Tuy nhiên, vì sự thật thường được xác định trong quan hệ đối lập với hư cấu,cho nên việc xác định tiêu chí đánh giá sự thực, mức độ và phạm vi hư cấu lànhững vấn đề gây rất nhiều tranh l
Trang 11.2 Trong tư duy lí thuyết Việt Nam, từ trong các tự, bạt, khảo cứu thờitrung đại, đến các công trình phê bình văn học, văn học sử, lí luận văn học hiện
đại, người ta thường cho rằng ghi chép sự thật là đặc trưng quan trọng nhất của
kí Tuy nhiên, vì sự thật thường được xác định trong quan hệ đối lập với hư cấu,cho nên việc xác định tiêu chí đánh giá sự thực, mức độ và phạm vi hư cấu lànhững vấn đề gây rất nhiều tranh luận, đặc biệt là hai cuộc tranh luận về nghệthuật tả chân những năm 1936-1939 và cuộc tranh luận về kí những năm 1960.Mặt khác, cách kiến giải đặc trưng của kí theo cách này đã không thể giải quyếtmột cách triệt để một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn sáng tác Chính vì thế, thiếtnghĩ cần có một cách tiếp cận khác đối với loại hình văn học này
1.3 Từ những năm đầu thế kỉ XX, trên thế giới, đã xuất hiện một bướcchuyển biến quan trọng trong tư duy lí thuyết của các ngành khoa học xã hội vànhân văn, được gọi là khúc ngoặt ngôn ngữ Trên cơ sở sự thức tỉnh sâu sắc vềvai trò, chức năng và bản chất của ngôn ngữ, các tư tưởng gia như M.Bakhtin,Foucault, R.Barthes, J.Derrida đã cắt nghĩa lại rất nhiều những vấn đề cốt yếunhư thực tại, chủ thể, sự thật, căn tính Xuất phát từ nền tảng này, một mô hìnhnghiên cứu văn học, văn hóa mới đã dần dần thay thế cho mô hình nghiên cứu
Trang 2dựa trên lý thuyết phản ánh Từ đây, người ta không còn định vị các hiện tượngvăn học, văn hóa bằng cách qui chiếu nó với một thực tại có thật, mà xác địnhtọa độ của nó trong mạng lưới các diễn ngôn bao xung quanh nó, có trước nó,tiếp nối sau nó Mặt khác, văn học không còn được nghiên cứu như là nhữngvăn bản ngôn từ khép kín, mà các học giả luôn cố gắng chỉ ra những cấu trúckiến tạo nên các văn bản ngôn từ chìm sâu trong các vỉa tầng văn hóa Trong
mô hình nghiên cứu này, khái niệm diễn ngôn trở thành một trong những thuậtngữ mang tính chất chìa khóa, có vai trò quan trọng đến nỗi, người ta khó cóthể thâm nhập vào các lý thuyết văn học văn hóa thế kỉ XX mà không hiểuđược nội hàm của nó Nền tảng lý thuyết này đã cung cấp cho chúng tôi mộtcách tiếp cận mới về loại hình văn học kí, góp phần giải quyết những vấn đềcòn bỏ ngỏ đặt ra từ thực tiễn sáng tác, đồng thời đem lại một cách nhìn mới vềloại hình văn học vốn quen thuộc này
1.4 Tiếp cận vấn đề lý thuyết và các loại hình lịch sử của văn học kí dướigóc độ lý thuyết diễn ngôn, luận án một mặt giải quyết được những vấn đề cònmâu thuẫn giữa nghiên cứu lý thuyết truyền thống và thực tiễn sáng tác kí, mặtkhác chỉ ra những đặc trưng, hệ thống phân chia thể loại cũng như qui luật pháttriển của kí trong tiến trình lịch sử Mô hình lý thuyết mới này mang lại một cáinhìn mới, giúp cắt nghĩa lại các hiện tượng văn học kí, và chắc chắn sẽ hứa hẹnnhiều triển vọng trong nghiên cứu thực tiễn sáng tác của loại hình này
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Văn học kí có nguồn gốc xa xưa từ những tác phẩm kí, lục, chí trong văn
học trung đại song có thể nói, phải đến thế kỉ XX, nó mới được ý thức như mộtloại hình văn học và được nghiên cứu một cách hệ thống Tuy kí hiện đại khácrất xa với các tác phẩm bi kí, minh kí, mộ chí, tạp kí thời khởi thủy , songngười ta vẫn có thể tìm thấy trong kí trung đại những yếu tố mang tính chất bềnvững, có thể nói là những gene thể loại Vì lí do đó, chúng tôi xác định đốitượng khảo sát chính trong luận án là các tác phẩm kí trong văn học Việt Namhiện đại Tuy nhiên, các tác phẩm kí Việt Nam thời trung đại vẫn được đề cậpđến như một tư liệu đối sánh Ngoài ra, để làm sáng tỏ các vấn đề lí thuyết,
Trang 3chúng tôi cũng có những liên hệ nhất định với các tác phẩm kí trong văn họcnước ngoài.
3 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng triệt để những nguyên tắc phương pháp luận của lý thuyếtdiễn ngôn và kí hiệu học văn hóa Kí hiệu học văn hóa cho phép tác giả luận ánkhẳng định văn học kí là một hiện tượng văn hóa mà thực chất là quá trình kíhiệu học, nên chỉ có thể nghiên cứu nó dưới ánh sáng của kí hiệu học Còn lýthuyết diễn ngôn giúp tác giả luận án chứng minh, văn học kí là một cơ chế kiếntạo văn bản chịu sự chi phối của nhiều mã văn hóa khác nhau
4 Nhiệm vụ và ý nghĩa của luận án
a Luận án lần đầu tiên đặt vấn đề nghiên cứu kí như một hình thức diễnngôn, một sự kiến tạo văn bản và kiến tạo sự thật dựa trên mã thể loại và mã tưtưởng hệ
b Phân tích văn học kí Việt Nam giai đoạn 1945-1975 như một lát cắt lịch
sử để làm sáng tỏ các vấn đề lý thuyết
5 Cấu trúc nội dung của luận án
Luận án được cấu trúc làm 5 phần: phần mở đầu, phần nội dung, phần kếtluận, danh mục các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và thưmục tham khảo Nội dung chính của luận án được triển khai thành bốn chươngnhư sau:
Chương 1: Tổng quan
Chương 2: Mã thể loại và đặc trưng của văn học kí
Chương 3: Mã tư tưởng hệ và đặc trưng của văn học kí
Chương 4: Kí Việt Nam 1945-1975 như một lát cắt lịch sử
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
Trong phần tổng quan, chúng tôi cố gắng điểm qua những quan niệmkhác nhau về kí trong nghiên cứu văn học Việt Nam cũng như một số nước trênthế giới như Trung Quốc, Nga, song vì những hạn chế về thời gian và điều kiện
tư liệu, chúng tôi chủ yếu tập trung phân tích sự biến đổi của quan niệm về kí
Trang 4trong tư duy lý thuyết ở Việt Nam Trên cơ sở những tư liệu này, chúng tôi chỉ
ra những khoảng trống, những vấn đề đặt ra trong lí thuyết truyền thống, và đềxuất một mô hình tiếp cận mới đối với văn học kí- hướng tiếp cận từ góc độ líthuyết diễn ngôn
1 Kí trong tư duy lí thuyết Việt Nam
- Trong thời trung đại, tuy chưa thể có phê bình nghiên cứu về kí, songngười ta vẫn có thể tìm thấy những quan niệm về kí trong các lời tự, bạt, haytrong cách phân loại của các công trình mang tính chất khảo cứu về văn học văn
hóa của một thời đại (như Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, tựa Lam Sơn thực lục, Trung Hưng thực lục của Hồ Sĩ Dương ) Thông qua
những nguồn tư liệu này, chúng ta có thể nhận thấy một quan điểm khá nhất
quán của các học giả thời trung đại về kí: kí là thể loại ghi chép sự thực mắt thấy tai nghe Những quan niệm về thể loại này đã trở thành nền tảng cho lí
thuyết kí về sau
- Vào những năm đầu của thế kỉ XX, quan niệm về văn học kí được phátbiểu trong các cuộc tranh luận nghệ thuật, các công trình phê bình văn học.Theo đó, các thể loại kí như truyện kí, phóng sự, kí sự, du kí được coi là thể loạighi chép sự thực, mang tính thời sự, và tả chân được coi là một nguyên tắc miêu
tả sự thực trong các tác phẩm kí
- Trên văn đàn Việt Nam những năm 1945-1986, kí trở thành vấn đề trung
tâm trong một cuộc tranh luận sôi nổi trên tạp chí Văn nghệ những năm 1960, là
đối tượng nghiên cứu của các nhà phê bình, nghiên cứu văn học, lí luận vănhọc Trong giai đoạn này, hệ thống lí thuyết về kí được chính thức xác lập trên
cơ sở nghiên cứu thực tiễn sáng tác kí Việt Nam, mà chủ yếu là kí giai đoạn1945-1986 và tiếp thu hệ thống lí thuyết về kí trong văn nghệ Liên Xô Trênnền tảng này, giới nghiên cứu Việt Nam thường xác định đặc trưng của kí như
là một thể loại ghi chép người thực việc thực và tôn trọng tối đa tính xác thực của đối tượng miêu tả Hệ thống lí thuyết này có ảnh hưởng rất lớn đến sáng tác, phê bình, nghiên cứu kí đương thời Và công trình Kí viết về chiến tranh Cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội của Hà Minh Đức có thể coi là hình
mẫu tiêu biểu của mô hình lí thuyết này
Trang 5- Từ những năm 1986 cho đến nay, phê bình nghiên cứu về kí vẫn tiếp tụckhai triển trên điểm tựa của hệ thống lí thuyết đã được xác lập trong giai đoạntrước Đối tượng nghiên cứu được mở rộng, nghiên cứu kí đi sâu vào các hướngchính Hướng thứ nhất tiếp tục xác lập một hệ thống lí thuyết về kí (trong giáotrình Lí luận văn học) Hướng thứ hai là hướng nghiên cứu các loại hình lịch sử
kí như kí trung đại, kí Việt Nam từ đầu thế kỉ đến năm 1945 Hướng thứ ba tậptrung khảo sát sự hình thành, phát triển của các thể loại kí trong tiến trình lịch
sử Hướng thứ tư quan tâm nghiên cứu các tác giả, tác phẩm cụ thể nhằm chỉ ranhững đặc điểm phong cách tác giả và giá trị của các tác phẩm Sự mở rộng đốitượng khảo sát này đã cho thấy diện mạo phong phú, đa dạng của loại hình vănhọc này
2 Kí trong một số tư liệu nước ngoài.
Ở Trung Quốc
Qua những thu thập còn chưa thể đầy đủ của chúng tôi, có thể nhận thấy,trong văn học Trung Quốc, cũng có tồn tại một loại hình văn học có nội dungghi chép sự thật thường được gọi là kí (hay bằng những cái tên khác như thư kí,tạp kí) Song tên gọi thể loại, nội hàm cũng như biên giới thể loại không rõràng, cách phân chia thể loại trong văn học cổ trung đại Trung Quốc cũng khácbiệt rất nhiều so với cách phân chia thể loại trong nghiên cứu văn học TrungQuốc hiện đại
Trang 6điểm chung về hình thức, kết cấu Tuy nhiên, tên gọi, phạm vi cũng như nộihàm của chúng không thống nhất ở các quốc gia khác nhau, thậm chí trongnhững giai đoạn lịch sử khác nhau ở cùng một nền văn học Đặt trong bối cảnh
ấy, ta có thể thấy, khó có thể có một mô hình lý thuyết nào trên thế giới khả dĩ
có thể áp dụng trong nghiên cứu kí ở Việt Nam Mặt khác, thực tiễn sángtác kí ở Việt Nam cũng rất đa dạng, phức tạp và có nhiều điểm đặc thù, đòihỏi phải có một lý thuyết thể loại bắt nguồn từ chính thực tiễn ấy
3 Những vấn đề đặt ra
Qua việc khảo sát tình hình nghiên cứu kí ở Việt Nam và tham khảo các tàiliệu nghiên cứu nước ngoài, chúng tôi nhận thấy, trong lý thuyết văn học kí ởViệt Nam, còn tồn tại những vấn đề sau:
3.1 Khi bàn đến đặc trưng của kí, các nhà nghiên cứu đều thống nhất sựthật là hạt nhân của kí, tuy nhiên, cách kiến giải thế nào là sự thật, mối quan hệgiữa sự thật và hư cấu là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi
3.2 Khi đối chiếu với thực tiễn sáng tác kí, còn nhiều vấn đề đặt ra, cầnđược giải quyết: trong kí trung đại, sự thật được miêu tả mang đầy màu sắc kì
ảo, hoang đường, trong phóng sự 1930-1945, chỉ có sự thật xấu xa, bẩn thỉu của
tệ nạn xã hội, trong kí 1945-1975, lại chỉ có sự thật tốt đẹp, đáng biểu dương…3.3 Khi tiếp cận đặc trưng thể loại kí, giới nghiên cứu thường dựa trênchức năng của thể loại, lịch sử hình thành phát triển của thể loại, phương thứcphản ánh đời sống Chưa có công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu kí như mộthình thức diễn ngôn
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn hướng nghiên cứu đặc trưng của kí nhưmột hình thức diễn ngôn, nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra từ thực tiễn sángtác và nghiên cứu kí
4 Diễn ngôn và một mô hình mới để xác lập lí thuyết văn học kí
Khái niệm diễn ngôn ra đời từ rất sớm, song trước thế kỉ XX, phạm vi sửdụng của nó chủ yếu bó hẹp trong lĩnh vực ngôn ngữ học và diễn ngôn thườngđược hiểu theo nghĩa là tu từ học Từ thế kỉ XX, trong bối cảnh sự chuyểnhướng mạnh mẽ của hệ hình lý thuyết (hay còn gọi là khúc ngoặt ngôn ngữ),diễn ngôn đã được bổ sung thêm những hàm nghĩa mới, gắn liền với một mô
Trang 7hình nghiên cứu văn học văn hóa hoàn toàn mới, đồng thời trở thành một trongnhững thuật ngữ mang tính chất chìa khóa trong các ngành khoa học xã hội vànhân văn
Những hàm nghĩa mới của diễn ngôn, có thể nói, có cội nguồn sâu xa từtrong các trước tác của ba nhà tư tưởng lớn của thế kỉ XX: F.de Saussure,M.Bakhtin và M.Foucault Thứ nhất, đối với các nhà cấu trúc chủ nghĩa, diễnngôn được hiểu là cấu trúc của ngôn ngữ/ lời nói, đó là những nguyên tắc tổchức, sắp xếp ngôn từ trong hệ thống theo một qui luật nhất định Thứ hai, đốivới nhà nghiên cứu M.Bakhtin, diễn ngôn được định nghĩa như là một loại lờinói thấm đẫm tư tưởng hệ Thứ ba, đối với M.Foucault, diễn ngôn được hiểu theonghĩa rộng là tất cả các nhận định nói chung có một lực tác động nào đó Theonghĩa hẹp, diễn ngôn là một nhóm các nhận định cụ thể, được qui ước theo mộtcách nào đó, đồng tồn tại trong cùng một bối cảnh, có chung một xuất xứ vàđược nhóm lại dưới áp lực của một thiết chế Ngoài ra, diễn ngôn còn được dùng
để chỉ một thực tiễn sản sinh ra vô số các nhận định và chi phối việc vận hànhcủa chúng, những qui tắc và cấu trúc tạo ra các phát ngôn và văn bản cụ thể1 Tóm lại, ba cách tiếp cận trên về diễn ngôn đã cung cấp ba định nghĩa khác
nhau về diễn ngôn: diễn ngôn như là cấu trúc của ngôn ngữ/ lời nói, diễn ngôn như là lời nói- tư tưởng hệ, và diễn ngôn như là công cụ để kiến tạo tri thức và thực hành quyền lực Đây là những nét nghĩa quan trọng nhất đã được bổ sung
thêm vào khái niệm diễn ngôn vốn đã xuất hiện từ lâu, đồng thời, nó cũng lànhững nét nghĩa được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu văn học và văn hóa.Thông qua việc tóm lược những cách tiếp cận chính đối với diễn ngôn, cóthể thấy các cách tiếp cận khái niệm tuy có khác nhau, song vẫn có một sốnhững luận điểm chung như sau:
Thứ nhất, diễn ngôn là một hệ thống kí hiệu mà để lí giải, cắt nghĩa, ta phải hiểu được mã của nó Có điều, mỗi học giả lại có một cách hiểu khác nhau về
mã diễn ngôn Các nhà cấu trúc chủ nghĩa cho rằng, mã ngôn ngữ là yếu tố nằmchìm sâu trong cấu trúc của diễn ngôn Theo M.Bakhtin, muốn tiếp cận đượcmột diễn ngôn, không thể không phân tích thể loại lời nói và tư tưởng hệ của
1 Sara Mills, Discourse, Routledge, Taylor &Francis Group, London and New York, 2004, p.36.
Trang 8nó Nhà nghiên cứu Foucault lại cho rằng, cái đích cuối cùng của việc phân tíchdiễn ngôn là phải chỉ ra cơ chế quyền lực ẩn giấu trong ngôn ngữ.
Thứ hai, các học giả đều cho rằng, diễn ngôn có một cấu trúc Đối với các
nhà cấu trúc chủ nghĩa chịu ảnh hưởng của F.Saussure, diễn ngôn có một cấutrúc tương tự như cấu trúc ngữ pháp của câu, có thể phân tích thành những yếu
tố như ngôi, thời, thể, thức, giọng Theo M.Bakhtin, đơn vị cấu thành nên diễnngôn là các phát ngôn Các phát ngôn này lại được tổ chức một cách chặt chẽtrong cái mà ông gọi là các thể loại lời nói Theo M.Foucault, có những cấu trúcbên trong và cấu trúc bên ngoài chi phối việc tạo lập, vận hành và phân phối cácdiễn ngôn Cấu trúc bên trong gồm có: tri thức hệ, nhân định, diễn ngôn/cácdiễn ngôn, thư khố, sự loại trừ bên trong diễn ngôn Các cấu trúc bên ngoài củadiễn ngôn bao gồm: bình luận, những nghi thức, tác giả2
Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những quan niệm trên, chúng tôi tiến tới xácđịnh khái niệm diễn ngôn như một công cụ cho một hệ hình nghiên cứu mới đốivới loại hình văn học kí Diễn ngôn được hiểu như một cơ chế kiến tạo văn bảnchịu sự chi phối của những mã văn hóa Trên cơ sở định nghĩa này, chúng tôixác định hai hạt nhân cấu trúc của diễn ngôn: mã thể loại và mã tư tưởng hệ
CHƯƠNG 2: MÃ THỂ LOẠI VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN HỌC KÍ
2.1 Khái niệm mã, mã thể loại, mã thể loại của văn học kí.
- Mã: nguyên tắc xác lập mối quan hệ giữa thông tin và kí hiệu, trong giao
tiếp, mã là yếu tố xác lập nên mối quan hệ giữa người phát và người nhận, giữathông điệp và ý nghĩa Mã là một ngôn ngữ, bởi nó cũng có những đơn vị và quitắc tổ chức các đơn vị ấy thành một hệ thống, giúp truyền đạt thông tin
- Mã thể loại: nguyên tắc xác lập mối quan hệ giữa thông tin và thể loại, làyếu tố trung gian trong cuộc giao tiếp giữa người viết và người đọc
- Là một hình thức diễn ngôn, văn học kí chịu sự chi phối của hai mã: mã sựthật và mã nghệ thuật
2 Những luận điểm này đã được trình bày một cách chi tiết trong công trình nghiên cứu đã công bố của chúng tôi, xin
tham khảo Ba cách tiếp cận khái niệm diễn ngôn, Nguyễn Thị Ngọc Minh, sdd.
Trang 92 2 Mã sự thật (ngôn ngữ sự thật) như là hạt nhân cấu trúc của văn học kí
2.2.1 Người kể chuyện ngôi thứ nhất với tư cách là nhân chứng
Trong kí bao giờ cũng có một người kể chuyện xưng tôi, là người tận mắtchứng kiến và bình luận về thế giới được miêu tả Người kể chuyện này bao giờcũng được cụ thể hóa bằng những thông tin giống như tiểu sử tác giả Để tăngthêm mức độ tin cậy của người kể chuyện nhân chứng, tác giả thường tạo nênnhững tình huống tiếp xúc, trong đó, người kể chuyện trực tiếp gặp gỡ, tròchuyện với nhân vật
2.2.2 Nhân vật, sự kiện, không gian, thời gian cụ thể, đơn nhất
Trong các tác phẩm kí, bao giờ cũng có những nhân vật, sự kiện, địa điểm,thời gian cụ thể, đơn nhất, tạo thành lớp từ vựng của sự thật trong các tác phẩm kí,khiến cho kí khác hẳn với các loại hình văn học khác Lớp từ vựng của sự thật nàylàm gia tăng tính thuyết phục cho các tác phẩm kí về tính chân thực của các sựkiện được miêu tả
2.2.3 Kết cấu theo logic của sự thực
Lớp từ vựng của sự thật thường được tổ chức theo trật tự tuyến tính, theologic nhân quả hoặc theo logic của thế giới chủ quan của người trần thuật xưngtôi Các tác phẩm kí thời trung đại chịu ảnh hưởng của diễn ngôn lịch sử, nênthường kết cấu theo thể biên niên, kỉ truyện hoặc khảo cứu Các phóng sự 1930-
1945 thường tổ chức theo kết cấu của thể loại điều tra báo chí hoặc báo cáokhoa học Cách kết cấu này làm nổi bật logic khách quan của sự thật đời sống,
có thể coi là lớp ngữ pháp của sự thật
2.2.4 Các thủ pháp miêu tả sự thực của các loại hình tư liệu
Các tác phẩm kí thường sử dụng các thủ pháp quay phim, chụp ảnh, ghi
âm, montage của các loại hình tư liệu khác, nhằm rút ngắn tối đa khoảng cáchgiữa trần thuật và câu chuyện
2.3 Mã nghệ thuật và đặc trưng của văn học kí
Ban đầu, kí là một thể loại chức năng nhằm ghi chép thông tin, sự kiện.Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, chức năng ghi chép, lưu trữ thông tin ngàycàng trở nên thứ yếu, từ thế kỉ XVIII, nhiều tác phẩm kí đã thực sự trở thành
Trang 10những tác phẩm nghệ thuật giàu giá trị như Vũ trung tùy bút (Phạm Đình Hổ), Thượng kinh kí sự (Lê Hữu Trác) Quá trình phát triển này khiến cho trong hạt
nhân cấu trúc của kí, còn tồn tại một mã thể loại thứ hai- mã thể loại nghệ thuật,
có thể nhận ra mã thể loại này qua các yếu tố sau:
2.3.1 Hình tượng con người và bức tranh thế giới
- Các nhân vật, sự kiện trong kí tuy không được tái hiện một cách đầyđặn, song thường được phác họa sống động thông qua các chi tiết dày đặc trên
bề mặt, bằng những đoạn miêu tả chân dung, hành động, phong cảnh Nhữngđoạn miêu tả này tạo nên sự “dư thừa” của kí so với khung thể loại biên niên,điều tra, khảo cứu, làm nên giá trị nghệ thuật, sức hấp dẫn của kí
- Các tác phẩm kí đầy ắp những hình ảnh biểu tượng, ẩn dụ Những hìnhảnh này làm nên chiều sâu, sự đa nghĩa cho các tác phẩm kí
2.3.2 Khung truyện kể
- Các sự kiện trong kí bao giờ cũng được sắp xếp, tổ chức thành một vănbản trần thuật có mở đầu, kết thúc Cách mở đầu, kết thúc này lại thường tuântheo một số qui luật, motip nhất định: các tác phẩm du kí thường mở đầu bằng
sự khởi hành của nhân vật người trần thuật xưng tôi, các phóng sự thường kếtthúc ở thời điểm kết thúc cuộc điều tra, các truyện kí thời trung đại viết về cácbậc quân vương, danh thần, thường mở đầu bằng motip sự sinh đẻ thần kì
- Các sự kiện trong kí tuy có mối quan hệ lỏng lẻo, song lại thường được
tổ chức thành một câu chuyện, làm bộc lộ một ý nghĩa nào đó Các tác phẩmphóng sự 1930-1945 thường tổ chức sự kiện thành câu chuyện về cái chungcục, trong đó, mọi sự vật, nhân vật đều được miêu tả trong hành trình hướng tớibóng tối, cái chết, sự tha hóa Trong khi đó, các tác phẩm kí 1945-1975 lạithường tổ chức chuỗi sự kiện thành câu chuyện về sự khởi đầu, trong đó, mọi
sự vật, hiện tượng được miêu tả trong hành trình đổi mới, hồi sinh
- Các sự kiện tưởng chừng rời rạc trong tùy bút, tản văn thường được tổchức trong một khung truyện kể xoay quanh điểm nhìn của người trần thuậtxưng tôi Sự xuất hiện của người trần thuật này khiến cho tác phẩm có một khảnăng mở rộng, co giãn linh hoạt song lại luôn có một sợi dây kết nối, một ýnghĩa thống nhất Thậm chí những số liệu báo cáo tưởng chừng hoàn toàn
Trang 11khách quan, nhưng khi được sắp đặt theo một nguyên tắc nào đó, chúng vẫn cókhả năng tạo ra một câu chuyện, nói lên một ý nghĩa Ngoài ra, nhịp điệu trầnthuật khi nhanh khi chậm, khi nhấn khi lướt cũng góp phần bộc lộ ý nghĩa.
Như vậy, quá trình tổ chức lớp từ vựng của sự thật thành một câu chuyệnđồng thời là quá trình xếp chồng lên tác phẩm một lớp nghĩa mới, dôi ra so vớilớp nghĩa chỉ vật Ngôn ngữ sự thật chỉ là chất liệu để biểu đạt một ý nghĩanghệ thuật nào đó Cách kết cấu này khiến cho các tác phẩm kí trở nên ý vị,giàu triết lí
2.3.3 Lớp lời văn phong cách hóa
- Khác với lời văn trung tính, khách quan của các thể loại lịch sử, báo chí,khoa học, lời văn của kí là lời văn nghệ thuật, có tính lạ hóa, có giọng điệu cảmxúc và sự xuất hiện của nhiều thủ pháp từ chương: ẩn dụ, so sánh, trùng điệp,khoa trương, mỉa mai, giễu nhại
2.4 Sự tương tác giữa các mã
2.4.1 Sự chế định, hỗ trợ lẫn nhau của mã sự thật và mã nghệ thuật
Trong các tác phẩm kí, mã thể loại ngoài nghệ thuật và mã thể loại nghệthuật tương tác, đan cài, ràng buộc lẫn nhau Trong cấu trúc của kí, có sự tồn tạicủa mã nghệ thuật, nhưng mã nghệ thuật này lại chịu sự chi phối của mã ngoàinghệ thuật, nên mọi yếu tố nghệ thuật đều bị co lại theo một khung khổ nhấtđịnh Sự trói buộc của mã sự thật đối với mã nghệ thuật khiến cho các tác phẩm
kí khó có thể tiến tới một trạng thái bị phân rã, phi kết cấu như các thể loại vănhọc nghệ thuật khác Ngược lại, mã nghệ thuật lại khiến cho mã sự thật trở nênuyển chuyển, linh hoạt, hấp dẫn Nếu ngôn ngữ sự thật khiến cho kí có khảnăng can dự trực tiếp vào đời sống xã hội, trở thành thể loại tiên phong trongvăn học nói riêng và đời sống văn hóa nói chung, thì ngôn ngữ nghệ thuật lạikhiến cho kí là hình thức lời nói vòng vo, gián tiếp, đầy ẩn ý, nhờ thế mà có thểluồn lách để thoát khỏi vòng kim cô của kiểm duyệt Sự hòa trộn, chế định, hỗtrợ lẫn nhau của hai mã này đã tạo nên cho kí một chiến lược phát ngôn đầy sứcmạnh so với các thể loại văn học và các diễn ngôn sự thật khác
2.4.2 Sự tương tác giữa mã sự thật và mã nghệ thuật trong thực tiễn sáng tác kí
Trang 12Quan sát thực tiễn sáng tác kí Việt Nam, có thể nhận thấy, trong quá trìnhphát triển của kí, mã sự thật thường chiếm vị trí ưu trội trong những giai đoạn
mở đầu của nền văn học, mã nghệ thuật thường lấn át trong những giai đoạn kếttinh của một nền văn học Các thể loại kí có thiên hướng sử dụng mã sự thậtthường nở rộ trong những môi trường văn hóa tương đối dân chủ và mở rộng.Trong những môi trường văn hóa mà tính chất dân chủ bị hạn chế, thì mã nghệthuật lại là thứ ngôn ngữ chiếm vị trí ưu trội trong các sáng tác kí Mặt khác, mãthể loại của kí chịu sự chi phối của những thể loại lời nói phổ biến trong mộtnền văn hóa (kí trung đại chịu sự chi phối của diễn ngôn lịch sử, kí hiện đại lạichịu ảnh hưởng của diễn ngôn báo chí, khoa học)
CHƯƠNG 3: MÃ TƯ TƯỞNG HỆ VÀ SỰ VẬN ĐỘNG,
PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HỌC KÍ
3.1 Khái niệm tư tưởng hệ, mã tư tưởng hệ
- Tư tưởng hệ: hệ thống những quan điểm, thái độ, niềm tin chung cho một
nhóm người, mang tính chất trấn áp, được khách quan hóa bằng một bức tranhthế giới, một khuôn mẫu biểu hiện của chủ thể
- Mã tư tưởng hệ: nguyên tắc xác lập mối quan hệ của một nhóm chủ thểvới thực tại đời sống, nằm trong cấu trúc văn hóa của một thời đại, một cộngđồng
3.2 Mã tư tưởng hệ và đặc trưng của văn học kí
3.2.1 Cái tôi chứng kiến như một vai phát ngôn mang giá trị phổ quát
Cái tôi chứng kiến trong kí không phải chỉ phát biểu dưới tư cách cá nhân
mà thường nhân danh một lớp người, một cộng đồng, một thời đại, một nền vănhóa Trong mỗi thời đại, mỗi nền văn hóa, lại có một vai phát ngôn được côngnhận Chủ thể của diễn ngôn sự thực trong kí buộc phải khuôn theo những vaiphát ngôn này, nếu không, tiếng nói của anh ta sẽ không được công nhận là hợpthức (thời trung đại, chỉ sử gia mới có quyền lên tiếng về sự thật, thời hiện đại,
đó là nhà báo, nhà khoa học ) Vai phát ngôn xã hội này sẽ qui định góc nhìn