1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Thẩm định dự án có sử dụng vốn đầu tư ODA

53 908 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 804,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyên đề Thẩm định dự án có sử dụng vốn ODA nhằm cho mọi người hiểu rõ quy trình sử dụng bao gồm : Trình tự thực hiện, thành phần hồ sơ cần có, thời hạn giải quyết, cơ quan thực hiện TTHC, mẫu văn bản kèm theo, phi và lệ phí...

Trang 1

THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CÓ SỬ DỤNG VỐN ODA

Trình tực thực hiện:

Bước 01: Chuẩn bị hồ sơ đầy đủ theo đúng quy định của pháp luật.

Bước 02: Nộp hồ sơ tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Sở Kế hoạch

và Đầu tư (số 01 Hồ Xuân Hương, phường Thắng Tam, Thành phố Vũng Tàu)

Công chức tiếp nhận hồ sơ kiểm tra tính hợp lệ và nội dung hồ sơ:

+ Trường hợp hồ sơ đã đầy đủ, hợp lệ thì viết giấy hẹn trao cho người nộp.

+ Trường hợp hồ sơ thiếu, hoặc không hợp lệ thì công chức tiếp nhận hồ sơ hướng dẫn để người đến nộp hồ sơ làm lại cho kịp thời.

* Thời gian tiếp nhận: sáng từ 7 giờ 30 đến 11 giờ 30, chiều từ 13 giờ 30 đến 17

giờ 00 (từ thứ 2 đến thứ 6 và buổi sáng thứ 7 trong tuần).

Bước 3: Quy trình xem xét, thẩm định hồ sơ:

+ Trường hợp hồ sơ không đúng quy định thì chuyển trả lại cho Bộ phận tiếp nhận và Bộ phận tiếp nhận có trách nhiệm trả hồ sơ cho chủ đầu tư;

+ Trường hợp hồ sơ cần bổ sung thì ghi nội dung cần bổ sung vào phiếu bổ sung hồ sơ và chuyển về Bộ phận tiếp nhận để yêu cầu chủ đầu tư bổ sung, thời gian thẩm định được tính từ ngày chủ đầu tư bổ sung đủ hồ sơ theo quy định.

+ Nếu hồ sơ đúng quy định Sở Kế hoạch và Đầu tư sẽ có Tờ trình trình UBND tỉnh phê duyệt, đồng thời có Văn bản thông báo nộp lệ phí thẩm định cho Chủ đầu tư Chủ đầu tư có thể nộp trực tiếp tại Sở Kế hoạch và Đầu tư hoặc chuyển khoản qua Kho bạc nhà nước tỉnh.

Bước 04: Sau khi có Quyết định phê duyệt, UBND tỉnh sẽ gửi trực tiếp cho

Trang 2

3) Văn kiện chương trình, dự án (Bằng cả tiếng Việt và tiếng nước ngoài Theo mẫu quy định (nếu có);

4) Các văn bản và ý kiến trả lời của các cơ quan liên quan trong quá trình chuẩn bị chương trình, dự án và các văn bản thỏa thuận, bản ghi nhớ với nhà tài trợ hoặc đại diện của nhà tài trợ, báo cáo của đoàn chuyên gia thẩm định thực hiện theo yêu cầu nhà tài trợ (nếu có);

5) Báo cáo tài chính của chủ Dự án trong 3 năm gần nhất, có xác nhận của

cơ quan chủ quản (đối với chương trình, dự án theo cơ chế cho vay lại)

b) Số lượng hồ sơ: 08 bộ, trong đó có ít nhất 01 bộ gốc.

3 Thời hạn giải quyết:

- 45 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

- 15 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ (đối với các dự án hỗ trợ kỹ thuật).

4 Cơ quan thực hiện TTHC

a) Cơ quan có thẩm quyền quyết định: UBND tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu.

b) Cơ quan hoặc người có thẩm quyền được uỷ quyền hoặc phân cấp thực hiện (nếu có): không

c) Cơ quan trực tiếp thực hiện TTHC: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

d) Cơ quan phối hợp (nếu có): Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, các Sở, ban, ngành và các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

có liên quan.

5 Mẫu văn bản kèm theo: Mẫu kèm theo

- Tờ trình đề nghị phê duyệt chương trình, dự án của chủ dự án theo Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình.

Trang 3

- Văn kiện chương trình, dự án theo Thông tư 04/2007/TT-BKH ngày 30/7/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn thực hiện quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức.

6 Phí, lệ phí:

Mức thu phí thẩm định dự án được tính bằng giá trị % trên tổng giá trị công trình (GTCT) (theo Thông tư 109/2000/TT-BTC ngày 13/11/2000 của Bộ Tài chính Hướng dẫn chế độ thu, nộp và sử dụng lệ phí thẩm định dự án đầu tư):

- Luật Xây dựng ngày 26/11/2003, có hiệu lực từ ngày 01/7/2004.

- Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; có hiệu lực từ ngày 02/4/2009.

- Nghị định số 83/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; có hiệu lực từ ngày 01/12/2009.

- Nghị định số 112/2009/NĐ-CP ngày 14/12/2009 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình; có hiệu lực từ ngày 01/2/2010.

- Nghị định 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 Ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, có hiệu lực từ ngày 07/12/2006.

- Thông tư số 03/2009/TT-BXD ngày 26/3/2009 của Bộ Xây dựng Quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của

Trang 4

Chính phủ về quản ký dự án đầu tư xây dựng công trình, có hiệu lực kể từ ngày 11/5/2009.

- Thông tư số 04/2010/TT-BXD ngày 26/5/2010 của Bộ Xây dựng Hướng dẫn lập

và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình, có hiệu lực kể từ ngày 15/7/2010.

- Thông tư số 03/2008/TT-BXD ngày 25/01/2008 Hướng dẫn điều chỉnh dự toán xây dựng công trình, có hiệu lực kể từ ngày 24/02/2008.

- Thông tư số 05/2009/TT-BXD ngày 15/4/2009 của Bộ Xây dựng Hướng dẫn điều chỉnh dự toán xây dựng công trình.

- Thông tư 04/2007/TT-BKH ngày 30/7/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn thực hiện quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, có hiệu lực từ ngày 03/9/2007.

- Thông tư 03/2007/TT-BKH ngày 12/3/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Ban quản lý chương trình, dự

án ODA, có hiệu lực từ ngày 18/4/2007.

Tham luận về công tác giám sát sử dụng vốn ODA

tại TP Hồ Chí Minh.

Huỳnh Công Hùng Phó Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND TP.HCM

1 Tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA tại thành phố.

Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là nguồn lực quan trọng để phát triển kết cấu hạ tầng Kỹ thuật – xã hội, sau hơn mười năm được huy động để phục vụ công cuộc phát triển thành phố, nguồn vốn ODA đã đem lại những kết quả bước đầu quan trọng.

Các dự án ODA từ năm 1993 đến năm 2005 Các chương trình, dự án ODA trong giai đoạn này đã giải ngân được 785,38 triệu USD Trong đó, vốn ODA là 315 triệu USD (chỉ đạt khoảng 16-25 % so với kế hoạch), vốn đối ứng là 470,38 triệu USD (đạt khoảng 70-80% so với kế hoạch) Tiến độ giải ngân vốn ODA thường không đáp ứng được yêu cầu, thường chậm hơn từ 1-3 năm so Hiệp định đã

ký kết

- Giai đoạn 1993 – 2000, các dự án ODA có qui mô nhỏ là dự án hỗ trợ kỹ thuật cho việc nghiên cứu, xác định dự án, qui hoạch tổng thể Một số dự án vay hoàn thành đã phát huy tác dụng, thể hiện đúng mục tiêu của dự án như Dự án Nâng cấp và mở rộng cầu Sài Gòn do Pháp tài trợ, Dự án cải tạo

Trang 5

hệ thống cấp thoát nước Thành phố vay của ADB…

- Dự án Xây dựng nhà máy đốt rác y tế, công suất 7.000kg/ngày (vay Bỉ 1,5 triệu USD): xử lý triệt

để rác y tế, các loại rác nguy hại có nguy cơ lây lan cao.

Dự án Cải thiện môi trường nước thành phố Hồ Chí Minh lưu vực kênh Tàu Hũ - Bến Nghé - Kênh Đôi

- Kênh Tẻ giai đoạn I do Ngân hàng hợp tác phát triển Quốc tế Nhật bản (JBIC) tài trợ tổng số vốn đầu tư thực tế là 23.994 triệu Yên Nhật ( tương đương 3.157,13 tỷ đồng , tỷ giá Yên = 122,38 VNĐ )

; vốn đối ứng là 949,970 triệu đồng.

So với thời gian trước, tiến độ thực hiện cỏc dự án đã có nhiều tiến bộ thành phố quan tâm giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án (đặc biệt là vấn đề giải phóng mặt bằng, tái định cư và các thủ tục trong quá trình đầu tư…), đồng thời bố trí vốn đối ứng kịp thời theo yêu cầu và từng bước tăng cường năng lực cho Ban quản lý dự án Bên cạnh đó, sau một thời gian triển khai dự án, Ban quản lý dự án đã quen dần các thủ tục và tích lũy được nhiều kinh nghiệm Điều này đã thúc đẩy tiến độ giải ngân cỏc dự án

sở thực hiện Trong bối cảnh như vậy, người quản lý dự án không thể không bối rối và tiến thoái lưỡng nan về sự thiếu nhất quán và đồng bộ của các văn bản pháp quy.

* Khó khăn liờn quan d?n hài hòa thủ tục giữa quy định của Việt Nam và Nhà tài trợ:

- Quy định của Việt Nam không quy định định mức dự toán theo “tháng - người” (man-month) và không quy d?nh định mức đối với các chuyên gia tư vấn nước ngoài.

Trang 6

- Định mức dự toán của Việt Nam thấp hơn định mức của Nhà tài trợ nên sẽ khó khăn trong việc lập

và trình duyệt dự toán Bộ Xây dựng không xem xét đưa vào giá dự toán các khoảng chi phí chung (phần này đã được quy định trong hồ sơ mời thầu theo thông lệ quốc tế)

- Đối với các lĩnh vực đòi hỏi trình độ chuyên môn cao như tư vấn lập Kế hoạch hành động tái định cư (RAP), đánh giá tác động môi trường (EIA), khảo sát nhu cầu đào tạo…, định mức theo quy định của Việt Nam khó chọn được chuyên gia tư vấn trong nước có trình độ chuyên môn cao.

* Những tồn tại liên quan đền Ban quản lý dự án ODA

Mô hình Ban quản lý dự án ODA

Cơ sở pháp lý để tổ chức các ban QLDA là Nghị định số 17/2001/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư

số 06/2001/TT-BKH của Bộ KHĐT Các Ban QLDA hoạt động trên cơ sở quyết định thành lập của cơ quan chủ quản.

Khó khăn liên quan đến Ban QLDA

- Bộ máy tổ chức và năng lực của các Ban quản lý dự án nhìn chung vẫn còn bất cập so với yêu cầu nhiệm vụ Thể hiện ở các điểm sau:

+ Năng lực điều hành chưa chuyên nghiệp.

+ Năng lực phối hợp, làm việc với tư vấn còn hạn chế (ngoại ngữ, nghiệp vụ …) Điều này làm cho hiệu quả công việc tư vấn không cao; hồ sơ trình duyệt phải gỉai trình bổ sung, điều chỉnh nhiều lần

- Cán bộ của các ban quản lý và các sở ngành liên quan chưa được đào tạo bài bản về quản lý dự án ODA.

- Công việc của các ban quản lý dự án đòi hỏi cán bộ có năng lực cao, nhưng với mức lương thấp và thời gian làm việc tại các ban quản lý không kéo dài lâu (ban quản lý dự án sẽ kết thúc hoạt động và giải tán khi dự án hoàn thành Các nhân viên của ban quản lý không bảo đảm được bố trí công tác mới) đã không hấp dẫn những nhân viên có năng lực tốt vào làm việc ổn định, lâu dài.

2 Một vài kiến nghị:

- Đề nghị xem xét điều chỉnh Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ban hành kèm theo Nghị định số 17/2001/NĐ-CP ngày 04/05/2001 của Chính phủ để phù hợp với Luật Xây dựng, Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ và Luật Đấu thầu

- Sửa đổi thủ tục áp dụng đối với các dự án ODA theo nguyên tắc: những nội dung điều chỉnh, bổ sung đã được Chính phủ Việt Nam và Nhà tài trợ thỏa thuận và ký kết thì không phải qua các thủ tục điều chỉnh dự án theo quy định của Việt Nam.

- Xúc tiến xây dựng ban hành Nghị định mới về Tái định cư và giải phóng mặt bằng, nhằm giải quyết

cơ bản những vướng mắc về vấn đề này đối với các dự án ODA

- Ban hành nghị định, thông tư hướng dẫn riêng về thủ tục đấu thầu cho các dự án sử dụng nguồn vốn ODA

- Đề nghị có sự hướng dẫn việc hài hòa thủ tục giữa quy định Việt Nam và Nhà tài trợ

- Tăng cường đào tạo chuyên môn cho các cán bộ các sở ngành, các ban quản lý d? ỏn.

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với các bộ, ngành xem xét tăng định mức dự toán các khoản chi phí cho phù hợp với nhà tài trợ

- Xây dựng quy chế mẫu về tổ chức và hoạt động của Ban quản lý dự án (QLDA), quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của Ban QLDA Tiêu chuẩn của từng chức danh chủ chốt trong Ban QLDA.

- Ban hành quy định về trách nhiệm kiểm tra, giám sát hoạt động của Ban QLDA và những biện pháp chế tài cụ thể.

Trang 7

- Kiện toàn hệ thống theo dõi và đánh giá dự án từ các Bộ, ngành trung ương tới địa phương nhằm thúc đẩy quá trình sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA; đưa công nghệ thông tin vào phục vụ công tác quản lý và theo dõi dự án.

- Nâng định mức hoạt động của Ban QLDA nhằm có thể tuyển dụng được những cán bộ có chuyên môn, năng lực tâm huyết làm việc cho các ban QLDA

Chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiến tham gia thảo luận về vấn đề này nhằm hoàn thiện hệ thống

cơ sở pháp lý, cơ chế quản lý sử dụng vốn, chính sách quản lý tài chính cũng như công tác giám sát… vốn ODA trong thời gian tới./.

Sử dụng hiệu quả vốn ODA trong các dự án giao thông

Nguồn tin: tamnhin.net | 06/12/2010 11:50:00 SA

In

tin | Lưu vào sổ tay | RSS | Chia sẻ Facebook

Trong điều kiện nguồn lực trong nước còn hạn hẹp, việc tận dụng sự hỗ trợ từ bên ngoài (vốn vay ODA) rất cần thiết và quan trọng là chúng ta phải sử dụng hiệu quả đồng vốn này đặc biệt là trong các dự án giao thông quy mô lớn.

Tính đến cuối tháng 11/2010, đã có 7/16 cây cầu sử dụng vốn vay ODA thuộc Dự án Khôi phục các cầu trên Quốc lộ 1 giai đoạn III, thông xe, gồm: Đầu Sấu, Nàng Mao, Dần Xây, Xã Bảo, Xóm Lung, Láng Tròn, Cái Dày Các cầu còn lại sẽ lần lượt được nhà thầu thông xe từ nay đến Tết Nguyên đán

Không chỉ Dự án 16 cầu có sự chuyển biến tích cực, tính đến thời điểm này, hầu hết các dự án hạ tầng

sử dụng vốn vay ODA đều đã hoàn thành kế hoạch thực hiện, giải ngân của cả năm 2010 “Giá cả vật liệu xây dựng tương đối ổn định, công tác điều hành quyết liệt của chủ đầu tư là hai lý do khiến các dự

án có nhiều chuyển biến về tiến độ”, ông Nguyễn Hoằng, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch và Đầu tư (Bộ Giao thông - Vận tải) cho biết

Theo thống kê của Bộ Giao thông - Vận tải, tính đến ngày 3/12, các chủ đầu tư của 38 dự án sử dụng vốn nước ngoài đã thực hiện đạt 7.492 tỷ đồng (245,8% kế hoạch), tăng 111,1% so với cùng kỳ năm trước; giải ngân 5.838,6 tỷ đồng (191,6% kế hoạch), so với cùng kỳ năm trước tăng 36%

Khác với mọi năm, việc giải ngân vốn đối ứng cho công tác giải phóng mặt bằng tại các dự án ODA cũng có bước đột phá, với kết quả thực hiện đạt 2.412,1 tỷ đồng (114,1% kế hoạch), so với cùng kỳ năm trước tăng 86,3%; giải ngân 1.742,1 tỷ đồng (82,4% kế hoạch) tăng 38% so với cùng kỳ năm trước “Kết quả giải ngân vốn đối ứng sẽ còn cao hơn nếu các bộ, ngành bố trí kịp và đủ vốn cho các

dự án”, ông Hoằng cho biết

Đầu tuần qua, Bộ Giao thông - Vận tải đã hoàn tất phương án tài chính cho Dự án Xây dựng đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi (một bộ phận của trục đường cao tốc Bắc - Nam) Dựa trên các dữ liệu đầu vào như phí giao thông 800 đồng/km, tốc độ tăng trưởng phương tiện bình quân từ năm 2009 đến năm 2040 là 1,873%; tổng mức đầu tư Dự án là 1,472 tỷ USD, Bộ kiến nghị, Chính phủ và các nhà tài trợ cho phép chủ đầu tư - Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) được vay lại toàn bộ các khoản vay từ Ngân hàng Thế giới (WB) và JICA

Ông Trần Xuân Sanh, Tổng giám đốc VEC cho biết, đây là dự án xây dựng tuyến đường cao tốc đầu tiên sử dụng vốn vay từ Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế (IBRD) thuộc WB, với khoản vay lên tới 511 triệu USD, thời gian 25 năm, bao gồm 10 năm ân hạn, lãi suất Libor 6 tháng + 0,48%/năm.Được biết, hiện JICA - nhà tài trợ vốn thứ hai cũng đã có cam kết tài trợ 692 triệu USD vốn vay ODA để thực hiện Dự án Theo đánh giá của Bộ Giao thông - Vận tải, nếu Dự án hoàn thành đúng kế hoạch vào năm 2016, tuyến cao tốc này sẽ là nhân tố quan trọng thúc đẩy hiệu quả đầu tư cho các khu công nghiệp do nước ngoài đầu tư tại Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

Cũng theo VEC, một khoản vay thương mại lãi suất thấp trị giá 635,7 triệu USD vừa được Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cam kết tài trợ cho Dự án đường cao tốc Bến Lức - Long Thành dài 57 km, xuyên qua vùng lõi của khu vực trọng điểm kinh tế phía Nam

Tại khu vực phía Bắc, Bộ Giao thông - Vận tải đang chỉ đạo Tổng cục Đường bộ Việt Nam và Cục Hàng hải Việt Nam hoàn tất công tác chuẩn bị đầu tư 2 siêu dự án lớn là Dự án Cảng cửa ngõ quốc tế Hải

Trang 8

Phòng và Dự án đường cao tốc Tân Vũ - Lạch Huyện để có thể chính thức ký hiệp định vay vốn trị giá khoảng 800 triệu USD với JICA.

Cùng với việc tận dụng tối đa nguồn vốn vay ODA, vốn vay thương mại (ORC) từ các nhà tài trợ, Bộ Giao thông - Vận tải đang khẩn trương tiến hành công tác xúc tiến, huy động vốn vay tư nhân cho các

dự án có khả năng tạo bước đột phá về hạ tầng

Hỗ trợ phát triển chính thức

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bài này viết về một hình thức đầu tư viết tắt là ODA Đối với bài về gia tộc Oda, xem Gia tộc Oda

Hỗ trợ phát triển chính thức (hay ODA, viết tắt của cụm từ Official Development Assistance), là một hình

thức đầu tư nước ngoài Gọi là Hỗ trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi

suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài Đôi khi còn gọi là viện trợ Gọi là Phát triển vì mục tiêu danh

nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư Gọi là Chính

thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay

Số liệu năm 2004 của OECD cho biết lượng vốn ODA cung cấp bởi một số nước phát triển:

Nước Vốn (triệu USD) % thay đổi hằng năm % GNI

Trang 9

Mục lục

[ ẩn ]

1 Ưu điểm của ODA

2 Bất lợi khi nhận ODA

3 Nguồn vốn ODA tại Việt

Nam

4 Chú thích

5 Liên kết ngoài

6 Xem thêm

[ sửa ]Ưu điểm của ODA

 Lãi suất thấp (dưới 20%, trung bình từ 0.25%năm)

 Thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn dài (25-40 năm mới phải hoàn trả và thời gian ân hạn 8-10 năm)

 Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại, thấp nhất là 25% của tổng số vốn ODA

[ sửa ]Bất lợi khi nhận ODA

Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những lợi ích và chiến lược như mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục tiêu về an ninh - quốc phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị Vì vậy,

họ đều có chính sách riêng hướng vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay họ có lợi thế (những mục tiêu ưu tiên này thay đổi cùng với tình hình phát triển kinh tế - chính trị - xã hội trong nước, khu vực và trên thế giới).Ví dụ:

 Về kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hoá của nước tài trợ Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao

 Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng thường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù hợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước nghèo Ví như các dự án ODA trong lĩnh vực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phần trả cho các chuyên gia nước ngoài thường chiếm đến hơn 90% (bên nước tài trợ ODA thường yêu cầu trả lương cho các chuyên gia, cố vấn dự án của họ quá cao so với chi phí thực tế cần thuê chuyên gia như vậy trên thị trường lao động thế giới)

 Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA

là hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất

Trang 10

 Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưng thông thường, các danh mục

dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia

 Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn lại tăng lên

Ngoài ra, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án… khiến cho hiệu quả và chất lượng các công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp

có thể đẩy nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần

[ sửa ]Nguồn vốn ODA tại Việt Nam

Thụy Điển là một trong những nước phương Tây viện trợ sớm nhất cho Việt Nam, bắt đầu từ năm 1969 Tính đến năm 2008 , Thụy Điển đã tài trợ cho Việt Nam tổng số vốn không hoàn lại trị giá 3,46 tỷ USD.[1]

Trong quá trình Việt Nam thoát khỏi mức thu nhập thấp, trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình, các khoản vay ưu đãi sẽ giảm dần và thay vào đó là khoản vay kém ưu đãi hơn[2]

[ sửa ]Chú thích

1 ^Thụy Điển sắp ngừng tài trợ ODA cho Việt Nam Thứ sáu, 20/4/2012, 15:14 GMT+7

2 ^http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2009/12/3ba1655b/ Thứ sáu, 4/12/2009, 17:03 GMT+7

[ sửa ]Liên kết ngoài

 ODA cần thiết nhưng phải thận trọng

 History of ODA (pdf)

 OECD: Final ODA Data for 2004

Giám sát sử dụng vốn ODA ở Việt Nam: Thực trạng

và những khuyến nghị

Bản in ấn Email

Cỡ chữ

Ý kiến bình luận (0)

(Tamnhin.net) - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Bộ KH&ĐT) ngày 16/6 đã tổ chức hội thảo

“Hoàn thiện hệ thống theo dõi và đánh giá các chương trình, dự án ODA tại Việt Nam” nhằm phân tích, đưa ra những khuyến nghị hoàn thiện hệ thống, góp phần sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA

Trang 11

Dự án cầu Nhật Tân sử dụng vốn ODA Nhật Bản

Vụ trưởng Vụ Kinh tế đối ngoại Bộ KH&ĐT Hồ Quang Minh cho biết để hoàn thiện hệ thống theo dõi và đánh giá các chương trình dự án ODA, Bộ KH&ĐT đã xây dựng báo cáo đánh giá thực trạng theo dõi và đánh giá ODA tại Việt Nam Báo cáo được xây dựng dựa trên số liệu thu thập được từ các cuộc điều tra đối với 67 cơ quan chủ quản, 338 dự án, các cuộc phỏng vấn với

Báo cáo đánh giá thực trạng hệ thống theo dõi và đánh giá ODA tại Việt Nam cho thấy mỗi loại hình dự án có một cách thức tiến hành công tác theo dõi khác nhau Các dự án hỗ trợ kỹ thuật thường thu thập thông tin theo dõi thông qua báo cáo từ cấp dưới hoặc từ các cuộc họp giao ban Trong khi đó, các dự án đầu tư chủ yếu dựa vào các công ty tư vấn theo dõi, giám sát, một

số dự án được hỗ trợ bằng phần mềm quản lý được thiết kế riêng cho dự án Đối với các chương trình, dự án hỗ trợ ngân sách trực tiếp, việc theo dõi thường được dựa trên các cam kết

Nghiên cứu và khảo sát cho thấy thực tiễn đánh giá ODA của Việt Nam trong thời gian qua đã phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và các thông lệ quốc tế Các cuộc đánh giá nhìn chung đều sử dụng các tiêu chí đánh giá đã được quốc tế công nhận và đảm bảo được tính

Theo các đại biểu tham dự hội thảo, khó khăn đối với công tác theo dõi và đánh giá hiện nay là việc thiếu chế tài để đảm bảo sự tuân thủ chế độ báo cáo của các dự án; hệ thống công cụ tin học hỗ trợ còn nhiều hạn chế, thiếu cán bộ có kiến thức chuyên môn về theo dõi và đánh giá;

Vì vậy, để hoàn thiện hệ thống theo dõi và đánh giá các chương trình, dự án ODA tại Việt Nam, các đại biểu khuyến nghị cần tăng cường chế tài đối với các đối tượng không chấp hành nghiêm túc các quy định về chế độ báo cáo nói riêng và quy định về theo dõi và đánh giá các chương trình dự án ODA nói chung Đối với những dự án có 2 quý liên tiếp không báo cáo theo quy định trở lên, cơ quan chủ quản cần tiến hành kiểm điểm trách nhiệm của giám đốc dự án Việc sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật cần quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan chủ quản trong việc xây dựng quy chế về theo dõi và đánh giá phù hợp với đặc thù của cơ quan/địa

Trang 12

phương mình.

Khuyến nghị về mặt tài chính, các đại biểu cho rằng cần bổ sung, sửa đổi về định mức chi phí cho công tác giám sát, đánh giá dự án đầu tư theo hướng bổ sung quy định về các loại hình chi phí cho công tác theo dõi và đánh giá và mức trần cho các loại chi phí này Ngoài ra việc tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ để vận hành trôi chảy hệ thống theo dõi và đánh giá tại cấp

dự án và cấp cơ quan chủ quản là rất cần thiết.

Chiến lược sử dụng vốn ODA Nhật Bản

(14:59 - 08/06/2012) (Lượt xem: 385)

Nhân dịp Hội nghị giữa kỳ Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (CG) 2012 được tổ chức tại

TP Đông Hà (tỉnh Quảng Trị), Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam, Ngài Yasuaki Tanizaki trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư về tình hình sử dụng vốn ODA Nhật Bản tại Việt Nam.

Thưa Đại sứ, Đại sứ có bình luận gì về tình hình sử dụng nguồn vốn ODA của Nhật Bản tại Việt Nam?

Nhật Bản đã cung cấp ODA cho nhiều lĩnh vực tại Việt Nam, và đặc biệt, Nhật Bản đã trú trọng tới lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng tại Việt Nam, vì lĩnh vực này cực kỳ quan trọng đối với việc phát triển kinh

tế – xã hội của bất kỳ quốc gia nào Nhật Bản đã và đang hỗ trợ nhiều dự án cơ sở hạ tầng lớn tại Việt Nam, trong đó có các dự án cảng biển tại Hải Phòng, Quốc lộ 5, Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất trong quá khứ và Đường cao tốc Bắc Nam, Cảng Cái Mép - Thị Vải và Cảng Lạch Huyện (Hải Phòng) hiện nay Các dự án này được coi là các dự án trọng điểm của hệ thống giao thông tại Việt Nam Tôi cảm thấy tự hào rằng, vốn ODA của Nhật Bản đã được sử dụng rất hiệu quả đối với các dự án ưu tiên cao này

Với sự tham gia của nhiều nhà thầu Nhật Bản trong quá trình xây dựng các dự án này, tôi tin tưởng rằng, cho đến nay, chúng ta đã làm được nhiều công trình một cách rất hiệu quả và có chất lượng cao Tuy nhiên, việc thực hiện một số dự án vẫn chưa đạt được tiến độ theo yêu cầu, và các dự án này đang

có xu hướng ngày càng tăng lên Việc thực hiện chậm trễ các dự án này là do các vấn đề về thu hồi đất

và tái định cư, và chúng ta phải giải quyết các vướng mắc này để cải thiện hiệu quả đầu tư

Cùng với việc thực hiện hiệu quả thì việc hoạch định chiến lược cho ODA cũng rất cần thiết Chúng ta phải lựa chọn các dự án phù hợp trong nhiều dự án khác nhau để có thể tập trung nguồn lực cho các

dự án này

Do vậy, vào tháng 4 vừa rồi, tôi đã có một cuộc họp song phương với phía Việt Nam để bàn về chính sách cơ sở hạ tầng của Việt Nam Cuộc họp này nhằm thúc đẩy việc phát triển cơ sở hạ tầng của Việt Nam một cách hiệu quả và chiến lược hơn Hai bên đã trao đổi các quan điểm từ giai đoạn đầu của việc hoạch định dự án

Trang 13

Cuộc họp đầu tiên do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh và tôi đồng chủ trì, đã được tổ chức rất thành công với sự tham gia tích cực của các quan chức có trách nhiệm đến từ nhiều bộ, ngành liên quan Đây là cơ hội rất hữu ích và có ý nghĩa cho hai bên thảo luận các dự án cơ sở hạ tầng ngay

ở giai đoạn đầu Chúng tôi mong muốn sẽ tiếp tục tổ chức những cuộc họp tương tự như thế này

Cho đến nay, tình hình giải ngân tại các dự án nêu trên tiến triển thế nào, thưa Đại sứ?

Con số giải ngân thực tế sẽ được chốt thông qua quá trình đấu thầu, nhưng tôi có thể nói rằng, con số chi phí tối đa của 5 Dự án, gồm Dự án đường Hà Nội - Thái Nguyên, Cảng Cái Mép - Thị Vải, Đường cao tốc TP HCM - Long Thành - Dầu Giây, Dự án xây dựng đường nối cầu Nhật Tân và Sân bay Nội Bài, và Dự án xây dựng nhà ga T2 Nội Bài, đến nay là 140 tỷ yên, tức là khoảng 1,8 tỷ USD

Về tổng thể, kể từ năm 1992, khi Nhật Bản nối lại việc cung cấp ODA cho Việt Nam, Nhật Bản đã cung cấp khoảng 23 tỷ USD vốn ODA cho Việt Nam Trong năm tài khóa 2011, Nhật Bản đã cung cấp 270 tỷ yên (3,4 tỷ USD) vốn ODA cho 16 dự án tại Việt Nam Đây là mức cao kỷ lục trong lịch sử cung cấp ODA ra nước ngoài của Nhật Bản

Thời gian tới, Nhật Bản sẽ hướng vốn ODA tới lĩnh vực nào tại Việt Nam?

Nhật Bản sẵn sàng tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong việc phát triển cơ sở hạ tầng Việc hỗ trợ thêm về tài chính ở một mức độ nhất định là rất cần thiết đối với các dự án mà Nhật Bản đã và đang hợp tác, bao gồm các dự án lớn nói trên

Còn nhiều dự án rất quan trọng nữa ở phía trước, như Sân bay Long Thành ở tỉnh Đồng Nai và các dự

án đường sắt đô thị ở các thành phố lớn Do vậy, chúng tôi mong muốn thắt chặt hợp tác hiệu quả hơn nữa, trong đó có sự hợp tác của các nhà đầu tư tư nhân

Ngoài ra, Nhật Bản đang hỗ trợ Việt Nam trong lĩnh vực y tế, thông qua hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho

ba bệnh viện lớn là Bạch Mai (Hà Nội), Trung ương Huế (Thừa Thiên-Huế) và Chợ Rẫy (TPCHM); chuyển giao công nghệ sản xuất vắc-xin cho Trung tâm Nghiên cứu và Sản xuất vắc-xin và sinh phẩm y

tế tại Hà Nội Nhật Bản cũng đã và đang hỗ trợ Việt Nam trong việc xây dựng các trường học và trạm

xá ở các vùng nông thôn

Khi cung cấp ODA cho Việt Nam thì Chính phủ Nhật Bản có gặp khó khăn gì không, thưa Đại sứ?

Để khuyến khích nhiều đầu tư tư nhân từ Nhật Bản vào Việt Nam, các bạn cần phải có nhiều giải pháp phù hợp hơn, như việc đơn giản hóa các thủ tục và giảm thiểu các rủi ro cho khu vực kinh tế tư nhân Trên phương diện này, chúng tôi kỳ vọng rằng, Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục cải thiện môi trường đầu

tư, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài nói chung, và cho các công ty Nhật Bản nói riêng

Quan hệ tốt đẹp hôm nay giữa hai nước chúng ta được kết nối bởi lòng tin sâu sắc, và tôi cũng sẽ làm hết sức mình để xây dựng mối quan hệ này, nhằm đem lại lợi ích to lớn hơn nữa cho cả hai bên

Trang 14

KTĐT - Năm 2011, trên địa bàn thành phố có 20 dự án hạ tầng giao thông, đô thị được triển khai bằng nguồn vốn ODA với tổng vốn được giao gần 770 tỉ đồng Theo đánh giá của Sở KH&ĐT, trong khi một số

dự án đang thiếu vốn thì các dự án sử dụng vốn ODA đều được cấp ổn định nhưng tiến độ lại không như mong muốn Đặc biệt, có những dự án "siêu chậm", đến mức chưa triển khai bất cứ gói thầu nào trong khi thời hạn giải ngân theo hiệp định vay vốn với các tổ chức quốc tế đã sắp hết.

F acebook Twitter 0 bình chọn Viết bình luận Lưu bài này

Điểm mặt các dự án chậm tiến độ

Bà Nguyễn Minh Thuần, Trưởng phòng Hợp tác và tài trợ Quốc tế (Sở KH&ĐT) cho biết, bên cạnh các dự án triển khai đúng tiến độ đặt ra, vẫn còn một số dự án triển khai chậm, thậm chí là rất chậm Trong đó, chậm trễ nhất là Dự án phát triển giao thông đô thị Hà Nội do Sở GTVT làm chủ đầu tư Theo hiệp định vay vốn thì thời gian kết thúc dự án vào năm 2013 nhưng đến nay, nhiều hạng mục còn chưa xong khâu đấu thầu và chưa thể khởi công Cụ thể, theo báo cáo của Sở GTVT thì phải đến quý III/2011, mới có thể khởi công gói thầu xây dựng đường Vành đai 2 đoạn Nhật Tân - Xuân La Còn với đoạn Xuân La - Bưởi

và đoạn nút giao thông Bưởi - Cầu Giấy thì phải đến quý III và quý IV/2011 mới phê duyệt xong hồ sơ thẩm định Riêng hạng mục xây dựng tuyến buýt nhanh, khối lượng lớn (BRT) của dự án phải tới quý III/2011 mới tuyển chọn xong đơn vị tư vấn (đoạn Kim Mã - Khuất Duy Tiến) và cuối năm 2011 đấu thầu đoạn Khuất Duy Tiến - bến xe Yên Nghĩa…Được biết dự án này

đã được Sở GTVT rục rịch triển khai từ năm 2005, đến nay sau 6 năm vì nhiều lý do khác nhau vẫn chưa có gói thầu nào được khởi công.

Cầu vượt Ngã Tư Sở, một trong những dự án đã sử dụng vốn ODA hiệu quả.Ảnh: Thanh Hải

Một ví dụ khác là dự án phát triển cấp nước đô thị Việt Nam với việc xây dựng mạng đường ống và 3 trạm cấp nước tại các huyện Phú Xuyên, Đan Phượng và Hoài Đức (vốn vay của Ngân hàng Thế giới) Theo hiệp định tín dụng đã ký thì dự án sẽ kết thúc vào ngày 30/6/2012, tuy nhiên, dù chủ đầu tư là Công ty cấp nước Hà Đông đã rất nỗ lực, song đến nay công tác GPMB, thu hồi đất để xây dựng trạm cấp nước đều còn dang dở.

Một số dự án khác đang chậm tiến độ cũng được Sở KH&ĐT chỉ ra là: Dự án tuyến đường sắt đô thị số 2 đoạn Nam Thăng Long - Trần Hưng Đạo; Dự án tuyến đường sắt đô thị thí điểm Nhổn - ga Hà Nội…

Tập trung gỡ vướng

Tại cuộc họp kiểm điểm tình hình thực hiện các dự án ODA do UBND TP tổ chức mới đây, hầu hết chủ đầu tư các dự án bị chậm tiến độ đều cho rằng, vướng mắc trong GPMB là nguyên nhân chính kéo dự án chậm tiến độ Rõ nhất là công tác GPMB chậm tại gói thầu khu đề-pô và đường dẫn vào khu đề-pô của tuyến đường sắt đô thị thí điểm đoạn Nhổn - ga Hà Nội Lãnh đạo UBND huyện Từ Liêm cho biết, dự án phải bố trí tái định cư bằng đất cho khoảng 50 hộ dân Huyện đã báo cáo thành phố và thành phố đã chỉ đạo các sở phải giải quyết quĩ đất tái định cư trước ngày 20/7nhưng đến nay, huyện vẫn chưa nhận được văn bản giới thiệu địa điểm Vì không có quĩ đất tái định cư nên huyện không thể phê duyệt được phương án GPMB "Đối với những diện tích đất đã hoàn thành GPMB đề nghị chủ đầu tư nên thi công ngay, bởi nếu thu hồi xong rồi lại bỏ đấy sẽ gây bức xúc cho dân" - ông Thư nói.

Về dự án phát triển cấp nước tại huyện Phú Xuyên, Đan Phượng và Hoài Đức, đại diện Công ty cấp nước Hà Đông cho biết: Hầu hết các hạng mục của dự án đều đã được triển khai Nhưng riêng trạm cấp nước ở Hoài Đức, do địa điểm để xây dựng lại nằm trong Khu đô thị phía Nam đường 32 thuộc Công ty CP Đầu tư và Phát triển Lũng Lô quản lý Công ty cấp nước Hà Đông

đã nhiều lần liên hệ với Công ty này nhưng không nhận được sự hợp tác.

Để đẩy nhanh tiến độ các dự án sử dụng nguồn vốn ODA, Phó Chủ tịch UBND TP Nguyễn Văn Khôi yêu cầu các sở, ngành, chủ đầu tư tập trung cùng nhau tháo gỡ các vướng mắc Cụ thể, Phó Chủ tịch yêu cầu Sở Qui hoạch - Kiến trúc phải có ngay văn bản giới thiệu địa điểm khu tái định cư đối với khu đề-pô tại huyện Từ Liêm, nhằm tạo điều kiện cho huyện sớm phê duyệt

Trang 15

phương án GPMB Đồng thời chủ đầu tư Dự án đường sắt đô thị thí điểm Nhổn - ga Hà Nội yêu cầu nhà thầu Vinaconex đẩy nhanh tiến độ thi công phần hạ tầng kỹ thuật Nếu nhà thầu vẫn tiếp tục chậm thì lập biên bản và thay thế nhà thầu khác, tránh tình trạng chủ đầu tư bị động và phụ thuộc vào nhà thầu Đối với Dự án phát triển giao thông đô thị Hà Nội, yêu cầu Sở GTVT phải đẩy nhanh công tác chuẩn bị đầu tư của toàn bộ dự án Đồng thời khẩn trương tổ chức đấu thầu, chấm thầu và khởi công xây dựng đường Vành đai 2.n

Các sở, ngành, quận, huyện cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án ODA, vì thời hạn giải ngân cuối cùng vào năm 2013, do vậy, khối lượng xây lắp cơ bản phải xong trong năm 2012 thì mới hoàn thành việc giải ngân Với tiến độ một số dự án ODA như hiện nay, nếu không giải ngân kịp, hậu quả sẽ rất lớn, đặc biệt là với dự án "siêu" chậm như Dự án phát triển giao thông đô thị Hà Nội.

Ông Trần Đức Vũ

Phó Giám đốc Sở KH& ĐT

Tìm hiểu nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức – ODA

TS Nguyễn Hữu Hiểu Trường Đào tạo và PTNNL

Ngân Hàng Công Thương Việt Nam đang tích cực chủ động tìm kiếm các dự án sử dụng nguồn vốn ODA từ các định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), để trở thành ngân hàng phục vụ Việc giải ngân các dự án ODA có ý nghĩa quan trọng, vừa góp phần tăng huy động vốn ngoại tệ, tăng thu phí dịch vụ, vừa nâng cao uy tín, mở rộng thị trường và phạm vi hoạt động của Ngân hàng Để góp phần nâng cao hiểu biết về nguồn vốn này, tại bài viết này tác giả tập trung nghiên cứu tìm hiểu xuất xứ, đặc điểm và vai trò của nguồn vốn ODA đối với sự phát triển kinh tế, xã hội (KTXH) của nước tiếp nhận

Xuất xứ của ODA

Đại chiến Thế giới thứ 2 kết thúc cũng là thời điểm mở đầu cho một cuộc chiến mới kéo dài gần nửa thế

kỷ, đó làchiến tranh lạnh giữa phe Xã hội chủ nghĩa (XHCN) và Tư bản chủ nghĩa, mà đứng đầu là Liên

Xô và Hoa Kỳ Hai cường quốc này thực thi nhiều biện pháp, đặc biệt là về kinh tế để củng cố hệ thống đồng minh của mình

Đối với Hoa Kỳ, nền kinh tế không những không bị tàn phá mà ngày càng giầu có nhờ chiến tranh Năm

1945, GNP của Hoa Kỳ là 213,5 tỷ USD, bằng 40% tổng sản phẩm toàn thế giới Ở thái cực khác, các nước đồng minh của Hoa Kỳ lại chịu tác động nặng nề của cuộc chiến tranh Sự yếu kém về kinh tế của các nước này khiến Hoa Kỳ lo ngại trước sự mở rộng của phe XHCN Để ngăn chặn sự phát triển đó giải pháp quan trọng lúc bấy giờ là giúp các nước tư bản sớm hồi phục kinh tế Năm 1947, Hoa Kỳ triển khai kế hoạch Marshall, viện trợ ồ ạt cho các nước Tây Âu Từ năm 1947 đến 1951 Hoa Kỳ viện trợ cho các nước Tây Âu tổng cộng 12 tỷ USD (tương đương 2,2% GDP của thế giới và 5,6% GDP của Hoa Kỳ lúc bấy giờ) Về phía mình, Liên Xô cũng sử dụng biện pháp trợ giúp kinh tế để củng cố và gia tăng số lượng các nước gia nhập phe XHCN Với tinh thần “quốc tế vô sản” Liên Xô đã tài trợ cho nhiều quốc gia trên thế giới, từ các nước ở châu Âu, châu Á, đến châu Phi và Mỹ La-tinh Năm 1991, khi Liên Xô tan rã, tổng số tiền các nước còn nợ Liên Xô lên đến con số khổng lồ, quy đổi ra đôla Mỹ là 120 tỷ.Viện trợ của Hoa Kỳ cho các nước Tây Âu và của Liên Xô cho các nước XHCN được coi là các khoản ODA đầu tiên Mặc dù mục tiêu chính của các khoản viện trợ này là chính trị nhưng chúng cũng đã có tác dụng nhất định giúp các nước tiếp nhận phát triển KTXH Đến năm 1960, trước sự đấu tranh mạnh

mẽ của các nước đang và kém phát triển, cộng với nhận thức thay đổi của các nước giầu đối với sự phát triển của các nước nghèo, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) thành lập Uỷ ban Hỗ trợ phát triển (DAC) Uỷ ban này có nhiệm vụ yêu cầu, khuyến khích và điều phối viện trợ của các nước OECD cho các nước đang và kém phát triển Kể từ khi bản báo cáo đầu tiên của DAC ra đời vào năm

1961, thuật ngữ ODA được chính thức sử dụng, với ý nghĩa là sự trợ giúp có ưu đãi về mặt tài chính của các nước giầu, các tổ chức quốc tế cho các nước nghèo.

Đặc điểm của ODA

Một khoản tài trợ được coi là ODA nếu đáp ứng đầy đủ 3 điều kiện sau:

Trang 16

Một là: Được các tổ chức chính thức hoặc đại diện của các tổ chức chính thức cung cấp Tổ chức

chính thức bao gồm các nhà nước mà đại diện là Chính phủ, các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia, và các tổ chức phi chính phủ hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận Gắn với nguồn cung cấp, người ta chia ODA thành hai dạng: ODA song phương và ODA đa phương

ODA song phương: Chủ yếu do các nước là thành viên của DAC cung cấp Hiện nay Uỷ ban này có 22

quốc gia, hàng năm viện trợ một lượng ODA chiếm tỷ trọng khoảng 85% của toàn thế giới Năm 2006, các nước DAC viện trợ 103 tỷ USD và năm 2007: 102 tỷ USD Dự kiến trong ngắn hạn và trung hạn, lượng ODA do các quốc gia này cung cấp tiếp tục tăng

ODA đa phương: Do các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu, các Tổ chức tài

chính quốc tế như IMF, WB, ADB, Ngân hàng phát triển châu Phi, Quỹ viện trợ của OPEC, Quỹ Cô oét

và các Tổ chức phi chính phủ cung cấp

Hai là: Mục tiêu chính là giúp các nước đang phát triển (ĐPT) phát triển kinh tế, nâng cao phúc lợi xã

hội Các lĩnh vực được ưu tiên sử dụng vốn ODA bao gồm: Xoá đói, giảm nghèo, nông nghiệp và phát triển nông thôn; cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật như giao thông vận tải, thông tin liên lạc, năng lượng; cơ

sở hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường; các vấn đề xã hội như tạo việc làm, phòng chống dịch bệnh, phòng chống các tệ nạn xã hội; cải cách hành chính, tư pháp, tăng cường năng lực của cơ quan quản lý nhà nước, cải cách thể chế…

Ba là: Thành tố hỗ trợ (Grant element - GE) phải đạt ít nhất 25% Thành tố hỗ trợ, còn được gọi là yếu

tố không hoàn lại là một chỉ số biểu hiện tính “ưu đãi” của ODA so với các khoản vay thương mại theo điều kiện thị trường Thành tố hỗ trợ càng cao càng thuận lợi cho nước tiếp nhận Chỉ tiêu này được xác định dựa trên tổ hợp các yếu tố đầu vào: Lãi suất, thời gian ân hạn, thời hạn cho vay, số lần trả nợ trong năm, và tỷ lệ chiết khấu Công thức xác định như sau:

Trong đó:

GE: Yếu tố không hoàn lại

r: Tỷ lệ lãi suất hàng năm

a: Số lần trả nợ trong năm (theo điều kiện của bên tài trợ)

d: Tỷ lệ chiết khấu của mỗi kỳ d = (1 + d’ )1/a - 1

d’: Tỷ lệ chiết khấu của cả năm (theo thông báo của OECD hoặc các thoả thuận của bên tài trợ) G: thời gian ân hạn

M: Thời hạn cho vay

Vai trò của ODA

Nguồn vốn ODA được đánh giá là nguồn ngoại lực quan trọng giúp các nước ĐPT thực hiện các chiến lược phát triển KTXH của mình Vai trò của ODA thể hiện trên các giác độ cơ bản như:

- ODA là nguồn vốn bổ sung giúp cho các nước nghèo đảm bảo chi đầu tư phát triển, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước Vốn ODA với đặc tính ưu việt là thời hạn cho vay dài thường là 10 - 30 năm, lãi suất thấp khoảng từ 0,25% đến 2%/năm Chỉ có nguồn vốn lớn với điều kiện cho vay ưu đãi như vậy Chính phủ các nước ĐPT mới có thể tập trung đầu tư cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế như đường sá, điện, nước, thuỷ lợi và các hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế Những cơ sở hạ tầng KTXH được xây dựng mới hoặc cải tạo nhờ nguồn vốn ODA là điều kiện quan trọng thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế của các nước nghèo Theo tính toán của các chuyên gia của WB, đối với các nước ĐPT có thể chế và chính sách tốt, khi ODA tăng lên 1% GDP thì tốc độ tăng trưởng tăng thêm 0,5%

Trang 17

- ODA giúp các nước ĐPT phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường Một lượng ODA lớn được các nhà tài trợ và các nước tiếp nhận ưu tiên dành cho đầu tư phát triển giáo dục, đào tạo, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của lĩnh vực này, tăng cường một bước cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc dạy và học của các nước ĐPT Bên cạnh đó, một lượng ODA khá lớn cũng được dành cho các chương trình

hỗ trợ lĩnh vực y tế, đảm bảo sức khoẻ cộng đồng Nhờ có sự tài trợ của cộng đồng quốc tế, các nước ĐPT đã gia tăng đáng kể chỉ số phát triển con người của quốc gia mình

- ODA giúp các nước ĐPT xoá đói, giảm nghèo Xoá đói nghèo là một trong những tôn chỉ đầu tiên được các nhà tài trợ quốc tế đưa ra khi hình thành phương thức hỗ trợ phát triển chính thức Mục tiêu này biểu hiện tính nhân đạo của ODA Trong bối cảnh sử dụng có hiệu quả, tăng ODA một lượng bằng 1% GDP sẽ làm giảm 1% nghèo khổ, và giảm 0,9% tỷ lệ tỷ vong ở trẻ sơ sinh Và nếu như các nước giầu tăng 10 tỷ USD viện trợ hằng năm sẽ cứu được 25 triệu người thoát khỏi cảnh đói nghèo

- ODA là nguồn bổ sung ngoại tệ và làm lành mạnh cán cân thanh toán quốc tế của các nước ĐPT Đa phần các nước ĐPT rơi vào tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai, gây bất lợi cho cán cân thanh toán quốc tế của các quốc gia này ODA, đặc biệt các khoản trợ giúp của IMF có chức năng làm lành mạnh hoá cán cân vãng lai cho các nước tiếp nhận, từ đó ổn định đồng bản tệ

- ODA được sử dụng có hiệu quả sẽ trở thành nguồn lực bổ sung cho đầu tư tư nhân Ở những quốc gia có cơ chế quản lý kinh tế tốt, ODA đóng vai trò như nam châm “hút” đầu tư tư nhân theo tỷ lệ xấp xỉ

2 USD trên 1 USD viện trợ Đối với những nước đang trong tiến trình cải cách thể chế, ODA còn góp phần củng cố niềm tin của khu vực tư nhân vào công cuộc đổi mới của Chính phủ Tuy nhiên, không phải lúc nào ODA cũng phát huy tác dụng đối với đầu tư tư nhân Ở những nền kinh tế có môi trường bị bóp méo nghiêm trọng thì viện trợ không những không bổ sung mà còn “loại trừ” đầu tư tư nhân Điều này giải thích tại sao các nước ĐPT mắc nợ nhiều, mặc dù nhận được một lượng ODA lớn của cộng đồng quốc tế song lại không hoặc tiếp nhận được rất ít vốn FDI

- ODA giúp các nước ĐPT tăng cường năng lực và thể chế thông qua các chương trình, dự án hỗ trợ công cuộc cải cách pháp luật, cải cách hành chính và xây dựng chính sách quản lý kinh tế phù hợp với thông lệ quốc tế

Tuy nhiên, nguồn vốn ODA cũng tiềm ẩn nhiều hậu quả bất lợi đối với các nước tiếp nhận nếu ODA không được sử dụng hiệu quả, như làm tăng gánh nặng nợ quốc gia, lệ thuộc chính trị vào nhà tài trợ,

Câu trả lời hay nhất - Do người đọc bình chọn

Hỗ trợ phát triển chính thức (hay ODA, viết tắt của cụm từ Official Development Assistance), là một hình thức đầu tư nước ngoài Gọi là Hỗ trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài Đôi khi còn gọi là viện trợ Gọi là Phát triển vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư Gọi là Chính thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay

Số liệu năm 2004 của OECD cho biết lượng vốn ODA cung cấp bởi một số nước phát triển:

Nước Vốn (triệu USD) % thay đổi hằng năm % GNI

Trang 18

Hà Lan 4200 6,4 0,74

Thụy Điển 2700 12,7 0,77

Mục lục

1 Ưu điểm của ODA

2 Bất lợi khi nhận ODA

3 Liên kết ngoài

4 Xem thêm

Ưu điểm của ODA

Lãi suất thấp (dưới 3%, trung bình từ 1-2%/năm)

Thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn dài (25-40 năm mới phải hoàn trả và thời gian ân hạn 8-10 năm)

Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại, thấp nhất là 25% của tổng số vốn ODA

Bất lợi khi nhận ODA

Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những lợi ích và chiến lược như mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục tiêu về an ninh - quốc phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị Vì vậy, họ đều có chính sách riêng hướng vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay họ có lợi thế (những mục tiêu ưu tiên này thay đổi cùng với tình hình phát triển kinh tế - chính trị - xã hội trong nước, khu vực và trên thế giới).Ví dụ:

Về kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hoá của nước tài trợ Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao

Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng thường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù hợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước nghèo Ví như các dự án ODA trong lĩnh vực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phần trả cho các chuyên gia nước ngoài thường chiếm đến hơn 90% (bên nước tài trợ ODA thường yêu cầu trả lương cho các chuyên gia, cố vấn dự án của họ quá cao so với chi phí thực tế cần thuê chuyên gia như vậy trên thị trường lao động thế giới)

Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất

Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưng thông thường, các danh mục dự

án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia

Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn lại tăng lên

Ngoài ra, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án… khiến cho hiệu quả và chất lượng các công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp có thể đẩy nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần

Nguồn: wikipedia vietnam

• cách đây 5 năm

• Báo cáo vi phạm

Giải ngân nguồn vốn ODA là gì?

vì sao nhật lại giảm nguồn vốn đầu tư ODA vào Việt Nam trong năm 2010?

• cách đây 2 năm

• Báo cáo vi phạm

HIỂN B

Trang 19

Câu trả lời hay nhất - Do người đọc bình chọn

- Giải ngân nguồn vốn ODA là chính phủ được đầu tư nguồn vốn này phải có những chương trình,dự

án khả thi để sử dụng nguồn vốn ODA một cách thực sự có hiệu quả,dưới sự giám sát của những tổ chức và Chính phủ trực tiếp đầu tư

- Chỉ giảm nguồn vốn vay ưu đãi ODA do nhà nước hạn chế dần nguồn vốn vay để đảm bảo cân đối khả năng trả nợ sau này,còn nguồn vốn ODA viện trợ không hoàn lại vẫn có xu thế tăng lên hàng năm

do khả năng sử dụng hiệu quả nguồn vốn này của Việt nam.Thân ái chào bạn

ODA là gì ?

Giải thích về nguồn vốn ODA như sau:

- Hỗ trợ phát triển chính thức (hay ODA, viết tắt của cụm từ Official Development Assistance), là một hình thức đầu tư nước ngoài Gọi là Hỗ trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài Đôi khi còn gọi là viện trợ Gọi là Phát triển vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư Gọi là Chính thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay.

- ODA có hai dạng:

+ Dạng grant- cho luôn, không hoàn lại.

+ Dạng thứ hai là lending- cho vay với lãi suất cực kỳ thấp (0.75%/năm) và thời gian hoàn trả cực kỳ dài: 20 -40 năm.

- ODA là của các chính phủ/ tổ chức cho chính phủ Nếu là của chính phủ cho chính phủ, người ta gọi là viện trợ song phương, nếu là tổ chức (Ngân hàng thế giới, ngân hàng phát triển châu á, EU) thì là viện trợ đa phương.

- ODA được phân bổ theo dự án Chính phủ nhận viện trợ lên danh sách các lĩnh vực kêu gọi vốn viện trợ phát triển, hàng năm chính phủ họp với nhà tài trợ (hội nghị tư vấn các nhà tài trợ) để kêu gọi tài trợ, các nhà tài trợ sẽ xác định lĩnh vực cần viện trợ, xây dựng dự án và tài trợ theo dự án.

- Các ngành nghề được hưởng ODA của VN nhiều nhất ở VN là các ngành thuộc hạ tầng: Giao thông, đô thị, nước sạch và môi trường; thuộc lĩnh vực xoá đói giảm nghèo, thuộc lĩnh vực phát triển con người (y tê/ giáo dục), nông nghiệp (thuỷ sản)- nói

chung là thuộc hạ tầng của nền kinh tế.

Hiện tại, ngân hàng thế giới là cơ quan viện trợ đa phương lớn nhất, Nhật là quốc gia viện trợ song phương lớn nhất cho Việt Nam Xét về viện trợ không hoàn lại thì Pháp

là lớn nhất và Đan Mạch là thứ nhì.

- ODA của VN sẽ giảm về quy mô khi VN ra khỏi danh sách các nước thu nhập thấp (dự tính tới năm 2010 thu nhập bình quân đầu người của VN đạt khoảng USD 1000- USD 1,100- khi đó chúng ta sẽ thuộc khối các nước có thu nhập trung bình- dĩ nhiên là trung bình thấp) khi đó quy mô ODA sẽ giảm, vì lúc đó cần ưu tiên cho các nước kém phát triển hơn.

Số liệu năm 2004 của OECD cho biết lượng vốn ODA cung cấp bởi một số nước phát triển:

Nước Vốn (triệu USD) % thay đổi hằng năm % GNI

Hoa Kỳ 19000 16,4 0,16

Nhật Bản 8900 -0,2 0,19

Pháp 8500 16,8 0,42

Anh 7800 24,7 0,36

Trang 20

Đức 7500 10,5 0,28

Hà Lan 4200 6,4 0,74

Thụy Điển 2700 12,7 0,77

Ưu điểm của ODA

Lãi suất thấp (dưới 3%, trung bình từ 1-2%/năm)

Thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn dài (25-40 năm mới phải hoàn trả và thời gian ân hạn 8-10 năm)

Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại, thấp nhất là 25% của tổng số vốn ODA

Bất lợi khi nhận ODA

Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những lợi ích và chiến lược như mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục tiêu về an ninh - quốc phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị Vì vậy, họ đều có chính sách riêng hướng vào một

số lĩnh vực mà họ quan tâm hay họ có lợi thế (những mục tiêu ưu tiên này thay đổi cùng với tình hình phát triển kinh tế - chính trị - xã hội trong nước, khu vực và trên thế giới).Ví dụ:

Về kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hoá của nước tài trợ Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế,

có khả năng sinh lời cao

Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng thường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù hợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước nghèo Ví như các dự án ODA trong lĩnh vực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phần trả cho các chuyên gia nước ngoài thường chiếm đến hơn 90% (bên nước tài trợ ODA thường yêu cầu trả lương cho các chuyên gia, cố vấn dự án của họ quá cao so với chi phí thực tế cần thuê chuyên gia như vậy trên thị trường lao động thế giới)

Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất

Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưng thông thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia

Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn lại tăng lên

Ngoài ra, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án… khiến cho hiệu quả và chất lượng các công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp có thể đẩy nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần.

Những bài viết ngẫu nhiên trong chuyên mục:

• 31/7/2009,”Bộ năm chủ chốt” tăng trần kéo VN-Index tăng hơn 14 điểm

• Sàn Thương Mại Điện Tử B2B - Xu thế phát triển tất yếu của kinh tế thế

Trang 21

• Bạc – Bão giá định hình phía chân trời

• Một cách nhìn mới về cơ hội lập nghiệp

• Cuộc “lật đổ” ngoạn mục của USD

• Nhận định thị trường chứng khoán tuần từ 17/8 – 21/8

• Khám phá sức mạnh của chất lượng dịch vụ

• Sự kiện lớn nhất VIỆT NAM từ trước đến nay!

• ai có cái Báo Cáo Thực Tập Môn Kế Toán giúp mình với !

• ai cũng cần đọc hehe

Kinh tế học : Vốn ODA là gì?

Written By Nguyen Xuan on 10.9.10 | 23:41

Kinh tế học : Vốn ODA là gì?

+ Gọi là Hỗ trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất

thấp với thời gian vay dài Đôi khi còn gọi là viện trợ

+ Gọi là Phát triển vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao

+ Gọi là Chính thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay

Thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn dài (25-40 năm mới phải hoàn trả và thời gian ân hạn

Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại, thấp nhất là 25% của tổng số vốn ODA

Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những lợi ích và chiến lược như mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục tiêu về an ninh - quốc phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị Vì vậy, họ đều có chính sách riêng hướng vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay họ có lợi thế

Trang 22

Tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án… khiến cho hiệu quả và chất lượng các công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp có thể đẩy nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần.Nguồn vốn ODA có thể theo song phương hoặc đa phương (thông qua các tổ chức kinh tế).

Thảo luận:Hỗ trợ phát triển chính thức

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

[ sửa ]Đề nghị cách dịch mới cho ODA

ODA (Official Development Assistance) nên được dịch là Viện trợ phát triển chính phủ (không nên là "hỗ

trợ phát triển chính thức") Ở đây, chúng ta lủng củng cách dịch từ "Official" = "chính thức" hay "chính phủ";

và "Assistance" = "hỗ trợ" hay "viện trợ"

 Lí do: "Hỗ trợ" mang hàm ý "giúp đỡ" trong phạm vi cá nhân, không gian nhỏ (ví dụ: hàng xóm hỗ trợ lẫn nhau; anh em hỗ trợ (giúp đỡ) lẫn nhau trong lúc khó khăn ) Trong khi đó, "viện trợ" cũng mang hàm ý "giúp đỡ" nhưng phạm vi không gian lớn hơn và tương đối cũng mang tính cấp bách hơn (ví dụ: viện trợ kinh tế, viện trợ không hoàn lại )

 Mâu thuẫn: Chúng ta có sự mâu thuẫn từ ngữ khi sử dụng cụm từ "viện trợ không hoàn lại" để nói một phần của nguồn vốn ODA (vì đương nhiên, tất cả nguồn vốn ODA không phải là không cần hoàn lại

mà phải hoàn lại hay "trả nợ" với lãi suất tương đối thấp), nhưng khi dịch cụm từ ODA lại sử dụng từ "hỗ trợ" Hơn nữa, dùng từ "chính thức" để nói về khoản ODA có hàm ý cho rằng các nguồn viện trợ khác ngoài ODA là "phi chính thức" và gán ép cho các nguồn này một ấn tượng không được tích cực cho lắm

vì không chính thức cũng có nghĩa là không danh chính ngôn thuận, không có sự đồng thuận, không đàng hoàng Điều này một mặt vô tình thể hiện sự "lên mặt" không đúng lẽ của ODA, mặt khác cũng

vô tình xúc phạm danh dự đến các khoản viện trợ ngoài ODA và do đó nên sử dụng từ "chính phủ" thay

vì "chính thức" Song song đó, việc nên sử dụng từ "chính phủ" thay vì "chính thức" còn có hàm ý nâng cao trách nhiệm của "chính phủ" trong việc sử dụng nguồn viện trợ này để phát triển chính phủ (= quốc gia) chứ không nên phí phạm vào những mục đích mang tính cục bộ hay cá nhân NOB (thảo luận) 03:33, ngày 11 tháng 12 năm 2007 (UTC)

Ở Wikipedia đã từng có sự tranh luận về việc nên dùng (1) tên gọi phổ biến dù có thể không hoàn toàn chính xác vì nhiều người sẽ tra tìm cái tên như vậy; và (2) tên gọi thật chính xác cho dù có thể chẳng mấy ai dùng

nó Và kết quả là cách thứ nhất được ủng hộ hơn và vẫn áp dụng bấy lâu nay Với bài này, tôi vốn thích

dùng ODA hoặc Official Development Assistance cơ, nhưng lại có một sự đồng thuận nữa là khi một khái

niệm đã có tên gọi tiếng Việt thì WP phải sử dụng tên gọi bằng tiếng Việt Nếu NOB cho mọi người thấy "Viện trợ phát triển chính phủ" là tên gọi bằng tiếng Việt hay được sử dụng nhất trong tài liệu và trong đời sống, tôi

Trang 23

sẽ ủng hộ bạn đổi tên bài này sang cách gọi mà bạn đề nghị. Bình Giang (thảo luận) 08:31, ngày 11 tháng

12 năm 2007 (UTC)

Dùng Google sẽ thấy:

 "Viện trợ phát triển chính phủ" chỉ có 4 hit [1]

 "Hỗ trợ phát triển chính thức" có 118000 hit [2]

Như vậy thì tại sao cần đổi tên thành "Viện trợ phát triển chính phủ"?

Mekong Bluesman (thảo luận) 12:55, ngày 11 tháng 12 năm 2007 (UTC)

Nếu nói như Mekong Bluesman thì sẽ chẳng có gì gọi là "đổi mới", sáng tạo cả! Những cái gì chưa

có từ đó đến giờ thì tìm trong google hay gì gì đó thì làm sao có Vấn đề ở đây là sự hợp lí, tư duy có lô-gic Thái độ lười biếng suy nghĩ dẫn con người đến chỗ dễ dãi một cách thờ ơ và vô trách nhiệm Tôi muốn nếu có ai đó không đồng ý với đề nghị tôi đưa ra, thì nên có những ý kiến đóng góp "thông minh" hơn NOB (thảo luận) 17:52, ngày 12 tháng 12 năm 2007 (UTC)

"Nếu nói như Mekong Bluesman thì sẽ chẳng có gì gọi là "đổi mới", sáng tạo cả!" Nhưng

Wikipedia không cho ai "sáng tạo" cái gì cả Tôi không tạo ra cái quy luật đó Nguyễn Cường chắc

đã không làm việc tai đây lâu nên đã quên các quy luật của Wikipedia

Ngoài ra, một bách khoa toàn thư chỉ nhắc lại kiến thức phổ thông, một tạp chí cho các ngành chuyên môn mới là nơi sáng tạo

Mekong Bluesman (thảo luận) 20:31, ngày 12 tháng 12 năm 2007 (UTC)

Trong bài cần có một nội dung bàn về tên gọi của nó dựa trên vốn hiểu biết tiếng Anh của các

vị giỏi tiếng Anh Nhờ đọc trang này tôi, một người ngu dốt tiếng Anh, hiểu được tên của ODA

là gì Xin cảm ơn NOB Nhưng tôi hiểu tiếng Việt có hơi khác mọi người ở chỗ:

"hỗ trợ" được tôi và một số người Việt hơi già già hiểu có hai nghĩa:1) là sự giúp đỡ lẫn

nhau, giúp anh mà cũng là giúp tôi, cả hai bên cùng có lợi cả 2)là sự giúp đỡ cho mỗi một bên, nhưng được nói cho có vẻ tế nhị, để người ta đừng có mặc cảm "ăn xin", không làm mất thể diện người được nhận, là ngôn từ ngoại giao về "sự cho không" Ví dụ "hỗ trợ" nạn nhân bão lụt, "hỗ trợ" nạn nhân cầu Cần Thơ, nghĩa là giúp cho không, cho luôn, cho đứt đoạn, mà không mưu cầu có một lợi ích gì cho bản thân người cho từ người được nhận

Và được nói một cách tôn trọng người nhận, vì hoàn cảnh khó khăn phải nhận, chứ không

là của bố thí cho ăn xin Rất là lịch sự và nhân bản

" viện trợ" nghĩa chính là đem nguồn lực đến giúp cho ai Hoặc nghĩa khác là từ ngoại

giao, xã giao nói về một khoản "cho vay" nhằm làm cho làm cho tình hình nước người ta tốt lên"

Trong bài có câu: Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại, thấp nhất là

25% của tổng số vốn ODA." Không hiểu là có một khoản viện trợ không hoàn lại cụ thể có thực

Trang 24

kèm theo khoản vay hay là có một khoản viện trợ không hoàn lại "có được" do so sánh lãi suất với một khoản vay thương mại bình thường tương ứng cùng giá trị?

ODA nghĩa đen là khoản vay ưu đãi nhằm mục đích phát triển dành cho chính phủ?

Bánh Ướt (thảo luận) 07:17, ngày 13 tháng 12 năm 2007 (UTC)

Hỗ trợ phát triển chính thức (hay ODA, viết tắt của cụm từ Official Development Assistance), là một hình thức đầu tư nước ngoài Gọi là Hỗ trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài Đôi khi còn gọi là viện trợ Gọi là Phát triển vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư

* Lãi suất thấp (dưới 2%, trung bình từ 0.25%năm)

* Thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn dài (25-40 năm mới phải hoàn trả và thời gian ân hạn

8-10 năm)

* Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại, thấp nhất là 25% của tổng số vốn ODA

Dự thảo mới nhất sửa đổi, bổ sung Nghị định 17 về vận động, quản lý, sử dụng nguồn hỗ trợ

phát triển chính thức (ODA) vừa được Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình lên Chính phủ cách đây ít

hôm, trong đó quy định rõ trách nhiệm của các bên liên quan khi sử dụng nguồn tài trợ này

Một quan chức của bộ cho TS biết, văn bản đã chính thức được trình lên Thủ tướng Chính

phủ theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng, đặc biệt là sau phiên họp giao ban Chính phủ ngày

22/7 vừa qua

Cầu vượt Ngã Tư Sở - một công trình có sử dụng vốn ODA.

Ảnh: Hoàng Hà

“Việc sửa đổi, bổ sung Nghị định 17 không chỉ làm cho việc quản lý, sử dụng ODA tại Việt

Nam hài hòa với thông lệ quốc tế, mà còn giúp giảm tham nhũng, tiêu cực nhờ việc quy định

rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của từng bộ, ngành, đơn vị thực hiện dự án”, ông nói

Trước đó, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu Bộ Kế hoạch & Đầu tư chủ trì cùng Văn

phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan báo cáo việc sửa đổi Nghị định 17/2001 ngay

trong tháng 7

Sau vu tiêu cực tại PMU18 , quá trình quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA là một vấn đề được

dư luận đặc biệt quan tâm Không chỉ người dân mà các nhà tài trợ quốc tế cũng kỳ vọng

trong tương lai gần các tiêu cực, tham nhũng liên quan đến ODA tại Việt Nam sẽ được ngăn

Trang 25

chặn để nguồn viện trợ phát huy tác dụng.

Tại hội nghị giữa kỳ nhóm tư vấn Các nhà tài trợ diễn ra hồi tháng 6 ở Nha Trang, các nhà tài trợ nước ngoài đã nhận định tham nhũng ở Việt Nam, đặc biệt là tiêu cực liên quan đến sử dụng vốn ODA, đã đến mức báo động và Chính phủ cần sớm có biện pháp khắc phục Nếu không, rất có khả năng họ sẽ giảm hoặc thấm chí rút lại vốn đã cho vay, theo như tuyên bố của Đại sứ Thụy Điển Anna Linstedt

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;

Căn cứ Pháp lệnh về Ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 07 tháng 10 năm 1989;

Để thống nhất quản lý nguồn hỗ trợ phát triển chính thức;

Theo đề nghị của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1 Ban hành kèm theo Nghị định này bản Quy chế Quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ

phát triển chính thức, gọi tắc là ODA.

Điều 2 Nghị định này có hiệu lực từ ngày ký Những quy định đã ban hành trước đây trái

với Quy chế này đều bãi bỏ.

Trang 26

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước chịu trách nhiệm hướng dẫn thực hiện Quy chế này.

Điều 3 Bộ trưởng, Thủ tướng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ

ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Thủ trưởng cơ quan Trung ương của các đoàn thể quần chúng có trách nhiệm thi hành Nghị định này.

QUY CHẾ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC

(Ban hành kèm theo Nghị định số 20-CP ngày 15/3/1994).

CHƯƠNG I QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1 Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoan nghênh các Chính

phủ, tổ chức nước ngoài hỗ trợ phát triển chính thức cho Việt Nam trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam.

Chính phủ Việt Nam cam kết sử dụng một cách có hiệu quả nhất, đúng mục tiêu và tuân thủ nghiêm chỉnh các Điều ước quốc tế về hỗ trợ phát triển chính thức mà Chính phủ Việt Nam đã ký kết với các Chính phủ và tổ chức nước ngoài.

Điều 2 Hỗ trợ phát triển chính thức (sau đây gọi là ODA) nói trong Quy chế này được

hiểu là một hình thức hợp tác phát triển giữa Việt Nam với Chính phủ nước ngoài, các tổ chức quốc tế liên Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ (sau đây gọi tắt là Bên nước ngoài).

Điều 3 ODA viện trợ không hoàn lại và các khoản cho vay với các điều kiện ưu đãi về lãi

suất và thời hạn thanh toán.

ODA bao gồm các loại chủ yếu sau đây:

Hỗ trợ cán cân thanh toán bằng tiền mặt hoặc hàng hoá;

Hỗ trợ theo chương trình;

Hỗ trợ theo dự án.

Điều 4 ODA dành cho Việt Nam là một trong những nguồn ngân sách quan trọng của

Nhà nước được sử dụng cho những mục tiêu ưu tiên của công cuộc xây dựng và phát triển

Ngày đăng: 27/08/2014, 23:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w