NHTƯ quản lý phần VKD nằm tại NHTƯ thông qua việc thiết lập hệ thống khuôn khổ, xây dựng quy tắc sử dụng các biện pháp can thiệp, chi phối khối lượng giao dịch VKD trên thị trường tiền t
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vốn khả dụng là vốn sẵn sàng để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của TCTD Vốn này để đáp ứng yêu cầu dự trữ bắt buộc của NHTƯ và phần dư thừa để thực hiện các nghĩa vụ thanh toán với khách hàng, với Ngân sách Nhà nước, giao dịch với đối tác, trả nợ cho NHTƯ Các TCTD sẽ duy trì vốn khả dụng dưới hai hình thức: tại quỹ của TCTD và gửi tại NHTƯ Phần vốn khả dụng dư thừa là phần có tính lỏng cao
nhất, TCTD sẽ quyết định tỷ trọng phần tiền giữ tại TCTD hay NHTƯ dựa theo nhu
cầu thanh toán từng thời điểm Như vậy, phần vốn khả dụng giữ tại NHTƯ bao gồm: tiền gửi DTBB và một phần dự trữ dư thừa để đáp ứng nhu cầu thanh toán của TCTD NHTƯ quản lý phần VKD nằm tại NHTƯ thông qua việc thiết lập hệ thống khuôn khổ, xây dựng quy tắc sử dụng các biện pháp can thiệp, chi phối khối lượng giao dịch VKD trên thị trường tiền tệ để điều chỉnh trạng thái VKD trên TTLNH, chi phối tới hành vi điều chỉnh cân bằng giữa phần VKD gửi tại NHTƯ với phần tại quỹ của TCTD để đảm bảo hoạt động bình thường của mình, từ đó tác động tới lãi suất thị trường nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng của Chính sách tiền tệ
Để thực hiện quản lý VKD, NHTƯ cần dự báo trạng thái VKD trên thị trường, xác định khối lượng cần can thiệp và đưa ra các biện pháp điều chỉnh trạng thái VKD trên thị trường để đạt được mục tiêu điều hành CSTT Tùy từng quốc gia, với đặc điểm về thể chế chính trị, mức độ phát triển của nền kinh tế cũng như tính hiệu lực trong điều hành chính sách tiền tệ của NHTƯ mà mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố cấu thành nên cung cầu VKD tại NHTƯ cũng như mức độ dự báo và kiểm soát từng nhân tố cấu thành VKD của NHTƯ cũng có sự khác nhau
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang dần hoàn thiện công tác quản lý VKD như: hoàn chỉnh phương pháp dự báo, bổ sung nguồn thông tin báo cáo phục vụ công tác dự báo, cải thiện tính đồng bộ của hệ thống biện pháp can thiệp, … Mặc dù có nhiều sự cố gắng, kết quả dự báo dần chính xác hơn, các công cụ được sử dụng linh hoạt, tạo ra các biến động phù hợp với yêu cầu của thị trường và đạt mục tiêu của NHNN hơn nhưng kết quả quản lý VKD của NHNN còn gặp nhiều hạn chế, trạng thái VKD của thị trường không biến động tích cực sau can thiệp của NHNN, lãi suất chỉ đạo không định hướng được mức lãi suất của thị trường, các hoạt động điều hành của NHNN đi sau thị trường, thị trường không quan tâm tới các động thái điều hành từ NHNN Nguyên nhân làm ảnh hưởng tới kết quả quản lí VKD của NHNN Việt Nam là tính thiếu đồng bộ của hệ thống thông tin báo cáo, kĩ thuật dự báo còn mang tính ngắn
Trang 2hạn, khả năng dự báo và quản lí VKD hạn chế, sự phối kết hợp giữa các chính sách vĩ
mô chưa thống nhất…dẫn đến sự bị động của NHNN trong việc điều chỉnh trạng thái VKD để đạt được mục tiêu của CSTT
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nêu, luận án đã lựa chọn đề tài nghiên cứu là:
"Quản lý VKD trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam" để đóng góp đầy đủ hơn các luận cứ khoa học của công tác quản lý VKD, thực
tiễn thực hiện tại NHNN VN và từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý VKD nhằm đáp ứng yêu cầu về hiệu quả điều hành CSTT
2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Trên thế giới, đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến từng nội dung liên quan đến đề tài về về Chính sách tiền tệ (các công cụ của Chính sách tiền tệ, mục tiêu của Chính sách tiền tệ…), thị trường tiền tệ tuy nhiên các tài liệu liên quan trực tiếp đến mảng quản lí VKD của NHTƯ trong điều hành CSTT được công bố trên thế giới chưa nhiều Các tác giả đại diện cho những nghiên cứu về vấn đề này có: Ulrich Bindseil (2000), Falko Fecht, Kjell G Nyborg, J’org Rocholl (2007), Simon T Gray (2008), Mohamed Afzal Norat (2008) Ngoài ra, các tổ chức như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng trung ương Châu Âu và Cục dự trữ liên bang Mỹ cũng có một số bài nghiên cứu liên quan đến đề tài Về các nghiên cứu tại Việt Nam, các đề tài nghiên cứu liên quan đến Chính sách tiền tệ, các công cụ của Chính sách tiền tệ, kênh truyền tải tác động của Chính sách tiền tệ đã được quan tâm nghiên cứu nhiều, tuy nhiên, liên quan trực tiếp đến hoạt động quản lí VKD trong điều hành Chính sách tiền tệ của
NHTƯ thì hiện chỉ có “Hoàn thiện phương pháp dự báo vốn khả dụng nhằm nâng cao năng lực điều tiết thị trường tiền tệ của NHNN” của PTĐ NHNN Việt Nam Nguyễn
Đồng Tiến (2006)
Tóm lại, trên thế giới và tại Việt Nam, các nghiên cứu về Quản lí VKD của NHTƯ còn hạn chế và chưa được hệ thống cũng như kiểm chứng một cách đầy đủ và toàn diện, các nghiên cứu chưa đưa ra sự khác biệt về khái niệm VKD trên phương diện NHTM, NHTƯ và ở từng phương diện thì sự thay đổi trạng thái VKD ảnh hưởng tới từng thị trường và ở mức độ khác nhau Vì vậy, luận án lựa chọn tập trung vào hệ thống hóa lí luận liên quan tới công tác quản lí VKD trên phương diện của NHTƯ, đồng thời nghiên cứu việc thực hiện công tác này tại NHNN Việt Nam nhằm tăng cường hiệu quả điều hành CSTT
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Làm rõ lí luận liên quan tới công tác quản lý VKD: Khái niệm về VKD, cung
Trang 3cầu VKD, nội dung công tác quản lý VKD, phương pháp dự báo VKD…Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý và dự báo VKD của một số nước trên thế giới, rút ra bài học kinh nghiệm với Việt Nam
- Phân tích thực trạng công tác quản lý và dự báo VKD của NHNN VN trong điều hành Chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam
- Đề xuất giải pháp nhằm giải quyết những vấn đế nảy sinh trong quản lí vốn khả dụng của NHNN Việt Nam, hoàn thiện và nâng cao chất lượng công tác quản lý VKD
nhằm góp phần nâng cao hiệu lực Chính sách tiền tệ của NHNN VN
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu lí luận cơ bản về vốn khả
dụng trên phương diện quản lí của NHTƯ, thực trạng việc quản lí VKD để điều hành CSTT của NHNN VN theo phương pháp dự báo từ bảng cân đối tiền tệ của NHTƯ và
đề xuất giải pháp quản lí VKD trong điều hành CSTT của NHNN Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án nghiên cứu trên phương diện quản lí của NHTƯ,
sử dụng số liệu trên Bảng cân đối tiền tệ của NHNN là chủ yếu và phân tích trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2012
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu suy luận, phân tích hệ thống, phân tích đối chiếu, so sánh, khảo sát, thống kê, kết hợp lí luận và thực tiễn; Phân tích định tính kết hợp định lượng, sử dụng mô hình hồi quy đơn
6 Những đóng góp chính của Luận án
Luận án là công trình nghiên cứu khoa hoc chuyên sâu và hoàn chỉnh đầu tiên về Quản lí vốn khả dụng (trên phương diện của NHTƯ) trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Đặc biệt đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để làm rõ hơn các luận cứ khoa học
7 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận án được chia thành 3 chương:
- Chương 1: Lí luận chung về quản lý vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương
- Chương 2: Thực trạng quản lý vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Trang 4CHƯƠNG 1
LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÍ VỐN KHẢ DỤNG TRONG ĐIỀU HÀNH
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
1.1 KHÁI QUÁT VỀ VỐN KHẢ DỤNG VÀ QUẢN LÍ VỐN KHẢ DỤNG TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
1.1.1.Vốn khả dụng
1.1.1.1 Khái niệm
“Vốn khả dụng” được hiểu là nguồn vốn sẵn sàng để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính như: rút tiền mặt của khách hàng, nhu cầu thanh toán, đáp ứng các cam kết cho vay với khách hàng, nộp thuế cho Ngân sách, trả nợ NHTƯ…của TCTD
Dưới góc độ hệ thống ngân hàng: Vốn khả dụng là tiềm lực vốn của một tổ chức tài chính, là VKD nằm tại TCTD
Trên phương diện quản lý của NHTƯ: VKD gửi tại NHTƯ – chính là số tiền
dự trữ mà TCTD gửi vào NHTƯ của quốc gia Nó bao gồm: tiền gửi DTBB, tiền gửi thanh toán, v.v
1.1.1.2 Cầu và cung vốn khả dụng tại Ngân hàng trung ương
Cầu vốn khả dụng tại Ngân hàng trung ương
Cầu VKD được hiểu là tập hợp các nhu cầu cần đáp ứng để thực hiện các nghĩa vụ về tài chính của TCTD đó với các đối tác, bao gồm NHTƯ, ngân sách nhà nước, các TCTD khác và đặc biệt là khách hàng của TCTD
Cầu VKD được hình thành từ hai bộ phận: cầu VKD tự định và cầu chính sách
Cầu VKD tự định: Là những nhu cầu thanh toán cần đáp ứng xuất phát từ những yếu
tố nội tại trong hoạt động của TCTD và nằm ngoài sự kiểm soát trực tiếp từ NHTƯ
Cầu VKD chính sách: là yêu cầu thực hiện của NHTƯ mà các TCTD phải để
một khoản gọi là tiền gửi dự trữ bắt buộc
Mối quan hệ giữa cầu VKD tự định và cầu VKD chính sách: có mối quan hệ
khăng khít với nhau thông qua số dư cuối ngày trên tài khoản tiền gửi thanh toán Trong đó cầu VKD chính sách phụ thuộc vào DTBB, là nhân tố mang tính thể chế và không thay đổi hàng ngày Phần còn lại trên tài khoản tiền gửi tại NHTƯ nhằm đáp
ứng nhu cầu VKD tự định
Cung VKD tại NHTƯ
Cung vốn khả dụng là số tiền các TCTD sẵn sàng sử dụng để đáp ứng nghĩa vụ tài chính của mình với các bên liên quan như: khách hàng, ngân sách, với các TCTD
Trang 5khác hay với NHTƯ
Về cơ bản, nguồn cung VKD của TCTD được hình thành từ hai nguồn chính: (i) nguồn vốn huy động từ nền kinh tế; (ii) nguồn cung ứng thêm từ NHTƯ qua các kênh: mua ngoại tệ, cho Ngân sách vay, cho các TCTD vay và một số khoản khác Khi xem xét cung VKD tại NHTƯ, luận án tập trung nghiên cứu phần cung VKD xuất phát từ sự thay đổi của các yếu tố trên bảng cân đối tiền tệ của NHTƯ
- Các yếu tố cung tự định bao gồm: Tài sản có ngoại tệ ròng; Cho vay chính phủ ròng, Tài sản có khác ròng
- Các yếu tố cung chính sách bao gồm: Tái cấp vốn cho các ngân hàng; Các
1.1.2.2 Sự cần thiết phải quản lí vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền
tệ quốc gia của NHTƯ
NHTƯ quản lý VKD nhằm nâng cao hiệu quả điều hành CSTT
NHTƯ thông qua việc dự báo trạng thái VKD của thị trường, xác định chính xác liều lượng và thời hạn can thiệp tới thị trường sẽ là động lực để thị trường biến đổi theo hướng tích cực, từ đó đạt được mục tiêu mà NHTƯ đặt ra Có thể nói, NHTƯ quản lí VKD tốt sẽ cải thiện khả năng ảnh hưởng của các công cụ chính sách tới các biến số thực của nền kinh tế được lựa chọn làm mục tiêu chính sách trong từng thời kỳ CSTT quốc gia
Giúp NHTƯ điều chỉnh kịp thời trạng thái VKD của hệ thống NH
Việc dự báo VKD của hệ thống TCTD sẽ giúp NHTƯ nắm được trạng thái bình thường và bất thường của thị trường, từ đó đưa biện pháp điều chỉnh kịp thời trạng thái VKD thông qua bơm hút tiền, điều chỉnh cơ chế giá
Điều quan trọng để NHTƯ cần điều chỉnh kịp thời trạng thái VKD vì NHTƯ
hiểu rằng Khi trạng thái cung cầu VKD mất cân bằng – dù dư thừa hay thiếu hụt – sẽ đẩy NHTƯ phải thực hiện hành vi không mong muốn, do đó, NHTƯ có thể sẽ phải
Trang 6thỏa mãn phần nào yêu cầu của thị trường để có thể tiếp tục thực hiện CSTT đã định
1.2 NỘI DUNG VÀ QUY TRÌNH QUẢN LÍ VỐN KHẢ DỤNG TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
1.2.1 Quy trình quản lí vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương
1.2.1.1 Dự báo vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ
Vai trò của dự báo VKD trong điều hành CSTT
Dự báo VKD làm cơ sở để NHTƯ có thể chủ động đề ra những giải pháp điều hành CTTT phù hợp, góp phần điều tiết VKD, điều tiết lãi suất trên thị trường theo mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ
Phương pháp dự báo VKD
Dự báo trên cơ sở phương pháp tiếp cận bảng cân đối tiền tệ của NHTƯ
Cơ sở dự báo: Phương pháp tiếp cận BCĐ tiền tệ của NHTƯ cho phép NHTƯ sử
dụng số liệu của các khoản mục trên BCĐ để dự báo trạng thái VKD Sự thay đổi của mỗi nhân tố trên BCĐ sẽ ảnh hưởng tới trạng thái VKD của toàn hệ thống NH
Cung VKD = (Tài sản có ngoại tệ ròng + cho vay Chính phủ ròng + các
khoản mục khác ròng – tiền mặt trong lưu thông) + cho vay các TCTD từ NHTƯ
Cầu về VKD = DTBB + dự trữ để thanh toán
VKD (dự trữ của TCTD tại NHTƯ) = tài sản có ngoại tệ ròng + cho vay Chính phủ ròng + cho vay các TCTD + các khoản khác ròng - tiền mặt trong lưu thông [37]
Quy trình dự báo vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ
Bước 1: Xác định các yếu tố cần dự báo
Bước 2: Lập dãy số liệu lịch sử về các yếu tố cung - cầu vốn khả dụng trong một
khoảng thời gian cần thiết
Bước 3: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến các tiêu thức dự báo trong kỳ dự
báo: Đây là bước quan trọng và phức tạp nhất trong quy trình dự báo
Dự báo các yếu tố về cung VKD
Cung VKD tự định
Cho vay Chính phủ ròng: Để dự báo được xu hướng biến động của khoản
mục cho vay Chính phủ ròng, bộ phận dự báo cần theo dõi được sự biến động về khoản mục Cho vay và tiền gửi của Chính phủ, cụ thể thông qua hoạt động thu chi và bảo lãnh của Chính phủ Hiệu quả dự báo của yếu tố này phụ thuộc vào: Mối quan hệ
Trang 7giữa NHTƯ và BTC quyết định việc thông suốt trong thông tin cần trao đổi; Việc mở
TK của Chính phủ tại NHTM, NHTƯ hay mở ở 2 nơi sẽ ảnh hưởng đến sự dịch chuyển vốn và ảnh hưởng đến kết quả dự báo
Tài sản có ngoại tệ ròng: Về ngắn hạn, những thay đổi về tài sản có ngoại tệ
ròng do NHTƯ can thiệp trên thị trường ngoại hối; Về dài hạn: Những thay đổi về tài
sản có ngoại tệ ròng bị ảnh hưởng bởi những thay đổi của các yếu tố cấu thành cán cân thanh toán quốc tế
Tiền mặt trong lưu thông: Về ngắn hạn, cầu về tiền mặt chủ yếu chịu tác
động bởi các yếu tố có tính thời vụ như ngày chi trả lương, ngày nghỉ, ngày chi tiền điều chỉnh tăng lương, Việc dự báo yếu tố tiền mặt cần dựa trên các số liệu lịch sử để
phân tích tìm ra các yếu tố có tính thời vụ; Về dài hạn, yếu tố ảnh hưởng tới cầu tiền
mặt là: (1) Xu hướng và tăng trưởng theo chu kỳ của nhu cầu tiền mặt; (2) Tốc độ tăng trưởng GDP danh nghĩa (3) Xu hướng thay đổi trong mối quan hệ giữa Chính phủ và nhu cầu tiền mặt,
Các khoản khác ròng: Về ngắn hạn thì các khoản khác ròng có biến động
không đáng kể Nhìn chung, nếu không có các thông tin biết trước cụ thể, có thể dự báo không thay đổi trừ các khoản phải thu, phải trả
Cung VKD chính sách : Phụ thuộc vào mục tiêu của CSTT từng thời kì và kế
hoạch cung ứng tín dụng qua hệ thống NH nên việc dự báo mang tính chắc chắn và
chính xác cao
Dự báo các yếu tố về cầu VKD: Để dự báo VKD của toàn hệ thống các
TCTD, NHTƯ quan tâm đến tổng cầu về VKD của toàn hệ thống mà không phải cầu
về VKD của từng TCTD đơn lẻ, trừ trường hợp ở một số nước có sự phân tách thị
trường tiền tệ
Dự báo cầu về DTBB: Khoản tiền này bị ảnh hưởng bởi phương pháp quản lí
DTBB và các yếu tố ảnh hưởng tới lượng tiền huy động bình quân theo kì của TCTD Cách thức dự báo về tổng tiền gửi hay từng bộ phần cấu thành của tiền gửi có thể sử dụng các mô hình cấu trúc hay mô hình theo chuỗi thời gian, có tính đến tính thời vụ
của yếu tố tiền gửi
Dự báo dự trữ vượt: Nhu cầu này gần như không có độ nhạy cảm đối với sự
biến động của lãi suất LNH Có ba nhân tố tác động đến nhu cầu về số dư này: Quy
trình thanh toán hiệu quả, Sự mong đợi về thái độ của NHTƯ trong việc cung cấp dự trữ thâm hụt cho TCTD tại mức lãi suất không phạt; Trạng thái thị trường LNH
Bước 4: Phân tích lỗi của kỳ dự báo trước
Trang 8Bước 5: Tiến hành dự báo: Phương pháp 1: Phân tích theo số liệu lịch sử và điều
chỉnh theo tính thời vụ; Phương pháp 2: Dựa trên cơ sở phân tích các số liệu theo kế
hoạch hoặc các khoản thu chi đến hạn theo hợp đồng như: các khoản cho vay, thu nợ của NHTƯ đối với các TCTD, thời điểm đến hạn của các hợp đồng mua bán có kỳ hạn với NHTƯ Trong đó, PP1 mang lại sự chủ động trong dự báo cho NHTƯ, PP2 mang lại tính chính xác cao hơn nhưng NHTƯ bị động trong việc thu thập số liệu
Ngoài ra, có thể kết hợp phương pháp định lượng để đo lường mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố cấu thành tới trạng thái cung, cầu VKD tại NHTƯ trong từng thời kì, để từ đó có căn cứ chắc chắn hơn cho việc ra quyết định sử dụng biện pháp can thiệp của NHTƯ để đạt mục tiêu điều hành CSTT Các mô hình được chỉ định chủ yếu là mô hình hồi quy đơn, thể hiện sự tác động của một yếu tố lên Cung/ Cầu vốn khả dụng
Bước 6: Tổng hợp kết quả dự báo
Ưu, nhược điểm của phương pháp dự báo
Ưu điểm: Tăng tính chủ động của NHTƯ trong dự báo; Sai số không đáng kể trong ngắn hạn
Nhược điểm: Phụ thuộc vào sự phối hợp thông tin giữa NHTƯ và Bộ tài
chính; Kết quả dự báo về VKD của toàn hệ thống theo cách tiếp cận này phụ thuộc vào một số điều kiện nền tảng: (i) Mọi khoản thanh toán của các TCTD đều thực hiện qua hệ
thống thanh toán của NHTƯ; (ii) Thị trường tiền tệ không có sự phân cách
Dự báo theo cách tiếp cận từ các TCTD
Trang 9thống; NHTƯ dễ dàng yêu cầu TCTD thực hiện báo cáo trạng thái VKD từng thời
điểm cho NHTƯ
Nhược điểm: Vai trò chủ động của NHTƯ trong dự báo bị hạn chế; Đòi hỏi
từng TCTD phải đầu tư về cơ sở hạ tầng cho thông tin, hệ thống thanh toán…, nguồn nhân lực để có thể thực hiện việc quản lý vốn tập trung và on-line trong toàn hệ thống của mình
1.2.1.2 Xác định khối lượng cần can thiệp: (i) Mục tiêu Chính sách tiền tệ từng
thời kì; (ii) Căn cứ vào kết quả dự báo VKD; (iii) Tình hình của phiên giao dịch trước; (iv) Xem xét những tham số của thị trường như: lãi suất, sự thay đổi của nhu cầu vốn… Sau đó, Uỷ ban điều hành CSTT (ở một số quốc gia do Ủy ban nghiệp vụ thị trường mở) sẽ quyết định can thiệp
1.2.1.3 Các biện pháp can thiệp để đạt được mục tiêu
Nghiệp vụ thị trường mở: Là nghiệp vụ được sử dụng chủ yếu và thường
xuyên trong các can thiệp ngắn hạn và tức thì của quản lý VKD
Phương tiện thường xuyên được sử dụng để bổ sung tác động tới trạng thái
VKD cuối cùng của thị trường sau khi nghiệp vụ thị trường mở kết thúc các phiên trong ngày hoặc mở rộng tác động tới trạng thái vốn của một số TCTD không thể tham gia nghiệp vụ TTM
Dự trữ bắt buộc: Là biện pháp mang can thiệp điều chỉnh dài hạn và mạnh đến
trạng thái VKD của thị trường thông qua việc NHTƯ yêu cầu các TCTD phải giữ một lượng tiền theo quy định dựa trên tỷ lệ DTBB và số tiền gửi huy động từng thời kì
1.2.2 Khung thời gian dự báo và quản lí vốn khả dụng
Dự báo ngắn hạn: Thời gian dự báo ngắn hạn phụ thuộc vào độ dài của kì duy
trì và khả năng dự báo chính xác của NHTƯ Kì dự báo thường là hôm nay (t=0),
ngày tiếp theo (t=1), từ hôm nay đến hết kì duy trì
Dự báo dài hạn: giúp NHTƯ có thể dễ dàng hơn trong việc lập kế hoạch điều
hành Các dự báo dài hạn theo quý, năm tiếp theo giúp NHTƯ xác định kì hạn thanh toán hay lãi suất mục tiêu của nghiệp vụ TTM
1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng tới quản lí vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương
1.2.3.1 Nhân tố khách quan
- Mối quan hệ giữa NHTW với Chính phủ: Về cơ bản, mối quan hệ này ảnh
hưởng tới khả năng kế hoạch hóa của NHTƯ với khoản mục Cho vay Chính phủ ròng
Trang 10trong dự báo VKD theo phương pháp dựa vào bảng cân đối tiền tệ của NHTƯ Việc
kế hoạch hóa được hay không bị chi phối bởi mô hình NHTW độc lập với Chính phủ, trực thuộc Chính phủ
- Tính hiệu quả trong việc chuyển giao trôi chảy của vốn giữa người cho vay và khách hàng vay trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng: sẽ ảnh hưởng tới việc duy
trì và dự tính trạng thái VKD của các TCTD, TT LNH rất phức tạp bởi hành vi không chắc chắn của các TCTD tham gia mua bán vốn
- Cơ chế quản lý vốn của các TCTD: việc quản lý vốn của TCTD ảnh hưởng
lớn tới khả năng khai thác vốn ở từng thời điểm, tới trạng thái vốn cung ứng hay nhu cầu vốn tới thị trường LNH, từ đó ảnh hưởng tới vai trò quản lý VKD của NHTW Các TCTD có hai hình thức quản lý vốn tập trung và phi tập trung
1.2.3.2 Nhân tố chủ quan
- Hệ thống mục tiêu CSTT: Hệ thống mục tiêu được lựa chọn theo định
hướng điều hành lãi suất hay thiên về khối lượng sẽ ảnh hưởng tới chất lượng công tác quản lý VKD của NHTW
- Phương pháp dự báo VKD của NHTW: Hai phương pháp được sử dụng trên
thế giới: (i) Dự báo trên cơ sở bảng cân đối tiền tệ của NHTƯ đem lại tính chủ động trong dự báo; (ii) Dự báo từ báo cáo của các TCTD đem lại tính chính xác hơn
- Các quy định và chế tài trên TTTT: Thị trường có tổ chức và khung pháp lí
đầy đủ sẽ tạo điều kiện cho NHTƯ kiểm soát thông suốt hơn về thông tin và tín hiệu thị trường
1.3 KINH NGHIỆM QUẢN LÍ VỐN KHẢ DỤNG TRONG ĐIỀU HÀNH CSTT CỦA NHTƯ MỘT SỐ NƯỚC
1.3.1 Kinh nghiệm về quản lí vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Fed 1.3.1.1 Phương pháp dự báo của FED
Phương pháp dự báo được sử dụng là tiếp cận từ bảng cân đối của NHTƯ;
Khoảng thời gian của việc dự báo tại Mĩ là hai tuần và tiến hành hàng ngày Định hướng trong hai tuần này liên tục được cập nhật hàng ngày khi số liệu ước tính về nhu cầu dự trữ được điều chỉnh lại Hàng ngày Bộ phận dự báo VKD được các nhà đại lý cấp 1 cung cấp thông tin về tình hình thị trường Hàng tháng, các nhà đại lý cấp
1 trao đổi, đánh giá tình hình thị trường với các chuyên gia kinh tế, các khách hàng của mình và cung cấp cho Bộ phận dự báo VKD
Dự báo cầu VKD:
+ Dự báo về DTBB: Fed thực hiện quản lý DTBB theo phương pháp trùng
Trang 11một phần Vì vậy, lượng tiền DTBB được duy trì tương đối ổn định từ ngày đầu tiên đến ngày cuối cùng trong kì Các TCTD báo cáo về lượng tiền gửi huy động phải tính DTBB Bộ phận dự báo sẽ có kết quả số liệu tương đối ổn định và chính xác
+ Dự trữ thanh toán: Trước mỗi kỳ duy trì DTBB, ngoài tiền gửi DTBB, các
ngân hàng đều phải thông báo dự kiến mức dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán cho NHTƯ
Dự báo Cung VKD
+ Tài sản có ngoại tệ ròng: FED lấy ngoại tệ từ Kho bạc để đổi lấy đô la cung
cấp cho Kho bạc FED thực hiện mua giao ngay tiền tệ và bảo vệ giá trị của những đồng tiền được mua bằng cách đồng thời bán kì hạn cùng một số lượng tiền tệ ở mức giá tương tự cho Kho bạc
+ Khoản mục tiền gửi của Kho bạc: Do có quan hệ chặt chẽ với Kho bạc và
hệ thống thông tin, số liệu của Kho bạc cập nhật hàng hàng nên hàng ngày Fed có thể trao đổi thông tin với Kho bạc và việc dự báo tác động của thu chi ngân sách, tiền gửi Chính phủ đến dự trữ của các ngân hàng rất thuận lợi
Tiền mặt ngoài lưu thông: Sử dụng nội tệ ở nước ngoài cũng là một yếu tố làm
phức tạp cho quá trình dự báo do đồng Đôla Mĩ là loại tiền được ưu chuộng sử dụng trong các giao dịch quốc tế và ở một số quốc gia có tình trạng Đôla hóa thì có thể sử dụng Đôla thay thế cho đồng nội tệ
1.3.1.2 Biện pháp can thiệp: Fed có thể thay đổi tình hình thị trường thông qua sử
dụng ba công cụ: DTBB, lãi suất chiếu khấu và nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở: FED sử dụng OMOs để điều chỉnh cung VKD để
giữ lãi suất giao dịch trên TTLNH xung quanh mức lãi suất qua đêm mục tiêu
Cho Vay: Mục đích chính của Cửa sổ là hạn chế sức ép vào lãi suất qua đêm
bằng việc cung cấp tín dụng điều chỉnh để đáp ứng mức thiếu hụt dự trữ hay tránh thấu chi cuối ngày, nhưng các TCTD rất miễn cưỡng khi dựa vào Cửa sổ chiết khấu Điều này gây phức tạp cho việc quản lý VKD của Fed và làm giảm van an toàn hiệu quả của Cửa sổ chiết khấu
DTBB: Sự khác biệt trong sử dụng công cụ DTBB là Fed không thay đổi tỉ lệ
DTBB mà thay đổi giới hạn tiền gửi tương ứng với mức cố định là 0%, 3% và 10% Đây
là công cụ tạo tác động dài hạn trong quản lí VKD và Fed không sử dụng nhiều
Lãi suất qua đêm mục tiêu: Lãi suất qua đêm là mục tiêu điều hành của FED
FED không quyết định lãi suất mà chỉ đưa ra mức lãi suất muốn hướng đến sau đó dùng thị trường mở để tác động sao cho lãi suất qua đêm ứng tại mức lãi suất mục tiêu
Trang 121.3.2 Kinh nghiệm về quản lí VKD của ECB
1.3.2.1 Phương pháp dự báo: ECB thực hiện dự báo theo phương pháp trên bảng
cân đối tiền tệ của NHTƯ kết hợp với tổng hợp, phân tích các báo cáo dự báo VKD của các quốc gia thành viên
- Dự báo cầu VKD: Các nhân tố tự định là yếu tố khó dự báo nhất về cầu
VKD của trong khu vực Châu Âu
Đối với dự báo cầu DTBB: ECB quản lý DTBB theo phương pháp bình quân
theo kì, theo phương pháp trùng một phần, đặc biệt do yêu cầu DTBB khá cao trong hệ thống Châu Âu, nên các TCTD có xu hướng duy trì tiền DTBB tương đối ổn định
Dự trữ vượt mức: ECB kiểm soát trạng thái VKD thông qua tỉ lệ chênh lệch
giữa phần dự trữ vượt trên tiền gửi tại NHTƯ không quá 0.25%-0.5%
- Dự báo Cung VKD: Với hệ thống Châu Âu, đánh giá nhu cầu VKD là nhân
tố chính quyết định phân bổ VKD trong nghiệp vụ thị trường mở Việc xác định nhu cầu VKD kết thúc 1 ngày trước khi quyết định hoạt động tái cấp vốn chính tiếp theo, ECB có thể thay đổi quyết định việc cung cấp VKD NCB có một cơ sở dữ liệu để chạy mô hình kinh tế lượng làm cơ sở dự báo một số nhân tố
1.3.2.2 Biện pháp can thiệp: ECB sử dụng các công cụ của CSTT để can thiệp
nhằm thay đổi trạng thái VKD, trạng thái VKD trên thị trường được thể hiện thông qua EONIA Các công cụ CSTT của ECB được kể đến là: Các hoạt động thị trường
mở, các phương tiện thường xuyên và dự trữ tối thiểu
Hoạt động thị trường Mở gồm bốn nhóm: nghiệp vụ tái cấp vốn chính, tái cấp vốn
có kì hạn 3 tháng, nghiệp vụ can thiệp nhằm điều tiết tức thời thị trường và nghiệp vụ điều chỉnh cơ cấu.Công cụ quan trọng trong tạo tín hiệu chính sách tiền tệ của Eurosystem là hoạt động tái cấp vốn chính, được thực hiện hàng tuần với thời hạn hai tuần
Phương tiện thường xuyên: Eurosystem cung cấp hai phương tiện Phương
tiện tín dụng thường xuyên và phương tiện tiền gửi thường xuyên; Một để cung ứng