Khi đã có máy siêu âm Doppler tim rồi, chúng ta có thể đánh giá áp lực động mạch phổi bằng một số phơng pháp với độ tin cậy lớn hơn nhiều nh chúng tôi sẽ trình bày dới đây.. Phơng pháp đ
Trang 1đánh giá tăng áp động mạch phổi bằng siêu âm - doppler tim
GS.TS Nguyễn Lân Việt
1 Đại cơng
Tăng áp mạch phổi đợc thể hiện trong nhiều bệnh tim và phổi khác nhau
Việc do áp lực động mạch phổi sẽ cho ta một dữ kiện quan trọng trong việc nghiên cứu chức năng của tim và phổi cũng nh phần nào sẽ
đánh giá đợc mức độ quan trọng và tiên lợng của bệnh
Từ trớc đến nay, áp lực động mạch phổi vẫn đo đợc trong quá trình tiến hành thông tin
Qua thông tim ống nhỏ, Đinh Văn Tài và Vũ Minh Thục đã thu
đợc những kết quả về áp lực động mạch phổi của ngời Việt Nam bình thờng nh sau:
áp lực tâm thu : 17,9 ± 2,0 mmHg
áp lực tâm trơng : 5,1 ± 0,6 mmHg
áp lực trung bình : 10,5 ± 1,2 mmHg
Ngời ta coi là tăng áp động mạch phổi khi áp lực trung bình động mạch phổi ≥ 20mmHg
Gần đây, càng ngày ngời ta càng muốn tìm cách đánh giá áp lực
động mạch phổi thông qua những phơng pháp thăm dò không chảy máu
Và thực tế trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, phơng pháp siêu
âm Doppler tim đã tỏ ra một phơng pháp rất có giá trị để đánh giá áp lực động mạch phổi
2 Đánh giá tăng áp lực động mạch phổi thông qua phơng pháp siêu âm tim kiểuTM
- Một số các tác giả trên thế giới nh Nanda N.C (1974), Hadda K.A (1981), Nihoyannopoulos (1982), Mammosser M (1987) đã có
Trang 2nhiều đóng góp trong việc ứng dụng siêu âm tim kiểu TM để đánh giá tăng áp lực động mạch phổi
- ở nớc ta, qua nghiên cứu hình ảnh siêu âm tim kiểu TM của vận
động mạch phổi trên 40 ngời bình thờng và 58 bệnh nhân có tăng áp
động mạch phổi, chúng tôi đã bớc đầu rút ra một số đặc điểm trong trờng hợp có tăng áp động mạch phổi nh sau:
Biên độ A giảm, thờng là ≤ 2mm
(BT: 3,47 ± 0,80mm) Dốc đầu tâm trơng ef giảm xuống thờng ≤ 35mm/s
(BT: 70,50 ± 0,80mm/s) Thời gian tiền tống máu của thất phải tăng lên
(BT: 0,07 ± 0,01s) Thời gian tống máu của thất phải giảm xuống
(BT: 0,34 ± 0,04s)
Tỷ lệ thời gian tiền tống máu/thời gian tống máu của thất phải tăng lên
(BT: 0,21 ± 0,03) Dốc đầu tâm thu của van động mạch phổi giảm xuống
(BT: 100,95 ± 16,34mm/s) Dốc tâm thu của van động mạch phổi tăng lên
(BT: 223,60 ± 27,87 mm/s)
Đặc biệt khi thấy rõ đợc hình ảnh van động mạch phổi trong suốt thời kỳ tâm thu và nhất là khi thấy đợc dấu hiệu đóng giữa tâm thu của van động mạch phổi thì rất nhiều khả năng là có tăng áp động mạch phổi ở mc độ vừa và nặng
- Tuy nhiên, phơng pháp này chỉ giúp chúng ta trong trờng hợp cha
có máy siêu âm Doppler, có đợc một sơ bộ đánh giá ban đầu xem có tăng áp động mạch phổi hay không cho biết đợc một cách chính xác mức
độ tăng áp là bao nhiêu
Trang 3Khi đã có máy siêu âm Doppler tim rồi, chúng ta có thể đánh giá áp lực động mạch phổi bằng một số phơng pháp với độ tin cậy lớn hơn nhiều nh chúng tôi sẽ trình bày dới đây
3 Phơng pháp đánh giá áp lực động mạch phổi thông qua phổ doppler của hở van ba lá
- Bằng cách áp dụng phơng trình đơn giản của Bemoulli, thông qua tốc độ tối đa của phổ Doppler thu đợc do hở van ba lá, chúng ta
có thể tính đợc áp lực tâm thu tối đa của thất phải theo công thức sau:
PVD = 4Vmax2 + P0D
PVD : áp lực tâm thu thất phải (mmHg)
P0D : áp lực tâm thu nhĩ phải (mmHg)
Vmax : tốc độ tối đa do đợc của phổ van ba lá (m/s)
- Tuỳ theo tình trạng suy tim trên lâm sàng của bệnh nhân mà
ng-ời ta ớc tính áp lực tâm thu của nhĩ phải sẽ thay đổi từ 5 - 15mmllg Nói chung để cho dễ tính toán ngời ta có thể coi áp lực tâm thu của
động mạch phổi chính bằng áp lực tâm thu của thất phải
- Từ đây ta có thể suy ra áp lực tâm thu của động mạch phổi sẽ
đ-ợc ớc tính nh sau:
PAPs = 4 Vmax2 + P0D
Hay PAPs = 4 Vmax2 + 10
PAPs: áp lực tâm thu của động mạch phổi (mmHg)
Nh vậy sau khi xác định đợc Vmax (tức là tốc độ tối đa) do đợc trên phổ dopppler (của hở van ba lá) ta có thể ớc tính đợc ngay áp lực tâm thu của động mạch phổi (PAPs) theo công thức nói trên
Trang 4Hình 1 : Doppler liên tục : Phổ của một trờng hợp hở van ba lá cho phép ớc tính áp
lực tâm thu của động mạch phổi là 67mmHg
4 Phơng pháp đánh giá áp lực động mạch phổi thông qua phổ của hở van động mạch phổi
- Ta biết rằng tốc độ dòng chảy của một trờng hợp hở van động mạch phổi sẽ phụ thuộc trực tiếp vào độ chênh áp tâm trơng giữa
động mạch phổi và thất phải Do đó ta thấy rằng tất cả những thay đổi
về áp lực động mạch phổi và/hoặc áp lực đổ đầy tâm trơng của thất phải sẽ dẫn đến một sự thay đổi bắt buộc của vận tốc trên phổ Doppler do hở van động mạch phổi gây nên
- Trong thực tế khi thăm dò tình trạng hở van động mạch phổi bằng Doppler liên tục, ngời ta có thể tính đợc các áp lực của động mạch phổi
Vận tốc đầu tâm trơng (Vproto) và vận tốc cuối tâm trơng (Viélé) của hở van động mạch phổi sẽ liên quan tơng ứng với áp lực trung bình của động mạch phổi (PAPm) và áp lực tâm trơng của động mạch phổi (PAPd)
Ta có: độ chênh áp tâm trơng giữa động mạch phổi và thất phải sẽ là:
PAPd - PVDd = 4 x Vtélé2
PAPd : áp lực tâm trơng động mạch phổi
PVDd : áp lực tâm trơng thất phải
Trang 5Vtélé : Vận tốc cuối tâm trơng của hở van động
mạch phổi
Do đó, áp lực tâm trơng của động mạch phổi sẽ là:
PAPd = (4 x Vtélé2) + PVDd
Nhng nhìn chung áp lực tâm trơng của thất phải (PVDd) đợc ớc tính là khoảng 10mmHg
Vì vậy ta có:
a áp lực tâm trơng của động mạch phổi (PADd) sẽ là:
PAPm = (4 x Vtélé2) + 10mmHg
b áp lực trung bình của động mạch phổi (PAPm) sẽ là:
PAPm = (4 x Proto2) + 10mmHg
+ Trên cơ sở một công thức về huyết động là:
PAPm = (1/3 x PAPs) + (2/3 x PAPd)
Với (PAPs): áp lực tâm thu động mạch phổi Ta có thể suy ra:
c áp lực tâm thu của động mạch phổi (PAP s ) sẽ là:
PAPs = (3 x PAPm) - (2 x PAPd)
PAPm: áp lực trung bình của động mạch phổi
PAPd: áp lực tâm trơng của động mạch phổi
Chú ý: Dòng chảy của hở van động mạch phổi thờng đợc nghiên
cứu bởi mặt cắt ngang cạnh ức trái qua vị trí gốc các mạch máu lớn hoặc là ở mặt cắt dới sờn
- Việc đo đạc nên tiến hành trên những phổ Doppler rõ nét của
động mạch phổi
- Trong trờng hợp có loạn nhịp hoàn toàn, việc ớc tính áp lực
động mạch phổi thông qua phổ của hở động mạch phổi sẽ trở nên khó khăn hơn Trong trờng hợp này ta cần phải đo đạc nhiều lần khác nhau và lấy trung bình của những lần đo đạc ấy
Trang 6* Gần đây ngời ta còn đề nghị thêm hai phơng pháp nữa cũng áp dụng siêu âm Doppler tim để đánh giá áp lực động mạch phổi Đó là phơng pháp dựa trên sự phân tích phổi của dòng chảy tâm thu qua vận
động mạch phổi và phơng pháp đánh giá dựa trên thời gian dãn đồng thể tích của thất phải
Kết luận
Siêu âm Doppler tim ngày càng chứng tỏ là một phơng pháp thăm
dò không chảy máu rất có ích trong việc đánh giá áp lực động mạch phổi
Trong thực tế hiện nay, ngời ta thờng dựa chủ yếu vào phổ Doppler của hở van ba lá hoặc hở van động mạch phổi để đánh giá trị
số áp lực của động mạch phổi