăng lên là cơ hội tốt cho doanh nghiệp đầu tư mở rông sản xuất

do đó nhu cầu tín dụng cũng tăng lên tương ứng Ngược lại trong giai đoạn kinh tế

trì trệ giảm phát, thất nghiệp cao, đầu tư không mang lại hiệu quả, hầu như các hoạt

động sản xuất đều bị thu hẹp , nhu cầu vốn cho đầu tư giảm mạnh thì tất nhiên ngân

hàng không thể mở rộng hoạt động cho vay của mình

Bên cạnh đó , trong cơ chế thị trường , doanh nghiệp luôn phải đương đầu

với các đối thủ cạnh tranh về cả sản phẩm cùng loại và khác loại , đối với với các

DNVVN có công nghệ lạc hậu , sản phẩm chưa đạt tiêu chuẩn về chất lượng sản

phẩm , mẫu mã, kinh nghiệm quản lí yếu kém có thể dễ dàng bị đẩy ra khỏi thị

trường Điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến việc cho vay của ngân hàng do lo

sợ về nguy cơ phá sản

-Môi trường pháp lí

Trang 27

Các yếu tố pháp lí trong nền kinh tế thị trường là điều kiện đảm bảo cho

hoạt động sản xuất kinh doanh Nếu môi trường pháp lí chưa hoàn hảo và thiếu

đồng bộ thì sẽ kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp Do đó , nó tác động trở

lại tới việc cho vay của ngân hàng đối với các doanh nghiệp này

Hiện nay , qui chế pháp lí của Việt Nam còn nhiều bất cập như quy chế về

tín dụng hay một số điều luật gây ra sự bất bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước

với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh , gây cho ngân hàng nhiều khó khăn cho

vay các đối tượng là các DNVVN

Trang 28

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI CÁC DNVVN TẠI

NHCTHK

2.1 SƠ LƯỢC VỀ NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HOÀN KIẾM

2.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển

Ngân hàng Công thương Hoàn kiếm (NHCTHK) là một chi nhánh của

NHCTVN, có trụ sở chính đặt tại 37 Hàng Bồ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Trước

tháng 3/1988, NHCTHK thuộc về NHCT thành phố Hà Nội thực hiện nhiệm vụ

chính được giao là vừa kinh doanh tiền tệ, tín dụng và thanh toán, đồng thời vừa

đảm bảo nhu cầu về vốn cho các đơn vị ngoài quốc doanh và các tập thể trên địa

bàn quận Hoàn kiếm Nhưng kể từ sau khi chỉ thị số 218/CT ban hành ngày

13/7/1987 của HĐBT, thực hiện Điều lệ của NHCTVN, ngày 26/3/1988, NHCTHK

chính thức tách ra khỏi NHCT thành phố Hà nội để trở thành NHCTHK như ngày

nay

Không giống như các chi nhánh, thoạt tiên chi nhánh NHCTHK được

hình thành trên cơ sở là quỹ tiết kiệm Như vậy là xuất phát điểm của chi nhánh là

tương đối thấp Điều này ban đầu cũng là một khó khăn không nhỏ đối với chi

nhánh

Do NHCTHK là một chi nhánh của NHCTVN nên bên cạnh việc thực

hiện đầy đủ các chức năng của một chi nhánh thì ngoài ra NHCTHK còn thực hiện

các hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ như một NHTM

NHCTHK là một đơn vị hạch toán độc lập nhưng tương đối phụ thuộc

vào NHCTVN, có quyền tự chủ kinh doanh, có con dấu riêng và được mở tài khoản

Trang 29

giao dịch tại NHNN cũng như các tổ chức tín dụng khác trong cả nước Kể từ khi

thành lập cho đến nay, NHCTHK đã và đang hoạt động kinh doanh trên cơ sở tự

kinh doanh, tự bù đắp và có lãi

Trải qua quá trình hoạt động trên 10 năm, NHCTHK đã hoà nhập vào

hoạt động chung của cả hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế thị trường Hơn nữa,

NHCTHK không những chỉ đứng vững trong cạnh tranh mà còn không ngừng mở

rộng và phát triển với hiệu quả ngày càng cao

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của ngân hàng công thương hoàn kiếm

Hiện nay, NHCTHK có hơn 200 cán bộ trên tổng số 1,2 vạn cán bộ của toàn

bộ hệ thống NHCT Trong đó có 40,8% có trình độ đại học và trên đại học, còn lại

đã được đào tạo qua hệ cao đẳng, trung học chuyên ngành Ngân hàng NHCTHK

có 12 phòng, hoạt động theo chức năng riêng đã được phân công theo sự chỉ đạo

điều hành của ban giám đốc

Trong ban giám đốc của NHCTHK có 1 giám đốc và 2 phó giám đốc Giám

đốc là tiến sỹ Hà Huy Hùng

Hai phó giám đốc là Phạm Thị Mai và Lê Tuyết Mai

Trang 30

Sơ đồ cơ cấu tổ chức:

2.1.3 Tình hình hoạt động của NHCTHK trong thời gian qua

Phòng tiền tệ kho quỹ

Phòng tổng hợp tiếp thị

Phòng

kế toán

t i chính

Phòng kiểm tra nội

h ng

số 2

Phòng khách

h ng

cá nhân

Phòng

t i trợ thương mại

Phòng

kế toán giao dịch

Phòng giao dịch Đồng Xuân

Trang 31

2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn:

Năm 2003 công tác huy động vốn gặp nhiều khó khăn với sự cạnh tranh

mạnh mẽ của các Ngân hàng thương mại trên địa bàn về điểm giao dịch lẫn lãi suất

huy động vốn và các hình thức khuếch trương, khuyến mại Sự biến động bất ổn

của lãi suất và những khó khăn trên đã đặt công tác huy dộng vốn của chi nhánh

đứng trước nhiều thách thức lớn Tuy nhiên, chi nhánh đã cố gắng duy trì, phát

triển nguồn tiền gửi của khách hàng truyền thống, tăng cường mở rộng mạng lưới,

lập thêm Quỹ tiết kiệm tại các khu vực có tiềm năng ( khai trương điểm giao dịch

tại khu công nghiệp sài đồng B, mở thêm Quỹ tiết kiệm số 2 tại 22 Lê thái Tổ)

Nhờ vậy, nguồn vốn huy động của Chi nhánh không ngừng tăng lên, cơ cấu nguồn

vốn được cải thiện theo hướng tích cực

Đến 31/12/2003, tổng nguồn vốn huy động đạt 4.986 tỷ đồng, tăng 6%

so với năm trước Trong đó:

- Nguồn vốn tiền VND đạt 4.723 tỷ đồng, chiếm 95%, nguồn vốn ngoại tệ

đạt 263 tỷ đồng, chiếm 5% nguồn vốn

- Nguồn vốn tiền gửi dân cư đạt 774 tỷ đồng chiếm 15,5% nguồn vốn tiền

gửi của các TCKT đạt 4.212 tỷ đồng chiếm 84,5% tổng nguồn vốn

- Nguồn tiền gửi không kỳ hạn đạt 633 tỷ đồng chiếm 13%, có kỳ hạn đạt

4.353 tỷ đồng chiếm 87% tổng nguồn vốn

2.1.3.2 Hoạt động tín dụng

Tiếp tục quán tiệt phương châm "Phát triển, an toàn, hiệu quả", thực

hiện nghiêm túc chỉ đạo của NHCTVN về việc kiềm chế tăng trưởng tín dụng

nóng, dư nợ tín dụng được chủ động tăng trưởng một cách hợp lý đi đôi với việc

cải thiện nâng cao chất lượng; thực hiện rà soát, sàng lọc lựa chọn khách hàng làm

ăn có hiệu quả, tình hình tài chính lành mạnh, có tín nhiệm với ngân hàng, nâng cao

điều kiện tín dụng, yêu cầu DNNN dùng tài sản cố định làm bảo đảm tiền vay; rút

dần dư nợ, chấm dứt quan hệ với khách hàng có tình hình tài chính yếu kém, sản

xuất kinh doanh thua lỗ, có nợ quá hạn , vốn chủ sở thấp, các khoản vay có độ an

Trang 32

toàn thấp, chuyển hướng đầu tư vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho vay tiêu

dùng nhằm phân tán rủi ro Nhờ đó dư nợ tín dụng của chi nhánh tăng trưởng trong

khả năng có thể kiểm soát, cơ cấu dư nợ đã từng bước chuyển đổi theo hướng tăng

dần tỷ trọng cho vay kinh tế tư nhân, cho vay tiêu dùng, cho vay thêm những dự án

mới có tính khả thi cao như dự án của công ty TNHH Việt Nhật, công ty thép Việt

Tiến, công ty Cửu Long

Đến 31/12/2003, tổng dư nợ đầu tư và cho vay đạt 900 tỷ đồng, tăng 2%

so với cùng kỳ năm trước Trong đó:

- Dư nợ ngắn hạn 35%, trung dài hạn 65% tổng dư nợ

- Dư nợ đối với DNNN chiếm 69%, ngoài quốc doanh chiếm 31% tổng dư

nợ

Trong năm không để phát sinh nợ quá hạn mới khó đòi, hầu hết các

khoản nợ đều có khả năng thu hồi

Công tác thu hồi nợ đọng tiếp tục được chú trọng nhằm lành mạnh

hoá dư nợ, nâng cao hiệu quả kinh doanh Mặc dù các khoản nợ tồn đọng và tài sản

còn lại rất khó xử lý, các con nợ chây ỳ, nhưng với biện pháp xử lý nợ kiên quyết,

công khai, minh bạch, trong năm 2003, chi nhánh đã xử lý dứt điểm 16 khoản nợ

tồn đọng, thu hồi được 3.903 tỷ đồng nợ khó đòi, trong đó xử lý bán tài sản thu

được 2.243 triệu đồng, đưa tỷ lệ nợ quá hạn / dư nợ cho vay xuống còn 0.8%, góp

phần nâng cao chất lượng tín dụng và tăng thu nhập cho chi nhánh

2.1.3.3 Hoạt động dịch vụ

Nền kinh tế thị trường càng phát triển thì hoạt động dịch vụ càng được

chú trọng mở rộng và chiếm tỷ lệ cao trong thu nhập của ngân hàng Kinh nghiệm

cho thấy phát triển dịch vụ vừa mang lại thu nhập an toàn, vừa là biện pháp hữu

hiệu mang để hỗ trợ cho các sản phẩm chính, quảng bá cho ngân hàng, thu hút

khách hàng Nhận thức được điều đó, trong thời gian qua, chi nhánh đã luôn chú

trọng mở rộng nhằm nâng cao các dịch vụ nhằm mang lại tiện ích lớn nhất cho

Trang 33

khách hàng Nhờ vậy, thu nhập từ dịch vụ ngày càng tăng, năm 2003 đạt hơn 3,5 tỷ

đồng, chiếm 21 % thu nhập hạch toán nội bộ

-Hoạt động thanh toán quốc tế và tài trợ thương mại

Trong năm 2003, doanh số thanh toán xuất nhập khẩu và tài trợ thương

mại đạt 66,5 triệu USD (trong đó thanh toán hàng nhập 54,8 triệu USD và thanh

toán xuất khẩu11,4 triệu USD) Doanh số mua bán ngoại tệ đạt 80 triệu USD

Đặc biệt, nhận thức rõ ưu thế của vị trí kinh doanh nằm trên địa bàn

trung tâm thương mại, du lịch Hà Nội, Chi nhánh đã mạnh dạn đưa các dịch vụ đối

ngoại như thu đổi ngoại tệ , thanh toán thẻ, séc du lịch…tại các quĩ tiết kiệm và

bước đầu thu được kết quả khả quan, đồng thời nâng cao trình độ cho đội ngũ cán

bộ của Chi nhánh trước thềm hội nhập Trong năm doanh số thanh toán thẻ, séc du

lịch chuyển trả kiều hối lên đến 1,6 triệu USD

-Thanh toán trong nước và chuyển tiền

Doanh số thanh toán đạt 24,283 tỷ đồng, tăng 27% so với năm 2002

Trong năm đã mở được thêm hơn 250 tài khoản mới, thực hiện 32.860 món

chuyển tiền và thanh toán điện tử Trong tháng 11/2003 đã hoàn thành chuyển đổi

hệ thống quản lý trên máy, hạch toán chính xác, xử lý giao dịch kịp thời, góp phần

quan trọng đưa INCAS vào hoạt động Nhiều dịch vụ hiện đại được đưa vào ứng

dụng như dịch vụ chuyển tiền nhanh, chi trả lương qua thẻ ATM, đảm bảo an toàn

mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng

-Hoạt động tiền tệ kho quỹ

Công tác Ngân quỹ bảo đảm việc thu chi tiền mặt nhanh chóng chính

xác, hiệu quả Nhân viên kiểm ngân luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trung thực,

liêm khiết và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Trong năm, bộ phận kiểm ngân

đã phát hiện và thu giữ hơn 16 triệu đồng tiền giả, trả lại tiền thừa cho khách hàng

với 113 món tổng số tiền 207 triệu đồng và 1200 USD Việc làm này đã làm khách

Trang 34

hàng rất yên tâm, hài lòng và Chi nhánh trở thành "điểm tin cậy" cho các doanh

nghiệp

- Công tác thông tin, điện toán

Chi nhánh đã quan tâm đúng mức đến việc nâng cao chất lượng trang

thiết bị và trình độ cán bộ điện toán Nhờ vậy, mạng thông tin điện toán tại Chi

nhánh luôn đáp ứng nhanh, hiệu quả yêu cầu công việc, góp phần quan trọng đưa

chương trình hiện đại hoá INCAS của NHCT đi vào cuộc sống Đồng thời, Chi

nhánh cũng mạnh dạn ứng dụng công nghệ thông tin vào các sản phẩm dịch vụ

ngân hàng, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng dịch vụ, rút ngắn thời gian

giao dịch và thời gian xử lý chứng từ

- Các hoạt động khác

Công tác kiểm tra nội bộ được thực hiện thường xuyên, liên tục, theo

dõi định kỳ hoặc đột xuất, nhằm phát hiện, chấn chỉnh kịp thời những thiếu sót

trong tất cả các nghiệp vụ Cán bộ phòng kiểm tra đã cố gắng làm việc rất tích cực

bằng khả năng của mình để hoàn thành nhiệm vụ Đặc biệt trong năm vừa qua,

phòng kiểm tra đã tiến hành kiểm tra 100% hồ sơ khách hàng vay vốn, kiểm tra

nghiệp vụ kế toán, tiết kiệm và kiểm tra tình hình chi tiêu nội bộ Công tác kiểm tra

góp phần đưa các hoạt động thực hiện đúng chế độ an toàn

Công tác tổ chức nhân sự, tiền lương đã đi trước một bước trong việc

bố trí sắp xếp cán bộ hợp lý, phân công, phân nhiệm theo đúng qui định của ngành,

phân chia công bằng, lợi ích…tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động kinh doanh

phát triển có hiệu quả Trong năm chi nhánh đã thực hiện tốt việc cơ cấu lại bộ máy

tổ chức hoạt động kinh doanh theo mô hình mới, các phòng ban được chia tách đã

nhanh chóng ổn định và đi vào hoạt động bình thường Công tác bổ nhiệm cán bộ

thực hiện đúng qui định, tạo niềm tin đối với cán bộ công nhân viên

Công tác hạch toán thu chi nội bộ được thực hiện kịp thời, chính xác

,đúng qui chế tài chính Qua các đợt kiểm tra của NHCTVN, NHNN, Chi cục Thuế

Trang 35

Hà Nội, Chi nhánh luôn luôn được đánh giá là đơn vị chấp hành tốt chế độ hạch

toán kế toán của Nhà nước

Công tác đào tạo được đặc biệt chú trọng để chuẩn bị nguồn lực cho

việc triển khai thành công dự án hiện đại hoá và hội nhập kinh tế Trong năm, đã có

11 cán bộ được đào tạo sau đại học, 240 lượt cán bộ được tham gia vào các khoá

đào tạo chuyên môn, vi tính, ngoại ngữ và kĩ năng nghiệp vụ như nhận biết ngoại

tệ, séc, thẻ du lịch…100% cán bộ được phổ cập chương trình tin học cơ bản Bên

cạnh đó, chi nhánh khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi để cán bộ công

nhân viên tự học tập, trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ

Thực hiện chương trình hiện đại hoá: Là một trong số ít những Chi

nhánh được NHCT Việt Nam lựa chọn thực hiện thí điểm dự án hiện đại hoá

CBCNV chi nhánh đã không quả ngày đêm, vượt qua gian khổ, Akhó khăn để hoàn

thành xuất sắc nhiệm vụ, vừa đảm bảo tiến độ của dự án mà không làm ảnh hưởng

đến khách hàng, đảm bảo an toàn cao trong quá trình chuyển đổi hệ thống

Tổ chức nghiên cứu khoa học : Trong năm tổ chức cứu và triển khai 3

đề tài nghiên cứu cấp sở bước đầu mang lại hiệu quả thiết thực và tạo điều kiện để

mở rộng nghiên cứu các đề tài mới phát huy được năng lực , khả năng sáng tạo của

đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn sâu

Các hoạt động đoàn thể, các phong trào thi đua cũng được chú trọng

như phong trào thi đua lập thành tích 15 năm ngày thành lập NHTCVN , chào

mừng đại hội công đoàn toàn quốc lần thứ IX … và đã đạt nhiều thành tích cao

như: 3 giải nhất trong kỳ thi nghiệp vụ cán bộ giỏi, giải nhất toàn đoàn hội diễn

văn nghệ ngân hàng công thương khu vực Hà Nội, giải nhì giải bóng đá NHNN

thành phố hà nội, giải nhất đội nam, giải ba đội nữ, giải ba đơn nam, đơn nữ giải

Tennis khu vực Hà nội Công đoàn, Đoàn thanh niên đã tổ chức các cuộc giao lưu

học hỏi với các ngân hàng bạn, với hách hàng làm phong phú đời sống tinh thần

của CBNV và củng cố thêm niềm tin, mối quan hệ tối đẹp với bạn hàng

Trang 36

-Kết quả tài chính: năm 2003 lợi nhuận hoạch toán nội bộ đạt 16,4 tỷ đồng,

vượt kế hoạch NHCTVN giao 15 tỷ đồng Nếu không phải dự phòng rủi ro 31 tỷ

đồng lợi nhuận hoạch toán của chi nhánh sẽ đạt 47,4 tỷ đồng, tăng 12% so với năm

trước

2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DNVVN TẠI

NHCTHK

Trong thời gian qua , cùng với sự phát triển của tín dụng nói chung thì

NHCTHK cũng đã chú trọng đến việc cho vay các DNVVN

Đặc biệt trong quá trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng , thì NHCTHK cũng

đã chia phòng kinh doanh thành hai phòng là phòng khách hàng số 1 chuyên cấp tín

dụng cho các doanh nghiệp lớn và phòng khách hàng số 2 chuyên cấp tín dụng cho

các DNVVN Điều này cho thấy ngân hàng đã quan tâm hơn đến đối tượng khách

hàng là các DNVVN Sau đây là những kết quả đáng chú ý về hoạt động tín dụng

dối với các DNVVN mà ngân hàng đã làm được trong thời gian qua

2.2.1Quy mô cho vay đối với DNVVN của NHCTHK

Bảng 1 :Dư nợ cho vay của NHCTHK từ 2001đến 2003

Đơn vị :Triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003

Số tiền Tỉ trọng Số tiền Tỉ trọng Số tiền Tỉ trọng

Ngày đăng: 25/03/2013, 11:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ cơ cấu tổ chức: - mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng công thương Hoàn Kiếm
Sơ đồ c ơ cấu tổ chức: (Trang 30)
Bảng 2 : Dư nợ cho vay đối với DNVVN phân theo thành phần kinh tế - mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng công thương Hoàn Kiếm
Bảng 2 Dư nợ cho vay đối với DNVVN phân theo thành phần kinh tế (Trang 38)
Bảng 4 : Nợ quá hạn của NHCTHK từ 2001-2003 - mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng công thương Hoàn Kiếm
Bảng 4 Nợ quá hạn của NHCTHK từ 2001-2003 (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w