1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tóm tắt luận án hôn nhân và gia đình của tộc người brâu ở làng đắk mế, xã bờ y, huyện ngọc hồi, tỉnh kon tum

29 634 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tóm tắt luận án hôn nhân và gia đình của tộc người brâu ở làng đắk mế, xã bờ y, huyện ngọc hồi, tỉnh kon tum
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Nghiên cứu dân tộc học
Thể loại Luận án
Thành phố Kon Tum
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 175 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đây là cộng đồng thiểu số có dân số ít,vừa có quan hệ xuyên biên giới, vì vậy, việc tìm hiểu những vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình củangười Brâu dưới tác động của các chính

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Dân tộc Brâu có 397 người, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ - me, là một trong số 16 tộc người có dân

số dưới 10.000 người ở Việt Nam (Tổng điều tra Dân số và nhà ở Việt Nam ngày 1/4/2009) Người Brâu

ở Việt Nam chỉ cư trú tập trung tại làng Đắk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum Theo nhữngngười già ở Đắk Mế cho biết, tổ tiên của họ di cư từ Nam Lào và Đông Bắc Căm Pu Chia đến khu vực ngã

ba biên giới Việt Nam, Lào và Căm Pu Chia ước khoảng từ 6 đến 7 thế hệ (tức là từ 160 đến 170 nămnay)

Tại làng Đắk Mế, mặc dù cư trú thành một cộng đồng riêng, nhưng người Brâu vẫn có mối quan hệ xãhội và văn hóa chặt chẽ với các tộc người láng giềng như Xơ-đăng, Giẻ-Triêng, Rơ-măm, Gia-rai, Tày,Mường, Kinh (Việt), nhất là từ những năm sau đổi mới (1986)

Thời điểm đáng chú ý nhất là từ tháng 11 năm 2005, khi mà Chính phủ Việt Nam ra quyết định thành

lập và ban hành Quy chế hoạt động của Khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Bờ Y thuộc xã Bờ Y, huyện NgọcHồi, tỉnh Kon Tum đã thúc đẩy quá trình đô thị hóa và giao lưu thương mại, xã hôi và văn hóa trên địa bànsinh sống của người Brâu rất nhanh chóng Đặc biệt là sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Brâu,trong đó hôn nhân và gia đình là lĩnh vực biến đổi đáng kể nhất Do đây là cộng đồng thiểu số có dân số ít,vừa có quan hệ xuyên biên giới, vì vậy, việc tìm hiểu những vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình củangười Brâu dưới tác động của các chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa và hội nhập ở địa bàn ngã ba biên giới có ý nghĩa rất lớn về khoa học và thực tiễn sâu sắc

Thông qua kết quả nghiên cứu, đề tài mong muốn vừa góp phần tìm hiểu những vấn đề quan hệ tộc ngườitrong nước và xuyên biên giới, vừa góp phần nhìn nhận sự biến đổi của các hình thức hôn nhân và gia đình

Trang 2

của người Brâu trong quá trình vận động của lịch sử xã hội Bên cạnh đó, đề tài hy vọng sẽ giúp các nhàquản lý tham khảo trên cơ sở đó hoạch định những chính sách xã hội cụ thể về dân số và kế hoạch hóa giađình, xây dựng quy mô gia đình và văn hóa gia đình, giúp Đảng và Nhà nước có những quy định phù hợpvới đặc điểm riêng đối với những tộc người có dân số ít, đặc biệt khó khăn ở vùng sâu, vùng xa, vùng biêngiới trong đó có người Brâu.

2 Mục tiêu luận án

Một là, tìm hiểu về hôn nhân và gia đình truyền thống của người Brâu và những biến đổi qua các thời

kỳ trước và sau năm 1975, đặc biệt là sau khi thành lập Khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Bờ Y từ năm 2005đến thời điểm nghiên cứu

Hai là, chỉ rõ những nhân tố tác động trực tiếp, gián tiếp đến sự biến đổi và xu hướng hôn nhân và quan

hệ gia đình của tộc người này trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội, giao tiếp văn hóa với các tộc người

ở Tây Nguyên và các nước láng giềng

Ba là, làm cơ sở khoa học để các nhà quản lý tham khảo trong việc hoạch định chính sách, xây dựng các

giải pháp khả thi nhằm phát triển dân số, chất lượng dân số, gắn với bảo tồn, xây dựng văn hóa gia đình truyềnthống của người Brâu trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

3 Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu

Trên cơ sở tìm hiểu nguồn gốc lịch sử, cảnh quan cư trú, đặc điểm dân cư, dân số và điều kiện kinh tế

-xã hội của người Brâu ở làng Đắk Mế, luận án tập trung nghiên cứu về hôn nhân và gia đình, phân tíchchức năng, qui mô, cấu trúc của gia đình tộc người Brâu; những nguyên tắc, các hình thức, quan hệ hônnhân và những biến đổi của nó dưới tác động của các điều kiện kinh tế - xã hội mới Đồng thời, luận ánbước đầu so sánh với tình trạng hôn nhân và gia đình của tộc người này trong mối liên hệ với người Brâu ởLào và Căm Pu Chia

Địa bàn nghiên cứu là người Brâu ở làng Đắk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum Đây là nơi

Trang 3

tập trung tộc người này ở Việt Nam lại ở khu vực ngã ba biên giới Việt Nam, Lào và Căm Pu Chia.

4 Nguồn tư liệu và tài liệu của luận án

- Nguồn dữ liệu chính của luận án là từ nghiên cứu điền dã dân tộc học của NCS tại xã Bờ Y, huyệnNgọc Hồi, tỉnh Kon Tum vào các năm 1995, 1997, 2000, 2004 và mùa Hè năm 2011

- Nguồn tài liệu thứ cấp bao gồm các báo cáo ở tỉnh Kon Tum, của các ban ngành ở huyện Ngọc Hồi,UBND xã Bờ Y và Ban quản lý làng Đắk Mế cũng được cập nhật, xử lý để NCS đi sâu tìm hiểu về điềukiện địa lý, dân cư, đời sống và tình hình chính trị xã hiij tại địa phương và cơ sở, cộng đồng

- Kế thừa những nghiên cứu, ấn phẩm của các nhà khoa học trong lĩnh vực dân tộc học, văn hóa họctrong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án này Đặc biệt, NCS đã kế thừa và phát triển kết quả

nghiên cứu từ luận văn thạc sĩ, ấn phẩm Hôn nhân và gia đình của tộc người Brâu và những bài viết của

chính tác giả trong thời gian qua

Trang 4

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 5chương.

Chương 1 Tổng quan tài liệu, cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và khái quát tộc người Brâu ở tỉnhKon Tum

Chương 2 Hôn nhân

Chương 3 Gia đình

Chương 4 Biến đổi trong hôn nhân và gia đình

Chương 5 Kết quả và bàn luận

Trang 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KHÁI QUÁT

VỀ TỘC NGƯỜI BRÂU Ở TỈNH KON TUM

1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu của học giả nước ngoài

Cho đến nay, những ấn phẩm, công trình khoa học viết về người Brâu ở Đông Dương nói chung và ViệtNam nói riêng, đặc biệt là lĩnh vực hôn nhân và gia đình của tộc người này còn rất ít ỏi Duy nhất mộtcông trình khảo cứu dân tộc học của Viện Khoa học xã hội Lào được xuất bản năm 2005 bằng tiếng Anh

về người Brâu trong cuốn Các dân tộc thiểu số ở Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (The Ethnics Groups in Laos P.D.R.) Tuy nhiên, ở đây người viết cũng chỉ giới thiệu một cách rất đại quát về nguồn

gốc lịch sử nghi lễ hôn nhân và gia đình của người Brâu mà thôi

1.1.2 Nghiên cứu của các tác giả Việt Nam

Một trong những công trình nghiên cứu liên quan đến người Brâu đầu tiên phải kể đến là cuốn Các tộc người tỉnh Gia Lai - Công Tum, do Đặng Nghiêm Vạn làm chủ biên và được Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

xuất bản năm 1982 Hai năm sau đó (năm 1984), cũng nhà xuất bản này tiếp tục giới thiệu về tộc người

Brâu nhưng ở công trình khác của Viện Dân tộc học mang tên Các tộc người ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam) Phần viết về người Brâu, được Trần Mạnh Cát đề cập một cách khái quát

Trang 6

Cuốn sách Cấu trúc tộc người ở Lào (1996) của Nguyễn Duy Thiệu, được giới thiệu bởi Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội Mặc dù, có đề cập đến người Brâu ở Lào, nhưng do tập trung đi sâu phản ánh bức tranh phân

bố dân cư, tộc người của nước Cộng hòa dân chủ nhân Lào nên phần viết về hôn nhân và gia đình của tộcngười này không nêu được những nét đáng chú ý

Đến năm 2002, trong một nghiên cứu liên quan đến hai tộc người có dân số ít ở địa bàn ngã ba biên giới

này là Brâu và Rơ- măm, nhưng ở chiều cạnh khác Nguyễn Thế Huệ (Dân số và phát triển của tộc người Brâu và Rơ-măm ở Tây Nguyên, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2002) Cuốn sách này chủ yếu đề cập đến

các lĩnh vực dân số, tác động của tập tục hôn nhân, sinh đẻ, nuôi dạy con, tang ma, vệ sinh môi trường,chất lượng dân số, chăm sóc sức khỏe và kế hoạch hóa gia đình, tác động của các yếu tố kinh tế đến đờisống xã hội của người Brâu và Rơ-măm

Nguyễn Thị Ngân và Tô Thị Thu Trang (2009) với tác phẩm Tìm hiểu văn hóa người Giẻ-Triêng, Brâu đã được nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội giới thiệu Ở đây, hai tác giả cũng đi sâu tìm hiểu một cách khái quát về tộc người Brâu trên các phương diện kinh tế, văn hóa – xã hội Tiếp đến ấn phẩm Hôn nhân và gia đình của tộc người Brâu của Bùi Ngọc Quang (Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Kon Tum, 2004),

đã trình bày một cách khá đầy đủ, toàn diện về hôn nhân và gia đình truyền thống cũng như những nét biếnđổi của tộc người Brâu qua các giai đoạn lịch sử, đặc biệt là từ sau giải phóng (1975) đến thời điểm nghiêncứu Bên cạnh đó phải kể đến một số bài viết đăng tải trên tập san, báo liên quan đến người Brâu ở Kon Tum

như, “Rơ-măm và Brâu họa diệt chủng”, (Lao động, ngày 26/7/1992 của Vĩnh Quyền); “Giới thiệu về tộc người Brâu”, của Hùng Páo Bảo (Tập san Miền núi và Dân tộc, số 21 tháng 10/1992) Tuy nhiên, một số thông

tin được hai tác giả đề cập từ những bài viết này đã phản án những nhìn nhận rất sai lạc liên quan đến tộc ngườiBrâu từ sau năm 1975

Tóm lại, những công trình nghiên cứu về tộc người Brâu rất ít, đặc biệt là trong lĩnh vực hôn nhân và giađình cũng như những biến đổi của nó, đặc biệt là trong bối cảnh CNH, HĐH, hội nhập và phát triển bền

Trang 7

vững vẫn còn bỏ ngỏ Điều này cũng đặt ra những vấn đề cần được tìm tòi sâu hơn để có một bức tranh đầy

đủ và toàn diện về tộc người này từ các chiều cạnh khác nhau, đặc biệt là từ góc nhìn nhân học văn hóa Đó

là làm sao trong quá trình giao lưu và hội nhập về văn hóa, xã hội với các dân tộc trong nước và khu vực (cácdân tộc nói chung và các dân tộc có dân số ít nói riêng như Brâu ở Việt Nam) vẫn không đánh mất đi nhữnggiá trị văn hóa của tộc người mình Vấn đề là dựa trên cơ sở, luận cứ khoa học như thế nào? Với người Brâutrong trường hợp này là cần được giải đáp hết sức cụ thể và phù hợp

1.2 Cở sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản và quan điểm liên quan đến nghiên cứu hôn nhân và gia đình

Luận án đã đề cập đến một số các khái niệm then chốt từ góc độ nhân học văn hóa:

- Liên quan đến hôn nhân có: Hôn nhân, hôn nhân một vợ một chồng, và khái niệm hôn nhân trong bộ Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000;

- Khái niệm về gia đình trong Bách khoa toàn thư Việt Nam; Gia đình với định nghĩa của các nhà nhân học văn hóa, dân tộc học và các quan điểm về gia đình hiện đại của xã hội học; Gia đình và hàm khái niệmgia đình trong bộ Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2000;

1.2.2 Một số lý thuyết

Bốn lý thuyết chính được NCS sử dụng trong luận án, đó là:

1/ Lý thuyết Cấu trúc luận (Structuralism);2/ Thuyết Chức năng luận (Functionalism); 3/ Thuyết về sự biến đổi và biến đổi xã hội (Change, Social change), và 4/ Thuyết tiếp biến văn hóa (Acculturation)

1.2.3 Phương pháp nghiên cứu

Ba phương pháp nghiên cứu cụ thể đã được áp dụng đối với đề tài luận án như sau:

Trang 8

1/ Điền dã dân tộc học, là phương pháp chủ đạo thu thập tư liệu tại cộng đồng, hộ gia đình và cá nhânliên quan đến tập tục, qui ước và các thiết chế xã hội lễ nghi liên quan đến hôn nhân truyền thống tộcngười Brâu;

2/ Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân để tìm hiểu bối cảnh hôn nhân cụ thể đối với các trường hợphôn nhân cùng dân tộc, hôn nhân hỗn hợp, ly dị và đời sống, quan hệ gia đình hậu hôn nhân;

3/ Phương pháp thảo luận nhóm và điều tra xã hội học để thu thập các dữ liệu cá nhân và nhóm tuổi, giới,nghề nghiệp tình trạng hôn nhân và quan hệ gia đình, động thái và xu hướng biến đổi dưới tác động của các yếu

tố xã hội, chính sách và môi trường văn hóa,v.v

1.3 Khái quát về người Brâu ở tỉnh Kon Tum

1.3.1 Khái quát về tỉnh Kon Tum

Giới thiệu chung về điều kiện địa lý tự nhiên, hành chính và cấu trúc dân cư, dân tộc của tỉnh Kon Tumnhư là cái nhìn tổng quát về một trong 5 tỉnh Tây Nguyên Địa bàn mà về phía tây có biên giới dài 142 kmgiáp tỉnh Attapeu, Cộng hò a Dân chủ Nhân dân Lào và 95 km với tỉnh Ratanakiri, Vương quốc C ă m P u C

hiện thời có 6 tộc người sinh sống là: Ba-na, Gia-rai, Giẻ - Triêng, Xơ-đăng, Rơ-măm, Brâu là cư dân bản địaKon Tum còn thu nhận các dân tộc Kinh, Tày, Mường, Thái có thời gian di cư đến sau 1975, được phân bố tại

9 đơn vị hành chính cấp huyện, với 96 xã, phường và thị trấn

1.3.2 Người Brâu ở Đắk Mế

Luận án tập trung giới thiệu về cộng đồng Brâu hiện cư trú tại làng Đắk Mế (xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi,tỉnh Kon Tum) là địa bàn của một trong số 16 tộc người có dân số ít nhất ở Việt Nam Với số dân 353người, 110 hộ gia đình (tính đến tháng 4/2011 ) từ tài liệu điền dã ở Đắk Mế đã cho thấy địa bàn này đã

Trang 9

chiếm tới 88,66% số người Brâu ở Việt Nam Đồng thời, cũng cho thấy rằng, mặc dù tộc người di cư từvùng Ô Tum (nam Lào) đến Việt Nam khoảng 160 -170 năm (từ 6-7 thế hệ) nhưng dân số cũng chưa pháttriển là bao Quan hệ đồng tộc xuyên biên giới vẫn là yếu tố chi phối chính trong các quan hệ kinh tế, vănhóa, trong đó có quan hệ hôn nhân và gia đình của họ ở Lào và Căm Pu Chia.

Đặc điểm kinh tế - xã hội và văn hoá

Về Kinh tế Người Brâu khai thác đất rừng để trồng trọt tạo nên nền nông nghiệp khô (lúa rẫy) với

phương thức sản xuất cổ truyền - phát, đốt, chọc, trỉa được coi là phương thức canh tác phù hợp với điềukiện tự nhiên và không gian sống của cộng đồng Bên cạnh đó, người Brâu còn khai thác các nguồn lợi

kinh tế từ tự nhiên như săn bắt và hái lượm (kinh tế chiếm đoạt) Nền kinh tế hàng hoá chưa phát triển đối

với người Brâu

Về xã hội truyền thống Làng Đắk Mế (srúk) xưa được dựng trên gò cao, nơi có mặt bằng tương đối rộng,

được rào kín xung quanh bằng loại gỗ tốt Cổng làng được làm bằng gỗ kiên cố Hai bên cổng và xung quanh

làng được cắm chông để chống thú dữ và phòng gian Giữa làng là ngôi nhà chung (rôông) - nơi tổ chức những

nghi lễ quan trọng và cũng là nơi hội họp, tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí của cả cộng đồng

Tổ chức xã hội cổ truyền của người Brâu vận hành theo trật tự của luật tục (tập quán pháp) Vai trò già

làng được đề cao Ông ta quán xuyến mọi mặt đời sống tinh thần, tâm linh, lao động sản xuất của cả cộngđồng

Văn hoá dân gian

Người Brâu có đời sống tâm linh/tín ngưỡng nguyên thủy (đa thần), theo đó là cả một hệ thống lễ thức, lễ

hội, nghệ thuật dân gian rất phong phú và đặc sắc

Tiểu kết chương 1

Trang 10

Người Brâu có 353 người, hiện cư trú tại làng Đắk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum Cộngđồng này có quan hệ khá chặt chẽ với người Brâu ở Lào và Campuchia Một bộ phận nhỏ người Brâu từ Lào

di cư sang Việt Nam đã được 6 - 7 thế hệ Trước năm 1975, người Brâu sống du canh, du cư ở khu vựcngã ba biên giới Việt Nam, Lào và Campuchia (ngã ba Đông Dương)

Sau 1975, khi đất nước được thống nhất, Đảng và Nhà nước có chế độ chính sách ưu tiên đặc biệt nênngười Brâu ổn định và phát triển Tuy nhiên, tháng 4 năm 1991, làng truyền thống của người Brâu bị cháyhoàn toàn, khiến người Brâu ở làng Đắk Mế đối diện với những khó khăn lớn về kinh tế - xã hội Năm

2005, khi cửa khẩu quốc tế Bờ Y và khu thương mại được xây dựng thuộc địa phận làng Đắk Mế đi vàohoạt động đã tác động trực tiếp khiến cho người Brâu đối diện với những vấn đề của hội nhập để phát triểnkinh tế - xã hội cũng như không ít thách thức trong bảo tồn các giá trị văn hóa cổ truyền

Trang 11

CHƯƠNG 2 HÔN NHÂN

2.1 Quan niệm của người Brâu về hôn nhân

2.1.1 Lễ thức thành đinh nguyên thủy

Theo tập tục Brâu, con trai, con gái từ 13 đến 14 tuổi đã có thể lấy vợ, lấy chồng Vì thế, con cái đến độ tuổi này cha mẹ bắt đầu quan tâm tới việc dựng vợ, gả chồng cho những đứa con của mình Tuy nhiên, để

được coi là trưởng thành, thì người con trai, con gái phải trải qua, khẳng định và được đánh dấu bằng một sự

kiện luật tục quan trọng, đó là lễ cà răng (uốt pưng) và căng tai (síp tiêu) Sau khi làm lễ cà răng, căng tai,

người đó mới được coi là trưởng thành và được tự do tìm kiếm bạn tình Nếu người con trai hay con gáikhông hoàn thành nghi lễ này đều bị dư luận trong làng chê cười, bạn bè khinh rẻ và không “bắt” được vợđược chồng

2.1.2 Tìm bạn đời

Trai gái Brâu đến tuổi trưởng thành, được tự do đi tìm kiếm bạn tình, hoặc do bạn bè tác hợp, nhưng đôi khi

cũng được hai gia đình hứa gả con cho nhau Khi đã tìm được bạn tình, gia đình dựng chòi (nam đoóc) ở sau

nhà hay ngoài bìa rừng để trai gái tự tình Đêm đêm, chàng trai rủ bạn tình lên không gian riêng này để tâm sự

và có thể ngủ tại đó Đây là thời gian để đôi trai gái tìm hiểu Nếu cuộc tình suôn sẻ, họ trở thành vợ chồng.Trường hợp không thành đôi lứa, họ lặng lẽ chia tay nhau và đi tìm bạn tình mới

2.1.3 Tuổi kết hôn

Trước đây, con trai, con gái Brâu ở độ tuổi 13 - 14 đã tính đến chuyện hôn nhân, ngày nay tuổi kết hôncủa người Brâu có tăng lên, nam 18 - 20, nữ 16 - 18 tuổi, bên cạnh đó vẫn còn trượng hợp nữ kết hôn ởtuổi 13 và sinh con ở tuổi 15

Trang 12

2.1.4 Tiêu chuẩn chọn vợ chọn chồng

Tiêu chuẩn người vợ (chồng) lý tưởng của tộc người Brâu theo quan niệm truyền thống:

- Đối với người vợ: Phải là người phụ nữ chịu thương, chịu khó, hiền lành, nết na, thạo công việclàm nương rẫy, lấy củi, giã gạo, biết nấu rượu, nuôi con và quán xuyến toàn bộ công việc gia đình

- Tiêu chuẩn người chồng lý tưởng: Vui vẻ, tháo vát, cần cù, gần gũi và có tinh thần tráchnhiệm với cộng đồng, sẵn sàng giúp đỡ mọi người, mọi nhà, công việc của mọi gia đình, cộngđồng cũng được coi là công việc của bản thân mình;

2.1.5 Quyền quyết định hôn nhân

Trai gái Brâu từ do tìm hiểu, yêu đương và quyết định việc hôn nhân, tuy nhiên bạn bè, gia đìnhcũng là tác nhân không kém phần quan trọng Vai trò ông cậu không được đề cao trong hôn nhân củađôi trai gái

2.1.6 Quan niệm về trinh tiết

Người Brâu không đặt nặng vế đề trinh tiết của cô dâu Do vậy, trai, gái Brâu tự do yêu đương và quan hệtình dục trước hôn nhân không bị dư luận và luật tục lên án

2.2 Nguyên tắc trong hôn nhân

Nguyên tắc cơ bản của người Brâu hiện nay là hôn nhân một vợ, một chồng Tuy nhiên, xu hướng hônnhân ngài dòng họ và hôn nhân ngoài tộc người và đang được ngày càng mở rộng Tuy nhiên, chúng ta vấn tìmthấy dấu vết hôn nhân nguyên thuỷ trong cộng đồng người Brâu

Hình thái cư trú sau hôn nhân trước đây của người Brâu theo nguyên tắc luân phiên Hiện nay, sau hônnhân đôi vợ chồng trẻ tự chọn nơi cư trú, nhưng thường là dựng một căn nhà nhỏ sống gần cha mẹ cô dâu

Trang 13

2.3 Tính chất của hôn nhân

Trong xã hội truyền thống của người Brâu không có sự phân biệt tầng lớp, đẳng cấp xã hội, yếu tố giàu

nghèo Vì vậy, vấn đề môn đăng, hộ đối, thách cưới hay mua bán không được đặt ra trong quan hệ hônnhân và gia đình ở người Brâu

2.4 Các nghi thức trong hôn nhân

2.4.1 Lễ dạm hỏi hay lễ trao vòng (đoók gia vư)

Trai, gái Brâu đến tuổi yêu đương tự do tìm kiếm bạn tình, khi tình yêu của họ đến độ chín muồi, chàng

trai về thưa chuyện với cha mẹ Gia đình chọn người có tài ăn nói để làm ông mối Ông mối có nhiệm vụthăm dò, đánh tiếng, ướm hỏi chuyện trăm năm cho đôi lứa Nếu thấy gia đình cô gái có vẻ ưng thuận, ôngmối báo với nhà trai chuẩn bị lễ vật, chọn ngày lành, tháng tốt để sang nhà cô gái tiến hành lễ trao vòng

cầu hôn Ông mối tiến hành nghi lễ thông báo với Jàng về việc đôi trai gái đã trao vòng hẹn ước Từ đây

họ lên rẫy, xuống sông đều có nhau và có thể tự do gần gũi

2.4.2 Lễ cưới (nhét bơdoong me bơlo)

Lễ cưới được tổ chức tại nhà gái, nhưng lễ vật/vật chất do nhà trai chuẩn bị Nếu là gia đình khá giả thì

lễ vật là trâu, bò và nhiều rượu, ít thì cũng phải có heo, gà và rượu, đủ dùng cho hai gia đình và cả cộngđồng Đây là nghi thức quan trọng nhất trong đời người nên người Brâu dành cho đôi trẻ nhiều sự quantâm đặc biệt cả về tinh thân và vật chất

Lễ cưới thường diễn ra trong 3 ngày: Ngày thứ nhất ,ông mối (chủ lễ) chuẩn bị lễ vật (gà, rượu cần) làm

lễ cúng trước sân nhà gái, thông báo với Jàng việc gia đình và cộng đồng tổ chức lễ cưới cho đôi trai gái.Trong ngày này, mọi người cùng nhau chế biến đồ ăn, thức uống để cả làng đủ dùng trong 3 ngày diễn rađám cưới Ngày thứ hai, ngày vui nhất, mọi người cùng ăn uống, vui chơi ca hát, nhảy múa chúc mừng

Trang 14

cho đôi vợ chồng trẻ Cứ thế, họ ăn uống chung vui và chúc tụng nhau những điều tốt đẹp nhất, thâu đêm

đến tận sáng hôm sau Ngày thứ ba , ông mối làm lễ cúng để cảm ơn Jàng đã xuống chung vui với đôi trai gái, hai bên gia đình và cả dân làng Cầu mong Jàng trợ giúp cho đôi trai gái mạnh khỏe, sinh nhiều con

trai, con gái, không ăn ở hai lòng, không chia lìa đôi lứa và đem lại cho dân làng no ấm và bình yên

2.4.3 Lễ lại mặt (tơ vinh chem)

Sau lễ cưới 1- 2 ngày, người con trai đưa vợ và cha mẹ vợ lại thăm gia đình nhà mình với mục đích để

nhà gái đáp lễ nhà trai đã tặng cho họ một chàng rể quý và một lễ cưới chu đáo, vui vẻ Hai bên gia đìnhdành cho nhau sự quý trọng nhất Hôn nhân của đôi trai gái đã tạo dựng được liên minh trong quan hệ Nókhông dừng lại ở hai gia đình mà làm tiền đề cho các quan hệ phát triển, gắn kết trong dòng họ, nội bộ tộcngười và cả các cộng đồng tộc người xung quanh

2.4.4 Nghi thức lễ cưới với các tộc người khác

Người Brâu di cư sang Việt Nam với số dân tương đối ít và sống hoà nhập với các tộc người ở xungquanh; do đó, các mối quan hệ được người Brâu giải quyết rất mềm dẻo, linh hoạt Trong hôn nhân, nếutrai Brâu lấy gái tộc người khác, mọi nghi thức được tiến hành theo quy định, luật tục của tộc người cô gái.Trường hợp gái Brâu lấy chồng là tộc người khác, nghi thức tổ chức theo phong tục người Brâu hoặc theo nghithức của người chồng tuỳ theo sự thống nhất của hai bên

2.5 Các trường hợp hôn nhân đặc biệt

Trong quá trình nghiên cứu hôn nhân của người Brâu, chúng tôi tìm thấy tàn dư của chế độ hôn nhân

nguyên thủy Đó là: hình thức hôn nhân anh em vợ (sororate) và hôn nhân chị em chồng (levirate) Các

trường hợp đa phu, đa thê, đàn ông nhiều đời vợ, đàn bà nhiều đời chồng cũng thấy xuất hiện trong cộng

đồng Brâu, những trường hợp này xảy ra cách đây 3 - 4 thế hệ Trường hợp hôn nhân với người góa (trai

tơ lấy vợ goá hay trai goá lấy gái tơ, người goá vợ lấy người goá chồng) là vấn đề bình thường trong xã

Ngày đăng: 28/08/2014, 16:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w