1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tóm tắt tiếng việt nghiên cứu một số truyện thơ của dân tộc thái ở việt nam có cùng đề tài với truyện thơ nôm dân tộc kinh

24 943 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 181 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Truyện thơ có nguồn gốc ngoại bản tộc gồm 3 tác phẩm: Trạng nguyên, Trạng Trong khoảng vài chục năm trở lại đây, việc nghiên cứu so sánh truyện Nôm dân tộc Kinh với truyện thơ các dân t

Trang 1

- Truyện thơ là thể loại khá quan trọng của văn học nước nhà Thành tựu

truyện thơ kết tinh từ “máu chảy” nơi ‘đầu ngọn bút”, khiến “nước mắt thấm trên

tờ giấy” của toàn dân tộc Việt Nam Nói tới truyện thơ, chúng ta cần kể đếntruyện thơ Nôm và truyện thơ dân tộc Thái

- Tộc người Thái có dân số đông thứ 3 ở miền núi Văn học Thái có quá trình

hình thành, vận động vừa độc lập tương đối, vừa là sản phẩm của tổng hòa các yếu

tố nội, ngoại sinh Trong vốn văn hóa, văn nghệ của dân tộc Thái, truyện thơ là

một thể loại khá đặc sắc Ngoài một số tác phẩm truyền miệng, truyện thơ cónhiều sáng tác bằng chữ viết nhưng chưa được quan tâm, nghiên cứu

- Truyện thơ Nôm là thể loại quan trọng, có vai trò trụ cột cho nền văn học

dân tộc Kinh Điểm chung của thể loại truyện thơ Nôm và truyện thơ dân tộc Thái là

cùng có yếu tố hạt nhân - truyện và hình thức diễn đạt - thơ Vấn đề so sánh tương đồng

và khác biệt của một số truyện thơ Nôm với một số truyện thơ Thái ít ai tìm hiểu Đây là

lí do cơ bản để chúng tôi lựa chọn đề tài nói trên

- Truyện thơ được đưa vào giảng dạy ở chương trình phổ thông Việc nghiên

cứu đề tài này góp phần cung cấp cho Nghiên cứu sinh và người học có thêm vốnhiểu biết về văn học địa phương Thêm nữa, bản thân Nghiên cứu sinh có quátrình sống lâu dài trên mảnh đất Tây Bắc, cái nôi của truyện thơ Những yếu tố đótạo điều kiện thuận lợi để Nghiên cứu sinh đi vào nghiên cứu so sánh một số

truyện thơ đã đề cập.

2 Lịch sử vấn đề

Trong tổng quan nghiên cứu đề tài, luận án chúng tôi trình bày 3 vấn đề (gồm 15 trang):

- Điểm qua tư liệu truyện thơ Thái dùng để nghiên cứu

- Các phương diện đã được nghiên cứu của truyện thơ các dân tộc ít người vàtruyện thơ dân tộc Thái

- Những ý kiến đề cập mối tương tác giữa truyện thơ dân tộc Thái với truyện thơNôm dân tộc Kinh

Chúng tôi chú ý tới 3 vấn đề sau:

2.1 Lịch sử văn bản

- Luận án nghiên cứu 5 truyện thơ Nôm và 5 truyện thơ Thái

- Để thực hiện luận án, Nghiên cứu sinh cùng ba cộng sự đã dịch 3 truyện thơ Thái,

gồm: Trạng nguyên, Trạng Tư, Ngu háu.

2.2 Truyện thơ các dân tộc ít người và truyện thơ dân tộc Thái

2.2.1 Truyện thơ

Trang 2

Bàn về các phương diện, truyện thơ thu hút mối quan tâm của các nhà nghiêncứu tiêu biểu như Đinh Gia Khánh, Võ Quang Nhơn, Đặng Nghiêm Vạn, Phan ĐăngNhật, Lê Trường Phát, Nguyễn Xuân Kính, Cầm Cường, Nông Quốc Chấn, Vũ AnhTuấn…

- Vị trí của truyện thơ:

Võ Quang Nhơn chỉ ra truyện thơ ở các dân tộc ít người không xuất hiện riêng lẻ

mà trở thành “một hiện tượng”, là “sự kiện đặc biệt” nổi bật

Nhà nghiên cứu N.I.Niculin nhận định rằng truyện thơ là “tài sản vô cùngquý báu của nền văn học dân tộc Việt Nam Truyện thơ đã làm cho thơ ca ViệtNam khác biệt hẳn so với truyền thống ở Viễn đông mà nó gắn bó mật thiết”Phan Đăng Nhật tổng kết “nếu như người Kinh có truyện thơ Nôm thì các dân tộc

thiểu số có một loại hình tương đương: Truyện thơ”

Nông Quốc Chấn giới thiệu chung về truyện thơ Tày Nùng đã xếp truyện thơthuộc về “nền văn học cổ điển của Tày Nùng”

- Về loại hình của truyện thơ:

Vũ Tiến Quỳnh đi truy tìm nguồn gốc văn hóa xã hội, phong cách thể loại truyện

thơ và khẳng định “Truyện thơ - một dấu nối giữa văn học truyền miệng và văn học thành văn”

Đặng Nghiêm Vạn nhấn mạnh, truyện thơ “là loại hình mang tính chuyển tiếp, không dừng lại ở phạm trù dân gian, tuy còn đượm nhiều hương sắc, mà đá qua phạm trù bác học”

Đây là những cơ sở khoa học để xem xét mối tương tác giữa truyện thơ Nôm dân

tộc Kinh và truyện thơ dân tộc Thái

- Về hình thức nghệ thuật:

Lê Trường Phát chuyên chú về cách thức tổ chức trong truyện thơ khẳng định:

“ngoài “kết thúc có hậu” như trên, truyện thơ còn xây dựng kiểu kết thúc khác, một kiểu

cốt truyện được cấu trúc theo mô hình khác.”

- Về đề tài của truyện thơ:

Phan Đăng Nhật nêu ý kiến: “Về mặt nội dung, vấn đề trung tâm của các truyện

tình yêu là cuộc sống đau khổ của những trai gái bị thất bại trong tình yêu do xã hội cũ

gây nên”

Hoàng Tiến Tựu nhận xét: “Về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật, truyện thơ

về đề tài tình yêu các dân tộc ít người đã kế thừa và phát triển truyền thống của thơ ca

trữ tình, đặc biệt là dân ca tình yêu của các dân tộc”

Các ý kiến trên đều thống nhất ở một điểm rằng, truyện thơ có hai đề tài chủ yếu:Tình yêu lứa đôi thủy chung và tố cáo xã hội ngột ngạt, lạc hậu

2.2.2 Truyện thơ dân tộc Thái

- Phần này, chúng tôi chú ý tới các nhận định bàn riêng về truyện thơ Thái.

Nhóm tác giả biên soạn Từ điển Văn học tổng kết: Truyện thơ dân tộc Thái tồn tại

dưới hai hình thức: truyền miệng và viết, diễn đạt bằng văn vần, có cốt truyện, của dântộc Thái ở Việt Nam… Truyện thơ Thái có quy mô hơn hẳn về dung lượng tác phẩm, về

Trang 3

tầm khái quát các vấn đề xã hội được phản ánh, về nghệ thuật xây dựng hình tượng vănhọc.

Lực lượng học giả làm công tác nghiên cứu chuyên biệt về văn học Thái còn rấtmỏng, thành tựu cũng khá khiêm tốn Cuốn sách văn học chuyên biệt đầu tiên có tính

chất nghiên cứu về truyện thơ dân tộc Thái mang tên Tìm hiểu văn học dân tộc Thái Việt Nam của Cầm Cường Ông quan niệm “truyện thơ, thơ ca nói chung - sự nở rộ của văn học thành văn của dân tộc Thái”.

- Sự gặp gỡ trong ý kiến của Vũ Tiến Quỳnh, Đặng Nghiêm Vạn, Cầm Cường, cho

thấy cần xem xét lại nhận thức xếp truyện thơ là thể loại thuộc văn học dân gian Thực chất nhiều truyện thơ mang dấu ấn văn học viết rõ rệt.

- Nguồn gốc cốt truyện truyện thơ:

Lê Trường Phát khẳng định “có nhiều tác phẩm văn học Thái vay mượn cốt truyệncủa các dân tộc anh em”

Cầm Cường đã chia những truyện thơ Thái là đối tượng nghiên cứu của luận án

thành 2 loại Truyện thơ có nguồn gốc bản tộc gồm 2 tác phẩm: Ý Nọi - Náng Xưa, Ú Thêm Truyện thơ có nguồn gốc ngoại bản tộc gồm 3 tác phẩm: Trạng nguyên, Trạng

Trong khoảng vài chục năm trở lại đây, việc nghiên cứu so sánh truyện Nôm dân

tộc Kinh với truyện thơ các dân tộc ít người được giới nghiên cứu quan tâm, xem xét Nhà nghiên cứu Phan Đăng Nhật cho biết: “Giữa truyện thơ miền núi và truyện

Nôm miền xuôi có những nét tương đồng về các mặt: tư tưởng chủ đạo, xây dựng nhân vật, kết cấu tác phẩm và các thủ pháp nghệ thuật thường dùng”

Nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch đồng tình với ý kiến trên, nhìn từ phương diện

nghệ thuật: “truyện Nôm của người Việt dần dần đã xâm nhập vào cả thể loại truyện thơTày, Nùng, Thái để tạo nên những truyện thơ mang dáng dấp của truyện Nôm hay nóiđúng hơn là chịu ảnh hưởng của truyện Nôm cả về cấu trúc tư tưởng và nghệ thuật”.Nhà nghiên cứu Lê Trường Phát nêu ra ý kiến có tính chất định hướng, khẳng địnhtính sáng tạo độc lập của tác giả Thái như sau: Điểm độc đáo dễ thấy ở đây là “truyện

thơ này không hẳn đã là dịch phẩm của truyện Nôm kia, từ truyện Nôm này đến truyện thơ kia đã có khoảng cách khá xa về cốt truyện, các tình tiết […] về tính dân tộc của hình tượng nhân vật, của ngôn ngữ nhân vật”

- Lí giải về nguyên nhân dẫn đến hiện tượng tương đồng và khác biệt giữa truyện thơ với truyện thơ Nôm, có ý kiến cho rằng tác giả truyện thơ dân tộc ít người đã kế thừa và sáng tạo từ các nền văn học lân cận.

Đi tìm câu trả lời cho hiện tượng “cặp đôi" của truyện thơ và truyện Nôm, ĐinhGia Khánh đưa ra hai giả thiết “Có thể các nho sĩ, trí thức, các tu sĩ dân tộc dựa vào vốntruyện thơ của dân tộc Việt ở dưới xuôi lên hoặc du nhập các truyện của Ấn Độ, của

Trang 4

Lào, của Trung Quốc vào để xây dựng nên những truyện thơ của dân tộc mình… Những tác phẩm đó được lưu truyền rộng rãi trong dân gian, tuy là khuyết danh nhưng đã mang dấu ấn của sáng tác cá nhân rõ rệt, ít nhiều mang phong cách bác học tiếp cận với văn học thành văn” song có thể “truyện thơ chỉ là sự sao chép hay chuyển thể từ tác phẩm

truyện Nôm Kinh sang truyện thơ các dân tộc thiểu số”

N.I.Nikulin nhận định, “những kiểu truyện tương tự như truyện Nôm có thể tìmthấy trong những trường ca dân gian của các dân tộc sinh sống ở Việt Nam như Mường,Nùng, Tày, Thái…”

Sự giống nhau còn được giải thích từ hiện tượng đồng loại hình Truyện thơ được

sinh ra bởi các dân tộc Đông Nam Á cũng như các dân tộc ít người ở Việt Nam cùng có

“nguồn gốc nhân chủng, nguồn gốc dân tộc, lịch sử, ngôn ngữ, cho đến kinh tế, văn hóa,phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng” Có thể, quá trình thiên di và giao lưu văn hóatạo ra hiện tượng hòa đồng

* Từ tổng quan nói, Nghiên cứu sinh nhận thấy:

Những công trình trên chủ yếu đưa ra phán đoán tản mạn, sơ lược về đề tài, nội

dung, nghệ thuật, điểm giống, khác nhau ở phương diện cốt truyện giữa truyện NômKinh và truyện thơ các dân tộc ít người (trong đó có truyện thơ Thái) nhưng chưa có họcgiả nào công phu chứng minh, làm rõ, không có công trình chuyên biệt nào đi sâu khảosát, phân tích, so sánh cụ thể các nhóm truyện nhằm tìm ra kết luận khoa học xác đáng.Bởi vậy, trên cơ sở tổng kết ý kiến có tính chất định hướng của các nhà nghiên cứu, phêbình, chúng tôi coi đó là thành tựu cần được kế thừa và là những gợi ý quý báu để tiến

hành Nghiên cứu một số truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam có cùng đề tài với truyện thơ Nôm dân tộc Kinh.

3 Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung khảo sát 5 truyện thơ dân tộc Thái là: Trạng Tư, Trạng nguyên, Ý Nọi - Náng Xưa, Ngu háu, Ú Thêm, so sánh với 5 truyện thơ Nôm: Hoàng Trừu, Tống Trân - Cúc Hoa, Cái Tấm - Cái Cám, Thạch Sanh, Truyện Từ Thức…

4 Nhiệm vụ và giới hạn của đề tài

4.1 Nhiệm vụ của đề tài

Nghiên cứu sinh có 3 nhiệm vụ chính, gồm:

- Tìm hiểu những vấn đề chung liên quan đến truyện thơ và truyện thơ Thái

- Tìm hiểu nội dung, nghệ thuật một số truyện thơ Thái

- So sánh, lí giải nguyên nhân điểm giống và khác nhau giữa truyện thơ Thái vàtruyện thơ Nôm dân tộc Kinh được đề cập

4.2 Giới hạn của đề tài

Đề tài chỉ nghiên cứu 5 truyện thơ của dân tộc Thái và 5 truyện thơ Nôm dân tộcKinh nói trên chứ không tập trung tới tác phẩm khác

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 5

Để nghiên cứu đề tài, Nghiên cứu sinh dùng nhiều phương pháp, trong đó, có

- Cung cấp tư liệu, gồm bản dịch truyện: Trạng nguyên, Trạng Tư, Ngu háu

(do Nghiên cứu sinh cùng các cộng là trí thức bản tộc đã tiến hành dịch, biênsoạn)

7 Cấu trúc của luận án

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRUYỆN THƠ DÂN TỘC THÁI

CÓ CÙNG ĐỀ TÀI VỚI TRUYỆN THƠ NÔM DÂN TỘC KINH

(Trong luận án, toàn chương 38 trang, trình bày các vấn đề: Truyện thơ, đề tài và cốt truyện; truyện thơ Nôm dân tộc Kinh; truyện thơ dân tộc Thái; mối tương tác giữa truyện thơ Nôm và truyện thơ Thái.)

1.1 Truyện thơ, đề tài và cốt truyện

Phần này, Nghiên cứu sinh trình bày các vấn đề cơ sở bao gồm: truyện thơ,

đề tài và cốt truyện (gồm 6 trang).

1.1.1 Truyện thơ

- Truyện thơ thuộc loại hình tự sự Truyện có 2 hạt nhân quan trọng: cốt truyện và nhân vật, khi diễn đạt có hai hình thức là văn xuôi và văn vần Trong luận án này, chúng tôi nghiên cứu truyện văn vần.

- Truyện văn vần dùng văn tự để thể hiện nội dung và nâng lên thành nghệ thuật Vì thế, luận án của chúng tôi nghiên cứu là truyện văn vần nghệ thuật mà các nhà nghiên cứu gọi là truyện thơ.

Trang 6

- Truyện thơ thuộc phương thức tự sự, có yếu tố hạt nhân là truyện Truyện là

“tác phẩm văn học miêu tả tính cách nhân vật và diễn biến của sự kiện thông qua

lời kể của nhà văn” Hình thức biểu hiện của truyện thơ là thơ Truyện được kể

dưới hình thức thơ Thơ là “hình thức nghệ thuật dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh và

có nhịp điệu để thể hiện nội dung một cách hàm súc” Hai phương thức tự sự, trữ tình kết hợp với nhau trong cùng một thể loại truyện thơ đã tạo nên điểm đặc biệt, không có ở các thể loại khác: vừa phản ánh đời sống khách quan lại vừa biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan con người Truyện chú ý tới tình tiết, thơ tập trung miêu tả nội tâm.

* Như vậy, truyện thơ có thể hiểu như sau: Truyện thơ là những sáng tác tự

sự dưới hình thức thơ ca trường thiên, tồn tại bằng chữ viết hoặc không có chữ viết, là hiện tượng trung gian giữa văn học dân gian và văn học thành văn.

1.1.2 Đề tài và cốt truyện

Vì luận án lấy cơ sở là đề tài làm trụ để so sánh và dùng cốt truyện biểu thị đề

tài nên chúng tôi đề cập đến kiến thức công cụ gồm hai vấn đề: đề tài và cốt truyện.

- Đề tài là thuật ngữ dùng để chỉ phạm vi các sự kiện tạo nên cơ sở chất liệu

đời sống của tác phẩm nghệ thuật Khái quát hơn, đề tài thể hiện phạm vi miêu tả

trực tiếp của tác phẩm nghệ thuật

- Ở tác phẩm văn chương, đề tài là phương diện tường minh trên bề mặt câu

chữ, chỉ loại các hiện tượng đời sống được miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sángtác văn học Đề tài là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm Có thể xácđịnh đề tài văn học theo giới hạn bề ngoài của phạm vi hiện thực được phản ánhtrong tác phẩm

- Truyện thơ của các dân tộc ít người có ba đề tài chính: tình yêu, gia đình,

xã hội Các đề tài này vừa có liên kết bề ngoài, vừa có mối liên kết bên trong,

vừa thể hiện phạm vi hiện thực được phản ánh Ba đề tài đó xâm nhập vàonhau, khó tách bạch

- Đề tài luôn luôn đi kèm với nội dung cấu trúc của tác phẩm Với tác phẩm

tự sự, nội dung cấu trúc bao giờ cũng gồm ba phương diện chính: Cốt truyện, nhân vật, hình thức diễn đạt Từng phương diện trên có những nội hàm riêng.

- Cốt truyện là hệ thống các biến cố trong trật tự nghệ thuật đã được lựa chọn

sắp xếp và chính là môi trường để chuyển tải giá trị nội dung và nghệ thuật Kếtcấu đó của truyện thơ thường ở các dạng chủ yếu: trật tự tuyến tính; xâu chuỗi, lắpghép; vòng tròn

1.2 Truyện thơ Nôm dân tộc Kinh

Trang 7

Truyện thơ Nôm là đối tượng so sánh với truyện thơ Thái, song đã có nhiều

công trình chuyên biệt về nó nên trong luận án, chúng tôi chỉ ngắn gọn 5 vấn đề (3 trang).

- Truyện thơ Nôm là một trong những thể loại được quan tâm đặc biệt trong văn học trung đại Việt Nam Truyện thơ Nôm ra đời trong điều kiện lịch sử - xã hội nước ta từ cuối thế kỉ XV đến thế kỉ XVIII.

- Sự ra đời của truyện thơ Nôm gắn liền với các tiền đề văn hoá, nghệ thuật.

Các loại hình dân gian phát triển mạnh mẽ nhất như nghệ thuật sân khấu cổtruyền, phù điêu dân gian, văn học dân gian được đề cao

- Về mặt cốt truyện, liên quan chặt chẽ tới luồng gió dân chủ, thể loại tự sựdân gian có sẵn - truyện cổ tích trở thành nguồn cội của truyện Nôm

- Truyện thơ Nôm không đơn thuần là kết quả nội sinh của văn hóa tộc người

Kinh ở Việt Nam mà nó còn được ra đời bởi sự giao lưu văn hóa Sự hình thành

và phát triển của thể loại truyện Nôm không thể tách rời quá trình phát triển của văn học chữ Nôm và văn xuôi, văn vần nói riêng cũng như quá trình hình thành

và phát triển của loại hình tự sự trong văn học Việt Nam nói chung.

- Truyện thơ Nôm xuất phát từ ba nguồn gốc chính: tiểu thuyết thị dân TrungQuốc, truyện dân gian Việt Nam, thực tế cuộc sống cá nhân

1.3 Truyện thơ dân tộc Thái

Đây là đối tượng trung tâm của luận án, Nghiên cứu sinh sẽ trình bày kĩ hơn

phần trước, bao gồm các phương diện: Lịch sử văn hóa xã hội tộc người Thái; hiện trạng truyện thơ dân tộc Thái (tổng cộng 9 trang).

1.3.1 Lịch sử văn hóa xã hội tộc người Thái

1.3.1.1 Lịch sử tộc người Thái và địa lí tự nhiên

Người Thái chia thành hai nhóm chính, gồm Tay Khao (Thái Trắng), TayĐăm (Thái Đen) Người Thái dần di cư về phía nam và tây nam lãnh thổ TrungQuốc “đến Việt Nam trong thời gian từ thế kỉ VII đến thế kỉ XIII” Khi định cư tạiViệt Nam, người Thái thiết lập, tổ chức xã hội khá chặt chẽ theo hình thái ý thức

- Kết cấu giai tầng xã hội

Trước Cách mạng tháng Tám, tộc Thái chia thành hai tầng lớp Bộ máy cai trị

hàng châu của Thái Đen ở Tây Bắc khá cồng kềnh bao gồm các chức dịch: pha

Trang 8

nha, phìa tạo, mo lang, chang Giai cấp bị trị là cuông nhốc Họ nắm toàn bộ lợi

tức của châu và có quy định rất rõ ràng trong luật tục

- Hôn nhân

Với hôn nhân, ở chế độ phìa tạo, quan hệ thị tộc mẫu hệ chi phối thì việc hôn

nhân phải được hai gia đình cho phép và diễn ra theo hai khía cạnh: hôn nhân phảimôn đăng hộ đối; hôn nhân cư trú bên nhà vợ (tục ở quản)

- Tín ngưỡng

Người Thái gắn vương quyền với thần quyền Họ theo nếp sống đa thần, tất

cả trên trời dưới nước đều có ma cai quản

1.3.1.3 Văn tự, văn học

- Văn tự

Do điều kiện tư liệu cụ thể nghiên cứu về lịch sử dân tộc này còn hạn chế nêncho đến nay vấn đề nguồn gốc văn tự Thái vẫn đang gây nhiều tranh cãi Chữ Tháixuất hiện tuy gần thời điểm ra đời của chữ Nôm nhưng lại không giống với dạngchữ tượng hình Hiện nay chữ Thái có bảy cách viết nhưng rất thống nhất vềnguyên tắc cấu tạo

1.3.2 Hiện trạng truyện thơ dân tộc Thái

Truyện thơ là một trong những thể loại văn học của người Thái có số lượngsáng tác đông đảo và dài hơi nhất

So với các dân tộc thiểu số khác, số lượng truyện thơ của dân tộc Thái kháphong phú (khoảng 300 tác phẩm), trong đó chỉ có 6 tác phẩm được dịch ra tiếngViệt Giống như hệ thống truyện thơ Nôm bình dân của dân tộc Kinh, các sáng táctruyện thơ Thái đều khuyết danh

Truyện thơ Thái chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của loại hình diễn xướng - khắp (hát) Truyện thơ khi diễn xướng được hát theo điệu khắp xư.

Về nguồn gốc cốt truyện, truyện thơ Thái ở Việt Nam được sáng tác từ 2nguồn cơ bản: dựa trên truyện cổ dân gian Thái; dựa vào cốt truyện của nền vănhọc dân tộc Kinh, Lào, Trung Hoa…

Về đề tài sáng tác, truyện thơ Thái Tây Bắc chú trọng tới 3 đề tài chính: đề tài

tình yêu đôi lứa, đấu tranh chinh phục tự nhiên, gia đình - xã hội Kết cấu cốt

truyện trong truyện thơ Thái có thể chia làm hai mô hình: gặp gỡ - tai biến - đoàn

tụ và xâu chuỗi, lắp ghép.

Trang 9

1.4 Mối tương tác giữa truyện thơ Nôm và truyện thơ Thái

Phần này chúng tôi trình bày sự giao lưu về đề tài của truyện thơ Thái vàtruyện thơ Nôm

- Do hiện trạng văn bản, luận án chọn 5 truyện thơ Thái để khảo sát Trong 5

truyện đó thì 2 truyện có đề tài mang tính chất phổ biến toàn thế giới Cách thức sáng tác là bám sát đề tài, sau đó tác giả thoát khỏi đề tài mà sáng tạo ra cốt truyện của người Thái.

- Mở rộng phạm vi sáng tác, mong muốn được giao lưu văn hóa, người Thái

còn dựa vào cốt truyện có sẵn trong truyện thơ Nôm của người Kinh Với lối kế thừa này, tác giả thường bám sát cốt truyện truyện thơ Nôm sau đó sáng tạo bằng cách thêm tình tiết, đảo trật tự tình tiết, thổi vào đó luồng tư tưởng, văn hóa của người Thái khiến tác phẩm mang tinh thần mới.

- Ngoài những cách thức trên, truyện thơ Nôm của người Kinh và truyện thơ

của người Thái còn có hiện tượng sáng tác dựa trên những mô típ chung.

1.5 Giới thiệu nội dung một số truyện thơ Thái và truyện thơ Nôm liên quan đến đề tài

Chúng tôi giới thiệu cặp đôi truyện thơ Nôm – truyện thơ Thái, trong đó nhấnmạnh hơn về đối tượng trung tâm - truyện thơ Thái, gồm 5 mục

1.5.1 Truyện thơ Nôm Thạch Sanh và truyện thơ Thái Ngu háu

1.5.2 Truyện thơ Nôm Cái Tấm - Cái Cám và truyện thơ Thái Ý Nọi - Nàng Xưa

1.5.3 Truyện thơ Nôm Từ Thức và truyện thơ Thái Ú Thêm

1.5.4 Truyện thơ Nôm Tống Trân - Cúc Hoa và truyện thơ Thái Trạng

nguyên

1.5.5 Truyện thơ Nôm Hoàng Trừu và truyện thơ Thái Trạng Tư

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

- Truyện thơ - thuật ngữ định danh dùng để chỉ một thể loại văn học của

người Kinh; các dân tộc ít người trong đó có người Thái trên lãnh thổ Việt Nam.Một số truyện thơ của dân tộc Thái và truyện thơ Nôm của dân tộc Kinh có cùng

đề tài

- Đề tài là khái niệm chỉ loại các hiện tượng đời sống được miêu tả, phản ánhtrực tiếp trong sáng tác văn học Đề tài là phương diện khách quan của nội dungtác phẩm Đề tài muốn được triển khai cần phải thể hiện qua nội dung cấu trúc

- Truyện thơ Nôm của dân tộc Kinh hay truyện thơ của dân tộc Thái đều có

chung yếu tố hạt nhân là truyện (tự sự), phương thức biểu hiện là thơ (trữ tình).

Trang 10

Là truyện, thể loại truyện thơ luôn đảm bảo yếu tố sơ đẳng nhất nhưng cốt lõi

nhất: cốt truyện Cốt truyện không được kể bằng văn xuôi mà kể bằng văn vần thì được gọi là truyện thơ.

- Truyện thơ Thái vận động trong môi trường lịch sử, điều kiện tự nhiên, vănhóa tộc người miền núi đầy màu sắc huyền thoại Quá trình hình thành vận độngtruyện thơ Nôm dân tộc Kinh lại có nhiều điểm tương đồng khác biệt Những yếu

tố dung dưỡng ấy góp phần kiến tạo nên các điểm chung đồng thời hình thành nétriêng giữa các sáng tác của hai dân tộc

- Sự giống và khác nhau nói trên được người đọc nhận thấy rõ nhất ở phươngdiện đề tài, cốt truyện Điểm giống nhau cơ bản là cùng có kết cấu ba phần, thờigian tuyến tính một chiều, hệ thống nhân vật chính đơn tính cách, có nguồn gốc từtruyện dân gian Sự khác biệt nằm ở chỗ hệ thống tình tiết, sự kiện nhiều điểmkhông trùng khít Truyện thơ Thái có xuất hiện lối lắp ghép, xâu chuỗi, bên cạnhnhững kết thúc tốt đẹp có kết thúc bi kịch, hành trạng nhân vật giàu chất sử thi…

Chương 2 NỘI DUNG CỦA MỘT SỐ TRUYỆN THƠ DÂN TỘC THÁI

CÓ CÙNG ĐỀ TÀI VỚI TRUYỆN THƠ NÔM DÂN TỘC KINH

(Trong Chương 2, chúng tôi trình bày 43 trang về các vấn đề: Khát vọng chinh phục tự nhiên; khát vọng gia đình - xã hội; khát vọng có con người đẹp)

- Truyện thơ Ngu háu của dân tộc Thái lại tập trung khắc họa hình tượng

người anh hùng Lưu Vĩnh trong cuộc chiến đấu lẫm liệt mang màu sắc sử thi

Lưu Vĩnh chiến thắng đá, điều khiển được đá, biến nó thành công cụ, vũ khí chiến đấu tự giác với Mãng xà tinh Ở buổi đầu, con người bị các lực lượng tự nhiên chi phối Trước sự việc bất bình, bằng tài năng đức độ của mình, Lưu Vĩnh

đã dũng cảm chiến đấu, giết chết Mãng xà hung ác giành lại công chúa Đây là giai đoạn con người dần dần thống trị lại tự nhiên, đồng thời gián tiếp đánh đổ cái xấu của thế lực thần quyền.

Nhân vật Thạch Sanh trong truyện thơ Nôm cùng tên cũng chiến thắng mãng

xà song cuộc chiến công này dường như có sự sắp đặt của Ngọc Hoàng, chiến thắng được tiên định, ít nhiều thể hiện sự bất lực của con người trước tự nhiên.

Khác với Thạch Sanh, nhân vật Lưu Vĩnh có nguồn gốc xuất thân thường nhân, tài

Trang 11

năng của chàng do khổ luyện và do chính cha đẻ dạy dỗ Giết mãng xà bằng sức mạnh nội tại của chính con người, mâu thuẫn giữa con người với tự nhiên được

giải quyết Con người đã đứng trên tự nhiên, khuất phục nó Cao hơn nữa, truyện

thể hiện sự thách thức của con người trước tự nhiên.

- Truyện thơ Ú Thêm là một luận chứng khẳng định quá trình này Sống

trên mặt đất, giữa trùng điệp đá và sông lớn cùng những thác nước hung dữ

Không gian hiểm nguy ấy khiến con người sợ hãi khôn cùng Ú Thêm, với sức

mạnh của mình khuất phục tự nhiên rồi cải tạo tự nhiên Trên con đường đó,người Thái kiêu hãnh tin vào sức mạnh nội tại, khẳng định vị trí của con ngườitrước thế giới tự nhiên

2.1.2 Khát vọng chinh phục tự nhiên - cách thức bảo vệ bản mường

- Quá trình chinh phục tự nhiên không chỉ thể hiện khát vọng của người Thái

mà quá trình đó còn là con đường duy nhất để bảo vệ bản mường Nội dung này

được đề cập rõ nhất trong hai tác phẩm Ngu háu và Trạng nguyên.

- Trong tác phẩm Ngu háu, Mãng xà xuất hiện, cuộc sống của bản mường

như ngàn cân treo sợi tóc Nhân vật Lưu Vĩnh chiến thắng Mãng xà để bảo vệ sinhmạng của công chúa và lớn hơn, bản mường tránh được nạn hồng thủy

- Tác phẩm Trạng nguyên cũng thể hiện nội dung nói trên, qua ba sự kiện:

Thu phục hổ dữ tàn phá bản mường; chiến thắng môi trường nước; giết thuồngluồng dưới vực sâu

Sáng tạo bằng cách ghép thêm tình tiết, tác giả Thái đã đưa vào tác phẩmnhững nội dung mới so với phạm vi phản ánh ban đầu Nhân vật chính chinh phụcmôi trường cạn và môi trường nước đã thể hiện sự am tường và niềm khát khao

mở rộng hiểu biết, vươn tới thống trị chân trời mới của cộng đồng Thái

Như vậy, chinh phục tự nhiên là khát vọng tha thiết của người Thái Do sống phụ thuộc nhiều vào môi trường tự nhiên nên truyện thơ thường chú ý đến đề tài này Chinh phục tự nhiên là nhiệm vụ của mỗi cá nhân vì nó quyết định hạnh phúc lứa đôi Chinh phục tự nhiên còn là cách duy nhất để bảo vệ bản mường.

2.2 Khát vọng bảo vệ gia đình - xã hội

(Vấn đề này chia làm 2 phần: khát vọng bảo vệ gia đình; khát vọng bảo vệ xã hội)

2.2.1 Khát vọng bảo vệ gia đình

- Qua kết quả thống kê, chúng tôi nhận thấy, có 4 trong số 5 truyện thơ Thái

trong Phạm vi nghiên cứu có xuất hiện nội dung này (trừ truyện thơ Trạng Tư).

- Truyện Ý Nọi - Náng Xưa mượn mô típ dì ghẻ - con chồng tập trung phản ánh bức tranh gia đình So với truyện Cái Tấm - Cái Cám, quan hệ cha con trong

truyện thơ Thái sâu đậm hơn, mối quan hệ gia đình bền chặt gắn kết hơn Tác giảtruyện thơ đã cho người đọc thấy môi trường văn hóa gia đình Thái, xã hội màquan hệ mẫu hệ đang duy trì, mọi quyền bính tập trung trong tay người vợ

Trang 12

- Truyện Trạng nguyên cho thấy, tầng lớp trên đã thối nát, lại thêm chuyện

hôn nhân gả bán vô nhân ở phạm vi gia đình Ông Tương - người cha Cúc Hoa đotình mẫu tử thông qua lăng kính đồng tiền, lấy số phận người con làm công cụ đổichác, mối quan hệ ruột thịt còn bị đổ vỡ huống chi “khác máu tanh lòng” Chi tiết

cho thấy sự tuột dốc không cứu vãn của xã hội Thái Vì vậy, cuối tác phẩm tác

phẩm truyện thơ đã để nhân vật bất hạnh hoặc con người lí tưởng được hạnh phúcviên mãn Đó là khát vọng, mơ ước của người Thái

2.2.2 Khát vọng bảo vệ xã hội

- Truyện thơ Ú Thêm lại có phạm vi phản ánh rộng hơn: xã hội đầy biến

động, phức tạp Tính chất đột biến phức tạp của cuộc sống được thể hiện trước hết

ở hệ thống mâu thuẫn từ xã hội đến gia đình, sự cụ thể hóa của thôn tính, thao túng quyền lực, ích kỉ hẹp hòi giữa các quốc gia luôn muốn trở thành kẻ mạnh.

- Cuộc sống đầy phức tạp và biến động còn hiện hữu ở cõi phi trần thế(mường quỷ, mường trời) Pha nha Trời ở mường Xì In là người nắm trong taymọi quyền lực mà cũng không bảo vệ được con gái mình khỏi cái ác Vừa tuyệt

đối huyền bí, vừa trần ai, chi tiết này cho thấy tác giả truyện thơ Thái đã không thần thánh hóa thế lực siêu nhiên như văn học dân tộc Kinh đương thời, giải thiêng thần thánh và kéo gần khoảng cách giữa thế tục và thế giới tưởng tượng là bước tiến lớn trong văn học viết giai đoạn này.

2.3 Khát vọng có con người lí tưởng

(Vấn đề này, Nghiên cứu sinh chia làm 4 phần, 22 trang: hình tượng con người lí tưởng; tự hào sánh ngang xứ người; khát vọng “ở hiền gặp lành”; khát vọng có con người lí tưởng gửi gắm qua tôn giáo tín ngưỡng)

2.3.1 Hình tượng con người lí tưởng

- Truyện thơ dân tộc Thái hướng tới giá trị thẩm mĩ: con người đẹp và ước

mơ kẻ “ở hiền” thì sẽ “gặp lành” Qua truyện thơ Ngú háu và Trạng nguyên (dân

tộc Thái), tác giả xây dựng nhân vật nam lí tưởng có tâm hồn trong sáng giản dị, chỉ một mực nghĩ về điều thiện, làm việc thiện, quên thân vì lợi ích cho cộng đồng, không mong được báo đền ân nghĩa, chàng kết tinh cao đẹp đạo đức, sức

mạnh và trí tuệ quần chúng nhân dân

- Truyện thơ Thái xuất hiện mẫu người khổ luyện thành tài Khẳng định cái

đẹp, cái tài không xa lạ, khó nắm bắt mà nó thuộc về bất cứ ai Tác phẩm thể hiệnđức tin vào giá trị người Ca ngợi vẻ đẹp toàn diện của người lao động với tàinăng, đức độ, tác giả dân gian đã gửi gắm ước mơ, khát vọng xã hội công bằng cónhân tài hào kiệt lãnh đạo muôn dân, chung hưởng hạnh phúc thái bình

- Hình tượng người phụ nữ ở văn chương mỗi dân tộc có đôi nét khác biệt

song họ đều có chung những phẩm chất: xinh đẹp, hiền thục, hiếu thảo, thủy chung

Ngày đăng: 28/08/2014, 16:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w