1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG CỦA HỆ THỐNG HỒ CHỨA NƯỚC THƯỢNG LƯU SÔNG MEKONG ĐẾN QUÁ TRÌNH DÒNG CHẢY VÀ BÙN CÁT Ở HẠ LƯU

11 414 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 3,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển tài nguyên nước cũng như khai thác lưu vực phía thượng nguồn đều ảnh hưởng đến chế độ dòng chảy ở hạ lưu. Dự án xây dựng hệ thống hồ chứa trên thượng nguồn sông Mekong đã gây ra dao động lớn giữa giá trị lưu lượng lớn nhất và nhỏ nhất trong năm. Mực nước tăng lên trong mùa kiệt đã làm thay đổi hệ sinh thái 2 bên bờ sông, tính đa dạng sinh học giảm. Nồng độ bùn cát giảm do được giữ lại trên hồ đã làm mất cân bằng sức tải bùn cát phía hạ lưu gây xói lở lòng dẫn. Hàm lượng phù sa cung cấp cho phát triển nông nghiệp giảm so với trước khi xây dựng đập và kéo dài từ Chiang Saen, phía đầu của hạ lưu sông Mekong xuống đến Tân Châu. Tại Tân Châu tỉ lệ đóng góp của chi lưu sông Lancang khoảng 12% và 33% tương ứng với mùa lũ và mùa kiệt nói lên khả năng ảnh hưởng của dự án đến vùng hạ lưu châu thổ về kiểm soát lũ và sử dụng tài nguyên nước. Câu hỏi được đặt ra là hệ thống này có thể kiểm soát được lũ lớn hay đã góp phần dâng mực nước lũ ở hạ du năm 2000? Mực nước tăng trong mùa kiệt hay làm tăng mức độ dao động của dòng chảy kiệt gây xói lở lòng dẫn hạ du

Trang 1

ảnh hởng của hệ thống hồ chứa nớc thợng lu sông Mekong đến quá trình dòng chảy và bùn cát ở hạ lu

TS Vũ Kiên Trung Trờng Đại học Thủy lợi – Cơ sở 2

Tóm tắt: Phát triển tài nguyên nớc cũng nh khai thác lu vực phía thợng nguồn đều ảnh hởng đến

chế độ dòng chảy ở hạ lu Dự án xây dựng hệ thống hồ chứa trên thợng nguồn sông Mekong đã gây

ra dao động lớn giữa giá trị lu lợng lớn nhất và nhỏ nhất trong năm Mực nớc tăng lên trong mùa kiệt đã làm thay đổi hệ sinh thái 2 bên bờ sông, tính đa dạng sinh học giảm Nồng độ bùn cát giảm

do đợc giữ lại trên hồ đã làm mất cân bằng sức tải bùn cát phía hạ lu gây xói lở lòng dẫn Hàm lợng phù sa cung cấp cho phát triển nông nghiệp giảm so với trớc khi xây dựng đập và kéo dài từ Chiang Saen, phía đầu của hạ lu sông Mekong xuống đến Tân Châu Tại Tân Châu tỉ lệ đóng góp của chi lu sông Lancang khoảng 12% và 33% tơng ứng với mùa lũ và mùa kiệt nói lên khả năng ảnh hởng của

dự án đến vùng hạ lu châu thổ về kiểm soát lũ và sử dụng tài nguyên nớc Câu hỏi đợc đặt ra là hệ thống này có thể kiểm soát đợc lũ lớn hay đã góp phần dâng mực nớc lũ ở hạ du năm 2000? Mực

n-ớc tăng trong mùa kiệt hay làm tăng mức độ dao động của dòng chảy kiệt gây xói lở lòng dẫn hạ du?

I Giới thiệu

Sông Mekong là một con sông lớn trên thế

giới, có chiều dài 4800 km bắt nguồn từ cao

nguyên Tibetan (Tây Tạng) ở độ cao 5100 m,

chảy qua 6 nớc: Trung Quốc, Miyanma, Lào,

Thái Lan, Campuchia và Việt Nam Diện tích lu

vực sông là 795000 km2 với tổng lợng dòng

chảy trung bình năm khoảng 470 tỉ m3 [5] Để

phục vụ quyền lợi kinh tế của mình, các nớc

trong lu vực sông đã và đang phát triển tài

nguyên nớc một cách độc lập gây nên những

mâu thuẫn gay gắt về sử dụng nguồn nớc, tác

động xấu đến môi trờng và ảnh hởng trực tiếp

đến cuộc sống của ngời dân ở 2 bên bờ sông Kế

hoạch xây dựng một hệ thống bậc thang 8 hồ

chứa phục vụ phát điện (độ cao chênh lệch là

800 m) trên 750 km chiều dài phía thợng nguồn

sông Mekong (sông Lancang đoạn thợng nguồn

sông Mekong) của Trung Quốc (Hình 1) đã gây

nên những phản ứng của các nớc vùng hạ lu [6]

Hệ thống hồ chứa này có khả năng trữ đợc 40 tỷ

m3 nớc và có thể phát điện với công suất lắp

máy là 14900 MW (Bảng 1) Nhằm giải quyết

vấn đề khan hiếm tài nguyên nớc đặc biệt về

mùa kiệt thì các nớc vùng hạ lu cũng đang dự kiến xây dựng 1 loạt các hồ chứa khác trên các sông nhánh nh: Nam Ngum của Lào, Ubol Ratana và Pak Mun của Thái Lan, Sesan của Việt nam, … (Hình 1) Các nớc xây dựng đập

đều đa ra lý lẽ cho rằng: sử dụng nguồn tài nguyên nớc tái tạo đợc để giải quyết tình trạng khan hiếm năng lợng, kiểm soát đợc các trận lũ lớn và cấp nớc cho hạ du trong các tháng kiệt

Ví dụ nh đập Xiaowan có thể làm tăng dòng chảy mùa kiệt lên 70% xuống xa 1000 km đến Vientiane Tuy nhiên nó sẽ ảnh hởng lớn trực tiếp đến biến hình lòng dẫn (xói lở) và giảm chất dinh dỡng cho phát triển nông nghiệp vùng châu thổ [8]

Giai đoạn 1986 – 2003, hai đập Manwan và Dachaoshan đợc xây dựng đã làm thay đổi quá trình dòng chảy và nồng độ phù sa tại các điểm quan trắc phía hạ lu sau đập Mục đích chính của bài báo là nghiên cứu ảnh hởng của xây dựng đập tới các yếu tố trên qua phân tích: 1) quá trình mực nớc, lu lợng, giá trị lu lợng nhỏ nhất và lớn nhất năm và 2) sự thay đổi nồng độ phù sa tại các trạm hạ du sau đập

Trang 2

Hình 1 Hệ thống hồ chứa trên sông Mekong (Nguồn: MRC )

Bảng 1 Dự án xây dựng hệ thống hồ chứa bậc thang trên sông Lancang (Nguồn: MRC)

Tên công

(m) Tổng dung tích hồ/hiệu dụng

(tỉ m 3 )

Công suất (MW)

Mengsong Không có số liệu Không có số liệu 600 Không có số liệu

Gonguoqiao Không có số liệu 0,51/0,12 750 Không có số liệu

Ganlaba Không có số liệu Không có số liệu Không có số liệu Không có số liệu

II Phơng pháp nghiên cứu và phân tích

tài liệu

Để phục vụ cho nghiên cứu này lu vực sông

Mekong đợc chia ra làm 2 vùng: thợng lu nằm

trên lãnh thổ 2 nớc Myanma và Trung Quốc

chiếm 24% tổng diện tích lu vực và 76% phần

còn lại thuộc các nớc vùng hạ lu (Hình 1) Vùng

thợng lu có dân số tha thớt trong khi đó ở hạ lu

với dân số khoảng 55 triệu ngời và sẽ tăng lên

90 triệu ngời vào năm 2025 Nhu cầu năng lợng

trong toàn bộ lu vực sông Mekong hàng năm tăng 7% và đến năm 2022 sẽ tăng lên gấp 4 lần hiện tại [6] Nghiên cứu tập trung vào sự thay

đổi của chế độ dòng chảy và bùn cát ở vùng hạ

lu căn cứ vào số liệu đo đạc tại các trạm thủy văn: Chiang Saen, Luang Prabang, Vientiane, Nongkhai, Nakhon Phanom, Mukdahan, Khong Chiam, Pakse, Tân Châu và Cần Thơ

Vùng hạ lu sông Mekong chịu ảnh hởng rõ rệt của gió mùa nhiệt đới, phân ra làm 2 mùa: mùa ma bắt đầu từ tháng VI đến tháng XI, còn

Trang 3

lại là các tháng mùa khô trong năm Lợng ma

trung bình hàng năm biến đổi từ 3000 mm tại

Lào và Campuchia đến còn 1000 mm tại cao

nguyên bán khô hạn Korat phía Đông Bắc của

Thái Lan Mực nớc trong sông đạt đỉnh vào

khoảng tháng IX, lu lợng trong mùa lũ đạt trung

bình hơn 4000 m3/s tại Chiang Saen và lên tới

23000 m3/s tại Kratie (Bảng 2) Trong khi đó

vào mùa kiệt dòng chảy trung bình chỉ đạt 1/4

và 1/7 so với mùa lũ ở các trạm này Tổng lợng

dòng chảy đóng góp từ vùng thợng lu sông

Mekong (đến Chiang Saen) chiếm khoảng 1/5

tổng lợng dòng chảy trong lu vực (Bảng 2)

Hình 2 chỉ ra phần trăm đóng góp dòng chảy trung bình trong các tháng của vùng thợng lu cho các trạm hạ lu [5] ở đây ta thấy đối với các tháng mùa lũ thì phần trăm đóng góp nhỏ nhất cũng chiếm khoảng 15, 21, 30 và 52% tơng ứng cho các trạm Kratie, Pakse, Mukdahan và Vientiane Trong khi đó đối với các tháng mùa kiệt thì tỉ lệ đóng góp dòng chảy lớn nhất từ vùng thợng lu lên tới hơn 75% cho Vientiane và hơn 40% cho Kratie Do đó vùng thợng lu sông Mekong có vai trò đặc biệt quan trọng đóng góp tài nguyên nớc cho lu vực đặc biệt trong mùa kiệt

Bảng 2 Lu lợng trung bình dòng chảy lũ, kiệt và tổng lợng dòng chảy năm tại các trạm quan trắc

(1960 - 2004) (Nguồn: MRC)

Hình 2 Phần trăm đóng góp dòng chảy của vùng thợng nguồn sông Mekong tại các trạm hạ lu

(Nguồn: MRC)

Số liệu thu thập đợc bao gồm: mực nớc và lu

lợng trung bình ngày, nồng độ phù sa và các đặc

tính vật lý khác của lu vực sông Mekong Chuỗi

số liệu 39 năm từ 1962 đến 2000 đợc đa vào

phân tích và so sánh trong 2 giai đoạn trớc và

sau năm 1993 tơng ứng với trớc và sau khi xây dựng đập Manwan Số liệu bùn cát và chất lợng nớc đợc đo đạc thờng xuyên sau khi các thành viên của ủy ban sông Mekong (MRC) nhất trí phát triển bền vững lu vực hạ lu sông Mekong

Trang 4

vào tháng 4/1995 Do chuỗi số liệu đo đạc chất

bùn cát ngắn nên không thể hiện hết đợc tính

đại biểu của những năm có giá trị đo đạc rất lớn

hoặc rất nhỏ Mặt khác, giá trị này phụ thuộc rất

nhiều vào yếu tố tác động do khai thác trên lu

vực của con ngời nên rất khó xác định đợc chính

xác Trong số 11 trạm đo chọn ra 6 trạm:

Chiang Saen, Luang Prabang, Nongkhai,

Mukdahan, Khong Chian và Pakse để tính sự

biến đổi của hàm lợng bùn cát dọc sông Để tính

đợc hàm lợng này trớc đó phải kiểm tra hệ số

t-ơng quan giữa lu lợng và nồng độ phù sa trung

bình năm tại các trạm này (Bảng 3) Kết quả

cho ta thấy tơng quan giữa dòng chảy và nồng

độ phù sa tại các trạm tơng đối chặt trừ 2 trạm

Luang Prabang do thời gian đo đạc còn ngắn và

Mukdahan do quá trình xói lở bờ cục bộ (sẽ đợc

phân tích ở phần sau) [8]

Bảng 3 Hệ số tơng quan giữa lu lợng ngày và

nồng độ phù sa lơ lửng tại các trạm vùng hạ lu

(Nguồn: MRC)

Vị trí Số năm có

tài liệu Hệ số tơng quan (r 2 )

1 Phân tích số liệu mực nớc và lu lợng:

Đờng quá trình mực nớc, lu lợng, giá trị lớn nhất và nhỏ nhất năm đợc vẽ lên theo thời gian tại các trạm quan trắc So sánh các giá trị giữa 2 giai đoạn trớc và sau năm 1993 ta có thể xác

định đợc ảnh hởng của đập ở vùng thợng lu tới các giá trị đo đạc mực nớc và lu lợng tại các

điểm ở hạ lu sông Mekong

2 Phân tính nồng độ phù sa lơ lửng và tính toán hàm lợng phù sa:

Khác với số liệu đo đạc lu lợng, bùn cát đợc

đo đạc rất rời rạc, không liên tục trong giai đoạn

từ năm 1962 – 1995 và khi đo thì từ 1 đến 6 lần/tháng Do mẫu đo bùn cát đợc lấy sâu khoảng 30 cm từ mặt nớc tại vị trí dòng chảy chính mà không lấy theo độ sâu và tại nhiều thủy trực nên có thể không biểu thị đợc giá trị thực tế Trong nghiên cứu này chỉ đề cập đến phù sa lơ lửng đo đạc tại các trạm và coi đó là 1 trong các nhân tố bị tác động khi xây dựng hồ Nói cách khác lợng bùn cát di đẩy không đề cập trong nghiên cứu này Trong một nghiên cứu khác cho thấy thành phần hạt phù sa đến vùng

đồng bằng châu thổ thờng là các hạt bụi mịn có

D50 = 8 – 10 àm nên thông thờng tốc độ lắng chìm rất nhỏ và chênh lệch nồng độ tại các điểm trên mặt cắt không đáng kể [1] Tuy nhiên tại các vùng bị ảnh hởng của thủy triều thì sự phân

bố phù sa trên mặt cắt phụ thuộc rất lớn vào thời gian triều lên, xuống và cờng độ Tính toán hàm lợng phù sa chủ yếu dựa vào số liệu đo đạc bùn cát lơ lửng đợc đo đạc rời rạc, tức thời và không xem xét đến bùn cát di đẩy và do đó giá trị tính toán có thể thiên nhỏ đặc biệt trong mùa lũ Xây dựng mối quan hệ giữa lu lợng và nồng độ phù

sa trung bình ngày tại các trạm theo dạng:

SSC = a Qb Trong đó SSC (mg/L) và Q (m3/s) là nồng độ phù sa và lu lợng nớc trung bình năm; a và b là

2 hệ số Từ mối quan hệ này ta có thể tính ra nồng độ phù sa lơ lửng trung bình ngày tại một

vị trí nào đó trên sông dựa trên lu lợng trung

Trang 5

bình ngày Sau đó ta có thể tính ra đợc tổng

l-ợng bùn cát (hàm ll-ợng phù sa, SL) vận chuyển

qua một mặt cắt sông (tấn/năm) dựa vào công

thức sau:

SL = Q SSC

III Phân tích kết quả

1 Đờng quá trình mực nớc:

Hình 3 chỉ ra sự ảnh hởng của đập đến quá

trình mực nớc trong mùa lũ và mùa kiệt trong

năm Mực nớc mùa kiệt ít biến đổi và có giá trị nhỏ trớc khi xây dựng đập so với sau khi có đập thì mực nớc đợc dâng cao lên và độ biên thiên lớn Điều này có thể nói rằng hồ chứa nớc thợng

lu đã làm dâng cao mực nớc hạ lu trong mùa kiệt và ngoài ra có sự biến thiên lớn của mực

n-ớc đặc biệt ở các trạm gần công trình đập Trong mùa lũ thì giá trị biến thiên của quá trình mực nớc không rõ ràng trớc và sau khi xây dựng đập

Hình 3 Quá trình ma mực nớc tại các trạm quan trắc hạ lu sông Mekong (Nguồn: MRC)

2 Giá trị dòng chảy lớn nhất và nhỏ nhất

năm:

Nh đã đề cập ở trên, các hoạt động của con

ngời trên lu vực nh thay đổi bề mặt thảm phủ

hay xây dựng công trình hồ chứa đều làm thay

đổi chế độ dòng chảy, hàm lợng bùn cát,…

trong các sông suối Trong phần này xem xét sự

thay đổi giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của dòng

chảy trong năm và coi đây là 1 thông số xác

định sự thay đổi khi dự án xây dựng đập thợng

nguồn đa vào hoạt động ở những đoạn thợng

nguồn trớc khi đắp đập giá trị lớn nhất của dòng

chảy tơng đối đồng nhất, điều này có thể khẳng

định trên phía thợng nguồn do ít tác động của con ngời nên dòng chảy không có sự đột biến Trái lại khi đắp đập đã tác động lên dòng chảy

tự nhiên làm cho sự khác biệt lớn giữa dòng chảy lớn nhất trong các năm Nhờ phát triển của

kỹ thuật dự báo quá trình nớc đến chính xác và

đảm bảo an toàn cho công trình trong khi điều hành hồ chứa đã xả xuống hạ lu 1 lu lợng lớn hơn lu lợng lớn nhất tự nhiên đến hồ Kết quả thể hiện rõ tại các trạm đo ngay sau phía hạ lu

đập Tuy nhiên ở đoạn sông phía dới do tác dụng điều tiết lại của lu vực nên không có sự khác nhau giữa thời điểm trớc và sau khi xây dựng đập (Hình 4)

Trang 6

Đối với dòng chảy nhỏ nhất trong năm sau

khi đập xuất hiện thì có xu hớng càng giảm nhỏ

hơn do trữ nớc dùng cho mùa kiệt Và điều này

cũng chỉ đúng đối với đoạn sông gần đập (Hình

4) ở các trạm đo gần đập thì giá trị tỉ lệ giữa

dòng chảy lớn nhất và nhỏ nhất biến đổi lớn hơn

so với các điểm xa đập Tóm lại điều này có thể

giải thích nh sau: vào mùa lũ để an toàn cho

công trình dờng nh đã xả lu lợng lớn hơn lu lợng

tự nhiên lớn nhất và trái lại mùa kiệt đã trữ lại

để sử dụng cho các nhu cầu phía thợng nguồn

và phát điện nên dòng chảy nhỏ nhất xả xuống hạ lu càng nhỏ và điều này chỉ tác động đến chế

độ dòng chảy của đoạn sông sau đập (xuống

đến Vientiane), còn đoạn sông hạ lu xa đập do

ảnh hởng của điều tiết lu vực nên dòng chảy không bị thay đổi nhiều trớc và sau khi xây dựng đập

Hình 4 Lu lợng lớn nhất và nhỏ nhất năm tại các trạm quan trắc hạ lu (Nguồn: MRC)

3 Nồng độ phù sa:

Một trong những vấn đề đợc qua tâm sau khi

xây dựng hồ chứa là sự biến đổi của hàm lợng

phù sa trong sông Nồng độ phù sa giảm kết hợp

với dòng chảy mùa kiệt tăng lên đã làm thay đổi

hệ sinh thái và động lực 2 bên bờ sông do bị xói

lở Giá trị nồng độ phù sa đợc thu thập hàng

tháng tại các điểm đo hạ lu sông Mekong So

sánh kết quả trên Hình 5 cũng chia ra làm 2 giai

đoạn trớc và sau khi xây dựng đập ta thấy nồng

độ bùn cát giảm rõ rệt đặc biệt tại các trạm ngay

sau đập Đối với các trạm xa đập về phía cửa

sông, nồng độ bùn cát cũng giảm đáng kể nh tại

Tân Châu và Cần Thơ Cụ thể là giá trị nồng độ

bùn cát trung bình tại các trạm phía thợng

nguồn sau đập (từ Chiang Saen đến Vientiane)

giảm hơn 40% sau khi xây dựng đập trong khi giá trị này giảm nhỏ tại các trạm phía cửa sông (30%) Qua số liệu đo đạc trên Hình 5 cũng cho

ta thấy nồng độ phù sa tại trạm Vientiane đạt giá trị lớn nhất và nhỏ nhất ở các trạm: Tân Châu và Cần Thơ Điều này trái với trớc khi xây dựng đập thì nồng độ phù sa tại Chiang Saen cao hơn so với các trạm phía dới, một lợng bùn cát đợc giữ lại trên hồ và nồng độ bùn cát

đ-ợc bổ sung do xói lở bờ, đáy sông đã làm nồng

độ bùn cát tại Luang Prabang và Vientiane cao hơn so với Chiang Saen

4 Sự thay đổi của hàm lợng phù sa:

So sánh kết quả tính toán hàm lợng phù sa giữa 2 giai đoạn (1962 – 1992) và sau đó (1993 – 2000) Hình 6 chỉ cho thấy sự tác động

Trang 7

của việc ngăn chặn dòng chảy đến hàm lợng

phù sa trên sông kéo dài suốt từ ngay sau đập

đến các trạm hạ lu Sự biến đổi lớn nhất tại trạm

Chiang Saen, hàm lợng phù sa bình quân trong

năm tại trạm này giảm từ 74,1 xuống còn 34,5

triệu tấn/năm (giảm gần 50%) Kết quả thể hiện

tơng tự đối với các trạm Luang Prabang, Khong

Chiam và Pakse Tuy nhiên kết quả trên Hình 6

cho thấy hàm lợng phù sa tại trạm Mukdahan

tăng lên từ 97,5 lên 131,1 triệu tấn/năm (tăng

30%) sau khi có đập điều này có thể giải thích

do quá trình xói lòng dẫn để duy trì tính cân

bằng sức tải bùn cát giữa thợng và hạ du (đạt tới

dòng chảy bão hòa bùn cát) Mặc dù vậy hàm

l-ợng bùn cát mà dòng chảy mang theo sau khi

xây dựng đập vẫn nhỏ hơn so với trớc đó hay có thể nói rằng vẫn còn nhỏ hơn sức tải bùn cát thực tế nên vẫn gây xói lở ở hạ du [2] Ví dụ hàm lợng phù sa ở các trạm Tân Châu và Cần Thơ nhỏ hơn so với trớc khi xây dựng đập, điều này có thể dòng chảy tiếp tục gây xói lở trớc và sau các vị trí này để trở về trạng thái cân bằng

tự nhiên Ngoài ra lợng bùn cát ở một số trạm phía hạ lu nhỏ hơn phía thợng lu do ma, độ dốc lớn và tác động của con ngời trên bề mặt của lu vực: khai thác lâm sản, mở rộng diện tích canh tác,… Thành phần hạt cũng thay đổi, các hạt thô trên thợng nguồn và chủ yếu là các hạt mịn

là phổ biến tại đồng bằng châu thổ

Hình 5 So sánh nồng độ phù sa trớc và sau khi xây dựng đập (Nguồn: MRC)

Trang 8

H×nh 6 So s¸nh hµm lîng phï sa tríc vµ sau khi x©y dùng ®Ëp (Nguån: MRC)

Trang 9

IV Kết luận

1 Tác động của đập Manwan đến quá trình

lu lợng và mực nớc:

Công trình đập đã tác động lớn đến chế

độ dòng chảy phía hạ lu đặc biệt tại các trạm đo

gần đập Thông thờng khi xây dựng hồ chứa

(hay hệ thống hồ chứa) sẽ làm cho dòng chảy hạ

du tăng lên trong các tháng kiệt và giảm nhỏ khi

có lũ, nghĩa là hồ chứa thực sự có tác dụng điều

tiết có lợi cho hạ lu trong việc: phát triển nông

nghiệp, giao thông thủy, phát điện và kiểm soát

lũ hạ du, duy trì dòng chảy môi trờng, Kết…

quả đo đạc cho thấy sự ảnh hởng của công trình

đập Manwan đối với các giá trị dòng chảy trung

bình năm là không rõ ràng Tuy nhiên, một điều

nhận thấy rõ là sự dao động lớn của các giá trị

dòng chảy lớn nhất và nhỏ nhất sau năm 1992

Một nghiên cứu khác của Oxfam cho thấy biến

đổi mực nớc trong ngày dao động từ 3 – 4 m

ngay sau chân đập và đặc biệt lên tới 6.5 m năm

1998 [8] Sự dao động lớn của mực nớc sẽ tác

động xấu đến hệ sinh thái vùng hạ du Tuy

nhiên sự dao động mực nớc này chủ yếu xuất

hiện về mùa kiệt nên ít ảnh hởng xấu đến sạt lở

bờ so với mùa lũ khi mực nớc sông lên cao

Việc duy trì chế độ dòng chảy nh trớc khi

xây dựng hệ thống hồ bậc thang 8 đập trên sông

Lancang thợng nguồn sông Mekong tại vùng hạ

du sông Mekong là điều rất khó xảy ra Hình 2

cho thấy sự đóng góp dòng chảy trung bình

trong các tháng mùa ma và khô của chi lu

Yunnan (tỉnh thuộc lãnh thổ Trung Quốc) về

các vị trí hạ lu Ví dụ nh trong mùa lũ tháng IX,

lợng dòng chảy đóng góp từ chi lu này chiếm

16%, 21%, 30% và 53% tơng ứng tại các vị trí

Kratie, Pakse, Mukdahan và Vientiane Trái lại

trong tháng kiệt (tháng IV) tỉ lệ đóng góp của

chi lu này rất lớn tơng ứng là 40%, 50%, 58%

và 75% tại các vị trí tơng ứng trên Tại Tân

Châu tỉ lệ đóng góp của chi lu sông Lancang là

khoảng 12% và 33% tơng ứng với mùa lũ và

mùa kiệt (Hình 7) Tuy nhiên kế hoạch xây

dựng đập Nam Ngum của Lào, Ubol Ratana và

Pak Mun của Thái sẽ làm tăng sự thiếu hụt tài

nguyên nớc trầm trọng so với hiện nay trên lu

vực sông Mekong đặc biệt ở vùng hạ lu Trên

Hình 7 chỉ ra chi lu của lãnh thổ Lào và Thái

Lan đóng góp cho dòng chảy tại Tân Châu tơng

ứng là 50% và 14% trong mùa lũ và trong mùa

kiệt tơng ứng là 33% và 8%

Quan hệ tuyến tính mực nớc lớn nhất và nhỏ nhất năm giữa hai trạm Chiang Saen và Tân Châu nhỏ tơng ứng là 0,46 và 0,12 nên không thể dùng nội suy tuyến tính để xác định ảnh h-ởng của hồ chứa Manwan cho mực nớc Tân Châu [7] Tuy nhiên dòng chảy đợc điều tiết qua

hồ Tonle Sap, về mùa lũ tỉ lệ dòng chảy ngợc vào hồ chiếm gần 1/4 lợng dòng chảy qua Kratie (năm lớn nhất khoảng 10000 m3/s), trong khi đó dòng chảy xuôi lớn nhất xuống hạ lu từ

hồ trong mùa kiệt lên tới hơn 40% tổng lợng dòng chảy vào châu thổ Việt Nam Do đó vấn

đề sẽ trở lên khó khăn hơn đối với Việt Nam khi hàng năm diện tích tới trong nông nghiệp của Campuchia tăng 6,9% từ 148000 ha trong năm

1990 lên 251000 ha năm 2000 [4]

2 Tác động của đập Manwan đến nồng độ

và hàm lợng phù sa

Rõ ràng hàm lợng phù sa tại các địa điểm hạ

lu đập Manwan giảm do bùn cát lắng đọng trong lòng hồ Tuy nhiên, qua số liệu đo đạc và phân tích hàm lợng này giảm rõ rệt (50%) tại các điểm ngay sau đập so với trớc khi có đập và

so với các điểm xa về phía hạ lu Tuy nhiên do

sự cân bằng giữa dòng chảy và hàm lợng bùn cát mang theo trong sông và sự dao động lớn của các giá trị lu lợng lớn nhất và nhỏ nhất đã gây nên hiện tợng xói lở lòng dẫn làm tăng nồng độ phù sa tại Vientiane Dòng chảy sau

đập mang năng lợng lớn có lợng ngậm cát nhỏ

sẽ gây ra xói lở lòng dẫn, di đẩy lợng bùn cát

đáy đến khi cân bằng mới đợc tạo ra nghĩa là khi vật liệu đáy không bị dòng nớc cuốn trôi (không xói lở) Sự mất cân bằng này kéo dài hơn 600 km về phía hạ du [7] và xuống đến cả Tân Châu và Mỹ Thuận thì tình trạng xói lở vẫn xảy ra Tình trạng này sẽ trầm trọng hơn khi tăng số lợng đập xây dựng trên thợng nguồn Chế độ dòng chảy và hàm lợng phù sa ở hạ lu thay đổi do ảnh hởng của dự án xây dựng đập trên sông Lancang Tần suất và độ lớn của lũ cùng với hàm lợng phù sa sẽ giảm xuống so với trớc khi có dự án Những vùng ngập lũ, đặc biệt

đồng bằng sông Cửu Long nơi mà dựa vào nớc

lũ để cung cấp chất dinh dỡng cho đồng ruộng,

hệ sinh thái nớc ngọt và vùng trồng cây ăn trái ven sông, hàm lợng phù sa sẽ giảm xuống đáng

kể kéo theo sản lợng và chất lợng ở những vùng này kém đi

Trang 10

Nhìn chung hầu hết các con sông tự nhiên

đều có thể tự duy trì 1 hình thái cân bằng mặc

dù bị thay đổi chế độ dòng chảy của chúng Khi

xây dựng các công trình phát triển tài nguyên

n-ớc ở thợng nguồn sẽ báo hiệu một tác động tiêu

cực và có thể vợt quá ngỡng của cơ chế tự phục

hồi của dòng sông nếu con ngời không kiểm

soát và quản lý đầy đủ Để nghiên cứu đầy đủ về

sự thay đổi các chế độ dòng chảy và hàm lợng

phù sa trên sông còn phải nghiên cứu thêm hoạt

động khai thác trên lu vực của con ngời nh: chặt

phá rừng, mở rộng diện tích trồng trọt, đánh bắt

và nuôi trồng thủy sản, đặc tính khí tợng khí

hậu (ma, nhiệt độ, bão, …), quan hệ giữa độ dốc

và độ cao của lu vực với hàm lợng phù sa, diện tích thảm phủ, hệ số lá cây (LAI), phân tích loại

đất theo tầng sâu, độ ẩm đất, … [3]

Dự án xây dựng hồ chứa và điều hành nó liên quan đến quyền lợi kinh tế của quốc gia có dự

án Sự điều tiết giảm dòng chảy lũ và tăng dòng chảy kiệt có thể bị phai nhạt khi quyền lợi kinh

tế không đợc đảm bảo, điều này khác với chức năng của 1 hồ chứa thông thờng tại 1 vùng hay

1 quốc gia có chung quyền lợi Đó là tối u hệ thống đối với các nhu cầu sử dụng nớc trong toàn bộ lu vực sông

Hình 7 So sánh tỉ lệ đóng góp dòng chảy của các tiểu lu vực tại các trạm đo đạc (Nguồn: MRC)

Tài liệu tham khảo

[1] Đặng Hòa Vĩnh, 2005 Một số đặc điểm phù sa trong nớc lũ đến vùng Đồng Tháp Mời Tạp chí khoa học kỹ thuật Thủy lơi & Môi trờng, số 11, 56 – 62

[2] Đỗ Tiến Lanh, 2005 Nghiên cứu phân bố lắng đọng phù sa của dòng lũ tràn bãi, tràn đồng vùng

Tứ giác Long Xuyên (Đồng bằng sông Cửu Long) Luận án tiến sĩ kỹ thuật, Trờng Đại học Thủy lợi [3] Hans-Jorg Fuchs, 2004 Data Availability for Studies on effects of Land-Cover Changes on Water Yield, Sediment and Nutrient Load at Catchments of the Lower Mekong Basin Iris Richter, MRC-GTZ Cooperation Programme

Ngày đăng: 28/08/2014, 00:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Hệ thống hồ chứa trên sông Mekong  (Nguồn: MRC ) - ẢNH HƯỞNG CỦA HỆ THỐNG HỒ CHỨA NƯỚC THƯỢNG LƯU SÔNG MEKONG ĐẾN QUÁ TRÌNH DÒNG CHẢY VÀ BÙN CÁT Ở HẠ LƯU
Hình 1. Hệ thống hồ chứa trên sông Mekong (Nguồn: MRC ) (Trang 2)
Bảng 3. Hệ số tơng quan giữa lu lợng ngày  và - ẢNH HƯỞNG CỦA HỆ THỐNG HỒ CHỨA NƯỚC THƯỢNG LƯU SÔNG MEKONG ĐẾN QUÁ TRÌNH DÒNG CHẢY VÀ BÙN CÁT Ở HẠ LƯU
Bảng 3. Hệ số tơng quan giữa lu lợng ngày và (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w