Ở Malaysia, các nhà khoa học nơi đây xây dựng nhiều làng sinh thái hữu cơ, nhằm tạo ra các sản phẩm hữu cơ sạch và quá trình canh tác không ảnh hưởng tới môi trường sinh thái.. Làng sinh
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA SAU ĐẠI HỌC
CHUYÊN ĐỀ
MÔN: KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Giáo viên hướng dẫn: TS Trần Thị Thu Hà Học viên : Nguyễn Công Sỹ Lớp : 20A – Quản lý tài nguyên rừng
Hà Nội - 2013
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN III ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 8 PHẦN IV: MỤC TIÊU, PHẠM VI, ĐỐI TƯƠNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .13
4.1 M ỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
13 4.2 P HẠM VI NGHIÊN CỨU
13 4.3 Đ ỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
13 4.4 N ỘI DUNG NGHIÊN CỨU
13
X ÂY DỰNG CÁC HOẠT ĐỒNG NHẰM CẢI THIỆN HỆ SINH THÁI , TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT , NÂNG CAO ĐỜI SỐNG NGƯỜI DÂN Ở THÔN T ÒNG C HÚ I, XÃ C ỐC S AN , B ÁT X ÁT , L ÀO CAI
13 4.5 P HƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
13
PHẦN V KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 14
6.1.C ÁC KẾT QUẢ TỪ CỘNG CỤ PRA
14 6.2.C ÁC HOẠT ĐỘNG ĐỀ RA ĐỂ CẢI THIỆN HỆ SINH THÁI , NÂNG CAO NĂNG SUẤT , DIỆN TÍCH CANH TÁC NÔNG LÂM NGHIỆP
17
PHẦN VII KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 18
7.1 K ẾT LUẬN
18 7.2 K IẾN NGHỊ
18
Trang 3PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Em đang thực hiện dự án “Xây dựng làng sinh thái tại hai huyện Bát Xát, Lào Cai và Ngân Sơn – Bắc Kạn” do nhà tài trợ Tổ chức Bánh mỳ cho Thế giới tài trợ Vì vậy, trong bài làm tiểu luận cuối kỳ của môn “Kinh tế Tài nguyên và Môi trường” em xin lấy công việc của mình làm tư liệu cho bài làm
Dự án xây dựng Làng sinh thái do anh hùng lao động GS TSKH đặt tiền
đề và được Viện Kinh tế Sinh thái xây dựng thành công trên hơn 20 năm qua Qua thời gian đó, Viện đã xây dựng được 23 làng sinh thái trên toàn quốc Mục tiêu của Chương trình là cải thiện các hệ sinh thái nhạy cảm ở các vùng người dân có đời sống khó khăn nhằm giúp họ có thêm sinh kế và quản lý được hệ sinh thái đó
Dự án “Xây dựng làng sinh thái tại hai huyện Bát Xát, Lào Cai và Ngân Sơn – Bắc Kạn” do nhà tài trợ Tổ chức Bánh mỳ cho Thế giới tài trợ được thực hiện từ năm 2005 đến năm 2013 Dự án là chương trình cải thiện hệ sinh thái trên vùng đất trống đồi núi trọc cho hai địa bàn có người hưởng lợi chủ yếu là Người Dáy ở Lào Cai và người Tày ở Bắc Kạn
Trước khi có dự án, hai vùng trên có diện tích đất canh tác rất thấp, đặc biệt là diện tích đất nông nghiệp Đất đai cằn cỗi vì bị xói mòn và canh tác lạc hậu khiến cho năng suất cây trồng thấp, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Khi không thể sống nhờ canh tác, người dân nơi đây chủ yếu đi làm ăn xa và chủ yếu là sang Trung Quốc lao động, và đây cũng là nguyên nhân cho việc buôn bán phụ nữ và nhiều tệ nạn xã hội khác
Trang 4PHẦN II: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Trên thế giới
Trên thế giới, đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu và phát triển làng sinh thái Nhưng do nhu cầu cũng như đặc điểm tự nhiên, con người khác nhau nên mỗi quốc gia chọn cho mình một hướng phát triển riêng
Ở Mỹ, các nhà khoa học xây dựng các Làng sinh thái xen kẽ giữa các khu
đô thị lớn, nhằm cân bằng hơn về sinh thái, môi trường Hơn nữa đó là nơi nghĩ dưỡng, du lịch của du khách
Ở Malaysia, các nhà khoa học nơi đây xây dựng nhiều làng sinh thái hữu
cơ, nhằm tạo ra các sản phẩm hữu cơ sạch và quá trình canh tác không ảnh hưởng tới môi trường sinh thái Các mô hình chủ yếu gồm có: Sản xuất phân hữu có, nuôi giun quế, sãn xuất và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật từ nguồn nguyên liệu có sẵn
Ấn Độ là nước phát triển làng sinh thái lâu đời Ở đây, người ta xây dựng làng sinh thái như là một địa điểm để bảo tồn văn hóa bản địa và các kiến thức bản địa Làng sinh thái nơi đây còn là nơi trình diễn các mô hình nông lâm nghiệp bền vững cho nhiều nhà khoa học, nông dân và khách tham quan học tập
2.2 Ở Việt Nam
Anh hùng lao động, GS TSKH Nguyễn Văn Trương là người đầu tiên đặt tiền
đề cho nền móng Làng sinh thái ở Việt Nam Ông cũng đã có nhiều nghiên cứu sâu về hệ sinh thái nông nghiệp bền vững Các hệ sinh thái mà Giáo sự chú trọng nghiên cứu là: Hệ sinh thái trên cát, hệ sinh thái vùng đất ngập úng, hệ sinh thái trên vùng đất trống đồi núi trọc Song song với quá trình nghiên cứu, ông sáng lập ra Viện Kinh tế Sinh thái Và cùng với các cộng sự, đến nay Viện
đã xây dựng được nhiều làng sinh thái
Trang 5DANH SÁCH CÁC DỰ ÁN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU VỀ LÀNG SINH THÁI
S
tt
gian
1
1
Xây dựng Làng sinh thái trên
vùng cát hoang Triệu Vân –
Triệu Phong – tỉnh Quảng Trị
Bộ Khoa học Công nghệ
và Môi trường
1993-1998
1
2
Làng sinh thái trên vùng đồi trọc
xã Ba Vì, huyện Ba Vì, Hà Tây
Tổ chức công giáo chống nghèo đói vì sự phát triển
- CCFD
1993-1998
3
3
Xây dựng làng sinh thái dựa trên
vấn đề cơ bản chuyển đổi thế độc
canh chè trên vùng đồi trọc xã
Ba Trại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà
Tây
Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN
1996-1998
3
4
Xây dựng Làng sinh thái trên
vùng đồi cát hoang tại xã Hải
Thuỷ – huyện Lệ Thuỷ – tỉnh
Quảng Bình
1997-1999
5
5
Xây dựng làng sinh thái dựa trên
hoạt động khôi phục rừng ngập
mặn tại xã Xuân Lâm huyện
Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hoá
1997-1999
6
6
Xây dựng làng sinh thái dựa trên
hoạt động cải tạo vùng đất ngập
nước ngọt tại xã Phú Điền huyện
Nam Sách tỉnh Hải Dương
Tổ chức Công giáo chống sự nghèo đói vì sự phát triển - CCFD
1998-2000
Trang 67
Bảo tồn nguồn gen cây thuốc
nam tại xã Bình Dương huyện
Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc
Quỹ Môi trường toàn cầu GEF
1999-2001
8
8
Sử dụng bền vững Lâm sản
ngoài gỗ, hiện trường xã Khang
Ninh huyện ba Bể tỉnh Bắc Kạn
Đại sứ quán Vương quốc
Hà Lan thông qua tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN
1998-2002
9
9
Dự án tái lập rừng nhiệt đới tại
huyện Sóc Sơn – Hà Nội
Sở Khoa học công nghệ
và Môi trường Hà Nội
2004-2008 1
10
Xây dựng làng sinh thái trên
vùng đất trống trọc xã Kim Lư
huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn
Tổ chức Công giáo chống sự nghèo đói vì sự phát triển - CCFD
2002-2005
1
11
Xây dựng làng sinh thái trên
vùng cát xã Cảnh Dương huyện
Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình
Tổ chức Công giáo chống sự nghèo đói vì sự phát triển – CCFD
2001-2004
1
12
Xây dựng làng sinh thái trên
vùng cát xã Thạch Văn huyện
Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh
Tổ chức Công giáo chống sự nghèo đói vì sự phát triển – CCFD
2002-2004
1
13
Xây dựng làng sinh thái vùng đồi
trọc tại xã Thượng Cồn huyện
Nam Đàn tỉnh Nghệ An
Tổ chức Công giáo chống sự nghèo đói vì sự phát triển – CCFD
2005-2007
1
14
Xây dựng làng sinh thái vùng đất
trống đồi trọc tại thôn Tòng Chú
I, xã Cốc San huyện Bát Xát tỉnh
Lào Cai
Tổ chức Bánh mỳ cho Thế giới – BfdW
2005-2008
1
15
Xây dựng làng sinh thái trên
vùng cát xã Tiên Điền huyện
Tổ chức Công giáo chống sự nghèo đói vì sự
2006-2008
Trang 7Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh phát triển – CCFD
1
16
Dự án Hỗ trợ chuyên ngành Lâm
sản ngoài gỗ pha II – Hiện
trường huyện Sơn Động tỉnh Bắc
Giang
Đại sứ quán Vương quốc
Hà Lan thông qua tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế - IUCN
2003-2007
1
17
Xây dựng làng sinh thái cho
vùng úng trũng ý Yên – Nam
Định
Tổ chức Công giáo chống sự nghèo đói vì sự phát triển – CCFD
2007-2009
1
18
LST Phong Mỹ huyện Phong
Điền – Thừa Thiên Huế
Tổ chức Công giáo chống sự nghèo đói vì sự phát triển – CCFD
2007-2009
1
19
Bảo tồn gen các loài cây gỗ quý
tại VQG Ba Vì
Cục Môi trường – Bộ Tài nguyên và Môi trường
2005-2006
2
20
Đề tài: Xây dựng tiêu chí, chỉ số
cho làng kinh tế sinh thái
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
2008-2009 2
21
Xây dựng LST Tòng Chú II, xã
Cốc San, huyện Bát Xát, Lào Cai
Tổ chức Bánh mỳ cho Thế giới – BfdW
2008-2010 2
22
Xây dựng LST Nà Phặc, Na Rì,
Bắc Kạn
Tổ chức Bánh mỳ cho Thế giới – BfdW
2008-2010
Trang 8PHẦN III ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Tỉnh Lào Cai
Lào Cai có địa hình núi cao, hiểm trở, có 7 kiểu và 12 dạng sinh khí hậu
Do tính trùng lặp thì phân thành 10 kiểu sinh khí hậu và 43 vùng vi khí hậu Thông qua các hoạt động kinh tế có ba vành đai sinh khí hậu cơ bản và ba mùa tương đối rõ rệt trong năm: Mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, còn mùa mưa bắt đầu từ tháng tư đến tháng chín Vùng cao nhiệt độ trung bình
nghèo là 20.43% (Nguồn: Cục Thống kê tỉnh cấp đến 31/12/2009 và báo cáo của UBND tỉnh Lào Cai về tổng quan tình hình kinh tế xã hội Lào Cai năm 2009) Lào Cai có 27 dân tộc bao gồm: Kinh, Mông, Tày, Dao, Thái, Nùng, Dáy, Phù Lá, Kháng, La Ha, Hà Nhì, Bố Y, Lào, Mường, Hoa, La Chí) trong đó đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ gần 70% dân số của tỉnh
Lào Cai là một tỉnh miền núi điển hình, có diện tích rất lớn
mạnh, nên đất có khả năng phát triển nông nghiệp rất ít (84,271 ha), chiếm 10,5% lãnh thổ, phần còn lại là đất lâm nghiệp và rừng phòng hộ Trong đất nông nghiệp, diện tích trồng lúa nước chiếm tỷ lệ 29% Tại các xã vùng cao, phần lớn đất nông nghiệp chủ yếu là nương rẫy
Tài nguyên rừng đã bị cạn kiệt nhiều do khai thác quá mức và canh tác nương rẫy theo lối truyền thống lâu đời.Tình hình rửa trôi xói mòn xẩy ra nghiêm trọng, đất đai bị thoái hoá nhiều, năng suất cây trồng bị giảm sút Các rủi ro do thiên nhiên xẩy ra thường xuyên, trong tháng 8 năm 2007 một cơn mưa
Lào Cai là một tỉnh miền núi ở phía Tây Bắc Bộ Việt Nam, giáp biên giới Trung Quốc Diện tích tự
thị xã: Cam Đường, Lào Cai
và 9 huyện: Bát Xát, Bảo Thắng, Sa Pa, Văn Bàn, Bảo Yên, Than Uyên, Si Ma Cai, Mường Khương, Bắc Hà
Trang 9lớn đã gây ra sạt lở và lũ quét làm cuốn trôi 8 người ngay gần khu vực thành phố Lào Cai Liên tiếp trong các năm 2009 và 2010, lũ ống và lũ quét vẫn xẩy ra không chỉ ở huyện Bát Xát mà còn trên phạm vi toàn tỉnh (xã Mường Vi- huyện Bát Xát xẩy ra lũ quét cuốn trôi 8 ngôi nhà và chết 1 người vào ngày 2-8-2010) Các hệ sinh thái và vi khi hậu đã thay đổi nhiều theo hướng bất lợi cho sản xuất nông nghiệp do nạn phá rừng làm nương rẫy gây ra
3.2 Về huyện Bát Xát và địa bàn dự án
Huyện Bát Xát:
Là một huyện biên giới nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Lào Cai Phía Bắc giáp Trung Quốc với chiều dài đường biên 98,8 km Phía Nam giáp huyện Sa
Pa, Lào Cai Phía Đông giáp phường Duyên Hải, Thành phố Lào Cai Phía Tây giáp huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu
Huyện Bát Xát nằm gần như toàn bộ trên sườn dãy núi cổ Phan Si Păng có
độ cao so với mặt biển từ 150-3096 m, địa hình phức tạp được chia thành 2 vùng:
Vùng thấp: gồm có 7 xã: Cốc San, Quang Kim, Thị Trấn, Bản Qua, Bản Vược, Cộc Mỳ và Trịnh Tường nằm dọc theo sông Hồng có độ cao từ 150-400m (so với mặt biển) độ cao trung bình 245m Địa hình tương đối bằng phẳng ít bị chia cắt
Vùng cao: gồm 16 xã còn lại có độ cao từ 400 - 3.096m, độ dốc trung
Độ ẩm trung bình 85%, lượng mưa trung bình 1600-1800mm/năm Hàng năm thường xuất hiện mưa đá từ 2 - 4 lần/năm, số ngày có sương mù bình quân năm từ 115-150 ngày chủ yếu ở các xã vùng cao Huyện Bát Xát có nhiều sông suối, tốc độ dòng chảy lớn, lưu lượng dòng chảy phụ thuộc theo mùa, mùa mưa lưu lượng dòng chảy lớn thường gây ra lũ ống, lũ quét, diện tích sông suối chiếm khoảng 1.557,34 ha Hầu hết các trận lũ quét ở Lào Cai tập trung ở huyện Bát Xát vì đây là vùng đá vôi có địa hình dốc
Về dân cư huyện Bát Xát có 11.455 hộ với 61.537 người, mật độ 59
Số người trong độ tuổi lao động: 31.528 người Số người có khả năng lao động: 31.061 người Thu nhập bình quân đầu người/năm đạt: 3,36 triệu đồng (khoảng
180 USD) Lương thực (cây có hạt) bình quân người/năm đạt: 377,4kg Số hộ đói, nghèo: 1.275 hộ, chiếm tỷ lệ: 11,13%
Trang 10Bảng so sánh các loại đất của huyện Bát Xát (đơn vị: ha)
Tổng diện tích đất tự nhiên huyện Bát Xát
Phần lớn đất chưa được sử dụng là đồi núi trọc và đất đai bị xói mòn
do nạn phá rừng và canh tác không hợp lý.
Xã Cốc San
Xã Cốc San là một xã nằm ở phía Tây Nam huyện Bát Xát trên đường quốc lộ 4D từ thành phố Lào Cai đi Sa Pa Cách trung tâm thành phố Lào Cai khoảng 12 km về phía Tây Đây là vùng núi cao dưới chân dãy núi Phăng Si Păng, địa hình dốc, có nhiều núi đá vôi Bắc giáp xã Quang Kim, Bản Qua phía Đông giáp xã Đồng Tuyển (TP Lào Cai), Bắc Cường Phía Nam giáp thị trấn Cam Đường Phía Tây giáp với huyện Sa Pa
Toàn xã có 13 thôn, có 905 hộ với 3.884 nhân khẩu Có 327 hộ nghèo chiếm tỷ lệ hơn 30% Trong xã có nhiều dân tộc sinh sống như: Kinh, Dáy, Dao, Tày, Hà Nhi, H’Mông Nhưng đông nhất vẫn là nhóm dân tộc Kinh và Dáy
Tổng diện tich đất tự nhiên toàn xã là 1.906 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 359ha với 146,9ha là đất trồng lúa nước Đất lâm nghiệp là 662,7ha Đất chưa sử dụng là 661,4ha và đất khác là 208ha Chủ yếu là đất Lâm nghiệp
và đất chưa sử dụng chiếm hơn 60% diện tích Qua điều tra cho thấy đất rừng tự nhiên không còn mà chủ yếu là đất nương rẫy và núi đá vôi, hiện tượng xói mòn rửa trôi nghiêm trọng
Đời sống nhân dân thấp (thu nhập bình quân < 250.000 VND/ng/tháng), tình hình vệ sinh môi truờng đang có chiều hướng ô nhiễm, thiếu nước sạch cho sinh hoạt Nhiệm vụ khôi phục và xây dùng lại hệ sinh thái ở vùng này là hết sức cấp bách
1 Chiếm 1/6 diện tích toàn tỉnh
Trang 11Thôn Tòng Chú I
Là một trong 13 thôn của xã Cốc San, các thôn Tòng Chú I nằm ở vùng trung tâm của xã Cốc San cách Văn phòng của UBND xã khoảng 2km, phía Tây giáp thôn Tân Sơn, phía Bắc giáp thôn Tòng Sành và phia Đông giáp với thôn Luổng Láo
Thôn Tòng Chú I có 85 hộ gia đình với 350 nhân khẩu trong đó có 158 lao động Chủ yếu là dân tộc Dáy và Kinh Đời sống thu nhập thấp, là một trong những thôn nghèo của xã Cốc San Thôn có 52 hộ nghèo trong số 57 hộ gia đình không có nghề phụ cũng như nguồn thu nhập khác ngoài sản xuất Nông Nghiệp Đặc biệt là thôn
Tổng diện tích tự nhiên của 2 thôn vào khoảng 280 ha trong đó:
- Đất chưa trồng (chủ yếu là đất
nương rẫy)
125 ha
Ngoài nguồn thu từ sản xuất Nông nghiệp, bình quân chưa được 300m2/người, người dân ở đây không có nguồn thu khác
Về chăn nuôi cả thôn có 73 con trâu, 40 con bò, không có bãi chăn thả, kinh tế vườn không đáng kể, một số loài cây đã trồng như: Mít, Xoài, Mơ, Mận, Chuối, Vải Nhãn không có năng suất và thu nhập không đáng kể
Từ năm 2006, Thôn Tòng chú I đã bắt đầu xây dựng làng sinh thái dưới
sự hướng dẫn của Viện Kinh tế Sinh thái (Eco-Eco) với kinh phí tài trợ của tổ
Trang 12chức Bánh mỳ cho Thế giới (BfdW), mô hình làng sinh thái đã dần được hình thành
Tháng 7 năm 2008, mô hình làng sinh thái thôn Tòng Chú I được mở rộng
ra cả thôn Tòng Chú II thành một tiểu vùng sinh thái hoàn chỉnh, sau hơn 4 năm thực hiện đã đạt được những kết quả bước đầu là:
Về mặt sử dụng đất: Hầu hết các hộ gia đình tham gia dự án đã được hỗ trợ trồng các loài cây ăn quả lâu năm Cụ thể, ở pha II dự án đã hỗ trợ tổng cộng 2.635 cây ăn quả, 92.055 cây lâm nghiệp và lâm sản ngoài gỗ tương đương với phủ xanh diện tích 57 ha, Người dân được tham gia tập huấn phổ biến các biện pháp sử dụng đất và chăm sóc các loài cây trồng, sử dụng hợp lý các loại phân bón Kết quả đến nay, đã có nhiều hộ có thu nhập từ các cây ăn quả, góp phần cải thiện đời sống của bà con Tuy nhiên, tại địa bàn việc sử dụng đất chưa khai thác và phát huy được triệt để lợi thế của vườn nhà và đất đồi Ở một số hộ đồng bào dân tộc còn nhiều bảo thủ, dựa vào sản xuất tự nhiên Vì vậy, dự án cần tiếp tục hỗ trợ để nâng cao nhận thức và kỹ thuật nhằm cho việc sử dụng đất hợp lý nhất để đảm bảo tính bền vững của mô hình
Thông qua hàng loạt các hoạt động, dự án đã lồng ghép nhiều chuyên đề nói chuyện, tuyên truyền nhận thức về bảo vệ môi trường Ở pha II, dự án đã hỗ trợ được thêm 36 bếp tiết kiệm củi nâng số bếp tiết kiệm củi lên gần 100 hộ sử dụng, 01 mô hình biogas thử nghiệm cho thấy hiệu quả rõ rệt, tận dụng các loại phân thải của trâu bò, không chỉ cung cấp năng lượng cho hộ gia đình mà còn làm sạch môi trường thôn xóm 4 mô hình nuôi giun quế cho thấy hiệu quả làm sạch môi trường, phát triển chăn nuôi và đang tiến hành xây dựng 26 nhà tiêu sinh thái Quỹ chăn nuôi quay vòng thôn Tòng Chú I sau hơn 03 năm hoạt động
đã cho vay được 58 lượt và số quỹ hiện tại đạt 43.550.000 đ
Đặc biệt, nhằm có chỗ tập huấn, đào tạo phổ cập nâng cao nhận thức, dự
Thực tế công tác bảo vệ rừng và môi trường sinh hoạt hàng ngày còn một
số tồn tại và bất cập không thể sớm có sự chuyển biến trong một thời gian ngắn của dự án, nhưng những chuyển đổi nhận thức bước đầu ở vùng Dự án đã được lãnh đạo tỉnh Lào Cai đánh giá cao Bên cạnh môi trường sinh thái đã có chuyển biến rõ nét thì việc nâng cao nhận thức về những vấn đề xã hội đang còn bất cập như nghiện hút, nhiễm HIV, nhất là trong tầng lớp thanh niên, nạn bạo lực gia đình vẫn còn xảy ra Vì vậy, trong thời gian tới, không chỉ duy trì mô hình về mặt sinh thái, cải thiện đời sống mà còn phải quan tâm đến các hoạt động nhằm góp phần ngăn chặn các vấn đề xã hội phát sinh trong mô hình làng sinh thái