biện pháp xử lý nợ quá hạn ở Sở giao dịch Ngân hàng Nông Nghiệp
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới theo nghị quyết đại hội VI Đảng cộng
sản Việt Nam (1986) đến nay, chúng ta đã giành được những thành tựu hết sức
quan trọng cả về kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội và ngoại giao Nền kinh tế
nước ta có những chuyển biến mạnh mẽ: tình trạng sản xuất đình đốn, rối ren
trong lưu thông đã đựoc khắc phục, đa số các doanh nghiệp lam ăn có lãi Cơ
cấu các ngành kinh tế được chuyển đổi phù hợp với cơ chế mới đời sống nhân
dân được nâng cao Tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao Lạm phát được
đẩy lùi từ mức lạm phát “phi mã” 774,7% năm 1986 đến nay chỉ còn ở mức
một con số Như vậy, công cuộc đổi mới đã thu được những thành tựu to lớn, có
ý nghĩa rất quan trọng
Những thành tựu đã đạt được ở trên có sự đóng góp hết sức quan trọng
của hệ thống Ngân hàng Việt Nam Thực trạng đường lối đổi mới của Đảng, hệ
thống Ngân hàng Việt Nam bước đầu xây dựng được một hệ thống cơ chế điều
hành thích hợp với cơ chế mới, toàn ngành đã góp phần đẩy lùi lạm phát, ổn
định giá trị đồng tiền và thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc
đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hệ thống Ngân hàng
Việt Nam còn bộc lộ nhiều yếu kém, tồn tại cần tập trung giải quyết Trong đó,
tồn tại lớn nhất mà ngành ngân hàng đang dồn toàn tâm toàn lực để giải quyết
đó là vấn đề nợ quá hạn Hiện nay, nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại
đang chiếm tỷ lệ cao trong tổng dư nợ tín dụng Tính đến cuối năm 2000, tỷ lệ
nợ quá hạn của toàn hệ thống ngân hàng là 9,4% Trong khi đó, việc xử lý nợ
quá hạn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc không xử lý dứt điểm đã ảnh hưởng
xấu đến hoạt động kinh doanh, an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại và
nền kinh tế
Xuất phát từ thực trạng trên, để hệ thống ngân hàng tiếp tục phát huy vai
trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, vấn đề tiếp tục đổi
mới hoạt động của ngành ngân hàng Việt nam hiện nay đã trơ thành một yêu cầu
Trang 2cấp bách
Nợ quá hạn ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại của từng ngân hàng thương
mại, do đó việc đổi mới hoạt động ngân hàng được xác định phải thực hiên toàn
diện và sâu sắc, nhưng trước hết phải tập trung nâng cao được chất lượng tín
dụng, đặc biệt là phải tập trung giải quyết, giảm thấp tình trạng nợ quá hạn của
các ngan hàng thương mại Đây là một trong những vấn đề bức xúc, gay cấn
phức tạp nhất và không thể giải quyết được ngay lập tức, do đó đòi hỏi các ngân
hàng thương mại phải xây dựng được một hệ thống chính sách, giải pháp đồng
bộ và có hiệu quả Bên cạnh đó, do vấn đè nợ quá hạn không chỉ ảnh hưởng tới
các ngân hàng thương mại mà còn ảnh hưởng tới sự ổn định và tăng trưởng của
nền kinh tế, cho nên cũng cần có sự chỉ đạo của Chính phử và sự phối hợp của
các cơ quan ban ngành có liên quan
Với mong muốn đóng góp phần vào giải quyết vấn đề nan giải trên, qua
quá trình học tập tại trường đại học Kinh tế quốc dân, qua thời gian thực tập tại
Sở giao dịch ngân hàng nông nghiệp, cùng với việc tham khảo các sách báo, tạp
chí chuyên ngành và được sự hướng dẫn của thầy cô giáo, tôi đã mạnh dạn
nghiên cứu chuyên đề tốt nghiệp với đề tài: “Biện pháp xử lý nợ quá hạn ở Sở
giao dịch Ngân hàng Nông nghiệp”
Kết cấu của chuyên đề này bao gồm ba chương:
Chương I: Hoạt động của ngân hàng thương mại và nợ quá hạn ở các
Ngân hàng Thương mại
Chương II: Thực trạng nợ quá hạn ở Sở giao dịch Ngân hàng Nông
nghiệp
Chương III: Giải pháp và kiến nghị
Trang 3CHƯƠNG I HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NỢ QUÁ HẠN Ở
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1 Lịch sử hình thành và phát triển
1.1.Lịch sử hình thành
Lịch sử hình thành và phảt triển của ngân hàng thương mại gắn liền với
lịch sử phát triển của sản xuất hàng hoá Sự phát triển của sản xuất hàng hoá kéo
theo sự phát triển của các ngân hàng thương mại, ngược lại các ngân hàng
thương mại cũng có vai trò quan trọng trong việc phát triển của nền kinh tế xã
hội
Do có sự khác biệt về tiền tệ giữa các vùng kết hợp với sự lưu thông hàng
hoá đã làm xuất hiện nhu cầu đổi tiền Đứng trước tình hình đó, các thương gia
và chủ hiệu vàng nhận thấy có thể thu được nhiều lợi nhuận từ hoạt động đổi
tiền, do đó họ đã tiến hành kinh doanh tiền tệ thông qua hoạt động đổi tiền Họ
thực hiện kinh doanh tiền tệ bắng cách đổi ngoại tệ lấy bản tệ, và ngược lại Lợi
nhuận thu được là từ chênh lệch giá mua bán.Các thương gia và chủ hiệu vàng
được gọi là các nhà kinh doah tiền tệ
Các nhà kinh doanh tiền tệ thường là người giàu nên họ có két tốt để cất
giữ an toàn Do yêu cầu cất trữ của các lãnh chúa, các nhà buôn… nhiều nhà
kinh doanh tiền tệ thực hiện luôn cả nghiệp vụ cất trữ hộ Vì nhờ giữ hộ tiền,
nên những người gửi tiền phải trả công cho những người giữ tiền, do đó hoạt
động nhận tiền gửi làm tăng thu nhập cho các nhà kinh doanh tiền tệ Mặt khác,
việc cất trữ hộ làm tăng khả năng đa dạng hoá các loại tiền, tăng quy mô tài sản
của người kinh doanh tiền tệ Vì vậy, đây là điều kiện để họ thực hiện việc thanh
toán hộ
Thông qua hoạt động thực tiễn, các nhà kinh doanh tiền tệ nhận thấy
thường xuyên có người gửi tiền vào và người rút tiền ra, song tất cả người gửi
tiền không rút tiền cùng một lúc nên đã tạo ra số dư thường xuyên Do tính chất
Trang 4vô danh của tiền, các nhà kinh doanh tiền tệ có thể sử dụng tạm thời một phần
tiền gửi của khách hàng để cho vay Hoạt động cho vay tạo nên lợi nhuận lớn
cho các nhà kinh doanh tiền tệ, do vậy các nhà kinh doanh tiền tệ đều tìm cách
mở rộng thu hút tiền gửi để cho vay bằng cách trả lãi cho người gửi tiền
Như vậy,các hoạt động đổi tiền, nhận giữ tiền, thanh toán hộ và cho vay
đã xuất hiện từ xa xưa và đến nay hầu như không thay đổi, được gọi tên là “nhà
ngân hàng”
1.2.Lịch sử phát triển
- Đối với thế giới:
Các ngân hàng trên thế giới, nhìn chung phát triển trải qua bốn giai đoạn:
Đến thế kỷ XV xuất hiện hình thức ngân hàng đầu tiên Ngân hàng thời
kỳ này được gọi là “ngân hàng thợ vàng” hoặc “ngân hàng thương gia tiền tệ”
Các ngân hàng này ngoài những nghiệp vụ chính như kinh doanh vàng bạc,
buôn bán, họ còn phát triển thêm các dịch vụ ngân hàng như: đổi tiền, nhận giữ
tiền, thanh toán hộ và cho vay
Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII: Các ngân hàng thợ vàng, ngân hàng
thương gia lúc này phát triển thành các ngân hàng thực sự và hoạt động với ba
nghiệp vụ chính: nhận tiền gửi, thanh toán và cho vay Đặc điểm của các ngân
hàng thời kỳ này là tất cả các ngân hàng đều có quyền phát hành giấy bạc của
mình vào lưu thông Điều này đã gây ra sự hỗn loạn về thị trường tiền tệ
Từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX: Việc tồn tại một số lượng lớn giấy
bac trong lưu thông đã cản trở sản xuất kinh doanh, và Chính phủ không kiểm
soát đưọac thị trướng tiền tệ Vì vậy, Chính phủ ra luật hạn chế số lượng ngân
hàng phát hành, chỉ có những ngân hàng lớn mới được quyền phát hành giấy bạc
vào lưu thông Lúc này, ngân hàng phát hành vẫn là các ngân hàng tư nhân
Từ thế kỷ XX đến nay: Sau cuộc khủng hoảng 1929-1933, hhầu hết các
quốc gia đều quốc hữu hoá các ngân hàng phát hành tiền, hoặc quản lýphần lớn
cổ phần của các ngân hàng phát hành Việc chọn lựa thống đốc ngân hàng do
Tổng thống hoặc Thủ tướng quyết định Ngân hàng phát hành trở thành Ngân
hàng Trung ương giữ chức năng quản lý nhà nươc về tiền tệ, chịu sự kiểm soát
Trang 5chặt chẽ của pháp luật Hệ thống các ngân hàng thương mại và các trung gian tài
chính khác tập trung vào nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ và chị sự quản lý của
ngân hàng Trung ương
- Đối với Việt Nam:
Ngân hàng đầu tiên thành lập ở Việt Nam là ngân hàng Đông Dương,
thành lập theo sắc lệnh ngày 25/01/1875 của Tổng thống Pháp Ngân hàng này
vừa giữ chức năng phát hành vừa giữ chức năng: nhận gửi, cho vay, thanh toán
Ngân hàng Đông Dương vừa là công cụ phục vụ đắc lực chính sách thuộc địa
của Chính phủ Pháp ở các nứơc Đông Dương, vừa là công cụ bóc lột thậm tệ
nhân dân Đông Dương và làm giàu cho tư bản Pháp
Đến ngày 6/5/1951, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra sắc
lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng quốc gia Việt Nam với những nhiệm vụ
chính : Quản lý việc phát hành giấy bạc và tổ chức lưu thông tiền tệ; Quản lý
kho bạc nhà nước; Huy động vốn và cho vay phục vụ sản xuất và lưu thônghàng
hoá; Quản lý hoạt động kim dung bằng biện pháp hành chính; Quản lý ngoại hối
và các khoản giao dịch bằng ngoại tệ và đấu tranh tiền tệ với địch
Sau năm 1975, nước ta phải đối đầu với hàng loạt các thách thức lớn
Ngân hàng nhà nước phải in tiền để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu cho các doanh
nghiệp, các đơn vị hành chính sự nghiệp Lượng tiền cung ứng gia tăng trong
điều kiện sản lượng không tăng kịp đã đẩy lạm phát lên cao trong những năm
80 Tình trạng độc quyền trong hệ thống ngân hàng đã góp phần duy trì tình
trạng trì trệ trong các ngân hàng, làm giảm vai trò là trung gian tài cính hoạt
động vì mục tiêu hiệu quả kinh tế
Đến thời kỳ chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoátập trung sang kinh tế
thị trường có sự quản lya của Nhà nước, hệ thống ngân háng Việt Nam đã có
những đổi mới đáng kể Mô hình tổ chức của cá sự thay đổi căn bản đố là tách
biệt chức năng quản lýhoạt động tièn tệ, tín dụng với chức năng kinh doanh tiìen
tệ, đa dạng hoá các loại hình ngân hàng, từng bước xoá bỏ độc quyền, chuyển
sang cạnh tranh có sự quản lý của nhà nước Kể từ đầu những năm 90, hệ thông
ngann hàng thương mại đã không ngừng phát triển về các loại hình và nghiệp vụ
Trang 6góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế đất nước
Hiện nay, hệ thống ngân hàng Việt Nam là hệ thống ngân hàng hai cấp:
Ngân hàng nhà nước và các ngân hàng thương mại Hệ thống ngân hàng thương
mại gồm có: 04 ngân hàng thương mại nhà nước (ngân hàng ngoại thương,
Ngân hàng đầu tư phát triển, Ngân hàng nông nghiệp và ngân hàng công
thương), 48 ngân hàng thương mại cổ phàn, 05 ngân hang liên doanh và 29 chi
nhánh ngân hàng nước ngoài Ngoài ra còn có 917 quỹ tín dụng nhân dân
Như vậy, hệ thống ngân hàng phát triển theo chiều hướng ngày càng phù
hợp hơn với nhu cầu phát triển của nền kinh tế xã hội
2 Khái niệm và phân loại
2.1.Khái niệm
Có rất nhiều khái niệm khá nhau về ngân hàng thương mại Tuỳ từng
nước và từng thời điểm mà có các khái niệm về ngân hàng thương mại
ở một số nước:
*ở Mỹ:
- Luật ngân hàng (những năm 80): Bất kỳ tổ chức nào cung cấp dịch vụ
nhận tiền gửi có giữ séc và cho vay đều được gọi là ngân hàng
- Luật ngân hàng (những năm 90): Ngân hàng là một tổ chức tài chính
cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng ngất, đặc biệt là nhận tiền gửi,
tín dụng và thanh toán
Có một số quan điểm khác cho rằng: Ngân hàng thương mại là một công
ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch
vụ tài chính
*ở Pháp:
Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên
nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tièn mà
họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính
*ở ấn Độ:
Ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản ký thác đẻ cho vay hay tài
trợ và đầu tư
Trang 7*ở Thổ Nhĩ Kỳ:
Ngân hàng thương mại là hội trách nhiệm hữu hạnthiết lập nhằm mục
đích nhận tiền ký thác và thực hiện các nghiệp vụ hốiđoái, nghiệp vụ công hối
phiếu và những hình thức vay mượn hay tín dụng khác
b)ở Việt Nam:
Sắc lệnh 018 CT/LDGCQL/SL ngày 20/10/1969 của chính quyền Sài Gòn
cũ định nghĩa: Ngân hàng thương mại là mọi xí nghiệp công hay tư lập kể cả chi
nhánh hay phân cục ngân hàng ngân hàng ngoại quốc mà hoạt động thường
xuyên là thi hành cho chính mình nghiệp vụ tín dụng, chiết khấu, tài chính với
tiền ký thác nhậ của tư nhân, của xí nghiệp hay cơ quan công quyền
Pháp lệnh ngâng hàng ngày 23/5/1990 của Hội đồng nhà nước Việt Nam
xác định: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh dónh tiền tệ mà hoạt động chủ
yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và
sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương
tiện thanh toán
Điều 20, Luật ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại là một loại
hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt
động khác có liên quan đặc biệt là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các
dịch vụ thanh toán
Mặc dù các khái niệm về ngân hàng thương mại là khác nhau, nhưng nhìn
chung ngân hàng thương mại là một đơn vị kinh tế kinh doanh trên lĩnh vực tiền
tệ với ba nghiệp vụ chính là nhậ gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh
toán
2.2.Phân loại
Ngân hàng thương mại được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau:
*Căn cứ theo hình thức sở hữu:
Ngân hàng thương mại nhà nước
Ngân hàng thương mại cổ phần
Ngân hàng thương mại liên doanh
*Căn cứ theo tính chất hoạt động:
Trang 8Ngân hàng chuyên doanh
Ngân hàng đa năng
*Căn cứ theo thị trường:
3 Chức năng của ngân hàng thương mại
- Trung gian tài chính:
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức
trong nền kinh tế:
Các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu
dùng và đầu tư vượt quá thu nhập Họ là những người cần bổ sung vốn
Các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại
của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hoá, dịch vụ và do vậy họ có tiền để
tiết kiệm
So với tín dụng trực tiếp thì ngân hàng với chức năng trung gian tài chính
đã làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó mà khuyến khích tiết kiệm,
đồng thời giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư (tăng thu nhập cho người đầu
tư), từ đó mà khuyến khích đầu tư
- Tạo phương tiện thanh toán:
Do ngân hàng có thể phát hành séc hoặc cho vay bằng bút tệ nên ngân
hàng có khả năng tạo phương tiện thanh toán
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận
thấy nấu họ có được ssó dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả
để có được hàng hoá và các dịch vụ theo yêu cầu Khi ngân hàng cho vay, số dư
trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể
dùng để mua hàng và dịch vụ Do đó, bằng việc cho vay (hay tạo tín dụng) các
Trang 9ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán
- Trung gian thanh toán:
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các
quốc gia Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá
và dịch vụ Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện cà tiết kiệm chi phí,
ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như : thanh toán
bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ…cung cấp mạng lưới thanh toán
điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần Các ngân
hàng còn thực hiện thnah toán bù trừ với nhau thông qua Ngân hàng Trung ương
hoặc các trung tâm thanh toán Các trung tâm thanh toán quốc tế cũng được thiết
lập đã làm tăng hiệu quả thanh toán qua ngân hangf
4 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
- Huy động vốn:
Do đặc điểm của ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt
hoath động kinh doanh bằng tiền của người khác, nên hoạt động huy động vốn
được coi là một trong những hoạt động đầu vào chủ yếu cho việc kinh doanh của
ngân hàng thương mại
Huy động vốn đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới hoạt động của ngân
hàng, do đó các ngân hàng tìm mọi cách để thu hút nguồn tiền nhàn rỗi trong
dân cư và các tổ chức kinh tế Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyê n
quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng
nguồn tiền cuả ngân hàng Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và
đẻ có nguồn tiền cá chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực
hiệnnhiều hình thức huy động khác nhau: nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn
và các loại tiền gửi khác nhau Đồng thời phát hành những giấy tờ có giá cũng
góp phần không nhỏ vào hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại
- Hoạt động tín dụng:
Là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, do đó các ngân hàng thương mại
không chỉ huy động vốn mà còn phải sử dụng vốn huy động được để cho vay và
đầu tư vào các tài sản có sinh lời
Trang 10Hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại cũng được đa dạng hoá
từ hình thức đầu tư đến loaị hình công việc với thời hạn và điều kiện khác nhau
nhằm thu lợi nhuận tối đa trên cơ sở đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân
hàng với mục đích cuối cùng là an toàn và sih lời
- Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ:
Để giảm chi phí lưu thông và tăng mức độ an toàn thuận tiện cho các
doanh nghiệp trong quan hệ kinh doanh ngân hàng thực hiện chức năng làm
trung gian thanh toán cho các doanh nghiệp Dịch vụ thanh toán của các ngân
hàng gồm: dịch vụ cung ứng các phương tiện thanh toán, dịch vụ thanh toán
trong nước và quốc tế, dịch vụ thu chi hộ, chuyển tiền nhanh và thừc hiện các
thanh toán khác do ngân hàng Nhà nước quy định
Hoạt động này ngoài việc đem lại thu nhập cho ngân hàng còn có tác
dụng thu hút khách hàng gửi tiền vào tài khoản ngân hàng, từ đó thu hút khách
hàng cho các hoạt động chính
Trong các hoạt động cơ bản trên thì thu nhập từ hoạt động tín dụng của
các ngân hàng thương mại Việt Nam chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của
các ngân hàng, trong đó khoản cho vay đống vai trò quan trọng nhất quyết định
hiệu quả trong hoạt động ngân hàng Nhưng hoạt động tín dụng cũng là hoạt
động có độ rủi ro lớ nhất trong hoạt động ngân hàng, do vậy vấn đề đặt ra là
ngân hàng phải quản lý tất các khoản cho vay, tránh tình trạng mất cân đối dẫn
tới sự sụp đổ của ngân hàng Như vậy, chất lượng hoạt động tín dụng quyết định
đến sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng thương mại hiện nay
Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng có nghĩa là sự vay mượn
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụngmột lượng giá trị,
dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ, từ người sở hữu sang người sử dụng, sau đó
Trang 11hoàn trả lại với một lượng giá trị lớn hơn
Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng thể hiện quan hệ giữa các tổ
chức tín dụng với các doanh nghiệp và cá nhân
Trong mối quan hệ này, tín dụng đóng vai trò trung gian cho nên ngân
hàng vừa là người cho vay, vừa là người đi vay
Tín dụng ngân hàng được thực hiện dưới hình thức tiền tệ, bao gồm tiện
mặt và bút tệ trong đó bút tệ là chủ yếu Tín dụng ngân hàng là tín dụng thương
mại có quan hệ chặt chẽ, bổ sung và hỗ trợ cho nhau Vì đối tượng vay mượn
chủ yếu là tiền tệ, do đó tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng rất linh hoạt
và có nhiều ưu thế nổi bật
- Phân loại
Có nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng khác nhau tuỳ theo yêu cầu
của khách hàng và mục tiêu quản lý của khách hàng:
+ Căn cứ vào thời hạn tín dụng:
Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thường
được dùng để cho vay bbổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của các doanh
nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân
Tín dụng trung hạn: Là tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm dùng để cho
vay vốn mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây
dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh
Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng
để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn
+ Căn cứ vào hình thức:
Chiết khấu thương phiếu: Là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách
hàng tưong ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng
để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn (hoặc một giấy nợ)
Cho vay: Là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách
hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định
Bảo lãnh: Là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ
khách hàngcủa mình
Trang 12Cho thuê: Là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng theo
những thoả thuận nhất định Sau thời gian nhất định, khách hàng phải trả cả gốc
lẫn lãi cho ngân hàng
+ Căn cứ vào tài sản đảm bảo:
Tín dụng có tài sản đảm bảo: Là loại tín dụng mà người nhận tín dụng
cam kết về việc dùng tài sản mà mình đang sở hữu hoặc sử dụng, hoặc khả năng
trả nợ của người thứ ba để trả nợ cho ngân hàng
Tín dụng không có tài sản đảm bảo: là loại tín dụng được cấp cho các
khách hàng có uy tín, thường là khách hànglàm ăn thường xuyên có lãi, tình
hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa, hoặc món vay
tương đối nhỏ so với vốn của người vay
+ Căn cứ vào rủi ro:
Tín dụng lành mạnh: Các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao
Tín dụng có vấn đề: Các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh
như: khách hàng chậm tiêu thụ, tiíen độ thực hiện kế hoạch bị chậm, khách hàng
gặp thiên tai, khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính…
Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: Các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn
ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn
Nợ quá hạn khó đòi: Nợ quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất kém, tài sản
thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì…
2 Vai trò của tín dụng ngân hàng
- Vai trò tín dụng ngân hàng đối với ngân hàng:
Hoạt động kinh doanh cơ bản nhất của ngân hàng thương mại là hoạt
động tín dụng Đây là hoạt động thường xuyên nhất, mang lại lợi nhuận lớ nhất
cho ngân hàng Nguồn thu từ hoạt động tín dụng luôn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng
thu nghiệp vụ của ngân hàng Nhưng, đây cũng là hoạt động có độ rủi ro cao Vì
vậy, việc hạn chế rủi ro tín dụng hay nâng cao chất lượng tín dụng đóng vai trò
hêtswcs quan trọng, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của một ngâ hàng
Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng có thể điều hoà vốn vì ngân
hàng không thể chỉ nhận tiền gửi mà không cho vay hay đầu tư Cũng thông qua
Trang 13hoạt động tín dụng, ngân hàng hạn chế rủi ro về vốn, rủi ro thanh khoản…Hoạt
động tín dụng giúp ngân hàng mở rộng và củng cố mối quan hệ với khách hàng
lâu năm, tìm kiếm thêm khách hàng mới, mở rộng thêm các loại hình kinh
doanh, dịch vu khác như: bảo lãnh, thanh toán , chuyển tiền, giữ hộ…
Trình độ quản lý, năng lực về nghiệp vụ của cán bộ nhân viên ngân hàng
cũng được nâng lên thông qua hoạt động tín dụng Hoạt động tín dụng còn góp
phần nâng cao vị thế, uy tín, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng
Chính vì tín dụng có vai trò quan trọng đối với ngân hàng, cho nên các
ngân hàng không ngừng mở rộng và hoàn thiện nghiệp vụ tín dụng đảm bảo an
toàn và lợi ích của ngân hàng
- Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với người đi vay:
Trong nền kinh tế thị trường, vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp hầu
như đều nhỏ hơn nhu cầu sử dụng vốn trong hoạt động của doanh nghiệp Có
nhiều kênh cung cấp vốn, nhưng tín dụng ngân hàng vẫn là kênh cung cấp vốn
chủ yếu cho những người thiếu vốn, nhất là ở những nước mà thị trường tài
chính chưa phát triển mạnh như ở Việt Nam Nguồn vốn đi vay ngân hàng vẫn
chiếm tỷ trọng lớn và quan trọng nhất trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp
Tín dụng ngân hàng đã trở thành một kênh cung cấp vốn tin cậy cho các nhu cầu
của những người thiéu vốn mà không tốn nhiều công sức, chi phí, thời gian cho
việc tìm kiếm như khi tự bản thân đi tìm
Nguồn vốn vay ngân hàng là nguồn vốn mà khách hàng tiếp cận ở mọi
nơi, mọi lúc với các điều kiện và phương thức thanh toán phong phú đa dạng,
giúp cho họ tranh thủ được các cơ hội sản xuất kinh doanh Vốn vay ngân hàng
là một trong những nguồn vốn sẵn có rẻ nhất và linh hoạt nhất, có thể đáp ứng
nhu cầu vốn lớn và có thời hạn dài cho các khách hàng Các khoản vay ngân
hàng trở thành “chất bôi trơn” cho các hoạt động của khách hàng và làm cho
hoạt động của khách hàng có hiệu quả hơn, vì họ không những trả gốc và lãi cho
ngân hàng, mà còn chịu sự kiểm tra giám sát và nhậ được sự tư vấn của ngân
hàng trong quá trình sử dụng vốn vay cũng như trong các hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình
Trang 14- Vai trò của tín dụng ngân hàn đối với nền kinh tế:
Tín dụng ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nền
kinh tế Tín dụng ngân hàng điều hoà vốn từ nơi chưa có nhu cầu sử dụng sang
nơi có nhu cầu sử dụng cho qúa trình sản xuất kinh doanh Tín dụng ngân hàng
thúc đẩy sản xuất và lưu thông phát triển, góp phần đẩy nhanh quá trình tái sản
xuất mở rộng Ngoài ra tín dụng ngân hàng còn là công cụ điều hoà lưu thông
tiền tệ, và thông qua đó điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Tín dụng ngân hàng có liên quan chặ chẽ với tất cả các lĩnh vực của nền
kinh tế Các hình thức tín dụng ngày càng đa dạng nhằm thoả mãn nhu cầu về
vốn của nền kinh tế Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy quan trọng đẻ doanh nghiệp
tổ chức sử dụng vố có hiệu quả nhất, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Nhà nước sử dụng vốn tín dụng như một công cụ quan trọng để thúc đẩy
sản xuất phát triển, kiểm soát kinh tế, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng các tiến
bộ khoa học kỹ thuật, củng cố hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp, tổ chức
kinh tế…
Tín dụng ngân hàng còn là đòn bẩy quan trọng để thúc đẩy quá trình hình
thành và mở rộng các quan hệ giao lưu kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực đầu tư vốn ra
nước ngoài và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá
III NỢ QUÁ HẠN
1 Khái niệm
Hoạt động tin dụng là hoạt động quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong cơ cấu tài sản của ngân hàng thương mại, và đem lại phần lợi nhuận lớn
nhất cho ngân hàng thương mại Nhưng đây cũng là hoạt động luôn luôn chứa
đựng nguy cơ rủi ro Rủi ro tín dụng là loại rủi ro gắn liền với việc không thu
được nọ khi đến hạn Việc phát sinh nợ quá hạn là điều khó có thể tránh khỏi,
nhưng nếu nợ quá hạn phát sinh quá tỷ lệ cho phép sẽ dẫn đến tình trạng mất
khả năng thanh toán của ngân hàng thương mại Vậy, thế nào là nợ quá hạn?
Theo quyết định số 324/1998/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế cho
vay vốn của tổ chức tín dụng đối với khách hàng quy điịnh rõ: Nợ quá hạn trong
kinh doanh của ngân hàng là hiện tượng khách hàng không có khả năng trả nợ
Trang 15đúng hạn mà đã cam kết trả trong khế ước vay trước đây Nếu không được điều
chỉnh kỳ hạn nợ, hoặc được gia hạn nợ thì số nợ đến hạn phải chuyển sang nợ
quá hạn, và khách hàng phải chịu lãi suất nợ quá hạn đối với số tiền trả chậm
Cũng có quan điểm cho rằng: Nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng là hiện
tượng đến thời hạn thanh toán khoản nợ, người đi vay không có khả năng thực
hiện ngay nghĩa vụ của mình đối với người cho vay
Như vậy, có thể thấy nợ quá hạn thực chất là một khoản tín dụng được cấp
ra nhưng không thể thu hồi được ddúng theo thoả thuận Nợ quá hạn được xác
định theo công thức:
2 Phân loại
Nợ quá hạn được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau để làm căn cứ
xây dựng kế hoạch thu hồi vốn trong từng trường hợp cụ thể Sau đây là một số
phương pháp phân chia thường được áp dụng nhất:
2.1 Căn cứ vào thời gian quá hạn:
Nợ quá hạn dưói 180 ngày
Nợ quá hạn từ 180 ngày đến 360 ngày
Nợ quá hạn trên 360 ngày
2.2 Căn cứ vào khả năng thu hồi:
Nợ quá hạn thông thường đòi đủ 100%
Nợ quá hạn khó đòi, khả năng thu hồi không đủ và phải kéo dài
Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi
2.3 Căn cứ vào thành phần kinh tế:
Nợ quá hạn của các doanh nghiệp nhà nước
Nợ quá hạn của các doanh nghiệp tư nhân
Nợ quá hạn của các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
Nợ quá hạn của các hộ cá thể
Tổng số tiền quá hạn Tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Trang 16Nợ quá hạn của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
2.4 Căn cứ theo biện pháp bảo đảm tiền vay:
Nợ quá hạn có boả lãnh của bên thứ ba
Nợ quá hạn còn vật tư, còn hàng hoá tồn kho chơ bán và có tài sản hình
thành từ vốn vay
Nợ quá hạn có tín chấp
Nợ quá hạn có xác nhận của cấp chủ quản
Nờ quá hạn có người thừa kế hợp pháp theo pháp luật trả thay
2.5 Căn cứ theo thời hạn khoản vay:
Nợ quá hạn của các khoản vay ngắn hạn
Nợ quá hạn của các khoản vay trung dài hạn
2.6 Căn cứ theo nguyên tệ:
Nợ quá hạn theo VND
Nợ quá hạn theo ngoại tệ
2.7 Căn cứ thro nguyên nhân phát sinh
Nợ quá hạn do lỗi người vay : yếu kém về trình độ quản lý, khả năng cạnh
tranh, do người vay cố tình không trả nợ…
Nợ quá hạn do lỗi của người cho vay: thường bao giờ cũng gắn với lỗi
người vay (sự đồng tình, thông đồng)
3 Nguyên nhân phát sinh nợ quá hạn
Nợ quá hạn là vấn đề cấp thiết hiện nay mà các ngân hàng thương mại
đang dồn toàn tâm toàn lực để giả quyết Để hạn chế tối đa tỷ lệ nợ quá hạnở các
ngân hàng thương mại hiện nay thì cần thiết phải tìm ra nguyên nhân phát sinh
nợ quá hạn để có biện pháp khặc phục Có rất nhiều nguyên nhân gây ra nợ quá
hạn, song, nhìn chung chúng có thể được xếp vào các loại nguyên nhân chính
sau đây:
3.1 Nguyên nhân khách quan
3.1.1 Nguyên nhân từ phía khách hàng:
Sự tồn tại và phát triển của khách hàng quyết định sự tồn tại và phát triển
của ngân hàng Hiệu quả và chất lượng của các khoản tín dụng dựa trên sơ sở
Trang 17phương hướng sản xuất kinh doanh cuả người vayvốn Hiệu quả kinh tế của
người đi vay ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Ngân hàng thu
được gốc và kãi tiền cho vay hay không phụ thuộc chủ yếu vào người vay vốn
sử dụng vốn vào sản xuất kinh doanh có hiệu quả hay không Khách hàng sử
dụng vốn của ngân hàng gặp rui ro điều tất nhiên là ngân hàng chịu hậu quả dây
chuyên
Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích:
Khách hàng sử dụng vốn vay ngân hàng không đúng với mục đích đã đưa
ra trong đơn xin vay vốn Khách hàng có thể sử dụng vốn vay vào kinh doanh
không đúng đối tượng, sử dụng vốn ngắn hạn để đầu tư trung và dài hạn vào tài
sản cố định, hoặc đã có đủ tiền trả ngân hàng nhưng chưa đến hạn trả nợ, hoặc
đã có tiền nhưng chưa đủ trả ngân hàng, khách hàng sử dụng tiền đó vào hoạt
động kinh doanh khác và gặp rủi ro
Khả năng quản lý kinh doanh của khách hàng kém:
Do trình độ tổ chức, quản lý hoạt động kinh doanh của giám đốc doanh
nghiệp kém,thiếu kinh nghiệm kinh doanh trong nền kinh tế thị trường nên khi
lập phương án có những tính toans không hợp lý Ban giám đôc không đánh giá,
phân tích những biến động và xu hướng phát triển của thị trường nên không
tranh thủ thời cơ và bị động trước sự thay đổi của môi trường kinh tế, không tìm
ra hướng đi cho doanh nghiệp của mình Doanh nghiệp bị thua lỗ, dự án bị đổ
vỡ, nguồn trả nợ ngân hàng bị đe doạ
Khả năng kém thích nghi với môi trường cạnh tranh:
Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể kinh tế luôn luôn phải cạnh tranh
với nhau Cạnh tranh tồn tại một cách khách quan trên mọi lĩnh vực kinh tế- xã
hội Nếu doanh nghiệp nào thắng trong cạnh tranh thì sẽ tồn tại và phát triển,
còn ngược lại doanh nghiệp sẽ bị thua lỗ và phá sản Khi doanh nghiệp không có
chính sách chiến lược cạnh tranh hợp lý, không tận dụng được thời cơ, không
nắm bắt được nhu cầu thị trường thì doanh nghiệp sẽ không thể đứng vững được
trong cạnh tranh Khi xuất hiện khả năng này ngân hàng thu được nợ từ các
doanh nghiệp rất thấp
Trang 18Khách hàng cố tình lừa đảo:
Có nhiều khách hàng “cố tình” đưa ra các hồ sơ hợp pháp , các dự án có
hiệu quả để dược vay vốn ngân hàng Khách hàng dùng cùng một tài sản thế
chấp để vay vốn nhiêu ngân hàng, khi đẫ được vay vốn thì sử dụng cho các mục
đích cá nhân, hoặc bỏ trốn, hoặc lúc đầu khách hàng vay và trả nợ nghiêm chỉnh,
khi tạo được lòng tin của ngân hàng thì sử dụng vốn vay vào mục đích khác
Nếu ngân hàng không phát hiện kịp thời thì đây sẽ là nguyên nhân phát sinh các
khoản nợ khó đòi hay mất vốn
Ngoài ra, còn có một ssó khách hàng muốn vay vốn ngân hàng nhưng lại
không muốn trả nợ cho ngân hàng, mặc dù có khả năng trả nợ ngân hàng Đó là
một hành động có chủ ý Loại nguyên nhân này được xềp vào loại nguyên nhân
rủi ro về tư cách, đạo đức của người vay Rủi ro đạo dức cũng là một vấn đề do
thông tin không cân xứng tạo ra sau khi cuộc giao dịch diễn ra Bên cho vay có
thể không biết, tát cả những gì mà họ cần biết về khách hàng để dưa ra quyết
định đúng đắn Đây là nguyên nhân khá quan trọng gây ra nợ quá hạn và rủi ro
tín dụng cho ngân hàng Trong những trường hợp này, phần lớn ngân hàng cần
phải có sự can thiệp, giúp đỡ của pháp luật
3.1.2 Nguyên nhân khác:
Một trong những nguyên nhân khách quan làm phát sinh nợ quá hạn là sự
biến động về kinh tế Việt nam chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
sang nền kinh tế thị trường chưa được bao lâu, nên nhiều doanh nghiệp vẫn chưa
thích ứng được với cơ chế thị trường Điều này dẫn đến tình trạng nhiều doanh
nghiệp làm ăn thua lỗ, phá sản và như vậy tất yếu sẽ gây ra nợ quá hạn đối với
ngân hàng Quy luật phát triển kinh tế mang tính chất chu kỳ, lúc thịnh vượng
kinh tế phát triển nhanh, doanh nghiệp sẵn có khả năng chi trả Lúc suy thoái,
sản xuất kinh doanh đình đốn sẽ làm cho mọi hoạt động doanh nghiệp gặp khó
khăn, thậm chí không trả được nợ ngân hàng gây tình trạng nợ quá hạn
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, quy luật cạnh tranh diễn ra hết sức
quyết liệt Hàng hoá của nhiều doanh nghiệp Việt nam không đủ sức cạnh tranh
với háng hoá nước ngoài Bên cạnh đó, những thay đổi thường xuyên về nhu cầu
Trang 19và thị hiếu của người tiêu dùng làm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
diễn ra hết sức khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp Môi
trường pháp lý chưa hoàn chỉnh, cơ chế chính sách cơ chế chính sách thường
xuyên thay đổi, hệ thống pháp lý không đồng bộ, điều này ít nhiều ảnh hưởng
đến hoạt động của ngân hàng Ví dụ, việc sắp xếp lại các doanh nghiệp bằng
biện pháp giải thể, sáp nhập, cổ phần hoá không đồng bộ với việc chuyêbr và
nhận các món nợ ngân hàng sang đơn vị mới nên dễ gây ra tình trạng nợ quá hạn
do những khoản nợ đó vô chủ, và không có ai có trách nhiệm trả nợ
Sự biến động kinh tế chính trị trong khu vực và trên thế giới làm ảnh
hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời có thể dẫn đến sự thay đổi
chính sách, điều đó đã làm ảnh hưởng đến chất lượng các khoản tín dụng
Thiên tai, địch hoạ là rủi ro bất khả kháng của ngân hàng và khách khi
thực hiện một hợp đồng vay Khi rủi ro này xảy ra sẽ có ảnh hưởng đến hoạt
động kinh doanh nghiệp, kéo theo ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của ngân
hàng Nếu rủi ro xảy ra lớn đòi hỏi phải có thời gian để ổn định sản xuất kinh
doanh mới có khả năng trả nợ, hoặc thậm chí không thể khắc phục được Tuy
nhiên, cả ngân hàng và khách hàng đều có biện pháp dự phòng khắc phục một
cách tốt nhất, nên nợ quá hạn xảy ra do nguyên nhân này thường không nhiều
Nợ quá hạn còn phát sinh do cơ chế chính sách của ngân hàng Nhà nước
Việt nam chưa đầy đủ Ngân hàng nhà nước cho phép một doanh nghiệp được
vay vốn của nhiều ngân hàng thương mại, hoặc nhiều chi nhánh của một ngân
hàng thương mại nhưng khác tỉnh Từ đó các ngân hàng thương mại cùng cho
một doanh nghiệp vay vốn mà không biết nhau, dẫn đến việc khách hàng đảo
nợ, vay tiền của ngân hàng này trả nợ ngân hàng kia, và cuối cùng là việc tranh
chấp giữa các ngân hàng thương mại với nhau khi khách hàng không trả nợ
3.2 Nguyên nhân từ phía ngân hàng
Ngân hàng thiếu một chính sách rõ ràng, nhất quán hoặc chính sách tín
dụng không phù hợp với thực trạng nền kinh tế-xã hội Chính sách tín dụng
ohải được hiểu thê nghĩa đầy đủ, bao gồm định hướng chung trong việc cho vay,
chính sách khách hàng, ngành nghề được ưu tiên… Chính sách tín dụng của một
Trang 20ngân hàng là kim chỉ nam cho hoạt động tía dụng của ngân hàng đó Khi chính
sách tín dụng không đầy đủ, đúng đắn và thống nhất, nó sẽ tạo ra định hướng
lệch lạc cho hoạt động tín dụng dẫn đến việc cấp tín dụng không đúng đối
tượng, thiếu hiệu quả, tạo ra kẽ hở cho người vay và các đối tượng khác lợi
dụng, dẫn đến rủi ro tín dụng
Ngân hàng chưa thực sự chú trọng vào mục tiêu của khoản vay, tính toán
không đầy đủ chính xác, dẫn đến quyết định sai lầm trong cấp tín dụng Việc
đánh giá vè người vay, khoản vay chưa đúng mức, hoắc quá chủ quan tin tưởng
vào người vay, từ đó coi nhẹ khâu kiểm tra, không kiểm tra toàn diện về tình
hình tài chính, phi tài chính của người vay, quá coi trọng tài sản thế chấp, bảo
lãnh (coi là đảm bảo chắc chắn trong mọi trường hợp rủi ro), từ đó coi nhẹ tính
khả thi và khả năng hoàn vốn của bản thân dự án
Cán bộ tín dụng ngân hàng chưa được dào tạo đầy đủ, không am hiểu về
khía cạnh kinh tế- kỹ thuật của dự án, của ngành kinh doanh của ngân hàng đầu
tư, không đủ năng lực them định một cách đầy đủ khoa hoạ về dự án đầu tư dẫn
đén xác định sai hiệu quả của dự án, khả năng trả nợ của người vay Việc không
am hiểu về pháp luật cũng có thể dẫn đén các khoản vay không đảm bảo được
quyền lợi cho ngân hàng khi xảy ra tranh chấp trước pháp luật
Ngân hàng thiếu thông tin tín dụng hoặc thông tin tín dụng không chính
xác, kịp thời , chưa có phân loại khách hàng , thiếu hệ thống phân tích , đánh
giá khách hàng một cách đầy đủ , khách quan , đúng đắn Việc thiếu thông tin sẽ
dẫn đến nảy sinh vấn đề sự lựa chọn đối nghịch trước khi xảy ra giao dịch.Chọn
lựa đối nghịch xảy ra khi những người đi vay có nhiều khả năng tạo ra một kết
cục không mong muốn (đối nghịch ) tức là những rủi ro không trả được nợ , họ
lại tích cực tìm vay nhất và do vậy họ có nhiều khả năng được vay nhất Người
cho vay do sự lựa chọn đối nghịch dẫn đến có thể những người bị từ chối không
cho vay lại là những người trả được nợ, ngược lại những người được vay lại có
phương án liều lĩnh , do vậy họ đã bị thất bại và không trả được nợ
Một bộ phận cán bộ ngân hàng yếu kém về năng lực , phẩm chất , lợi
dụng vị trí công tác để trục lợi , tham ô, thậm chí làm trái nguyên tắc gây nên nợ
Trang 21quá hạn và thiệt hại cho ngân hàng
Ngân hàng thiếu một cơ cấu theo dõi , quản lý rủi ro , chưa có hệ thống đo
lường , phân tán rủi ro theo tong loại khách hàng , ngành nghề hoặc địa bàn Hệ
thống kiểm tra , kiểm soát yếu kém , lỏng lẻo không kịp thời phát hiện , chấn
chỉnh và sửa chữa các sai sót trong hoạt động kinh doanh nói chung và họat
động tín dụng nói riêng
4 Ảnh hưởng của nợ qúa hạn
Nợ qúa hạn trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại là hiện
tượng khách quan nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng của một ngân
hàng , và là một trong một nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự sụp đổ của một
ngân hàng Tuy nhiên nợ quá hạn không chỉ dừng lại trong phạm vi ngân hàng
Nếu nợ qúa hạn quá cao , sẽ trở thành vấn đề nghiêm trọng , gây ra những hậu
qủa không lường đến không những cho bản thân ngân hàng đó , mà còn ảnh
hưởng đến cả hệ thống ngân hàng , quyền lợi của người gửi tiền và toàn bộ nền
kinh tế
- Ảnh hưởng của nợ qúa hạn đối với ngân hàng
+ Nợ quá hạn làm giảm hiệu quả huy động vốn :
Nợ quá hạn phát sinh đồng nghĩa với việc một phần vốn kinh doanh của
ngân hàng tồn đọng trong các khoản nợ này Việc tồn đọng này làm cho ngân
hàng mất đi cơ hội làm ăn khác có thể đem lại lợi nhuận cao cho ngân hàng, hay
một phần vốn kinh doanh của ngân hàng bị tồn đọng trong các khoản nợ này, và
nó làm giảm vòng quay vốn của ngân hàng Nói cách khác, nợ qúa hạn phát sinh
đã làm giảm doanh số cho vay của ngân hàng,từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng
vốn
Nợ quá hạn làm giảm lợi nhuận: Thu nhập của ngân hàng chủ yếu phát
sinh từ hoạt động cho vay của ngân hàng Đồng thời, nguồn vốn của ngân hàng
chủ yếu từ nguồn vốn huy động phải trả chi phí hu động vốn Do vậy, khoản vay
không thu hồi được dẫn đến một bộ phận tài sản của ngân hàng đóng băng làm
giảm thu nhập mà vẫn phải trả chi phí huy động vốn
Nợ quá hạn làm giảm khả năng thanh toán:
Trang 22Các khoản nợ quá hạn phát sinh làm thay đổi khách hàng cũng như nguồn
thanh toán tiền Hơn nữa tỷ lệ nợ qúa hạn trên tổng dự nợ cao dẫn đến tình trạng
mất khả năng thanh toán của ngân hàng.Nếu khách hàng nắm được dấu hiệu này
sẽ ồ ạt đến rút tiền, và ngân hàng
Nợ quá hạn làm giảm uy tín của ngân hàng :
Do ngân hàng hoạt động kinh doanh chủ yếu bằng tiền của người khác,
nên tỷ lệ nợ qúa hạn của ngân hàng cao, tức là chất lượng tín dụng của ngân
hàng không cao, có thể ảnh hưởng đến tính thanh toán của ngân hàng Điều này
sẽ làm cho khách hàng không còn tin tưởng vào hiệu quả hoạt động kinh doanh
của ngân hàng, dẫn tới việc giảm đáng kể các quan hệ giao dịch của ngân hàng
Nợ quá hạn làm tăng nguy cơ phá sản:
Đây là ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của nợ qúa hạn đối với hoạt động
ngân hàng Nếu nợ qúa hạn ở mức độ cao không sớm được hạn chế sẽ dẫn tới
hàng loạt các ảnh hưởng xấu nêu trên, và sẽ dẫn tới đỉnh điểm là sự phá sản của
ngân hàng
Nợ quá hạn làm giảm tốc độ chu chuyển vốn:
Trong nền kinh tế hiện đại, hầu hết các hoạt động thanh toán giao dịch của
khách hàng chủ yếu dựa vào vay vốn ngân hàng Do vậy, tình trạng nợ qúa hạn
dây dưa khó đòi của khách hàng sẽ ảnh hưởng trực tiếp quan hệ của khách hàng
với ngân hàng, làm giảm tốc độ luân chuyển vốn của khách hàng
Lãi suất nợ qúa hạn quy định bằng 150% mức lãi suất cho vay Như vậy
nếu một doanh nghiệp phát sinh nợ qúa hạn sẽ làm tăng chi phí hoạt động lên,
Diều đó càng làm tăng gánh nặng trả nợ ngân hàng
Việc phát sinh nợ quá hạn sẽ làm khách hàng mất uy tín đối với ngân
hàng Vậy mà, trong hoạt động của minh, khách hàng rất cần có quan hệ với
ngân hàng Nợ quá hạn phát sinh là vật cả lớn gây ra khó khan cho khách hàng
Sé không còn có một ngân hàngân hàng nào muốn duy trì quan hệ lâu dài với
doanh nghiệp có tỷ lệ nợ qúa hạn cao, bởi đây chính là tín hiệu nói lên hoạt động
có hiệu qủ của doanh nghiệp
- Ảnh hưởng của nợ qúa hạn đối với nền kinh tế
Trang 23Hệ thống ngân hàng tài chính là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm và chứa
đựng nhiều rủi ro, chỉ cần một tổn thương nhỏ cũng có thể gây nên những xáo
trộn lớn trong quá trình điều hành nền kinh tế
Nợ quá hạn gây ra sức ép lạm phát:
Nợ quá hạn ở mức độ cao sẽ dẫn đến sự khan hiếm vốn một cách giả tạo
một khối lượng lớn vốn tồn đọng trong các khoản nơ quá hạn dấn đến tiền trong
lưu thông giảm sút, gây sức ép tăng cung tiền mà hậu qủa là lạm phát
Nợ quả hạn làm đình trệ sản xuất:
Nợ qúa hạn còn ảnh hưởng lớn đến việc lưu thông tín dụng, làm cho vốn
bị un tắc, không đến được nơi cần vốn để phát triển hoạt động sản suất kinh
doanh, gây đình đốn, anh r hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế
Nợ qúa hạn làm khủng hoảng hệ thống tài chính tiền tệ ngân hàng,khủng
hoảng kinh tế:
Ngân hàng là kênh chủ yéu, thực hiện huy động và cho vay phát triển kinh
tế, hoạt động ngân hàng là hoạt động khinh tế mang tính xã hội cao, anh rhưởng
về chất lượng hoạt động ngân hàng mang tinh day chuyền Tỷ lệ nợ qúa hạn cao,
nều khong dược kịp thời có biện pháp quản lý và xử lý se gây ra thua lỗ cho
ngân hàng Hoạt động huy động vốn, cho vay, đầu tư, do vậy bị thu hẹp, ảnh
hưởng tiều cực đến sự tăng trưởng của nền kinh tế, đồng thời trực tiếp làm
khung r hoảng kinh tế xã hội
Các dấu hiệu của khoản nợ có vấn đề:
Trong thực tế có nhiều dấu hiệu biểu hiện một khoản vay có nguy cơ quá
hạn Tuy nhiên, khong có mô hình nhất định nào về các biến cố thường xuyên
xảy ra để có thể kết luận khoản vay khó được hoàn trả Mặc dù vậy, trong hoạt
động tín dụng của ngân hàng thương mại, có thể dựa vào một số đấu hiệu sau để
xem xét khả năng tài chính của người vay có thể dẫn tới nợ qúa hạn :
Tính khả thi của dự án thấp, sản phẩm làm ra có dấu hiệu bão hoà
Thu nhập của người vay không ổn định, công việc thay đổi thường xuyên
Người vay cố tình trì hoãn việc nộp các báo cáo tài chính cho ngân hàng :
bằng việc phân tích các báo cáo tài chính, cán bộ tín dụng có thể tìm ra những
Trang 24yếu kém của các doanh nghiệp
Quan hệ với ngân hàng giảm: Khác hàng có thái độ trì hoãn, lưỡng lự khi
đưa các cán bộ tín dung đi thăm cơ sở sản xuất kinh doanh
Gia tăng bất thường hàng tồn kho, khoản nợ thương mại, khoản phải thu:
Điều này nói lên hàng hoá của doanh nghiệp sản xuất ra tiêu thụ chem Và phải
khất nợ nhiều Tình trạng này thường xuất hiện khi sản phẩm của doanh nghiệp
giảm sút về chất lượng, hay không còn thích hợp với thị hiều tiêu dùng gây ứ
đọng hàng hoá làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
Hoãn trả lãi vay ngân hàng chậm hơn thoả thuận đã quy định: điều này
nói lên khả năng thanh toán giảm, hay sự chây ì của doanh nghiệp đối với việc
thanh toán cho ngân hàng
Hoạt động sản xuất kinh doanh có biẻu hiên không lành mạnh mất uy tín
với thị trường, bạn hàng, nhà tài trợ, nợ thuế nợ tiền hàng tăng, giá cổ phiếu
giảm, đối tác tự ý huỷ bỏ hợp đồng kinh doanh, cơ quan báo chí đưa tin về tình
hình không lành mạnh…
Ban lãnh đạo của doanh nghiệp có thay đổi, mất đoàn kết, tạo ra không
khí bất ổn, thiếu tin tưởng trong nội bộ hoặc các đối tac, nhà tài trợ…
Thiên tai địch hoạ xảy ra với mức độ nghiêm trong cũng là một dấu hiệu
cho thấy khách hàng sẽ bị ảnh hưởng lớn trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của mình, đòi hỏi có thời gian để phục hồi, thậm chí không thể phục hồi được
nều khách hàngông có sự giúp đỡ từ phía Nhà Nước
Cơ chế chính sách có thay đổi theo chiều hướng bất lợi
Trên đây là một số dấu hiệu báo hiệu các khoản vay có nguy cơ quá hạn
để giảm thấp tỷ lệ nợ qúa hạn, đòi hỏi các ngân hàng phải xem xet kỹ các dấu
hiệu này nhằm có biện pháp điều chỉnh ngăn chặn khả năng phát sinh các khoản
nợ quả hạn
5 Xử lý nợ quá hạn
Nợ qúa hạn là một vấn đề tồn tại, khuyết điển về nghiệp vụ của ngành
ngân hàng Khi vay vốn mất khả năng thanh toán thì ngân hàng phải gánh chịu
Trang 25rủi ro về kinh tế thậm chí còn liên quan đế trách nhiệm về pháp luật Nền kinh tế
càng phát triển hoạt động tín dụng ngân hàng mở rộng, khối lượng tín dụng ngân
hàng ngày càng lơn thì nợ qúa hạn càng tăng về số tuyệt đối và tương đối Do
đó, nợ qúa hạn được đặt ra như một vấn đề cấp bách, đòi hỏi các ngân hàng phả
nhanh chóng đưa ra những biện pháp hữu hiệu để xử lý nhằm làm lành mạnh
hoạt động kinh doanh Sau đây là một số biện pháp phổ biến được áp dụng
- Đối với các khoản nợ qúa hạn thông thường:
Một khoản nợ quá hạn không có nghĩa là mất tất cả nhiệm vụ quan trọng
và đầu tiên trong việc xở lý những món nợ này là ngân hàng cần tạo ra bầu
không khí tin tưởng lẫn nhau giưa ngân hàng và người vay, tạo ra thái độ sẵn
sàng trả nơ của người vay
+ Gia hạn nợ:
Gia hạn nợ thực chất việc kéo dài thời gian trả nợ sau thời điểm cam kết
trả nợ trong khế ước nhận nợ Việc gia hạn nợ có thể tiến hành trước ngày đáo
hạn của khoản vay, nếu doanh nghiệp có đơn xin gia hạn nếu vì lý do nào do
đến ngày dáo hạn của khoản vay, khách hàng không có đơn xin gia hạn thi hiển
nhiên bị chuyển thành nợ qúa hạn, nhưng sau đó nếu có đơn và ngân hàng xét
they có lý do hợp lý, khoản nợ qúa hạn sẽ được chuyển thành nợ thông thương
chịu lãi suất gia hạn các khoản nợ này thường xảy ra ở các doanh nghiệp có
trình độ chuyên môn cao, nhạy bén với cơ chế thị trường, và có khả năng điều
chỉnh hoạt động kinh doanh đẻ có thế thu hồi vốn hoàn trả khoản vay cho ngân
hàng
+ Khai thác:
Khai thác là một quá trình làm việc với người vay cho đến khi khoản cho
vay được trả một phần hay toàn bộ mà không dùng các công cụ pháp lý để thu
nợ
Trong trường hợp khách hàng là người có ý thức trách nhiệm đối với món
nợ, nhưng đang thức sự gặp khó khăn về tài chính thì ngân hàng có thể xem xét
xử lý bằng biện pháp khai thác, nghĩa là người vay tự khắc phục các khó khăn
về tài chính, và hoàn trả món nợ cho ngân hàng càng nhanh càng tốt Đây là biện
Trang 26pháp nâng đỡ tạo điều kiện cho bên vay không bị lâm vào tình trạng phá sản, vì
tổ chức khai thác không phải là một công cụ pháp ly, nó có thể có vài hình thức
khác nhaub giữa những khoản cho vay Ngân hàng có thể thực hiện cácbiện
pháp sau:
Ngân hàng có những lời khuyên để giúp người vay tạo ra nguồn thu trả nợ
cho ngân hàng Bằng kinh nghiệm và sự am hiểu của mình trên nhiều lĩnh vực,
ngân hàng sẽ có những lời khuyên để giúp người vay khôi phục tùnh hình sản
xuất kinh doanh
Điều chỉnh kỳ hạn nợ: Đối với các khoản vay mà ngân hàng định kỳ hạn
cợ không đúng chu kỳ kinh doanh cho vay ngắn hạn với các đối tượng trung và
dài hạn, thì ngân hàng nên xem ét và điều chỉnh kỳ hạn nợ cho phù hợp, để tạo
điều kiện cho kháh hàng có thể trả nợ đúng hạn
Cấp phát thêm vốn để “nuôi nợ”: Trong nhiều giai đoạn khó khăn một số
khách hàng kông những không trả được nợ đáo hạn, xin gia hạn nợ, mà còn có
nhu cầu vay thêm vốn để giải quyết khó khăn tài chính tạm thời Trong những
trường hợp như vậy, các ngân hàng thương mại cầ phân tích cân nhắc, thận
trọng để tiếp thêm sinh khí giúp khách hàng của mình qua cơn “bĩ cực”
Ngân hàng nắm giữ phần chủ động, thậm chí điều hành hoạt động kinh
doanh cho đến khi đảm bảo rằng khoản vay sẽ được chi trả Điều này chỉ được
thực hiện khi giám đốc đương nhiệm không có khả năng, không có bằng chứng
về tính gian dói Phương pháp này có vẻ là giải pháp hợp lý ho một tình huống
xấu
Chuyển tín dụng ngân hàng thành vốn cổ phần của doanh nghiệp Đây là
biện pháp nhằm thắt chặt mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp Phương
páp này được áp dụng khi lĩnh vực đầu tư, hoặc hoạt động của doanh nghiệp
mang tính khả thi cao, có khả năng đem lại hiệu quả cao, nhưng gánh nặng nợ
nần quá lớn khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong quá trình triển khai dự án,
trình độ quản lý của ban lãnh đạo doanh nghiệp cũng không thích ứng với dự án
hoạt động mới Việc chuyển vốn vay thành vốn cở phần sẽ giúp giảm gánh nặn
nợ nần cho doanh nghiệp, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả quản lý doanh
Trang 27nghiệp Với uy tín, kinh nghiệm của mình, sự góp mặt của ngân hàng với tư
cách là cổ đông của doanh nghiệp sẽ thúc đẩy hoạt động của doanh nghiệp
Yêu cầu doanh nghiệp bổ sung them tài sản thế chấp ngay khi khoản vay
bị coi là có vấn đề.dddeer tổ choc khai thác thành công, rõ ràng doanh nghiệp
được có lợ nhiều nhất, trong trường hợp đó ngân hàng cũng thu được lợ lớn
ngoài việc tránh được khoản nợ khó đòi Nếu ngân hàng giúp doanh nghiệp giải
quyết vấn đề và giúp doanh nghiệp thành đạt, thì trong vài năm tới ngân hàng sẽ
có một khách hàng trung thành, và như vậy ngân hàng sẽ được lòng khách hàng
cũng như giới kinh doanh, vì bất cứ một doanh nghiệp hay cá nhân nào cũng
thích quan hệ với một ngân hàng có uy tín, quan tâm tới lợi ích của khách hàng,
và sẵn sàng phục vụ họ hơn là một ngân hàng nổi tiếng đối xử khắc nghiệt với
người vay vi phạm hợp đồng tín dụng
- Đối với các khoản nợ khó đòi và mất vốn:
Nếu những nơ lực của ngân hàng và doanh nghiệp trong việc xử lý nợ qúa
hạn thông thường không thu được kết quả dẫn đến phá sản, thì ngân hàng phải
tiến hành các biện pháp để xử lý các khoản nợ khó đòi Đây là một công việc
rất phức tạp và không thích thú gì đối với cán bộ ngân hàng
Các khoản nợ này có khả năng thu hồi thấp, nên có tác động không nhỏ
tới toàn bộ nền kinh tế Chính vì vậy, việc xử lý các khoản nợ khó đòi này đòi
hỏi có sự quan tâm đặc biệt không chỉ riêng ngân hàng mà còn của các cơ quan
có them quyền có liên quan để cùng giải quyết
+ Thanh lý:
Sau khi xem xét các yếu tố, ngân hàng they khả năng cải thiện tình hình
kinhtế tài chính của doanh nghiệp là xa vời Sau khi áp dụng các biện pháp khai
thác má không có hiêuh quả thì cách xử lý tốt nhất là tiến hành các thủ tục pháp
lý để thu hồi khoản nợ
Thanh lý là biện pháp buộc người vay tuân theo các hợp đồng tín dụng mà
hai bên đã thoả thuận, áp dụng và sử dụng tất cả các biện pháp pháp lý để thu
nợ Ngân hàng thường không muốn tiến hành thanh lý, vì nó quá khắc nghiệ với
người vay, mắt khác các thủ tục pháp lý rắc rối, chi phí lớn và mất thời gian
Trang 28Hơn nữa, giá thị trường của tài sản thế chấp thay đổi, không đảm bảo bù đắp
khoản vay Thanh lý nợ qúa hạn có thể tiền hành bằng một só biện pháp sau:
Ngân hàng cố gắng thuyết phục khách hàng tự bán tài sản thế chấp cầm
cố của mình để trả nợ, vì như vậy thường được giá cao hơn là giá phát mại Khi
đó khách hàng cũng đỡ bị mất uy tín của mình trên thương trường, và ngân hàng
cũng tránh đựoc chi phí và thủ tục pháp lý gắn liền với việc sở hữư và phát mại
tài sản thế chấp, cầm cố Có lẽ biện pháp này là có lợi nhất đối với cả khách
hàng và ngân hàng
Gán nợ cho ngân hàng và ngân hàng tự bán tài sản thế chấp để thu nợ theo
thoả thuận trong hợp đồng tín dụng Hướng giải quyết này là không mấy dễ
dàng, vì đây không phải là một trong những nhiệm vụ của ngân hàng trong
trường hợp này, ngân hàng thường mua lại tài sản thế chấp để làm văn phòng
làm việc, trụ sở giao dịch, cho thuê, góp vốn liên doanh liên kết
Ngân hàng đề nghị cơ quan có thêm quyền bán đấu giá tài sản thế chấp
cầm cố Trong nhiều trường hợp, tài sản thé chấp cầm cố bán đi không đủ để bù
đắp nợ thì ngân hàng có thể nhận phán quyết của toà án về phần chênh lệch,
chẳng hạn ngân hàng được phép thu thêm nếu người vay còn có tài sản khác
+ Bán nợ:
Đây là một biện pháp được áp dụng khá nhiều ở các quốc gia có thị
trường tài chính phát triển Các khoản nợ sẽ được các ngân hàng chào bán
Thông qua các công ty môi giớ, các công ty chuyên mua bán nợ đứng mua
khoản nợ này Tất nhiên, việc chào bán chủ yếu là các khoả nợ qúa hạn có khả
năng thu hồi thấp Ngân hàng hết khả năng không còn đủ khả năng để tiếp tục
theo dõi và thu nợ Các công ty mua nợ có kinh nghiệm và nhiệ vụ xử lý các
khoản nợ có vấn đề sẽ có các biện pháp thu nợ thích hợp Việc bán nợ sẽ giúp
ngân hàng thu hồi vốn trong thời gian ngắn, mằc dù số nợ thu được sẽ giảm đi,
đó là gí cả của việc chuyển nhượng rủi ro sang đối tượng khác ngoài ra ngân
hàng cũng có thể bán các khoản nợ khi gằp khó khăn về tiền mặt
+ Yêu cầu doanh nghiệp tuyên bố pơhá sản doanh nghiệp :
Trong trường hợp doanh nghiệp có pát sinh các khoản nợ khó đòi, ngân
Trang 29hàng đã tiến hành mọi biện pháp để thu hồi nợ mà doanh nghiệp vẫn không có
khả năng thanh toán các khoản nợ đối với ngân hàng thì ngân hàng có quyền yêu
cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Khi doanh nghiệp mắc nợ không trả được nợ cho các chủ nợ, thì chủ nợ
có quyền yêu cầu toà án tuyên bố phá sản doanh nghiệp để bán toàn bộ tài sản
coà lại của doanh nghiệp và trả nợ cho chủ nợ
Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản khi doanh nghiệp đó mất khả
năng thanh toán nợ một cách trầm trọng, và sau khi áp dụng các biện pháp tài
chính cần thiết
Như vậy, ngân hàng sau khi bán tài sản thế chấp cầm cố của doanh nghiệp
mà không thu hồi được đủ tiền đã cho vay, sẽ trở thành chủ nợ không có đảm
bảo, và có quyền yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp để thu nốt phần nợ còn
lại
Trang 30CHƯƠNG II THỰC TRẠNG NỢ QUÁ HẠN Ở SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG
NÔNG NGHIỆP
I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG NÔNG
NGHIỆP
1 Sự ra đời của Sở giao dịch
Sở giao dịch ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt nam
(gọi tắt là Sở giao dịch ) được thành lập theo quyết định 235/HĐQT-NHN0 02
ngày 26/5/1999 của Chủ tịch hội đồng quản trị ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Việt nam Sở giao dịch là đơ vị thành viên hạch toán phụ thuộc
loại 1, đại diện theo uỷ quyền của ngân hàng nong nghiệp và phát triển nông
thôn Việt nam (gọi tắt là ngân hàng nông nhgiệp), có quyền tự chủ kinh doanh
theo phân cấp của ngân hàng nông nghiệp, chịu sự ràng buộc về nghĩa vụ và
quyền lợi đối với ngân hàng nông nghiệp, và chịu trách nhiệm cuối cùng về các
nghĩa vụ da sự cam kết của Sở giao dịch trong phạm vi uỷ quyền
Sở giao dịch có trụ sở tại số n2 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội, có thời gian
hạt động phù hợp với thời gian hoạt động của ngân hàng nông nghiệp
2 Chức năng của Sở giao dịch
cũng giống như các đơn vị thành viên, Sở giao dịch có các nghiệp vụ tự
kinh doanh như: huy động vốn, cho vay, dịch vụ ngân hàng Bên cạnh đó, Sở
giao dịch còn có nhiệm vụ quản lý vốn nội, ngoại tệ tạm thời nhàn rỗi của ngân
hàng nông nghiệp; Cân đối điều hoà vốn ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng
nông nghiệp; Chấp hành quy chế về dự trữ bắt buộc, trạnh thái ngoại tệ của ngân
hàng Nhà nước Sở giao dịch là đầu mối thực hiện thanh toán quốc tế, quản lý
tài khoản tiền gửi ngoại tệ của các đơn vị thành viên tại Sở giao dịch, và của
ngân hàng nông nghiệp tại các ngân hàng khác là đầu mối kinh doanh trên thị
trường liên ngân hàng trong và ngoài nước Sở giao dịch phát triển và quản lý hệ
thông ngân hàng đại lý của ngân hàng nông nghiệp, thực hiện quan hệ đại lý
thanh toán và dịch vụ ngân hàng đối với ngân hàng nước ngoài Sở giao dịch
Trang 31còn trực tiếp thử nghiệm các dịch vụ, sản phẩm mới trong hoạt động kinh doanh
ngân hàng;Thực hiện kiểm tra, kiểm toán nội bộ việc chấp hành thể lệ, chế độ
nghiệp vụ trong phạm vi Sở theo quy định
3 Chức năng của các phòng ban
cơ cấu tổ choc của Sở giao dịch gồm có: Phòng kinh doanh, phònh
SWIFT, phòng thanh toán quốc tế, phòng kinh dónh ngoại tệ, phòng kế toán
ngân quỹ, phòng kiểm tra kiểm toán nội bộ, phòng hành chính nhân sự, phòng vi
tính
- Phòng kinh doanh:
Xây dung các đề án chiến lược kinh doanh, chiến lược huy đông vốn của
Sở giao dịch Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh hàng năm,
hàng quý, hàng tháng Nghiên cứu đề xuất áp dụng lãi suất cho vay, lãi suất huy
động vốn tại Sở giao dịch Cho vay ngắn, trung và dài hạn bằng đồng Việt nam
và ngoại tệ Thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh Tiếp nhận và triển khai các nguồn
vốn tài trợ, vốn uỷ thác tín dụng của Chính phủ, các tổ choc kinh tế, cá nhân
trong và ngoài nước đầu tư Tổng hợp phân tích thông tin kinh tế, quản lý danh
mục khách hàng, phân loại khách hàng có quan hệ tín dụng Tổ chức, thực hiện
thông tin, phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng Chấp hành chế độ báo cáo thống
kê, kiểm tra nghiệp vụ chuyên đề Thực hiện công tác thông tin, tiếp thịquảng
cáo tổ chức thực hiện chương trình công tác trong Sở giao dịch Tổ chức thực
hiện các phng trào thi đua Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc giao
- Phòng kinh doanh ngoại tệ:
Theo dõi diễn biến tỷ giá, lãi suất trên thị trường trong và ngoài nước Lập
hệ thống tỷ giá tại Sở giao dịch và trao đổi giúp các chi nhánh ngân hàng nông
nghiệp Giao dịch mua bán ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng trong nước và
quốc tế Theo dõi, xử lý trạng thái ngoại hối của hệ thông ngân hàng nông
nghiệp và biến động của thị trường Quản lý vốn trên tài khoản tiền gửi nội,
ngoại tệ của ngân hàng nông nghiệp tại các ngân hàng khác thực hiện dự trữ bắt
buộc tiền nội , ngoại tệ của ngân hàng nông nghiệp tại ngân hàng Nhà nước
Tham gia thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc, thị trường mở Thực hiện mua
Trang 32bán, chiết khấu các chứng từ có giá ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng theo
uỷ quyền của Tổng giám đốc Chấp hành chế độ báo cáo thống kê theo quy định
và thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc giao
- Phòng kế toán- ngân quỹ:
Tổ chức hạch toán, theo dõi các quỹ, vốn tập trung của toàn hệ thống
ngân hàng nông nghiệp Thực hiện hạch toán kế toán các nghiệp vụ huy động
vốn, cho vay và các nghiệp vụ kinh doanh khác của Sở Thực hiện công tác
thanh toán, tham gia thanh toán liên hàng Trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ rút
tiền tự động, dịch vụ két sắt, nghiệp vụ nhận, cất giữ giáy tờ có giá và các tài sản
quý cho khách hàng Thực hiện các nghiệp vụ thu , chi tiền mặt, ngân phiếu
thanh toán,vận chuyển tiền trên đường đi và quản lý an toàn kho, quỹ nghiệp vụ
Xây dung kế hoạch tài chính, quyết toán thu, chi tài chính Thực hiện phân tích,
đánh giá hoạt động tài chính Bảo quản chứng từ kế toán chưa đến thời hạn đưa
vào khơchngs từ Thực hiện nộp ngân sách Nhà nước Chấp hành định mức tồn
quỹ, chế độ báo cáo kho quỹ Chấp hành chế độ báo cáo, thống kê theo quy
định Thực hiện nhiệm vụ khác do Giám đốc giao
- Phòng SWIFT:
Làm đầu mối quan hệ đối với các cơ quan, tổ chức có liên quan tới
SWIFT Quản tri, cập nhật và vận hành hệ thống SWIFT, Telex, SWIFT-in,
SWIFT-out của ngân hàng nông nghiệp Thiết lập và duy trì hệ thống đại lý song
phương vớicác ngân hàng trên thế giới Cung cấp thông tin ngân hàng đại lý
phục vụ nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của ngân hàng nông nghiệp Thiết lập,
quản lý và sử dụng hệ thống mật mã thanh toán quốc tế Làm đầu mối thực hiện
các nghiệp vụ thanh toán quốc tế cho các chi nhánh Kiểm soát chuyển ngoại tệ
và thanh toán ra ngoài hệ thống theo chỉ định của Tổng giám đốc Tham gia
hướng dẫn cho các chi nhánh về việc thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế
theo tiêu chuẩn của SWIFT , về quan hệ đại lý trong thanh toán quốc tế và quản
trị , cập nhật, vận hành hệ thống mang sử dụng trong thanh toán quốc tế Chấp
hành chế độ báo cáo thống kê theo qui định Thực hiện các nhiệm vụ khác do
Giám đốc giao
Trang 33- Phòng thanh toán quốc tế:
Phát hành và theo dõi thư bảo lãnh , thư tín dụng Thực hiện các nghiệp
vụ thanh toán quốc tế cho các khách hàng tại Sở giao dịch và các chi nhánh
chưa nối mạng SWIFT khi có văn bản đề nghị Thực hiện nghiệp vụ chiết khấu
bộ chứng từ hàng xuất khẩu Lập các điện tra soát , xác nhận mua bán ngoại tệ
,giao dịch tiền gửi , điện chuyển vốn, chuyển tiền thanh toán qua mạng SWIFT
Tham gia hướng dẫn các nghiệp vụ về thanh toán quốc tế trong hệ thông ngân
hàng nông nghiệp Chấp hành chế độ báo cáo theo quy định Thực hiện các
nhiệm vụ khác do Giám đốc giao
- Phòng kiểm tra,kiểm toán nội bộ:
Tổ chức kiểm tra,kiểm toán nội bộ các chứng từ, hồ sơ nghiệp vụ phát
sinh tại Sở giao dịch Kiến nghị kịp thời các biện pháp khắc phục những tồn tại ,
thiếu sót trong hoạt động kinh doanh đảm bảo an toàn , hiệu quả Làm đầu mối
đón tiếp và làm việc với các đoàn thanh tra, kiểm tra , kiểm toán trong và ngoài
ngành đến làm việc với Sở giao dịch Tham mưu giúp việc ban lãnh đạo chỉ đạo
thực hiện công tác chấn chỉnh , sửa sai sau thanh tra , kiểm tra theo kết luận và
kiến nghị của các đoàn thanh tra , kiểm tra Tổng hợp báo cáo kịp thời kết quả
công tác chấn chỉnh sửa sai Đầu mối giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo
Thường trực ban chống tham nhũng , tham mưu cho lãnh đạo trong hoạt động
chống tham nhũng , tham ô , lãng phí và thực hành tiết kiệm tại Sở giao dịch
Chấp hành chế độ báo cáo , thống kê theo quy định Thực hiện các nhiệm vụ
khác do Giám đốc giao
- Phòng vi tính :
Xây dung kế hoạch và triển khai thực hiện ứng dụng phát triển công nghệ
thông tin Đầu mối tiếp nhận và triển khai ứng dụng các chương trình phần mềm
do ngân hàng nông nghiệp và các tổ chức khác cung cấp Tổng hợp thực hiện
chế độ báo cáo , cung cấp số liệu , thông tin Lưu trữ số liệu , thông tin liên quan
đến hoạt động của Sở giao dịch Quản lý hệ thống máy chủ Quản lý hệ thống
truyền tin giữa Sở giao dịch với trung tâm công nghệ thông tin , với ngân hàng
Nhà nước Hà nội , các phòng giao dịch , chi nhánh Theo dõi thực hiện công tác
Trang 34bảo hành , bảo trì chưong trình phần mềm , máy vi tính và các thiết bị kèm theo
Chủ động khắc phục sự cố thiết bị , phần mềm và liên hệ với các đơn vị có trách
nhiệm bảo hành, bảo trì Xây dựng các chương trình phần mềm hoặc đề xuất với
Ban giám đốc các đơn vị có khả năng cung cấp phần mềm đáp ứng các yêu cầu
nghiệp vụ đặc trưng của Sở giao dịch Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám
đốc giao
- Phòng hành chính nhân sự:
Thực hiện công tác văn thư , lưu trữ , hành chính, quản trị, lễ tân, tiếp
khách Tham mưu về công tác tổ chức cán bộ Thực hiện các chính sách người
lao động Xây dung và tổ chức thực hiện các đề án , kế hoạch công tác đào tạo ,
đào tạo lại trong Sở giao dịch Đề xuất cử cán bộ đi học tập , tham quan , khảo
sát trong và ngoài nước Chấp hành chế độ báo cáo thống kê về tổ chức cán bộ,
đào tạo , tiền lương và công tác hành chính, quản trị Thực hiện các nhiệm vụ
III Phân theo thành phần kinh tế
1 Tiền gửi dân cư 838 1279 152,6
2 Tiền gửi tổ chức kinh tế 1369 1961 143,2
Nguồn:Bảng cân đối kế toán
Trang 35Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2002 tăng 46% so với 31/12/2001 ;
đạt 108,6% chỉ tiêu kế hoạch được giao
Cơ cấu vốn phân theo thời gian :
Tiền gửi không kỳ hạn chiếm 36% trong tổng nguồn vốn huy động tăng
15,8% so với 31/12/2001
Tiền gửi có kỳ hạn chiếm 64% trong tổng nguồn vốn ; tăng 73% so với
31/12/2001
Về cơ cấu tỉ trọng , nguồn tiền gửi có kỳ hạn tăng 10% so với năm
2001(trong đó nguồn vốn có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên tăng nhanh và chiếm
51,3% trong tổng nguồn vốn ) và tăng nhanh hơn nguồn vốn không kỳ hạn Tuy
vậy , Sở giao dịch vẫn duy trì được tỷ trọng nguồn vốn tiền gửi không kỳ hạn ở
mức bình quân trên 36% trong tổng nguồn vốn , góp phần giảm thấp lãi suất đầu
vào , có lợi trong kinh doanh
Cơ cấu vốn theo đồng tiền huy động :
Tiền gửi nội tệ chiếm 66% trong tổng nguồn , tăng 79% so với
31/12/2001
Tiền gửi chiếm 34% tổng nguồn
Trong năm 2002 , cơ cấu tỷ trọng nguồn tiền gửi nội tệ tăng 9% so với
năm trước , nguồn vốn nội tệ tăng trưởng nhanh hơn nguồn vốn ngoại tệ
Cơ cấu vốn phân theo thành phần kinh tế :
Tiền gửi tiết kiệm , kỳ phiếu của dân cư tăng 52,6% so với 31/12/2001,
chiếm 39% tổng nguồn vốn
Tiền gửi các đơn vị tổ chức kinh tế , tổ chức tài chính tăng 43,2% so với
31/12/2001, chiếm 61% trong tổng nguồn vốn
Nhìn chung , nguồn vốn huy động tại Sở giao dịch có sự tăng trưởng tốt ,
tăng tỷ trọng nguồn vốn có kỳ hạn, đảm bảo tổng nguồn vốn tăng trưởng ổn
định Năm 2002 , Sở giao dịch đã tăng cường huy động trung hạn ngoại tệ từ 24
tháng đến 60 tháng để đầu tư cho vay các dự án Đến 31/12/2002 , đã huy động
được 8 triệu USD có kỳ hạn từ 24 tháng trở lên (trong đó , huy động hộ Trụ sở
chính 2,4 triệu USD )và huy động tiết kiệm được 0,5 triệu EUR Để có kết quả
Trang 36trên Sở giao dịch đã áp dụng nhiều biện pháp để tăng nguồn vốn huy động như:
+ Triển khai tốt đợt huy động kỳ phiếu trả lãi trước , triển khai thực hiện
đề án huy động vốn bằng EUR , huy động kỳ phiếu ngoại tệ trung , dài hạn với
nhiều hình thức phong phú , thích hợp
+ Trong năm đã 5 lần điều chỉnh lãi suất huy động phù hợp với diễn thị
trường ; Tăng cường thông tin rộng rãi trên các báo , đài truyền hình , in tờ rơi
quảng cáo để tuyên truyền tới các tổ chức và dân cư về các sản phẩm huy động
vốn của Sở giao dịch
+ Tổ chức kéo dài thời gian giao dịch hàng ngày đến 18 giờ và làm việc
ngày thứ 7 để huy động tiền gửi tiết kiệm
+ Triển khai thực hiện đề án nối mạng thanh toán điện tử với Quỹ hỗ trợ
phát triển, nâng cấp chương trình nối mạng thanh toán điện tử với Kho bạc Nhà
nước để tập trung các khoản thanh toán, tranh thủ các nguồn vốn tạm thời nhàn
rỗi
+ Mở văn phòng giao dịch Cát Linh (bắt đầu hoạt động từ 25/7/2002 ), là
nơi có môi trường kinh doanh thuận lợi
Dư nợ trung , dài hạn 109,104 373,854 671,525
b) Theo loại hình doanh nghiệp
Dư nợ doanh nghiệp quốc doanh 234,531 263,539 726,238
Dư nợ doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1,545 190,245 135,377
Nguồn :Bảng cân đối kế toán
Trang 37
Doanh số cho vay của Sở giao dịch tăng lên qua từng năm đã phần nào
thoả mãn yêu cầu vốn cho nền kinh tế Tốc độ tăng trưởng doanh số năm 2001
so với năm 2000 là 105,4%; năm 2002 so với năm 2001 là 22,2%
Dư nợ trung và dài hạn tăng nhanh Tốc độn tăng dư nợ trung và dài hạn
năm 2001 so với năm 2000 là 242,7%; năm 2002 so với năm 2001 là 79,6% Dư
nợ cho vay trung dài hạn năm 2000 cá tỷ trọng là 46,2%, thấp hơn tỷ trọng dư
nợ cho vay ngắn hạn nhưng đến năm 2001 thì dư nợ cho vay trung, dài hạn tăng
mạnh, tỷ trọng dư nợ trung, dài hạnlúc này là 82,4% Năm 2002, dư nợ trung và
dài hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn (78,8%) Trong tổng dư nợ Trong khi dư nợ cho
vay trung, dài hạn liên tục tăng, thì dư nợ cho vay ngắn hạn năm 2001 lại giảm
xuống (giảm 37,1%) Nhưng đến năm 2002 thì dư nợ cho vay ngắ hạn lại tăng
lên, tốc độ tăng dư nợ cho vay ngắ hạn năm 2002 so với năm 2001 là 137,8%
Dư nợ cho doanh nghiệp quốc doanh liên tục tanưg nhanh Tốc độ tăng
dư nợ doanh nghiệp quốc doanh năm 2001 so với năm 2000 là 12,4%; năm 2002
so với năm 2001 là 175,6% Dư nợ doanh nghiệp quốc doanh luôn chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng dư nợ: năm 2000: 99,3%; năm 2001: 58,1%; năm 2002:
84,3% Dư nợ doanh nghiệp ngoài quốc doanh, nhìn chung là tăng lên Năm
2001, tỷ trọng dư nợ doanh nghiệp ngoài quốc doanhchiếm 41,9% tổng dư nợ,
trong khi năm 2000 chỉ chiếm 0,7 Đến năm 2002, dư nự doanh nghiệp ngoài
quốc doanh giảm 28,8% so với năm 2001, nhưng cao hơn so với năm 2000
Dư nợ quá hạn năm 2000: 8,562 tỷ đồng chiếm 3,63% tổng dư nợ; Năm
2001: 8,687 tỷ đồng, chiếm 1,9% tổng dư nợ; Năm 2002: 5,729 tỷ đồng, chiếm
0,66% tổng dư nợ Như vậy tỷ lệ nợ quá hạn tại Sở giao dịch có xu hướng ngày
càng giảm
Nhìn chung, năm 2002, công tác tín dụng của Sở giao dịch đã có chuyển
biến tích cực, chiến lược khách hàng được thực hiện bước đầu đã đạt kết quả
Công tác phòng ngừa và xử lý rủi ro đã được chú trọng
4.3 Kế toán-Ngân quỹ
Năm 2001 Sở giao dịch quản lý 2028 tài khoản Tham gia chương trình
Trang 38thanh toán liên ngân hàng đạt kết quả tốt Thực hiện dịch vụ thanh toán các dự
án nước ngoài kịp thời, an toàn, chính xác Công tác ứng dụng công nghệ tin học
vào thanh toán, kế toán thực hiện tốt, góp phần nâng cao năng suốt lao động,
giảm thiểu thời gian làm thên giờ Hoạt động ngân quỹ đạt kết quả tốt, thu chi
tiền mặt VNĐ tăng nhanh
-Tổng thu tiền mặt:
+ Ngoại tệ: 154,3 triệu USD, giảm 32,4% so với năm 2000
+ Nội tệ: 638 tỷ đồng, tăng 31,3% so với năm 2000
-Tổng chi tiền mặt:
+ Ngoại tệ: 154 triệu USD, giảm 32,5% so với năm 2000
+ Nội tệ: 634 tỷ đồng, tăng 27,8% so với năm 2000
Năm 2002 Sở giao dịch đã tham gia chương trìngân hàng thanh toán điện
tử, thanh toán điện tử liên ngân hàng đẩy nhanh tốc độ thanh toán và khối lượng
giao dichị lớn Đến 31/12/2002, Sở giao dịch đang quản ly 3292 tài khoản ứng
dụng tốt công nghệ tin học vào công tác kế toán, góp phần đảm bảo thanh toán
nhanh chóng, chính xác Phối hợp tốt với trung tâm thanh toán, trung tâm công
nghệ thông tin để thực hiện chương trình nối mạng thanh toán điện tử trực tiếp
với Quỹ hỗ trợ phát triển, nâng cấp chương trình nối mạng thanh toán điện tử
với Kho bạc Ngân hàng Nhà nước
Kết quả công tác ngân quỹ năm 2002:
-Tổng thu tiền mặt: 817 tỷ đồng và 122 triệu USD
Tổng chi tiền mặt: 811 tỷ đồng và 122 triệu USD
Năm 2002 đã được bổ sung lao động, nghiệp vụ kho quỹ thực hiện đảm
bảo đúng quy trình nghiệp vụ, đảm bảo an toàn kho quỹ và giải phóng khách
hàng nhanh chóng
4.4 Hoạt động thanh toán quốc tế
Năm 2001, chấp hành tốt các quy định, quy trình nghiệp vụ thanh toán
quốc tế, không để xảy ra các sai sót, rủi ro trong thanh toán Tuy trong năm, tỷ
giá USD tăng mạnh, nguồn ngoại tệ khan hiếm nhưng tổng số hoạt động thanh
toán quốc tế vẫn đạt được sự tăng trưởng
Trang 39Doanh số thanh toán hàng nhập khẩu đạt 105 triệu USD, tăng 1,8% so với
năm 2000
- Doanh số thanh toán hàng xuất khẩu: đạt giá trị 946 ngàn USD, tăng 46
ngàn, tăng trưởng 5,1% so với năm 2000
Nhìn chung hoạt động thanh toán quốc tế trong năm 2001 có sự tăng
trưởng so với năm 2000, nhưng tốc độ tăng trưởng chậm, chưa tương xứng với
vị thế Sỏ đầu mối
Năm 2002, chấp hành tốt các quy định, quy trình nghiệp vụ thanh toán
quốc tế, không để xảy ra các sai sót, rủi ro trong thanh toán
- Doanh số thanh toán hàng nhập khẩu là 99 triệu USD, giảm so năm
trước 5,7 triệu USD
- Doanh số thanh toán hàng xuất khẩu đạt 2,8 triệu USD tăng 1,8 triệu
USD, tốc độ tăng trưởng 70% so năm trước
Nhìn chung, hoạt động thanh toán quốc tế trong năm 2002 có sự tăng
tăng trưởng tốt về số lượng khách hàng giao dịch Tuy vậy, về giá trị thanh toán
nhập khẩu giảm so với năm 2001 là do một số khách hàng có doanh số haọtt
động lớn giảm
4.5 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ
Năm 2001, hoạt động mua bán ngoại tệ của Sở giao dịch đã cơ bản đảm
bảo nhu cầu thanh toán của khách hàng trong thời điểm khó khăn về ngoại tệ và
góp phần thực hiện chiến lược khách hàng của Sở giao dịch Doanh số mua từ
khách hàng của Sở giao dịch là 76 triệu, bán cho khách hàng 69,4 triệu, trong đó
có 32,3triệu từ nguồn của ngân hàng Nhà nước Sử dụng mạng REUTERS, Sở
giao dịch đã từng bước triển khai hoạt động kinh doanh ngoại tệ trên thị trường
quốc tế, chủ yếu mua bán một số loại ngoại tệ mạnh như EUR, GBP, JPY bước
đầu vừa làm vừa học, doanh số kinh doanh chưa nhiều nhưng đã góp phân tăng
thêm thu nhập, tạo được nguồn ngoại tệ hỗ trợ cho các chi nhánh và thu được
những kinh nghiệm thiết tạo tền để mở rộng nghiệp vụ này trong những năm tới
Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ năm 2001 đạt 10,1 tỷ đồng, tăng
124% so với năm 2000
Trang 40Năm 2002, doanh số mua bán ngoại tệ (quy về USD) phục vụ cho hoạt
động thanh toán quốc tế của hệ thống ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Việt Nam đạt 1302 triệu USD Trong đó:
- Doanh số mua: 651 triệu USD, tăng 163,8 triệu USD, tăng 33% so với
năm 2001
- Doanh số bán: 651 triệu USD, tăng trưởng 32,8% so với năm 2001
Trong điều kiện ngoại tệ khan hiếm, nguồn ngoạitệ cuat hệ thống ngân
hàng Nông nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ so với nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu
và tỷ giá USD tăng mạnh, nên ngân hàng Nhà nước chủ yếu đáp ứng nghoại tệ
cho xăng dầu, hạn chế bán hỗ trợ các mặt hàng khác, Sở giao dịch đac chủ động
khai thác nguồn ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng dưới hình thức mua các
loại ngoại tệ khác bằng đồng Việt Nam (chủ yếu là EUR) và bán lại để lấy USD
bán hỗ trợ các chi nhánh.S Kết quả mua bán ngoại tệ về cơ bản đã phục vụ được
nhu cầu thanh toán của toàn hệ thống Nghiệp vụ mua bán các ngoại tệ mạnh
(bước đầu mới tập trung chủ yếu mua bán loại ngoại tệ mạnh là đồng EUR,
GBP, JPY) thực hiện thường xuyên hơn, đã thu được một số kết quả nhất định
như: khai thác được ngoại tệ phục vụ khách hàng và chi nhánh Doanh số mua
bán bình quân tháng khoảng 200 triệu EUR, 150 triệu GBP, 10 tỷ JPY Tuy
nhiên, do diễn biến thị trường ngoại tệ liên ngân hàng biến động phức tạp, kinh
nghiệm xử lý nghiệp vụ còn ít nên đã hạn chế hoạt động kinh doanh của Sở giao
+ Chênh lệch thu chi: 58,4 tỷ đồng, đạt 132 % so với kế hoạch được giao
Kết quả thu nội bảng 258 tỷ, bằng 104% so với năm 2000 Chi nội bảng
253 tỷ đồng, bằng 163% so với năm 2000 Kết quả chênh lệch thu chi nội bảng
đạt thấp so với kế hoạch được giao Nguyên nhân do chi phí trích rủi ro các
khoản nợ khoanh phát sinh đột xuất trong năm 2001 trên 40 tỷ đồng Kết quả tìa