LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Địa danh học là một bộ phận đặc biệt của từ vựng học,chuyên nghiên cứu nguồn gốc, ý nghĩa và đặc điểm cấu tạo các têngọi chỉ các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn..
Trang 1MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Địa danh học là một bộ phận đặc biệt của từ vựng học,chuyên nghiên cứu nguồn gốc, ý nghĩa và đặc điểm cấu tạo các têngọi chỉ các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn Việc nghiên cứuđịa danh giúp chỉ ra các nguyên tắc định danh đặc thù gắn với mỗivùng phương ngữ và các khu vực địa - văn hóa khác nhau
Là một cán bộ giảng dạy ở một trường đại học trên địa bànThừa Thiên Huế, chúng tôi hướng đến một nguyện vọng thiết thực:góp phần nghiên cứu những đặc trưng văn hoá - ngôn ngữ của địadanh có nguồn gốc ngôn ngữ DTTS nơi đây, qua đó chỉ ra quá trìnhtiếp xúc, giao thoa văn hóa và ngôn ngữ dân tộc - Việt trên địa bàn.Đặc biệt, cho đến nay, việc nghiên cứu địa danh có nguồn gốc ngônngữ DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế chưa được tìm hiểu, nghiên cứumột cách kỹ lưỡng, nếu không muốn nói là đang bỏ sót; chưa một cánhân hay tổ chức khoa học nào quan tâm đến việc này một cách đúngmực Vì vậy, lựa chọn đề tài này, luận án góp phần giữ gìn các đặctrưng văn hóa - tộc người được ký thác qua mỗi địa danh nhằm cungcấp tư liệu biên soạn từ điển bách khoa và từ điển từ nguyên địa danhThừa Thiên Huế
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1.Vấn đề nghiên cứu địa danh trên thế giới
Việc nghiên cứu địa danh đã xuất hiện từ lâu trên thế giới:Trung Quốc, Pháp, Nga, Anh Mỹ,… Đáng chú ý là các nghiên cứucủa A.Dauzat và Ch.Rostaing (1963), A.V.Superanxkaja (1985),Naftali Kadmon (2000), Những công trình nghiên cứu địa danh trênthế giới nói trên đã vạch ra một khung lý thuyết tương đối khái quát,
từ cách phân loại đến việc miêu tả các lớp địa danh, phương thứcđịnh danh
2.2 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam
Việc nghiên cứu địa danh ở Việt Nam được tiếp cận từ hai gócđộ: góc độ địa lí- lịch sử - văn hóa và góc độ ngôn ngữ học
Trang 2Từ góc độ lịch sử- địa lí- văn hóa, đáng chú ý là các nghiên cứu của Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Âu, Từ góc độ ngôn ngữ học,
phải kể đến Hoàng Thị Châu, Lê Trung Hoa, Nguyễn Kiên Trường,
Từ Thu Mai, Trần Văn Dũng, Phan Xuân Đạm, Trần Trí Dõi,Nguyễn Đức Tồn, Phạm Đức Dương, Nguyễn Văn Hiệu, Nhìn một
cách tổng thể, việc tìm hiểu các địa danh gốc DTTS như một đối tượng riêng, độc lập hiện vẫn còn là một khoảng trống
2.3.Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Thừa Thiên Huế
Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Thừa Thiên Huế mới chỉ dừnglại ở một vài khảo sát sơ sài trong một số sách địa chí xưa Trần
Thanh Tâm và Huỳnh Đình Kết biên soạn “Địa danh thành phố Huế”
chỉ liệt kê địa danh thuần Việt và Hán Việt chứ chưa nghiên cứu địa
danh từ góc độ ngôn ngữ học Luận văn thạc sĩ “Địa danh làng xã ở Thừa Thiên Huế” của Nguyễn Thanh Hải chỉ đề cập đến tên làng xã
thuần Việt và Hán Việt Cho đến nay, chưa ai đặt vấn đề địa danh
có nguồn gốc ngôn ngữ DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế từ góc độ ngôn ngữ học như đề tài luận án
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN ÁN
3.1 Mục đích: Luận án hướng đến các mục đích sau:
- Giúp nhận diện đặc trưng ngôn ngữ-văn hóa được ký thác, quacác từ ngữ dùng để gọi tên địa danh ở Tây Thừa Thiên Huế
- Cung cấp dữ liệu biên soạn từ điển từ nguyên và từ điển báchkhoa địa danh Thừa Thiên Huế
3.2 Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích trên, luận án có 4 nhiệm vụ:
1) Trình bày cơ sở lí luận và giới thiệu về địa bàn nghiên cứu; 2)
Miêu tả đặc điểm cấu trúc các địa danh; 3) Miêu tả đặc điểm địnhdanh, ngữ nghĩa và đặc trưng văn hóa của địa danh; 4) Phiên chuyểnđịa danh gốc DTTS sang tiếng Việt
4 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Luận án khảo sát và nghiên cứu hệ thống địa danh có nguồngốc ngôn ngữ DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế trên các phương diệnchính: Đặc điểm cấu trúc; đặc điểm ý nghĩa, phương thức định danh
và đặc trưng văn hóa của địa danh; vấn đề chuẩn hóa chính tả địa
Trang 3danh gốc DTTS trong văn bản tiếng Việt Khu vực Tây Thừa ThiênHuế chủ yếu thuộc hai huyện miền núi Nam Đông và A Lưới, nơi tậptrung các tộc người nhóm ngôn ngữ Katuic, chi Môn-Khmer, ngữ hệNam Á
5 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
- Về lí luận, những kết quả của luận án đã góp phần luận án tìm
hiểu nguồn gốc, ý nghĩa, cấu tạo và chuẩn hóa địa danh; chỉ ra nhữngmối liên quan mật thiết giữa địa danh với hệ thống ngữ âm, từ vựng,
sự giao thoa, tiếp xúc ngôn ngữ giữa các dân tộc
- Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ giúp đồng bào
các DTTS hiểu rõ các đặc trưng văn hóa và ngôn ngữ mẹ đẻ củamình; giúp biên soạn từ điển bách khoa, từ điển từ nguyên địa danhThừa Thiên Huế, lập mới và chuẩn hóa địa danh trên bản đồ
6 TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Nguồn tư liệu của luận án: Nguồn tư liệu địa danh trong luận
án là nguồn tư liệu được thu thập hai chiều: vừa thu thập những đơn
vị địa danh được ghi bằng chữ Quốc ngữ, vừa thu thập các đơn vị địadanh được ghi bằng chữ DTTS Tương ứng là hai nguồn tư liệu quan
có được trong luận án: tư liệu thành văn và tư liệu điền dã
6.2 Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là phương
pháp miêu tả; phương pháp ngôn ngữ học điền dã; thủ pháp phânloại, hệ thống hóa tư liệu, thủ pháp đối lập, thủ pháp thống kê…
7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài Mở đầu, Kết luận và các phần Phụ lục, Tài liệu thamkhảo, nội dung chính của luận án được cấu trúc trong 4 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết về địa danh học và vấn đề địa danh, địa bàn ở Tây Thừa Thiên Huế;
Chương 2: Đặc điểm cấu trúc địa danh gốc dân tộc thiểu số
ở Tây Thừa Thiên Huế;
Chương 3: Đặc điểm định danh, ngữ nghĩa và đặc trưng văn hóa của địa danh gốc dân tộc thiểu số ở Tây Thừa Thiên Huế;
Chương 4: Vấn đề chuẩn hóa chính tả địa danh gốc dân tộc thiểu số trong văn bản tiếng Việt
Trang 4Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH HỌC
VÀ VẤN ĐỀ ĐỊA DANH, ĐỊA BÀN Ở TÂY THỪA THIÊN HUẾ
1.1 DẪN NHẬP: Để tìm hiểu nguồn gốc, ý nghĩa cũng như các
phương diện văn hóa của địa danh cần đến những tri thức và phươngpháp liên ngành Người nghiên cứu vừa phải có tri thức ngôn ngữ họcvững chắc, đặc biệt danh xưng học; vừa phải am tường lịch sử, vănhóa và địa lí của vùng đất chứa địa danh Chương 1 đi vào nghiêncứu hai vấn đề cơ bản: cơ sở lý thuyết về địa danh học và giới thiệu
về địa bàn, địa danh ở Tây Thừa Thiên Huế
1.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH HỌC
1.2.1 Khái niệm địa danh: tiếp thu những định nghĩa về địa danh đã
có trước đây, luận án quan niệm: Địa danh chính là những từ, cụm từđược sử dụng để gọi tên các đối tượng, không gian địa lí, các đặctrưng địa hình, địa vật nào đó, có tác dụng khu biệt, định vị chínhnhững đối tượng, không gian địa lí, những đặc trưng địa hình, địa vậtđược gọi tên đó với những đối tượng, không gian địa lí, những đặctrưng địa hình địa vật khác trong môi trường xung quanh
1.2.2.Vấn đề xác định chức năng của địa danh: luận án trình bày 4
chức năng sau: 1) Chức năng cá thể hoá đối tượng; 2) Chức năng định danh sự vật; 3) Chức năng phản ánh hiện thực; 4) Chức năng bảo tồn văn hóa Trong đó, hai chức năng đầu gắn với thuộc tính ngôn ngữ của địa danh; hai chức năng sau gắn với thuộc tính văn hoá
của địa danh
1.2.3.Vấn đề phân loại địa danh: luận án trình bày các cách phân
loại địa danh của các nhà nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam một
cách chi tiết Để phân loại “Địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Tây Thừa Thiên Huế”, chúng tôi vận dụng cả hai tiêu chí:
tiêu chí tự nhiên - không tự nhiên và tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ cácđịa danh Hơn nữa, việc quy nhóm địa danh theo ý nghĩa cũng là tiêu
Trang 5chí được chúng tôi áp dụng Kết quả phân loại địa danh được chúngtôi trình bày chi tiết ở chương 2 của luận án.
1.2.4.Vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học: Địa danh học
vừa là “thành tố” vừa là “đối tác'” của ngôn ngữ học Địa danh họccũng có quan hệ với ngữ âm học, từ vựng học và ngữ pháp học,
phương ngữ học, Tuy nhiên, “địa danh học thuộc hẳn về từ vựng học” Bản thân địa danh học cũng được chia làm các tiểu ngành như
sơn danh học, thuỷ danh học, phương danh học và phố danh học,
1.2.5 Mối quan hệ giữa địa danh học với các ngành khoa học khác: Là sản phẩm của quá trình nhận thức và định danh, địa danh
còn chịu tác động của các yếu tố ngoài ngôn ngữ: Đặc điểm tộcngười, lịch sử, chính trị thời đại, tâm lý xã hội
1.2.6 Các hướng tiếp cận địa danh từ góc độ ngôn ngữ học: Từ góc độ ngôn ngữ học, có thể chỉ ra các hướng tiếp cận địa danh: 1)
Tiếp cận địa danh theo hướng đồng đại; 2) Tiếp cận địa danh theohướng lịch đại; 3) Tiếp cận địa danh dưới góc độ ngôn ngữ - văn hóa;4) Vấn đề chuẩn hóa địa danh
1.3 VỀ ĐỊA BÀN, ĐỊA DANH TÂY THỪA THIÊN HUẾ
1.3.1 Giới thiệu chung về Thừa Thiên Huế: Luận án giới thiệu
chung về tỉnh Thừa Thiên Huế trên các phương diện: vị trí địa lí, dân
cư, ngôn ngữ, lịch sử và văn hóa
1.3.2 Vài nét về địa bàn Tây Thừa Thiên Huế: Luận án giới thiệu chi tiết về đặc điểm dân cư, ngôn ngữ và vị trí địa lí Về dân cư, các
DTTS ở đây thuộc nhóm ngôn ngữ Katuic, chi Môn - Khmer, ngữ hệ
Nam Á, là lớp cư dân bản địa có mặt sớm nhất Về ngôn ngữ, các
ngôn ngữ DTTS ở đây đều được xếp vào nhóm Katuic, là nhữngngôn ngữ đơn lập, thuộc tiểu loại hình cổ, cận âm tiết tính(sesquisyllabic), chưa có thanh điệu, các phụ tố cấu tạo từ được bảolưu và ngày càng phát triển; từ có dạng đa tiết (gồm tiền âm tiết và
âm tiết chính); tất cả đã có chữ viết theo hệ La tinh
1.4 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1: Tóm tắt những nội dung chủ yếu đã
được trình bày từ mục 1.1 đến 1.3
Trang 6Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA ĐỊA DANH
GỐC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TÂY THỪA THIÊN HUẾ 2.1 DẪN NHẬP: Tìm hiểu mặt cấu trúc của địa danh, tức là đi tìm
hiểu các mô hình cấu tạo, qua đó tìm ra các nguyên tắc (tạo từ) củađịa danh, những đặc điểm chung có tính phổ quát trong cấu tạo địadanh thuộc về các ngôn ngữ và khu vực khác nhau và các đặc điểmriêng, có tính khu biệt trong cấu tạo địa danh thuộc về chính ngônngữ và khu vực đó Về cách tiếp cận tư liệu, chúng tôi vừa đi từ cáchviết địa danh bằng chữ DTTS vừa đi từ cách ghi địa danh bằng chữQuốc ngữ
2.2 KẾT QUẢ THU THẬP VÀ PHÂN LOẠI ĐỊA DANH
2.2.1 Nguyên tắc thống kê - thu thập địa danh: luận án chỉ ra
nguyên tắc thống kê, thu thập địa danh trên hai nguồn tư liệu chính:
tư liệu thành văn và tư liệu điền dã
2.2.2 Kết quả thống kê - thu thập địa danh: luận án thu thập được
559 địa danh gốc DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế, được phân bố chủyếu ở huyện Nam Đông và huyện A Lưới Kết quả thu thập địa danhđược thể hiện qua bảng thống kê sau:
Bảng 2.1: Kết quả thu thập địa danh gốc DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế
2.2.3 Kết quả phân loại địa danh: Luận án phân theo hai tiêu chí:
tiêu chí tự nhiên - không tự nhiên và tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ.Kết quả phân loại thể hiện qua hai bảng thống kê sau:
Bảng 2.2: Kết quả phân loại địa danh theo tiêu chí tự nhiên
-không tự nhiên
Trang 7Tiêu chí Loại hình địa danh Số lượng Tỉ lệ %
5779
72,15
14,13Công trình xây dựng 22 27,85
2.3 CẤU TRÚC MÔ HÌNH PHỨC THỂ ĐỊA DANH
2.3.1 Về yếu tố tổng loại và yếu tố loại biệt trong phức thể địa danh: Một phức thể địa danh gồm hai yếu tố Chúng tôi gọi yếu tố thứ nhất là yếu tố tổng loại (YTTL), yếu tố thứ hai là yếu tố loại
biệt (YTLB) Thuật ngữ YTTL và YTLB sử dụng trong luận án có
tham khảo và chuyển dịch từ các khái niệm Naftali Kadmon sử dụng
để nói về địa danh: “generic elements” và “specific element”.
2.3.1.1 Quan niệm yếu tố tổng loại: Trong cấu trúc của một địa
danh, YTTL thường được quy loại là danh từ chung, đứng trước
Trang 8YTLB, có chức năng gọi tên, chỉ ra một lớp sự vật, đối tượng cùngthuộc tính loại hình.
2.3.1.2 Quan niệm yếu tố loại biệt: YTLB có thể là từ, ngữ; có thể
là danh từ, động từ hay tính từ; có thể là đơn tiết, hoặc đa tiết,… cóchức năng đánh dấu (nhận diện), khu biệt hoá (cá thể hoá) đối tượng
địa lý
2.3.1.3 Về mối quan hệ giữa yếu tố tổng loại với yếu tố loại biệt:
Quan hệ giữa YTTL và YTLB là quan hệ giữa cái được hạn định vàcái hạn định, trong đó, YTTL là cái được hạn định với sự biểu thịmột loại đối tượng có cùng thuộc tính, còn YTLB là cái dùng để hạnđịnh cho YTTL với chức năng chỉ những đối tượng cụ thể, xác địnhtrong lớp đối tượng mà YTTL chỉ ra
2.3.2 Cấu trúc mô hình phức thể địa danh gốc DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế: Mô hình phức thể địa danh gốc DTTS ở Tây Thừa Thiên
Huế được phản ánh một cách cụ thể sau:
Mô hình 2.2: Cấu trúc phức thể địa danh gốc DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế
Mô hình
Phức thể địa danh
Yếu tố
tổng loại
Yếu tố loại biệt- khu biệt đối tượng
(tối đa là 4 âm tiết)
1 âmtiết
2 âmtiết
3 âm tiết 4 âm tiết
Trang 9Số lượng cả YTTL lẫn YTLB trong mô hình địa danh gốcDTTS ở đây không quá dài, tối thiểu 1 âm tiết, tối đa 4 âm tiết Sốlượng âm tiết không quá chênh lệch giữa hai yếu tố.
2.4 CẤU TRÚC CỦA YẾU TỐ TỔNG LOẠI
2.4.1.Về số lượng, thu thập được 559 địa danh, luận án thống kê
được 50 YTTL có nguồn gốc từ các ngôn ngữ khác nhau (Pa-cô,
Tà-ôi, Cơ-tu) Ví dụ: kooh (T: núi), dak (T: sông), veel (T: làng), bôl (K: đồi), vil (K: làng), tơớm (K: suối),
2.4.2.Về sự chuyển hóa của yếu tố tổng loại: Quá trình chuyển hoá
YTTL thành YTLB có thể được phân thành hai loại: Loại chuyển hoá trực tiếp thành YTLB [Ví dụ: ahơar Pakong (T: khe, đồi cao),
…]; Loại chuyển hoá thành một bộ phận của YTLB [Ví dụ: kakoong Bôl Đhrông (K: núi đồi Đhrông), vil Tu Krung (K: thôn đầu
sông), ] Đa số các địa danh có YTTL chuyển hóa theo loại này đềuthuộc vào các địa danh có cấu tạo phức Các YTTL chuyển hóa thànhYTLB đa số rơi vào vị trí thứ nhất, đầu tiên của địa danh
2.4.3 Về khả năng kết hợp của yếu tố tổng loại với yếu tố loại biệt: được trình bày chi tiết ở phần Phụ lục của luận án.
2.5 CẤU TRÚC CỦA YẾU TỐ LOẠI BIỆT
2.5.1 Về số lượng và hoạt động của YTLB: Với số lượng 559 địa
danh, các YTLB có độ dài tối thiểu 1 âm tiết đến tối đa 4 âm tiết,được trình bày qua bảng tổng hợp trang sau:
Bảng 2.5: Thống kê địa danh theo số lượng các âm tiết của yếu tố
ĐVDC
CTNT
Trang 10Như vậy, việc các YTLB 2 âm tiết chiếm đa số không phải làngẫu nhiên, tùy tiện mà nó phản ánh quy luật khách quan về loại hìnhngôn ngữ và lối tư duy của chủ thể định danh
2.5.2 Yếu tố loại biệt đơn : có thể là từ đơn tiết [veel Tru (P: làng
Tru)]; hoặc cũng có thể là một từ đơn đa tiết [karung Asap (K: sông
Asap)] YTLB đơn chiếm 75,49%, trong đó, loại cấu tạo bằng từ đơn đa tiết là chủ yếu Về từ loại, các YTLB đơn có thể là danh từ
[núi Ta Vi (T : kooh Taviar - núi, cây giang)]; là động từ [sông Tà Hàm (T: dak Taham - sông, chảy máu)]; là tính từ [suối Pleng (P:soq Pleng- suối, thiêng liêng)]
2.5.3 Yếu tố loại biệt phức: là những YTLB được cấu tạo từ hai
thành tố có nghĩa trở lên, không phụ thuộc vào số lượng âm tiết tạonên chúng, chiếm một tỉ lệ nhỏ (với 96/559 địa danh, chiếm 17,17%).Các YTLB phức được xem xét trên hai khía cạnh: đặc điểm từ loại và
mối quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố Xét về mặt từ loại, đa số các
địa danh gốc DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế là danh từ, hoặc cụm
danh từ: Ví dụ: kakoong Hare Yang (K: núi, rẫy thần),… Xét về quan hệ ngữ pháp, chúng vừa có quan hệ chính phụ, quan hệ đẳng
lập và quan hệ chủ vị, trong đó quan hệ chính phụ là chủ yếu
(85,42%) Ví dụ: đồi Đon Pa Ní (T: pakong Dol Parnis - đồi, hình
cán chổi), thôn Tu Krung (vil Tu Krung - làng, đầu ngọn sông), khe
Tu Ắt (ahơar Tu Ắt - khe, đầu ngọn), Sự phân loại địa danh theo
kiểu cấu tạo của YTLB được tổng hợp qua bảng thống kê sau :Bảng 2.6: Phân loại địa danh theo kiểu cấu tạo của yếu tố loại biệt
Tỉ lệ (%)
Đơn tiết
Đatiết
Chínhphụ
Đẳnglập
Chủvị
Trang 112.6 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2:
Địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ DTTS ở Tây Thừa Thiên Huếđược thu thập và phân loại dựa trên hai tiêu chí: dựa vào YTTL chỉloại hình địa danh và dựa vào nguồn gốc ngôn ngữ tạo địa danh.Mỗi phức thể địa danh được cấu trúc bằng hay yếu tố: YTTL
và YTLB, các yếu tố đều có độ dài tối đa là 4 âm tiết Đặc biệt,
chúng chủ yếu được cấu tạo bằng các từ đơn đa tiết Cả YTTL và YTLB đều có cấu trúc đa tiết chiếm tỉ lệ lớn, chủ yếu từ đơn song tiết
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH, NGỮ NGHĨA VÀ ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA CỦA ĐỊA DANH GỐC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TÂY THỪA THIÊN HUẾ 3.1 DẪN NHẬP
Trong chương trình này, chúng tôi đề cập đến ba nội dungchính: (1) Phương thức định danh; (2) Đặc điểm ngữ nghĩa của cácyếu tố tạo địa danh; (3) Đặc trưng văn hóa được phản ánh qua ngữnghĩa của yếu tố tổng loại và yếu tố loại biệt Đây là những vấn đề cónội dung liên quan mật thiết tới nhau Bởi lẽ, chỉ khi tìm hiểu rõnguồn gốc, ý nghĩa của các yếu tố tạo địa danh thì mới chỉ ra đượccác phương thức định danh và ngược lại, một phương thức định danhđược xác định thì vấn đề ý nghĩa của yếu tố ngôn ngữ được dùngtrong các phương thức định danh được làm sáng tỏ, qua đó góp phầnchỉ ra các đặc trưng văn hóa kí thác trong mỗi địa danh
3.2 PHƯƠNG THỨC ĐỊNH DANH ĐỊA DANH
3.2.1 Vấn đề định danh trong ngôn ngữ
3.2.1.1 Về khái niệm định danh: Định danh chính là cách đặt tên
gọi cho một sự vật, hiện tượng nào đó
3.2.1.2 Về tính lí do của định danh: mỗi địa danh chính là một tên
gọi có tính lí do (motivated), tính phi võ đoán (unarbitrary)
3.2.2 Phương thức định danh tự tạo: Phương thức này được tiến
hành bằng những cách thức và cơ sở sau:
Trang 123.2.2.1 Định danh dựa vào đặc điểm chính của bản thân đối tượng: Cách thức định danh này dựa trên 5 cơ sở định danh sau (hình
dáng, kích thước-cấu trúc, màu sắc, địa hình kiến tạo, mục đích sử
dụng) Ví dụ: đồi Đon Pa Ní (T: pakkong Dol Parnis - đồi có hình cán chổi, núi Kà Lương (K: kakoong Kalương - đồi trọc),
3.2.2.2 Định danh dựa vào các đặc điểm có liên quan đến đối tượng: Cách thức định danh này dựa trên 12 cơ sở định danh (gọi
theo động vật, thực vật, tên người, tên dòng họ, phương vị, tộc danh,
biến cố, truyền thuyết, nghề nghiệp, tín ngưỡng, ) Ví dụ: sông A Lim (T: dak Alim - sông có nhiều châu chấu), thôn Ỷ Rỉ (P: veel Iri - thôn có cây đa), thôn Tu Krung (K: vil Tu Krung - thôn nằm đầu
ngọn sông),
3.2.3 Các phương thức định danh theo lối chuyển hoá: Có hai
loại chuyển hoá: chuyển hoá trong nội bộ một loại địa danh, ví dụ: sông A Sáp (karung Asap) - núi A Sáp (kakoong Asap); chuyển hoá giữa các loại địa danh khác nhau, ví dụ:; thác A Ka (achúh Aka) -
thôn A Ka (veel Aka), Địa danh gốc DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế
chỉ có 14 trường hợp YTTL chuyển hóa thành YTLB Sự chuyển hóa
lồng ghép, mang thai như địa danh DTTS vùng Tây Nguyên hay Tày
Nùng là hiện tượng không được xem là phổ biến
3.2.3.3 Đặc điểm định danh xét theo kiểu ngữ nghĩa: Có hai con
đường định danh: Con đường định danh gián tiếp thường do sự
chuyển nghĩa theo lối ẩn dụ hóa hoặc hoán dụ hóa một đơn vị từ
vựng sẵn có tạo nên Ví dụ: sông Pling (daq Pling) là dòng sông có
hình dáng uốn lượn như con chim phượng Con đường định danh trực tiếp, chủ thể định danh đã chọn đặc trưng “đập vào mắt” để
định danh Ví dụ: núi Ta Vi (kooh Taviar - núi có nhiều cây giang), đồi Đon Pa Ní (pakkong Dol Parnis - ngọn đồi có hình cán chổi)],
Địa danh gốc DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế xu hướng định
danh không văn hoa chải chuốt, không cầu kỳ; trái lại, đơn giản,