Hoàn cảnh tiến hành cải cách ở TQ và VN
Trang 14 Kinh tế đối ngoại
IV Đờng lối và chính sách mở cửa ở Trung Quốc và Việt Nam
V Thành tựu đạt đợc ở Trung Quốc và Việt Nam trong cải cách, đổi mới
Trang 2Lời mở đầu
Trớc khi thành lập nớc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Trung Quốc
đã trải qua hàng nghìn năm dới chế độ phong kiến và thực dân Vốn là quốcgia có diện tích lớn, đông dân, tài nguyên thiên nhiên phong phú nhng dới sựthống trị của phong kiến và thực dân làm cho nền kinh tế Trung Quốc lâmvào khủng hoảng, nghèo nàn, lạc hậu Sau khi thành lập Trung Quốc đã lựachọn con đờng xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội, đa đất nớc ngày càng pháttriển Những cuộc cải cách của Trung Quốc trong quá trình xây dựng ChủNghĩa Xã Hội đợc ghi nhận nh những cố gắng lớn lao nhằm tìm ra lối thoátcho một quốc gia Xã hội chủ nghĩa trì trệ trở thành năng động, phát triển
Nó còn đóng góp nhiều kinh nghiệm cho các nớc phát triển đi lên hiện đại
Việt Nam là nớc láng giềng với Trung Quốc, cũng phải trải qua nhiềunăm dới ách thống trị của phong kiến và chủ nghĩa đế quốc thực dân cùngvới các cuộc chiến tranh liên miên đã làm cho đất nớc bị tàn phá nặng nề.Ngay sau khi thành lập nớc chúng ta đã kiên quyết xây dựng thành công ChủNghĩa Xã Hội, cũng thực hiện nhiều cải cách trong kinh tế, nhiều nhànghiên cứu và hoạt động thực tiễn của Việt Nam đã từ lâu quan tâm đếnviệc theo dõi cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc, lấy đó làm kinh nghiệmcho Việt Nam Có ngời cho rằng công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam rấtgiống với cải cách kinh tế ở Trung Quốc, thậm chí cho rằng là “bản sao” củacuộc cải cách ấy Tuy nhiên nếu xem xét kĩ thì thấy rằng bên cạnh nhiều
điểm tơng đồng, cải cách kinh tế và mở cửa ở Trung Quốc với đổi mới kinh
tế ở Việt Nam còn có nhiều điểm rất khác nhau Tìm hiểu sự tơng đồng vàkhác biệt này sẽ giúp cho ta thấy đợc những gì có thể tham khảo, những gìkhông thể hoặc không nên tham khảo từ cuộc cải cách kinh tế của TrungQuốc vào Việt Nam để có những đờng lối chính sách phù hợp, thúc đẩynhanh sự phát triển kinh tế nói riêng và của toàn đất nớc nói chung
Trang 3đó Qua nghiên cứu chúng ta thấy giữa Việt Nam và Trung Quốc có nhiều
điểm tơng đồng và khác biệt về hoàn cảnh khi tiến hành cải cách, đổi mới
1 Về điểm tơng đồng: Thứ nhất cả Việt Nam và Trung Quốc
đều tiến hành cải cách, đổi mới trong điều kiện điểm xuất phát thấp, nềnkinh tế lạc hậu, và đều là những nớc nông nghiệp với trình độ kĩ thuật lạchậu, còn phụ thuộc vào “nền văn minh đòn gánh”, đời sống của nhân dânthuộc loại thấp, những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống nh ăn, ở… vẫn ch vẫn cha đ-
ợc giải quyết đầy đủ; cơ sở công nghiệp yếu mỏng, mất cân đối, công nghiệplạc hậu gây khó khăn cho việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, nơi sản sinh
và nuôi dỡng yếu tố bất lợi cho việc hình thành và phát triển kinh tế thị ờng Trong khi đó nông nghiệp đợc coi là nghành chủ yếu nhng cũng khôngtránh khỏi tình trạng lạc hâu, trì trệ, công cụ canh tác còn thô sơ, lạc hậu,năng suất thấp kém, sản lợng ít không đủ đáp ứng nhu cầu trong nớc Mặtkhác cơ chế kinh tế khi cha đổi mới kìm hãm nền kinh tế, nhiệt tình lao
tr-động, năng lực sáng tạo và nguồn lực tài nguyên cha đợc khai thác, huy động
đầy đủ, thậm chí còn bị xói mòn Cơ chế kinh tế vận động thiếu năng lực,kém hiệu quả mất cân đối, nguy cơ bất ổn định tiềm tàng trong đời sống.Kinh tế xã hội tích nén lại, tình trạng thiếu hụt kinh niên đang gia tăngnhanh trong đời sống xã hội… vẫn ch
Thứ hai cả hai nớc có cùng chung ý thức hệ mong muốn thực hiện,xây dựng Chủ nghĩa xã hội trên cơ sở kinh tế nghèo nàn lạc hậu, muốn bỏqua chế độ T bản chủ nghĩa, quá độ lên Chủ nghĩa xã hội Trong thời giandài cả hai nớc đều theo đuổi mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung mà cónguồn gốc là mô hình kinh tế kế hoạch hoá Xô Viết, mô hình đó đã lâm vàokhủng hoảng nghiêm trọng biểu hiện ở năng suất sút kém ở mọi nghành,kinh tế lạc hậu về khoa học, kĩ thuật, đời sống nhân dân thiếu thốn, nhng vẫnluôn hi vọng, tin tởng vào sự thắng lợi của Chủ nghĩa xã hội Cả hai nớc đềucùng chịu tác động của văn hoá, lịch sử truyền thống tơng tự nhau Di sảnnặng nề của t tởng phong kiến, quan liêu vẫn phát huy và ảnh hởng khôngnhỏ vào đời sống xã hội ở Việt Nam và Trung Quốc, đó chính là nguyênnhân kìm hãm hai nớc trong tình trạng trì trệ, kém phát triển lâu dài
Thứ ba tuy hai nớc bắt đầu cải cách và đổi mới không cùng thời giannhng bối cảnh quốc tế suốt thời kì đó không có sự thay đổi lớn và những yếu
tố tác động đến cuộc cải cách này vẫn tồn tại Đáng kể nhất là việc Liên Xô
và các nớc Đông Âu đang trong quá trình từ bỏ mô hình Chủ nghĩa xã hộikiểu Xô Viết và chuyển sang nền kinh tế thị trờng Đặc biệt lúc này kinh tế
Trang 4Nhật Bản và nền kinh tế công nghiệp mới NIEs trong khu vực đã đạt đợcnhững thành tựu nổi bật và kinh nghiệm quý báu Điều đó thúc đẩy ViệtNam và Trung Quốc phải đổi mới để theo kịp các nớc Đây cũng là lúc thếgiới đang đi đến đòi hỏi sự hợp tác phân công lao động của tất cả các nớc, xuhớng hợp tác hoá, quốc tế hoá ngày càng cao bất kể sự khác nhau về chínhtrị, văn hoá Đồng thời nguy cơ các thế lực T bản chủ nghĩa và phản động
đang tìm mọi cách phá hoại cách mạng, thực hiện âm mu diến biến hoà bình
để thay đổi, xoá bỏ chế độ Chủ nghĩa xã hội
Thứ t là sự yếu kém về năng lực lãnh đạo, tổ chức và sự trì trệ trongphát triển kinh tế xã hội đã làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân vào
sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, vào nhà nớc Xã hội chủ nghĩa Vì thế cầnphải sáng tạo trong đờng lối kinh tế và công tác lãnh đạo phải triệt để sángsuốt
2 Về sự khác biệt: Thứ nhất về điều kiện tự nhiên Trung Quốc
là nớc đông dân, lãnh thổ rộng lớn ( thứ ba trên thế giới ), chính điều đó tạo
điều kiện thuận lợi cho việc thu hút vốn đầu t, khoa học kĩ thuật hiện đại dotạo đợc thị trờng có nhiều u thế, hấp dẫn về tài nguyên, lao động Tuy nhiên
nó cũng tạo ra sự khó khăn cho việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế và quản lý… vẫn chCòn ở Việt Nam tuy ít dân hơn, diện tích cũng nhỏ hơn, quy mô vừa phảihợp lí, do đó tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc tiếp nhận sự chỉ đạo vĩmô của nhà nớc
Thứ hai về điều kiện xã hội: ở Việt Nam phải gánh chịu hậu quả củahai cuộc chiến tranh chống ngoại xâm với hơn 30 năm đấu tranh khôngngừng, đã tàn phá nền kinh tế nặng nề, khả năng phục hồi lâu, còn ở TrungQuốc không có chiến tranh mà chỉ có một số cuộc nội chiến, đụng độ ở vùngbiên giới ít gây ảnh hởng đến nền kinh tế và cùng với đó là một số chínhsách kinh tế xã hội nh cuộc cách mạng đại văn hoá đã có ảnh hởng tích cực
đến sự phát triển kinh tế, nó đã đẩy mạnh bánh xe tiến trình lịch sử TrungQuốc hàng chục năm Mặt khác ngời Trung Quốc sớm tỉnh ngộ, nhận ra lý
do đa đất nớc làm vào khủng hoảng nghèo nàn còn ngời Việt Nam cha phânbiệt đợc đâu là lỗi do chính trị, đâu là lỗi do mình nên cha tìm đợc lối thoátcho nền kinh tế
Thứ ba về điều kiện bên ngoài: Trung Quốc có một lực lợng đông đảongời Hoa và ngời Hoa kiều đang sống ở nhiều nớc và khu vực trên thế giới
đặc biệt là ở các nớc và vùng lãnh thổ nh Hồng Kông, Đài Loan, Singapo,Malaxia đây đợc coi là bốn nớc Trung Quốc nhỏ, có tiềm năng về vốn, kỹ
Trang 5thuật, tri thức quản lý kinh doanh, truyền thống tổ chức chặt chẽ… vẫn ch nhữngngời này có quan hệ mật thiết với đất nớc, trợ giúp rất nhiều cho công cuộccải cách, đổi mới ở Trung Quốc Còn ở Việt Nam mặc dù cũng có một cộng
đồng ngời Việt kiều đang sinh sống và học tập ở nớc ngoài nhng số lợng vừaphải, không đủ mạnh nh Trung Quốc để góp phần vào sự phát triển chungcủa đất nơc
Thứ t về địa vị chính trị: Trung Quốc là nớc có uy thế chính trị lớn, làmột trong năm thành viên thờng trực của hội đồng bảo an liên hiệp quốc.Trong những năm 60 Trung Quốc có sự phân biệt trong quan hệ với Liên Xô
và các nớc Đông Âu, thắt chặt mối quan hệ chính trị kinh tế với Mĩ và các
n-ớc Tây Âu Trong khi đó Việt Nam khi tiến hành cải cách, đổi mới còn đang
bị Mĩ cấm vận nên gặp nhiều khó khăn, địa vị chính trị thấp kém
Thứ năm là về thời điểm tiến hành cải cách: Trung Quốc tiến hành đổimới sớm hơn Việt Nam (năm 1978) còn Việt Nam tiến hành năm 1986, do
đó Việt Nam đã có nhiều kinh nghiệm tiếp thu trực tiếp từ Trung Quốc
II Nền kinh tế hàng hoá và kinh tế thị ờng ở Việt Nam và Trung Quốc:
tr-Ngay từ đầu cuộc cải cách và đổi mới, Trung Quốc và Việt Nam đềuxem xét và trớc sau lần lợt xác định lựa chọn nền kinh tế thị trờng, hàng hoánhiều thành phần thay thế cho nền kinh tế tập trung cao độ trớc đây Từ đạihội XIV Đảng cộng sản Trung Quốc (tháng 10-1992), Trung Quốc tuyên bốmục tiêu của họ là thực hiện nền kinh tế thị trờng xã hội chủ nghĩa ViệtNam từ đại hội VI Đảng cộng sản Việt Nam đã dùng khái niệm kinh tế hànghóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trờng, theo định hớng xã hộichủ nghĩa Dù có khác nhau về chữ nghĩa, nhng cả hai loại quan điểm trên
đều có nhiều cái chung: thứ nhất là đều chủ trơng lấy chế độ công hữu làmnền tảng, tuy có thừa nhận tính đa dạng của các thành phần kinh tế khácnhau; thứ hai là đều xem phân phối theo lao động là chính, đồng thời thừanhận các hình thức phân phối khác nhau; thứ ba là khẳng định vai trò định h-ớng và khống chế của nhà nớc; đồng thời thừa nhận vai trò điều tiết thị trờng
Sở dĩ có những quan điểm chung này là vì Việt Nam và Trung Quốc cónhững nét tơng đồng về hoàn cảnh lịch sử của đất nớc Tuy nhiên giữa TrungQuốc và Việt Nam vẫn có những sự khác nhau trong cách làm và thực hiệncác chính sách, kế hoạch
1 ở Trung Quốc: Khi cải cách mới bắt đầu, tuy Trung Quốccha nêu lên một cách rõ ràng phải thực hiện kinh tế thị trờng trong điều kiện
Trang 6chủ nghĩa xã hội, nhng trong thực tiễn đã bắt đầu cải cách theo phơng hớngnày Sau khi hội nghị Trung ơng 3 khoá XI của Đảng cộng sản Trung Quốc,Chính phủ Trung Quốc thực hiện cơ chế thị trờng đầu tiên ở nông thôn vớibiện pháp ban đầu là thực hiện chế độ khoán sản lợng đến hộ gia đình, làmcho nông dân trở thành chủ thể kinh doanh tự chủ, nâng cao giá nông sảnphẩm, mở của thị trờng thành thị và nông thôn, điều này là hoàn toàn phùhợp với Trung Quốc một đất nớc có 80% dân số là nông dân Bởi vì TrungQuốc có ổn định hay không trớc hết phải xem 80% dân c đó có ổn địnhkhông, không có ổn định ở nông thôn thì không có ổn định ở thành thị; còn
ở thành thị, tiến hành thí điểm cải cách mở rộng quyền tự chủ kinh doanh xínghiệp, giảm bớt kế hoạch pháp lệnh đối với sản xuất và tiêu thụ … vẫn ch Nhữngcải cách này tuy mới chỉ là bớc đầu nhng nó đã phá vỡ thể chế kinh tế kếhoạch, làm cho cuộc cải cách của Trung Quốc từ đây bớc vào quỹ đạo đitheo hớng thị trờng Đại hội XII Đảng cộng sản Trung Quốc năm 1982 đãtổng kết những kinh nghiệm bớc đầu của cải cách ở thành thị và nông thôn,nêu lên phơng châm “kinh tế kế hoạch là chính, điều tiết thị trờng là phụ”,phân kế hoạch thành hai loại là kế hoạch pháp lệnh và kế hoạch mang tínhchỉ đạo; đồng thời yêu cầu tự giác lợi dụng quy luật giá trị, vận dụng các
đòn bẩy kinh tế nh giá cả, thuế, cho vay… vẫn ch ớng dẫn các xí nghiệp thực hiệnh
kế hoạch Nhà nớc Mặc dù việc nhận thức về thị trờng lúc đó còn có tính hạnchế tơng đối, nhng đối với lý luận kinh tế kế hoạch truyền thống mà nói, đây
là một lần đột phá Theo đà cải cách nông thôn đạt đợc thành tựu to lớn, đểthích ứng với trọng điểm của cải cách chuyển từ nông thôn sang thành thị.Hội nghị Trung ơng 3 khoá XII Đảng cộng sản Trung Quốc năm 1984 đãthông qua “Nghị quyết của trung ơng Đảng cộng sản Trung Quốc về cảicách thể chế kinh tế”, nêu rõ kinh tế xã hội chủ nghĩa là kinh tế hàng hoátrên cơ sở chế độ công hữu Phát triển đầy đủ kinh tế hàng hoá là giai đoạnkhông thể bỏ qua của sự phát triển kinh tế xã hội, là điều kiện tất yếu đểthực hiện hiện đại hoá kinh tế của Trung Quốc Chỉ có phát triển đầy đủ kinh
tế hàng hoá, mới có thể làm cho nền kinh tế có sức sống chân chính Chínhvì thế lúc này nền kinh tế thị trờng của Trung Quốc tồn tại nhiều thành phầnkinh tế đó là: kinh tế nhà nớc, kinh tế tập thể, kinh tế hỗn hợp, kinh tế tdoanh, kinh tế cá thể, trong đó kinh tế nhà nớc và kinh tế tập thể giữ vị tríchủ đạo, các thành phần kinh tế hợp tác, kinh tế cá thể và t doanh ở cả thànhthị và nông thôn đều cần phải tiếp tục khuyến khích phát triển Cũng trongthời gian này Trung Quốc tuyên bố đã kết thúc thời kì quá độ, đang ở giai
Trang 7đoạn đầu tiên của chủ nghĩa xã hội, và giai đoạn này kéo dài khoảng 100năm Chính việc xác định này đã cho phép Trung Quốc duy trì nền kinh tếthị trờng có nhiều thành phần khác nhau trong một thời gian dài Điều nàyrất quan trọng vì nó làm cho các thành phần kinh tế và lực lợng thị trờngtrong và ngoài nớc yên tâm đầu t và kinh doanh Mặt khác Trung Quốc đãhạn chế, khắc phục đợc mặt trái của cơ chế thị trờng, đem lại sự công bằng,bình đẳng hơn cho ngời lao động, đây là bản chất nền kinh tế thị trờng Xãhội chủ nghĩa ở Trung Quốc Về vấn đề này, báo cáo chính trị tại đại hội XV
Đảng cộng sản Trung Quốc năm 1997 đã khẳng định rõ: kinh tế thị trờng xãhội chủ nghĩa là phát triển kinh tế thị trờng dới điều kiện của Chủ nghĩa xãhội Điều kiện của Chủ nghĩa xã hội là nắm vững chuyên chính dân chủnhân dân, độc quyền sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, kiên trì chủ nghĩaMac-Lênin và t tởng Mao Trạch Đông Những tiêu chí trên đây đã tạo ra sựkhác biệt về bản chất giữa Chủ nghĩa t bản và Chủ nghĩa xã hội khi cùng ápdụng nền kinh tế thị trờng Đó cũng là nét đặc sắc của Chủ nghĩa xã hội
đang đợc xây dựng ở Trung Quốc
2 ở Việt Nam: Tháng 12-1986 Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VI của Đảng diến ra trong bối cảnh đất nớc đang trong cuộc khủnghoảng kinh tế – xã hội trầm trọng Trong khi đó các thế lực thù địch hợpsức tấn công Chủ nghĩa xã hội quyết liêt Với tinh thần nhìn thẳng vào sựthật, đánh giá đúng sự thật, từ khảo nghiệm thực tế, từ trong phong trào quầnchúng nhân dân kết hợp với trí tuệ của toàn Đảng, Đại hội VI đã đề ra đờnglối đổi mới toàn diện đất nớc, khẳng định quyết tâm đổi mới theo tinh thầncách mạng và khoa học, đổi mới t duy, khắc phục quan niệm, nhận thức giản
đơn về Chủ nghĩa xã hội, về sản xuất hàng hoá và thị trờng Xã hội chủnghĩa Một trong những đờng lối đổi mới quan trọng nhất là đổi mới về cơchế và chính sách kinh tế Đại hội VI kiên quyết xoá bỏ cơ chế quản lý tậptrung quan liêu bao cấp, từng bớc thực hiện cơ chế hạch toán kinh tế trongkinh doanh, thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiềuthành phần Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộphận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủnghĩa, kiên trì chủ nghĩa Mac-Lênin và t tởng Hồ Chí Minh, cùng phát triểnlâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong đó kinh tế nhà nớc giữ vaitrò chủ đạo, kinh tế nhà nớc cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nềntảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân
Trang 8Việc xây dựng nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa đã trởthành một đờng lối kinh tế quan trọng, sự thực sự lựa chọn đó không phảixuất phát chủ yếu từ những phân tích lí luận và nghiên cứu mô hình kinh tế
mà là kết quả của một quá trình tìm tòi, mõ mẫm, làm thử hơn 10 năm khithực hiện chuyển đổi kinh tế Trong những năm 80 nền kinh tế Việt Namlâm vào trầm trọng và kéo dài, tăng trởng chậm, lạm phát rất cao, thấtnghiệp lớn, nợ nần trong và ngoài nớc khó trả, hàng hoá thiếu thốn, kể cả l-
ơng thực, đời sống nhân dân khó khăn Đứng trớc nhiệm vụ cấp bách phảisớm ra khỏi khủng hoảng, thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu và phát triển kinh tế,Việt Nam đã lựa chọn con đờng cải cách kinh tế sâu rộng và toàn diện gọi làchính sách “đổi mới” Quá trình đổi mới kinh tế cũng giống nh Trung Quốc,chủ yếu là quá trình: chuyển từ một nền kinh tế chỉ có hai thành phần là kinh
tế nhà nớc và kinh tế tập thể chuyển sang một nền kinh tế nhiều thành phầnbao gồm cả kinh tế nhà nớc, kinh tế tập thể, kinh tế t nhân, kinh tế hỗn hợp
và kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài; đó là quá trình chuyển từ một nền kinh tế
điều hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung và bao cấp chuyển sang nềnkinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng có cạnh tranh và sự điều tiết của nhànớc; đó cũng là quá trình chuyển từ một nền kinh tế khép kín và tự cấp tự túcsang nền kinh tế mở, cả đối với trong và ngoài nớc Quá trình cải cách kinh
tế đó đã chuyển một nền kinh tế không hiệu quả sang một nền kinh tế cóhiệu quả, từ sự điều hành duy ý chí sang sự quản lý kinh tế hiện thực, chứkhông có nghĩa là hoàn toàn thay đổi mục tiêu xây dựng Chủ nghĩa xã hộicủa dân tộc Việt Nam Nền kinh tế nhiều thành phần đó vận hành theo địnhhớng xã hội chủ nghĩa, đó là xây dựng một đất nớc trong đó dân giàu nớcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Đến đầu những năm 90 những nội dung trên đợc diễn đạt thu gọntrong một câu đã trở thành quen thuộc “xây dựng kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo
định hớng Xã hội chủ nghĩa” Lúc này những đề xuất tại đại hội VI Đảngcộng sản Việt Nam 1986 đã bắt đầu phát huy kết quả Tuy nhiên một đặc
điểm nổi bật của tình hình triển khai thực hiện chính sách cải cách thời gian
đó là Việt Nam mở đầu đờng lối cải cách, đồng thời tìm lối thoát ra khỏikhủng hoảng chủ yếu bằng sức lực của chính mình trong khi nguồn viện trợcủa Liên Xô và các nớc Xã hội chủ nghĩa đã cạn dần và gần nh chấm dứt khiChủ nghĩa xã hội lâm vào khủng hoảng, đồng thời cuộc cấm vận kinh tế do
Mĩ và các nớc đồng minh áp đặt sau chiến thắng của Việt Nam năm 1975
Trang 9ngày càng khép chặt Việc thực hiện các chính sách đổi mới kinh tế vừa do
áp lực của bối cảnh tình hình, vừa nhằm tìm ra con đờng phát triển lâu dàithích hợp với các điều kiện của Việt Nam đã và đem lại kết quả nhanhchóng Chỉ một chính sách giải toả “ngăn sông cấm chợ” cho phép nông dân
tự do bán nông phẩm làm ra, giảm bớt sự can thiệp độc quyền của nhà nớc,
đã xoá bỏ đợc chế độ tem phiếu lơng thực và tăng nhanh sản lợng đa ViệtNam từ một nớc nhập khẩu sang một nớc xuất khẩu lơng thực thứ hai, thứ bathế giới, cùng với nó lạm phát giảm từ trên 700% xuống còn 45%, các doanhnghiệp vừa và nhỏ đợc hình thành tự do kinh doanh trong thị trờng Đến năm1993-1994 kinh tế Việt Nam đã thoát khỏi khủng hoảng, tăng trởng đạt 7-8% năm, lạm phát giảm còn 1-2%, tạo thêm nhiều việc làm, đời sống nhândân cải thiện rõ rệt… vẫn ch Trong điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam những kếtquả đó đợc đánh giá là to lớn và rất quan trọng, nó chứng tỏ một nền kinh tếphụ thuộc vào viện trợ từ bên ngoài có thể vơn lên tự chủ bằng sức lực củamình, một nền sản xuất kém hiệu quả có thể trở thành hiệu quả nhờ thay đổicơ chế quản lý kinh tế, nó cũng chứng tỏ chính sách phát triển kinh tế hànghoá hoàn toàn phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam và có khả năngphát huy các nguồn lực của đất nớc để tạo ra bớc phát triển tơng đối nhanh
và vững chắc Tuy nhiên khác với Trung Quốc hiện nay Việt Nam đang đặtmình ở thời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, nghĩa là cha bớc vào chủ nghĩaxã hôi, cha xác định thời gian ( dù một cách tơng đối ), nên cải các thànhphần kinh tế ngoài quốc doanh trong nền kinh tế nhiều thành phần có thểcòn e ngại, hoài nghi, băn khoăn về tính chất tạm thời và ngắn hạn của chínhsách, do đó có thể cha dám đặt ra những kế hoạch làm ăn lâu dài Nh vậy môhình kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một vấn đềmới, hiện còn đang trong giai đoạn hình thành và hoàn thiện Tuy có nhiềukết quả có thể khẳng định sự đúng đắn và ý nghĩa to lớn của nó, song cònnhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển
III Những cải cách và đổi mới trong kinh
tế ở Trung Quốc và Việt Nam
Trong nền kinh tế cả Việt Nam và Trung Quốc đều có những cải cách
cụ thể trong từng lĩnh vực, nghành nghề để tạo nên sự phát triển chung chotoàn đất nớc:
1 Chế độ sở hữu: Trớc cải cách, theo quan niệm truyền thống,chủ nghĩa xã hội là chế độ xã hội dựa trên chế độ công hữu về t liệu sản xuất(dới hai hình thức nhà nớc và tập thể; trong đó kinh tế nhà nớc là hình thức
Trang 10cao, kinh tế tập thể là hình thức thấp của chế độ công hữu, hình thức thấpphải quá độ sang hình thức cao) Cũng theo quan niệm này, chế độ công hữukhông chỉ xem xét là đồng nhất với chủ nghĩa xã hội, mà còn không dunghợp với cơ chế thị trờng; bỏi vậy chế độ công hữu càng lớn, càng thuần nhấtthị càng có nhiều chủ nghĩa xã hội, còn t hữu bị đồng nhất với chủ nghĩa tbản Những nhận thức sai lầm trên đã đẩy nền kinh tế ở Trung Quốc và ViệtNam đi đến trì trệ, tụt hậu Cùng với việc thừa nhận nền kinh tế thị trờngtrong chủ nghĩa xã hội, cả Trung Quốc và Việt Nam đã có sự đột phá lớntrong vấn đề sở hữu Cả hai nớc đã chọn kết cấu sở hữu đa nguyên gồm: chế
độ công hữu, chế độ sở hữu hỗn hợp, chế độ phi công hữu trong đó coi chế
độ công hữu là chủ thể, địa vị của chế độ công hữu chủ yếu ở vốn của sở hữunhà nớc và tập thể chiếm u thế trong tổng số vốn xã hội Tiếp đó Đảng cộngsản hai nớc tiếp tục cải cách chế độ sở hữu khi tách rời chế độ công hữu vớihình thức thực hiện chế độ công hữu Đây chính là biện pháp mà Đảng vànhà nớc ta đã học tập từ cải cách của Trung Quốc Theo đó thì trớc cải cách,chế độ công hữu và hình thức thực hiện nó là đồng nhất với nhau, thì ngàynay hình thức thực hiện chế độ công hữu rất đa dạng, có thể thông qua hìnhthức sở hữu hỗn hợp cổ phần, hình thức tổ chức vốn của xí nghiệp hiện đại.Thông qua hình thức cổ phần nhà nớc, một mặt vừa đảm bảo vai trò chủ thểcủa công hữu, mặt khác đảm bảo tránh sự phân hoá hai cực, thực hiện mụctiêu giàu có
2 Nông nghiệp: cả Việt Nam và Trung Quốc đều lấy đây làmnội dung quan trọng nhất của công cuộc cải cách, đổi mới, với Trung Quốcngay sau Hội nghị TW lần 3, nông thôn Trung Quốc đã thực hiện ngay chế
độ khoán trong sản xuất nông nghiêp Chế độ khoán thực chất là hình thứclao động hợp đồng, đợc kí kết giữa ba bên: nhà nớc, tập thể, hộ hay nhóm hộnông dân Sau khi kí kết, các đội sản xuất căn cứ vào kế hoạch của nhà n ớc
và điều kiện cụ thể của mình để giao ruộng đất và các hạng mục sản xuấtcho các hộ hoạc nhóm hộ nhận khoán kinh doanh Trong quá trình thực hiện
hộ nông dân phải nộp thuế nông nghiệp, phải bán một số lợng sản phẩm theoyêu cầu của nhà nớc Bên cạnh đó, nông dân còn phải nộp một phần sảnphẩm thu nhập cho tập thể để gây công quỹ, phần còn lại hoàn toàn thuộcquyền sử dụng của nông dân Tất nhiên phần hoa lợi mà nông dân đợc hởngphải thoả đáng, có tác dụng khuyến khích vật chất với ngời lao động Nh vậychế độ khoán ở nông thôn Trung Quốc là hình thái cụ thể của việc tách rờigiữa quyền sở hữu và quyền sử dụng kinh doanh ruộng đất Với việc tách rời
Trang 11nh vậy, ngời nông dân đã phát huy đợc quyền tự chủ trong kinh doanh sảnxuất Qua thực tế, chế độ khoán đã làm cho kinh tế tập thể và hoạt động kinhdoanh của gia đình có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trên cơ sở bình đẳng,cùng có lợi thể hiện qua các hợp đồng kinh tế
Chế độ khoán trong nông nghiệp ở Trung Quốc bắt đầu từ năm 1979tới nay đã qua hai giai đoạn: từ 1979 đến 1983 là giai đoạn hình thành cáchình thức khoán, từ 1984 đến nay là giai đoạn tiến tới hoàn thiện chế độkhoán tới hộ Nhìn chung tới năm 1984, 100% các đội sản xuất đã thực hiệnchế độ khoán
Với chế độ khoán, hình thức của nó khá đa dạng nh khoán theochuyên môn, tính thù lao theo sản lợng: khoán sản lợng tới tổ, tới ngời lao
động và tới hộ Sự đa dạng về hình thức khoán có u điểm là nó phù hợp vớitình hình phát triển kinh tế không đồng đều giữa các vùng, những hình thứckhoán nói trên song song cùng tồn tại và bổ sung cho nhau Nhìn chung tâm
lý của ngời nông dân thích khoán tới hộ hơn Hình thức này dần dần trởthành phổ biến Qua thực tế diễn biến về nông nghiệp Trung Quốc trongnhững năm gần đây cho thấy chế độ khoán mang tính phổ biến vì nó phùhợp với điều kiện khách quan của Trung Quốc, phù hợp với yêu cầu của quyluật quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất
Chế độ khoán đã đem lại những thắng lợi cơ bản cho nông nghiệpTrung Quốc Sản lợng lơng thực tăng nhanh, nếu năm 1978 là 304,7 triệu tấnthì năm 1987 là 402 triệu tấn Những sản phẩm khác trong nông nghiệp nhbông, dầu, mía, thịt… vẫn ch đều tăng Điều đáng chú ý là ở nông thôn Trung Quốccả nông, lâm, ng nghiệp và chăn nuôi đều phát triển nhanh chóng Theo đàphát triển của nông nghiệp, thì các nghành phi nông nghiệp ở nông thôncũng phát triển mạnh Tỉ trọng giá trị sản lợng của công nghiệp, xây dựng,giao thông vận tải và thơng nghiệp ở nông thôn trong tổng giá trị sản phẩmcủa kinh tế nông thôn tăng từ 31,4% năm 1978 lên 46,9% năm 1986
Cũng giống nh Trung Quốc, kể từ năm 1976 Việt Nam đã bắt đầu tiếnhành cải cách nhng đến năm 1986 mới thực sự đi vào cải cách có hiệu quả.Ngày 13/1/1981 Ban chấp hành TW Đảng cộng sản Việt Nam ban hành chỉthị 100 CT/TW về “cải tiến công tác khoán”, mở rộng khoán sản phẩm đếnnhóm lao động “trong hợp tác xã nông nghiệp”, đánh dấu bớc đột phá đầutiên trong t duy quản lý kinh tế, tạo động lực quan trọng thúc đẩy quá trình
đổi mới trong nông nghiệp cũng nh toàn bộ nền kinh tế nớc ta
Trang 12Trong thời kì đầu của cuộc cải cách, cả Trung Quốc và Việt Nam đềuthực hiện chính sách nâng giá nông sản, giảm giá vật t nhng lại có kết quảtrái ngợc nhau ở Trung Quốc chính sách này đã chẳng những làm cho thunhập của nông dân tăng lên mà còn thúc đẩy sản lợng tăng trởng theo địnhhớng Còn ở Việt Nam động lực đổi mới này suy giảm nhanh chóng do trongnền kinh tế mức trợ cấp chung vẫn cao, thâm hụt ngân sách nhà nớc tăng, tỉ
lệ lạm phát cao Đến năm 1987 ở nhiều nơi, phần còn lại của nông dân saukhoán chỉ còn 20% hay thấp hơn nữa, nhiều ngời không nộp đủ sản lợngphải nợ hợp tác xã, sản xuất nông nghiệp lại bị trì trệ Thời tiết xấu năm
1987 đã làm giảm sản lợng lơng thực khoảng 800.000 tấn, dẫn đến thiếu
l-ơng thực trầm trọng ở nhiều nơi
Trong giai đoạn 1985-1991, Trung Quốc thực hiện cải cách lu thông,
bỏ thu mua nông sản, áp dụng mua theo hạn ngạch, đợc bán phần vợt mứckhoán, đồng thời tự do hoá bán buôn, bán lẻ, đa dạng hoá thị trờng Tại ViệtNam chính sách tơng tự cũng đã đợc thực hiện và cho kết quả rất tốt: nhà n-
ớc xoá bỏ bao cấp, phân bón, vật t đợc bán theo giá thị trờng và nông sảncũng do thị trờng quyết định, thị trờng trong nớc thông thoáng dần Về bảnchất, hệ thống chính sách này cho phép các nguồn tài nguyên trong nền kinh
tế đợc phân bổ và sử dụng hiệu quả hơn, quan hệ thơng mại giữa lĩnh vựcnông nghiệp và các lĩnh vực khác trở nên công bằng hơn Nông dân đã đợclợi nhờ chủ động quản lý sản xuất nay lại đợc lợi nhờ chủ động sử dụng thịtrờng, quan hệ phân phối sản phẩm đợc tiếp tục cải thiện về vĩ mô, nhờ đóhiệu quả của chính sách khoán đợc nhân lên gấp bội Năm 1989, sản lợng l-
ơng thực đang là 19,6 triệu tấn phải nhập khẩu lơng thực, sang năm sau tăngvọt lên 21,5 triệu tấn, bình quân lơng thực đầu ngời trở lại và vợt qua mứctrên 300 kg của thời kì 1955-1958, chuyển sang xuất khẩu và từ đó trở đi sảnlợng lơng thực mỗi năm tăng thêm 1 triệu tấn, lợng gạo xuất khẩu năm saucao hơn năm trớc
Một điểm khác biệt cơ bản giữa cải cách nông nghiệp của Việt Nam
và Trung Quốc trong thời kì này là: tại Việt Nam, nếu có chính sách “khoánsức cho dân” hợp lí sẽ tạo nên khả năng tích luỹ tái sản xuất mở rộng chonhân dân thực hiện, tạo nên quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hớngphi nông nghiệp, phá vỡ vòng vây việc làm và thu nhập của ccs đồng bằng
đông dân, đây là cơ hội xuất hiện đầu thập kỉ 80 ở Trung Quốc mà ĐặngTiểu Bình đã nắm bắt lấy thúc đẩy bằng các chủ trơng táo bạo, tạo nện hiệntợng “công nghiệp hơng trấn thần kì” Tuy nhiên do sự tập trung cho nông
Trang 13nghiệp không đủ mạnh, đầu thập kỉ 90 và nửa sau thập kỉ 90 ở Việt Namcộng thêm tình trạng cánh kéo giá đã không tạo đợc lực đẩy cần thiết giúpnông dân vợt qua ngỡng tích luỹ t bản để phát triển nghành nghề phi nôngnghiệp trên quy mô rộng ở nông thôn
Bớc sang giai đoạn 1992-1997 ở Trung Quốc thực hiện pháp chế hoácải cách: ban hành luật nông nghiệp, luật khuyến nông… vẫn ch Tự do hoá giá cả,nông sản, tách quản lý của nhà nớc, của chính quyền khỏi chức năng kinhdoanh doanh nghiệp Còn ở Việt Nam ngày 10/6/1993 Ban chấp hành TW
Đảng ra nghị quyết 5: thuế nông nghiệp giảm 1/2, luật thuế sử dụng đất đợcban hành thay thế cho thuế nông nghiệp (giúp giảm thu cho nông dân 20%),
tổ chức hệ thống khuyến nông Nghị quyết đi vào cuộc sống tạo nên nhữngbiến đổi to lớn: đầu t ngân sách cho nông nghiệp tăng nhanh (1993 đầu t3.495 tỉ đến 1997 là 4.712 tỉ ); tín dụng cho nông nghiệp, nhất là các hộ gia
đình tăng nhanh ( năm 1995 tổng số vốn vay của nông dân từ quỹ tín dụng là369,1 tỉ đến năm 1998 là 1.619 tỉ ) Hệ thống khuyến nông đợc thành lập vàhoạt động có hiệu quả ở tất cả các tỉnh, phát triển tới huyện, xã Năm 2001tất cả nớc có 468 trạm khuyến nông cấp huyện, 2174 câu lạc bộ khuyếnnông, 1136 hợp tác xã khuyến nông với tổng cán bộ là 5851 ngời… vẫn ch Hệthống chính sách trên đã góp phần làm cho sản xuất nông nghiệp Việt Namtiếp tục tăng trởng vững chắc với tỉ lệ bình quân 4-5% năm, các nghành sảnxuất hàng hoá hình thành, anh ninh lơng thực bảo đảm, lúa gạo, cà phê, hạt
điều, hạt tiêu… vẫn ch trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng Thu nhập củanông dân tăng lên, tỷ lệ đói nghèo giảm bình quân 2% năm
Hiện nay cả Việt Nam và Trung Quốc đều tiếp tục thực hiện các chínhsách phát triển kinh tế nông nghiệp bằng biện pháp tăng khả năng cạnh tranh
và đều đạt đợc thành tựu to lớn Tuy vậy cả Trung Quốc và Việt Nam đềukhông tránh khỏi những sai lầm trong quá trình cải cách Sai lầm của TrungQuốc là không nhất quán lựa chọn u tiên phát triển thành thị hay nông thôn.Bớc vào giai đoạn cải cách kinh tế, với những chính sách mới, nông nghiệpnông thôn tỏ rõ vai trò quan trọng của mình nhng khi công nghiệp hoá, hiện
đại hoá bắt đầu tăng tốc, lại xuất hiện những thách thức mới về lựa u giữacông nghiệp và nông nghiệp Bên cạnh những thành tựu quan trọng của côngcuộc cải cách kinh tế nông nghiệp và những tuyên bố của chính phủ rằng cảicách nông nghiệp là trọng điểm, sự nhình nhận vai trò nông nghiệp trongquá trình công nghiệp hoá vẫn cha hợp lí Hệ thống chính sách thực tế vẫnkhông hớng về hỗ trợ nông nghiệp, chính phủ vẫn mua với giá quy định hơn
Trang 1410% hạt lơng thực của nông dân qua đó điều tiết tài nguyên từ nông thôn rathành thị Còn tại Việt Nam, thực tế quá trình đổi mới chính sách cho thấychúng ta dễ mắc phải một sai, một lầm sau: Một lầm là do cho rằng phảinhanh chóng từ bỏ cơ chế thị trờng chuyển sang áp dụng kế hoạch hoá nềnkinh tế Trong khi thực tế là một nền kinh tế tiểu nông, chúng ta mới đi b ớc
đầu ở chặng đờng đầu của giai đoạn quá độ lên Chủ nghĩa xã hội Một sai làquá trình nhấn mạnh tính độc lập tơng đối của quan hệ sản xuất với lực lợngsản xuất Sai lầm này dẫn đến chủ trơng vội vã loại bỏ mọi thành phần kinh
tế, kể cả kinh tế hộ, chỉ áp dụng hai hình thức sở hữu tập thể và toàn dân, kếtquả là quan hệ sản xuất mới chẳng những không mở cửa mà còn chặn đờnglực lợng sản xuất phát triển
2 Công nghiệp: ở Trung Quốc ngay từ năm 1979 khi bắt đầu
b-ớc vào cải cách, đổi mới Trung Quốc đã thực hiện chính sách giảm bớt quymô và tốc độ phát triển của công nghiệp nặng, đồng thời chú trọng tăng quymô và tốc độ phát triển của công nghiệp nhẹ Đa việc phát triển công nghiệpnhẹ vào vị trí quan trọng, tiếp tục thực hiện “sáu u tiên” đối với công nghiệpnhẹ Công nghiệp nặng không chèn ép công nghiệp nhẹ và đảm bảo chocông nghiệp nhẹ tăng trởng ổn định Bản thân công nghiệp phải nâng caotrình độ kĩ thuật và thích ứng với nhu cầu thay đổi của thị trờng Tốc độ tăngtrởng của công nghiệp nhẹ phải đợc quy hoạch theo mức tiêu thụ của nhândân, và theo kinh nghiệm của Trung Quốc thì tốc độ này phải cao hơn tốc độtăng trởng của thu nhập quốc dân và tốc độ tăng trởng về sức mua hàng hoácủa nhân dân thì mới đảm bảo đợc sự ổn định của thị trờng Theo dự tính củaTrung Quốc, đến cuối thế kỉ tổng sản lợng của công nghiệp nhẹ sẽ chiếmkhoảng 45% tổng giá trị sản lợng công nghiệp Cơ cấu sản phẩm côngnghiệp phải thay đổi tuỳ theo mức tiêu thụ và cơ cấu tiêu thụ và phát triểntheo hớng: mới, tốt, rẻ, đẹp, đa dạng và vừa túi tiền của c dân Mặt khác phải
đa công nghiệp nặng vào quỹ đạo phục vụ việc cải tiến kĩ thuật nông nghiệp,công nghiệp nhẹ và toàn bộ nền kinh tế quốc dân Cần khắc phục tình trạngsản phẩm trung gian của công nghiệp nặng đợc chi dùng quá nhiều cho bảnthân công nghiệp nặng ( thí dụ vào cuối thập kỉ 70, điện dùng đến 70%, than
đá 64%, dầu mỏ 65% ) không để tốc độ phát triển công nghiệp nặng biến
động quá lớn Cần phải khống chế chặt chẽ tổng quy mô đầu t vốn cố định
và cơ cấu đầu t Trong cơ cấu của bản thân công nghiệp nặng, cần khống chế
sự phát triển nhanh về sản lợng của nghành chế tạo cơ khí, đồng thời phảihiện đại hoá nghành này để làm cơ sở đẩy nhanh tốc độ phát triển của các