1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tài chính của Công ty cổ phần du lịch và thương mại Vinpearl

31 1,2K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Tài Chính Của Công Ty Cổ Phần Du Lịch Và Thương Mại Vinpearl
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Bài Phân Tích
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 501 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản trị tài chính là việc lựa chọn các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Quản trị tài chính đóng vai trò quan trọng và có tác động đến tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Quản trị tài chính là việc lựa chọn các quyết định tài chính, tổ chức thựchiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Quản trị tàichính đóng vai trò quan trọng và có tác động đến tất cả mọi hoạt động của doanhnghiệp.Vì nó được hình thành để nghiên cứu, phân tích và xử lý các mối quan hệtài chính trong doanh nghiệp, hình thành những công cụ quản lý tài chính và đưa

ra những quyết định tài chính đúng đắn và có hiệu quả

Và hầu hết các quyết định quan trọng của lãnh đạo doanh nghiệp như :quyết định đầu tư, quyết định chi trả cổ tức và quyết dịnh tài trợ đều dựa trênnhững thông tin từ sự phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp

Phân tích tài chính là nhằm đánh giá hiệu suất và mức độ rủi ro của cáchoạt động tài chính Vì bản thân các dòng dịch chuyển tài chính vận động liên tục

và có thể ví như hệ toàn hoàn trong cơ thể con người.Mọi dấu hiệu tốt hay xấutrong hoạt động của công ty đều có thể biểu hiện qua các dấu hiệu tài chính Phântích tài chính giúp cho chủ doanh nghiệp, chủ nợ và nhà cung cấp vốn nắm vữngtình hình tài chính của doanh nghiệp và tùy theo mối quan hệ của họ với doanhnghiệp mà họ sẽ quan tâm tới những khía cạnh tài chính khác nhau

Vậy, phân tích tài chính như thế nào? Nhóm chúng tôi sẽ làm rõ qua bàiphân tích tài chính của Công ty cổ phần du lịch và thương mại Vinpearl

Trang 2

GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ VINPEARLAND

1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển Vinpearland:

Công ty cổ phần du lịch Vinperland tiền thân là công ty TNHH đầu tư pháttriển du lịch, thương mại và dịch vụ Hòn Tre được thành lập vào ngày 25/7/2001với vốn điều lệ ban đầu là 60 tỷ đồng theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số

3702000169 do sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Khánh Hòa cấp Công ty TNHH đầu tưphát triển du lịch, thương mại và dịch vụ Hòn Tre sau đã đổi tên thành công tyTNHH du lịch và thương mại Hòn Tre

Ngày 26/7/2006 công ty đã đổi tên thành công ty cổ phần du lịch và thươngmại Vinperland thep giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 3703000217 do sở

kế hoạch và đầu tư tỉnh Khánh Hòa cấp với mức vốn điều lệ 290 tỷ đồng

Ngày 8/5/2009 công ty chính thức đổi tên thành công ty cổ phần du lịchVinperland theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 4200456848, thay đổi lầnthứ 11 do sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Khánh Hòa cấp và là một trong số ít công ty

sở hữu và kinh doanh khu du lịch nghĩ dưỡng, vui chơi giải trí hiện đại nhất ViệtNam

2 Ngành nghề kinh doanh chính của công ty:

Trong quá trình phát triển, công ty cổ phần du lịch và thương mại Vinpearl

đã nhiều lần bổ sung ngành nghề hoạt động để đáp ứng nhu cầu phát triển củacông ty, bao gồm:

a Kinh doanh nhóm ngành nghề liên quan đến khách sạn, du lịch của công ty:

 Kinh doanh du lịch sinh thái, làng du lịch, nhà hàng ăn uống

 Kinh doanh du lịch lữ hành nội địa

 Kinh doanh vũ trương, hoạt động biểu diễn nghệ thuật, kinhdoanh dịch vụ trò chơi điện tử có thưởng dành cho ngườinước ngoài Hoạt động vui chơi, giải trí khác

 Kinh doanh dịch vụ vui chơi giải trí thể thao: tennis, lướt ván,leo núi, chèo thuyền…

 Chiếu phim điện ảnh và phim video

 Dịch vụ giặt, là

 Mua bán thực phẩm tươi sống và chế biến, thuốc lá điếu sảnxuất trong nước, bán hàng lưu niệm và hàng bách hóa chokhách du lịch

 Dịch vụ chăm sóc sắc đẹp

 Kinh doanh dịch vụ massage

Trang 3

b Kinh doanh nhóm ngành nghề liên quan đến Bất động sản của công ty:

 Kinh doanh bất động sản, cho thuê nhà có trang bị kĩ thuậtđặc biệt

 Xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp

 Bán buôn máy móc, thiệt bị và phụ tùng máy

 Bán buôn vật liệu, thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng

c Kinh doanh nhóm ngành nghề khác phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của công ty:

 Vận tải hành khách đường bộ

 Vận tải hành khách đường thủy

 Kinh doanh vận tải hành khách bằng cáp treo

 Đại lý bán vé máy bay, vé tàu, vé xe

 Mua bán vật tư ngành in, bao bì đóng gói thực phẩm

 Môi giới thương mại

 Nuôi trồng thủy sản

 Trồng rừng

 Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống

3 Các công ty con:

 Công ty cổ phần phát triển Thành phố xanh

 Công ty cổ phần đầu tư thương mại liên kết đại toàn cầu

 Công ty TNHH một thành viên

 Quản lý khách sạn Vinpearl

 Công ty cổ phần Du lịch Việt Nam Nha Trang

 Công ty TNHH Du lịch sinh thái Nam Qua

4 Các công ty liên kết:

 Công ty cổ phần Du lịch Việt Nam Vitours

 Công ty cổ phần bất động sản Thanh Niên

 Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Vinpearl Hội An

Trang 4

1 Các khái niệm liên quan:

a) Phân tích tài chính:

 Khái niệm:

Phân tích tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra về nội dung kết cấu, thựctrạng các chỉ tiêu tài chính trên báo cáo tài chính; từ đó so sánh đối chiếu các chỉtiêu tài chính trên báo cáo tài chính với các chỉ tiêu tài chính trong quá khứ, hiệntại, tương lai ở tại doanh nghiệp, ở các doanh nghiệp khác, ở phạm vi ngành, địaphương, lãnh thổ quốc gia… nhằm xác định thực trạng, đặc điểm, xu hướng, tiềmnăng tài chính của doanh nghiệp để cung cấp thông tin tài chính phục vụ việc thiếtlập các giải pháp quản trị tài chính thích hợp, hiệu quả

 Mục tiêu của phân tích tài chính:

- Đối với nhà quản lý doanh nghiệp: phân tích tài chính nhằm tìm ra những giảipháp tài chính để xây dựng cơ cấu tài sản, nguồn vốn thích hợp nhằm nâng caohiệu quả, tiềm lực tài chính của công ty

- Đối với chủ sở hữu: Phân tích tài chính giúp cho việc đánh giá đúng đắn thànhquả của người quản lý về thực trạng tài sản, nguồn vốn, thu nhập, chi phí, lợinhuận của doanh nghiệp, sự an toàn hiệu quả của đồng vốn đầu tư vào doanhnghiệp

- Đối với khách hàng và chủ nợ: Phân tích tài chính sẽ giúp đánh giá đúng đắn khảnăng và thời hạn thanh toán của doanh nghiệp

- Đối với cơ quan quản lỹ chức năng như cơ quan thuế, thống kê, phòng kinh tế…phân tích tài chính giúp đánh giá đúng đắn thực trạng tài chính doanh nghiệp, tìnhhình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước, đóng góp hoặc tác động của doanh nghiệpđến tình hình và chính sách kinh tế xã hội

b) Báo cáo tài chính:

Hệ thống Báo cáo tài chính bao gồm:

- Bảng cân đối kế toán: Phản ánh, tổng quát giá trị tài sản, nợ và vốn chủ sở hữu

của công ty tại một thời điểm nhất định, thông thường là cuối năm hay cuối quí

Số liệu trên bảng cân đối kế toán được dùng để đánh giá sự biến động của tài sản,nguồn vốn doanh nghiệp

Bảng cân đối kế toán bao gồm:

Tài sản

Trang 5

 Tài sản ngắn hạn: là tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản khác cóthể chuyển đổi thành tiền, hoặc có thể bán hay sử dụng trong vòng một nămhoặc một chu kỳ kinh doanh của Doanh nghiệp.

 Tiền và các khoản tương đương tiền: chỉ tiêu này phản ánhtổng hợp toàn bộ số tiền hiện có của Doanh nghiệp tại thờiđiểm báo cáo, gồm: tiền mặt, tiền gởi ngân hàng, tiền đangchuyển và các khoản tương đương tiền

 Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: phản ánh tổng giá trịcủa các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn( sau khi đã trừ đi dựphòng giảm giá chứng khoán đầu tư ngắn hạn) Các khoảnđầu tư ngắn hạn có thời hạn thu hồi vốn dưới một năm hoặctrong một chu kỳ kinh doanh Khoản đầu tư ngắn hạn này cókhả năng hoán chuyển thành tiền nhanh

 Các khoản phải thu: là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giátrị của các khoản phải thu khách hàng, khoản trả trước chongười bán, phải thu nội bộ, phải thu theo tiến độ kế hoạch hợpđồng xây dựng, và các khoản phải thu khác tại thời điểm báocáo có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dưới một năm hoặctrong một chu kỳ kinh doanh Đây là số tài sản bị khách hàng,các tổ chức, cá nhân tạm thời sử dụng do các chính sách tíndụng bán hàng, quan hệ tài chính nội bộ… nghiên cứu cáckhoản phải thu sẽ đánh giá công tác quản lý nợ tại Doanhnghiệp, tình hình thu hồi vốn cho sản xuất kinh doanh

 Hàng tồn kho: là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trịhiện có của các loại hàng tồn kho dự trữ cho quá trình sảnxuất, kinh doanh của Doanh nghiệp đến thời điểm báo cáo

 Tài sản ngắn hạn khác: là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng cáckhoản chi phí trả trước ngắn hạn, các khoản thuế phải thu vàcác tài sản ngắn hạn khác tại thời điểm báo cáo

 Tài sản dài hạn: phản ánh tổng giá trị các khoản phải thu dài hạn, tài sản cốđịnh, bất động sản đầu tư và các tài sản dài hạn khác có đến thời điểm báocáo, bao gồm: các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu

tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn và tài sản dài hạn khác

Nguồn vốn

 Nợ phải trả

 Nợ ngắn hạn: là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị cáckhoản nợ phải trả có thời hạn thanh toán dưới một năm hoặcdưới một chu kỳ, và giá trị các khoản chi phí phải trả, tài sảnthừa chờ xử lý, các khoản nhận ký quỹ, ký cược dài hạn tạithời điểm báo cáo Chỉ tiêu này sẽ đánh giá thực trạng côngtác thanh toán nợ của Doanh nghiệp

 Nợ dài hạn: là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị cáckhoản nợ dài hạn của Doanh nghiệp bao gồm: các khoản nợ

có thời hạn thanh toán trên một năm hoặc trên một chu kỳkinh doanh, khoản phải trả người bán, phải trả nội bộ,các

Trang 6

khoản phải trả dài hạn khác, vay và nợ dài hạn và thuế thunhập hoãn lại phải trả tại thời điểm báo cáo.

 Vốn chủ sỡ hữu: bao gồm vốn đầu tư của chủ sở hữu, thặng dư vốn cổphần, cổ phiếu ngân quỹ, quỹ khác thuộc vốn chủ sở hữu, nguồn kinh phí

và quỹ khác

- Báo cáo kết quả kinh doanh: Phản ánh tình hình và kết quả kinh doanh trong kỳ

của doanh nghiệp, chi tiết theo hoạt động kinh doanh và tình hình thực hiện nghĩa

vụ với nhà nước về thuế và các khoản phải nộp khác

Số liệu trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được dùng để tính toánkhả năng sinh lợi…

Cùng với số liệu trên bảng cân đối kế toán, số liệu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được sử dụng để tinh toán hiệu quả sử dụng vốn, các chỉ tiêu về tỉ suất sinh lợi nhuận.

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Phản ánh quá trình hình thành và sử dụng lượng tiền

phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp

- Thuyết minh Báo cáo tài chính.

Phương pháp so sánh: Nguyên tắc cần phải đảm bảo các điều kiện có

thể so sánh được của các chỉ tiêu tài chính(thống nhất về không gian, thời gian, nộidung, tính chất và đơn vị tính toán) Có thể chia ra 2 cách so sánh như sau :

- So sánh theo thời gian: Nhằm nghiên cứu sự thay đổi về điều kiện và hiệu suất

tài chính của doanh nghiệp bằng cách so sánh các thông số hiện tại với thông sốtrong quá khứ và thông số kỳ vọng trong tương lai

- So sánh theo không gian và nguồn các thông số ngành: Nhằm điều chỉnh các

điều kiện và hiệu suất tài chính cuat công ty theo hệ qui chiếu chung, cho phép xácđịnh độ lệch của công ty so với bình quân ngành bằng cách so sánh các chỉ tiêu tạitừng thời điểm của doanh nghiệp với các doanh nghiệp tương đương hay con sốtrung bình ngành

Phương pháp phân tích tỷ lệ: Nguyên tắc yêu cầu phải xác định được

Trang 7

các ngưỡng, các định mức để nhận xét đánh giá tình hình tài chính của doanhnghiệp trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ thamchiếu Các tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng và tùy theomục tiêu phân tích của mình mà các nhà phân tích sẽ lựa chọn nhóm tỷ lệ phù hợp.

Hiện nay, dựa trên cơ sở của 2 phương pháp trên, các nhà quản trị khi tiến hành phân tích tài chính thường sử dụng kết hợp 3 phương pháp sau :

a) Phân tích chỉ số (phân tích theo chiều ngang):

Là so sánh các khoản mục trong báo cáo tài chính với số liệu năm gốcnhằm xác định mức độ phát triển của từng khoản trong bối cảnh chung Nó sẽ làmnổi bật sự biến động, tình hình đặc điểm về lượng và tỷ lệ của các khoản mục nào

đó theo thời gian Từ đó, ta có thể liên kết các thông tin để đánh giá khả năng tiềmtàng và rủi ro của khoản mục nào đó biến động và tập trung phân tích để xác địnhnguyên nhân

Sử dụng phương pháp so sánh bằng số tuyệt đối hoặc tương đối:

Số tuyệt đối: Y = Y 1 - Y 0

Số tương đối: T = Y 1 / Y 0 * 100%

Với : Y1 : trị số của chỉ tiêu phân tích

Y0: trị số của chỉ tiêu gốc

b) Phân tích khối( Phân tích theo chiều dọc) :

Là so sánh các khoản mục trong tổng số của báo cáo tài chính theo phầntrăm nhằm xác định tỷ trọng hay cơ cấu của khoản mục đó trong báo cáo tài chính

Sử dụng phương pháp so sánh số tương đối kết cấu:

chỉ tiêu bộ phận / chỉ tiêu tổng thể

Qua đó, giúp ta dễ dàng nhận thấy được kết cấu của từng chỉ tiêu bộ phận

so với chỉ tiêu tổng thể tăng hay giảm như thế nào và đánh giá khái quát tình hìnhtài chính của doanh nghiệp

c) Phân tích các chỉ số tài chính :

Là kỹ thuật phân tích căn bản và quan trọng nhất của phân tích báo cáo tàichính, dựa trên các tỷ số tài chính để phân tích đánh giá tình hình và hoạt động tàichính của doanh nghiệp

Có nhiều loại tỷ số tài chính khác nhau.Dựa vào mục tiêu phân tích, các tỷ

số tài chính được chia thành:

 Hệ số khả năng thanh toán

 Hệ số hoạt động

 Hệ số đòn bẩy tài chính

 Hệ số khả năng sinh lợi

Trang 8

Các hệ số khả năng thanh toán : Tỷ số khả năng

thanh toán là tỷ số đo lường khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.Thực ra, để phân tích đầy đủ khả năng thanh toán, mà quan trọng hơn là khả năngtrả nợ đúng hạn, cần phải sử dụng các báo cáo ngân sách ngân quỹ, tuy nhiên bằngcách gắn tiền mặt và các tài sản ngắn hạn khác với nghĩa vụ nợ ngắn hạn, phântích thông số thực sự là 1 công cụ đo lường hiệu quả Có 2 thông số cơ bản đểđánh giá khả năng thanh toán :

Tỷ số khả năng thanh toán hiện thời( tỷ số thanh khoản ngắn hạn):

Khả năng thanh toán hiện thời = Tài sản ngắn hạn / Nợ ngắn hạn

Tỷ số này cho biết doanh nghiệp có bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn đểđảm bảo thanh toán cho một đồng nợ ngắn hạn Tỷ số thanh toán ngắn hạn càngcao thì khả năng trả nợ của doanh nghiệp càng cao và ngược lại Tuy nhiên, đâyđược xem là một công cụ đo lường thô vì nó không tính đến khả năng chuyểnnhượng của từng tài sản trong nhóm tài sản ngắn hạn

Ví dụ: Nếu tài sản của một công ty lớn hơn nợ ngắn hạn thì chưa chắc tài

sản ngắn hạn của công ty đủ đảm bảo thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn nếunhư tài sản ngắn hạn này luân chuyển chậm như : hàng tồn kho ứ đọng, không thuđược các khoản phải thu…Vì vậy, một công ty có tài sản ngắn hạn chủ yếu gồmtiền mặt, phải thu của khách hàng thì công ty đó có khả năng thanh toán hơn sovới công ty duy trì chủ yếu bằng hàng tồn kho

Do đó, khi phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn phải dựa trên cơ sởđảm bảo của tài sản lưu động, phân tích chất lượng của các yếu tố đó qua các chỉtiêu hệ số vòng quay khoản phải thu, hệ số vòng quay tồn kho, hệ số vòng quaykhoản phải trả

Tỷ số khả năng thanh toán ngắn hạn thông thường được chấp nhận phải lớn hơn 1.

Tỷ số khả năng thanh toán nhanh:

Khả năng thanh toán nhanh = Tài sản ngắn hạn – tồn kho / Nợ

Tuy nhiên, các thông số này vẫn không thể cho chúng ta biết phải thu kháchhàng và hang tồn kho thực tế có cao quá mức hay không Điều này có nghĩa là các

Trang 9

tỷ số này vẫn chưa đủ khẳng định doanh nghiệp có khả năng thanh toán nợ khi đếnhạn hay không Nói cách khác không thể nhầm lẫn giữa khả năng thanh toán vàkhả năng trả nợ vì khả năng trả nợ phải thể hiện bằng ngân quỹ sản sinh tại thờiđiểm trả nợ Vì vậy, cần phải nghiên cứu sâu hơn nữa xem phải thu khách hàng cóthanh tiền không, xem xét độ bức bách của các khoản nợ ngắn hạn, nếu nó cao thìđiều này sẽ tác động đến đánh giá ban đầu về khả năng thanh toán của doanhnghiệp…

Tỷ lệ thanh toán nhanh thông thường chấp nhận xấp xỉ bằng 1 Không có cơ

sở để yêu cầu chỉ tiêu này phải lớn hơn 1 vì trong các khoản nợ ngắn hạn, có những khoản đã và sẽ đến hạn ngay thì mới có nhu cầu thanh toán nhanh, những khoản chưa đến hạn chưa có nhu cầu phải thanh toán ngay.

Các hệ số hoạt động : Xác định tốc độ mà một công ty có thể tạo ra được tiền mặt nếu có nhu cầu phát sinh Hệ số hoạt động cho thấy hiệu quả của việc sử

dụng tài sản Hệ số hoạt động cao thể hiện công ty có thể tạo ra được nhiều doanhthu hơn trên 1 đồng vốn đầu tư Các hệ số sau đây được tính toán dựa trên giả địnhrằng một năm có 360 ngày

Vòng quay khoản phải thu:

Vòng quay khoản phải thu = Doanh thu thuần bán tín dụng /

khoản phải thu bình quân

Hệ số vòng quay khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển các khoản phải thu ratiền mặt Số vòng quay càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu nhanh

và vốn doanh nghiệp không bị chiếm dụng và ngược lại

Khi không có thông tin về doanh thu tín dụng thì chúng ta phải sử dụng tổngdoanh thu Khi doanh số biến động theo mùa hoặc tăng mạnh trong năm thì việc

sử dụng số dư phải thu khách hàng cuối kỳ sẽ không còn phù hợp nữa Vì vậy, vớiloại hình kinh doanh có sự biến động theo mùa thì chúng ta nên sử dụng số dưhàng tháng phù hợp hơn.Trong trường hợp doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởngmạnh, số dư phải thu khách hàng vào cuối năm sẽ cao hơn so với doanh số Lúc

đó, vòng quay phải thu khách hàng sẽ thấp hơn so với thực tế Trong trường hợpnày, sử dụng giá trị trung bình của phải thu khách hàng đầu năm hoặc cuối năm sẽthích hợp hơn nếu doanh số tăng tương đối đều trong năm

Kỳ thu tiền bình quân = Khoản phải thu * 360 / Doanh thu thuần bán tín dụng

Kỳ thu tiền bình quân phản ánh số ngày của một vòng quay các khoản phảithu Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền bình quân càng lớn vàngược lại Mặc dù kỳ thu tiền bình quân quá cao thường không tốt nhưng kỳ thutiền bình quân quá thấp cũng không hẳn đã tốt Kỳ thu tiền bình quân thấp có thể

là biểu hiện của 1 chính sách tín dụng quá chặt chẽ Lúc này, phải thu của khách

Trang 10

hàng có chất lượng cao nhưng doanh số và lợi nhuận có thể thấp hơn mức đáng lẽphải đạt được Trong tình huống này, công ty nên nới lỏng các tiêu chuẩn tín dụng.

Tóm lại: Hệ số vòng quay khoản phải thu càng lớn và số ngày một vòng quay càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển khoản phải thu càng nhanh, khả năng thu hồi nợ nhanh, hạn chế bớt vốn bị chiếm dụng để đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và doanh nghiệp sẽ có được thuận lợi hơn về nguồn tiền thanh toán Và ngược lại, số vòng quay khoản phải thu càng nhỏ và số ngày một vòng quay càng lớn thì tốc độ luân chuyển nợ phải thu chậm, khả năng thu hồi vốn chậm gây khó khăn hơn trong thanh toán của doanh nghiệp và nó cũng có thể dẫn đến rủi ro cao hơn về khả năng không thu hồi được nợ.

Vòng quay hàng tồn kho: Vòng quay hàng tồn kho là hệ số để nắm

được

hiệu quả hoạt động quảng trị hàng tồn kho của doanh nghiệp Đây là một hệ sốquan trọng đối với doanh nghiệp vì hàng tồn kho là loại tài sản ít linh động nhấttrong tài sản ngắn hạn Doanh nghiệp phải dùng vốn để duy trì lượng hàng lưu khonên doanh nghiệp sẽ được lợi khi bán càng nhanh càng tốt lượng hàng này để giảiphóng thành tiền mặt cho các mục đích sử dụng khác

Vòng quay hàng tồn kho = Gía vốn hàng bán/ tồn kho bình quân

Thời gian giải toả tồn kho= tồn kho bình quân 360/ Gía vốn hàng bán

Hệ số vòng quay hàng tồn kho cho biết số lần mà hàng hoá tồn kho bìnhquân luân chuyển trong kỳ Hay nói cách khác nó là số vòng quay của hàng tồnkho để chuyển thành phải thu của khách hàng thông qua hoạt động bán hàng trongnăm Cũng như các hệ số khác , hệ số này phải được đánh giá trong mối quan hệvới các hệ số ở quá khứ và dự đoán tương lai và trong mối quan hệ với bình quânngành hay các công ty khác

Thông thường, hệ số này thấp phản ánh hàng tồn kho dự trữ nhiều, sản phẩmkhông tiêu thụ được do lỗi thời, quá hạn, kém chất lượng … Hệ số này cao khôngphải lúc nào hoạt động bán hàng của doanh nghiệp thực sự tốt Hệ số vòng quayhàng tồn kho sẽ rất cao khi công ty duy trì quá ít hàng tồn kho vì không sản xuất

đủ hay vì không thể mua đủ Trong trường hợp này, hệ số cao thực tế lại cho thấyviệc lập kế hoạch hay quản lý hàng dự trữ tồi

Vì hệ số này vẫn chỉ là một công cụ đo lường thô nên khi đánh giá tiêu chínày cần phải xét tới ngành nghề kinh doanh, nghiên cứu chính sách về hàng lưukho của doanh nghiệp, khi cần thiết phải tính vòng quay của từng yếu tố chínhtrong hàng tồn kho…

Việc sử dụng riêng hệ số này chưa thể cung cấp thông tin đầy đủ về khảnăng huy động tiền mặt của công ty

Thời gian giải toả tồn kho là một công cụ giống vòng quay hàng tồn khonhưng tính theo ngày Nó chính là số ngày trung bình thực hiện một vòng quay

Trang 11

hàng tồn kho hay là số ngày hàng dự trữ trong kho Nếu số ngày dự trữ dài hơn sovới bình quân ngành thì chứng tỏ tồn kho bị tồn đọng quá nhiều và có nguy cơcông ty phải giảm giá mạnh để giải phóng hàng tồn kho.

Vòng quay tài sản cố định:

Vòng quay tài sản cố định = Doanh thu thuần/ tài sản cố định bình quân

Hệ số này cho biết cứ đầu tư trung bình một đồng vào tài sản cố định thì tạo

ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần Hệ số tăng phản ánh tình trạng qui mô sảnxuất đang bị thu hẹp, công ty không quan tâm đến việc gia tăng đầu tư vào tài sản

cố định Hệ số giảm có nghĩa là doanh nghiệp đang mở rộng kinh doanh chuẩn bịcho sự tăng trưởng trong tương lai

Vòng quay tài sản ngắn hạn:

Tỷ số vòng quay tài sản ngắn hạn được xác định như sau :

Vòng quay tài sản ngắn hạn = Doanh thu thuần / Tài sản ngắn hạn

Tỷ số này cho biết cứ một đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn thì sẽ thu đượcbao nhiêu đồng doanh thu thuần Tỷ số này càng lớn chứng tỏ tốc độ luân chuyểncủa tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp nhanh, góp phần tiết kiệm vốn cho nhucầu sản xuất kinh doanh và hạn chế sự ứ đọng và chiếm dụng vốn từ doanh nghiệpkhác

o Hệ số đòn bẩy tài chính:

Trong tài chính của công ty, mức độ sử dụng nợ để tài trợ cho hoạt độngcủa công ty gọi là đòn bẩy tài chính Đòn bẩy tài chính có tính hai mặt: một là nógiúp gia tăng lợi nhuận cho cổ đông, mặt khác nó làm gia tăng rủi ro Do đó, việcquản lý nợ cũng quan trọng như việc quản lý tài sản Các tỷ số quản lý nợ baogồm:

Tỷ số nợ trên tổng tài sản : Đo lường mức độ sử dụng nợ của công ty so

Trang 12

Các chủ nợ rất thích những doanh nghiệp có chỉ số nợ thấp vì họ sẽ coakhả năng trả nợ cao hơn Ngược lại, cổ đông thì thích tỷ số nợ cao vì sử dụng đònbẩy tài chính làm gia tăng khả năng sinh lợi cho cổ đông Nếu muốn biết tỷ số nàycao hay thấp thì phải so sánh với chỉ số bình quân ngành.

Tỷ số khả năng trả lãi( hay tỷ số trang trải lãi vay) :

Sử dụng nợ tạo ra lợi nhuận cho công ty Cổ đông chỉ có lợi khi lợi nhuậntạo ra lớn hơn lãi phải trả cho việc sử dụng nợ Nếu không doanh nghiệp sẽ không

có khả năng trả lãi và gánh nặng lãi sẽ gây thiệt hại cho các cổ đông Tỷ số khảnăng trả lãi được dùng để đánh giá khả năng trả lãi của công ty

Tỷ số khả năng trả lãi vay = EBIT / Lãi vay

EBIT: Tổng lợi nhuận trước thuế và lãi vay

Do chi phí trả lãi vay được lấy từ lợi nhuận trước thuế và lãi vay sau đómới nộp thuế và phần còn lại là lợi nhuận sau thuế dành cho các cổ đông Vì vậy,nếu EBIT lớn hơn lãi vay càng nhiều lần( hay tỷ số khả năng trả lãi vay càng lớn)thì khả năng đảm bảo cho việc thanh toán các khoản trả lãi từ lợi nhuận càng đảmbảo hơn

Khả năng trả lãi cao hay thấp thì phụ thuộc vào khả năng sinh lợi và mức

độ sử dụng nợ của doanh nghiệp Nếu khả năng sinh lợi của doanh nghiệp chỉ cógiới hạn trong khi doanh nghiệp sử dụng quá nhiều nợ tỷ số khả năng trả lãi sẽthấp

Nói chung đòn bẩy tài chính hình thành là do sự lựa chọn của nhà quản trị.Không có doanh nghiệp nào bị bắt buộc phải có tài trợ bằng nợ hay cổ phiếu ưuđãi Thay vì thế, doanh nghiệp có thể tài trợ cho hoạt động bằng cách sử dụngnguồn vốn từ bên trong, từ việc phát hành chứng khoán Tuy nhiên, trên thực tế,hiếm có công ty nào không có đòn bẩy tài chính Đòn bẩy tài chính thuận lợi vàdương khi doanh nghiệp sử dụng các chi phí tài trợ để thu lợi nhiều hơn chi phí bỏ

ra Đòn bẩy âm khi doanh nghiệp không kiếm được mức thu nhập bằng với chi phítài trợ đã bỏ ra

o Hệ số khả năng sinh lợi:

Lợi nhuận là một chỉ tiêu tài chính tổng hợp phản ánh hiệu quả của toàn bộquá trình đầu tư, sản xuất, tiêu thụ và những giải pháp kỹ thuật, quản lý kinh tế tạidoanh nghiệp Để nhận thức đúng đắn về lợi nhuận thì không chỉ quan tâm đếntổng mức lợi nhuận mà còn phải đặt trong mối quan hệ với tài sản, vốn, nguồnlực…của doanh nghiệp

Hệ số khả năng sinh lợi cho biết hiệu quả chung của công ty, phản ánh mức độ ổnđịnh của thu nhập khi so sánh với các thông số quá khứ và bình quân ngành

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu( Lợi nhuận gộp biên):

Trang 13

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu có thể tính cho hoạt động sản xuất kinhdoanh hay cho toàn bộ hoạt động tài chính của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biếtvới một đồng doanh thu sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Nó chỉ ra mối liên hệgiữa doanh thu và lợi nhuận Doanh thu chỉ ra vai trò, vị trí doanh nghiệp trênthương trường Lợi nhuận thể hiện chất lượng, hiệu quả cuối cùng của doanhnghiệp.

Lợi nhuận gộp biên = Lợi nhuận gộp / Doanh thu thuần

Một doanh nghiệp có tỷ số này cao hơn mức bình quân ngành chứng tỏ họ

có nhiều nỗ lực trong việc cắt giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên vậtliệu và lao động so với công ty khác Đồng thời, nó còn phản ánh tính hợp lý trongchính sách định giá của doanh nghiệp

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cao có nghĩa là doanh nghiệp có tỷ lệ tăngchi phí thấp hơn tỷ lệ tăng doanh thu hoặc tỷ lệ giảm chi phí lớn hơn tỷ lệ giảmdoanh thu Tuy nhiên, khi phân tích tỷ suất này cần thận trọng, bởi vì việc tăng tỷsuất lợi nhuận trên doanh thu có thể mang lại từ những chính sách không tốt như:giảm chi phí khấu hao do giảm đầu tư máy móc thiết bị hoặc giảm tỷ lệ khấu hao,giảm chi phí quảng cáo có khả năng ảnh hưởng đến doanh thu trong tương lai

Tỷ suất lợi nhuần ròng trên doanh thu là một công cụ khác để đo lường khảnăng sinh lời sau khi tính đến tất cả các chi phí và thuế thu nhập doanh nghiệp

Lợi nhuận ròng biên = Lợi nhuận sau thuế / doanh thu thuần

Khi so sánh các tỷ số với nhau, chúng ta có thể nhìn thấy rõ hơn hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nếu lợi nhuận hoạt động biên không thay đổi qua nhiều năm nhưng lợi nhuận ròng biên giảm trong cùng thời kỳ đó thì chúng ta biết nguyên nhân là do chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng tăng tương đối

so với doanh số hoặc do tiền lãi tăng lên Nếu lợi nhuận hoạt động biên giảm chung ta biết rằng chi phí sản xuất tăng lên so với doanh số và điều này xảy ra là

do giá bán thấp hơn hoặc do hiệu quả sản xuất kinh doanh giảm đi.

Tỷ suất sinh lời trên tài sản(ROA):

Tỷ suất sinh lời trên tài sản đo lường hoạt động của doanh nghiệp trongviệc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận, không phân biệt tài sản này được hìnhthành bởi nguồn vốn vay hay vốn chủ sở hữu Đây chính là công cụ đo lường cơbản tính hiệu quả của việc phân phối và quản lý các nguồn lực của công ty

ROA = Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản = Lợi nhuận ròng biên / Vòng quay tài sản

Trang 14

Vòng quay tài sản = Doanh thu thuần / Tổng tài sản

Vòng quay tài sản dùng để đo lường tốc độ chuyển hoá của tổng tài sản đểtạo ra doanh thu

ROA phản ánh hiệu quả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Là cơ sở đểnhững người đi vay cân nhắc xem liệu doanh nghiệp có tạo ra mức sinh lời caohơn chi phí sử dụng nợ hay không Là cơ sở để chủ sở hữu đánh giá tác động củađòn bẩy tài chính và ra quyết định huy động vốn

ROA của doanh nghiệp sẽ rất tốt khi cả hai tỷ số lợi nhuận ròng biên và vòng quaytài sản đều tăng và khi đó sẽ thu hút nhiều đối thủ cạnh tranhh tham gia thị trường

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu( ROE): Đây là một thông số quan

= ROA * Số nhân vốn chủ

Số nhân của vốn chủ sở hữu là tương quan giữa tổng tài sản và vốn chủ sởhữu, thể hiện số lượng vốn chủ sở hữu được sử dụng để tài trợ cho các tài sản ởcông ty

Số nhân của vốn chủ = Tài sản / Vốn chủ sỏ hữu

= 1/ 1- (Tỷ số nợ/ Tài sản)

Khi không có vốn vay thì ROA cũng chính là ROE Khi có vốn vay , chiphí sau thuế của vốn vay thấp làm cho ROE lớn hơn nhiều do tác động của đònbẩy nợ

Nếu thông số ROE lớn hơn bình quân ngành thì các cổ đông được lợi hơn so vớicác cổ đông khác trong ngành Điều này có thể là do một trong những nguyênnhân sau: do doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy nợ nhiều hơn thì ROE tăng nhưng đếnmột lúc nào đó thì tác động của đòn bẩy sẽ không hiệu quả nữa do mức tăng thêmcủa chi phí tài chính sẽ lớn hơn khoản tăng thêm của phần lợi nhuận thu được.Điều này có nghĩa, nếu doanh nghiệp duy trì tỷ lẹ nợ cao so với tiêu chuẩn ngànhthì ROE cao có thể là do doanh nghiệp chấp nhận rủi ro tài chính cao hơn

Thông thường, tỷ suất thu lợi trên vôn sở hữu cao phản ánh donh nghiệpđang có cơ hội đầu tư lớn và có khả năng quản ly chi phí hiệu quả

Với cách tiếp cận Dupont, chúng ta có thể giải thích biến động của thông sốROE ROE cao cho thấy lợi nhuận ròng biên hoặc vòng quay tài sản hoặc đòn bẩytài chính đang tăng lên Sự tăng lên của lợi nhuận ròng trong phạm vi doanhnghiệp duy trì đủ tài sản để tối ưu hiệu quả hoạt động Sự tăng lên của đòn bẩy tài

Trang 15

chính có thể đem lại hiệu quả tích cực trong phạm vi doanh nghiệp không tích luỹquá nhiều nợ để mua tài sản đến mức mà họ có thể gặp rủi ro phá sản.

Qua các chỉ số Dupont, để tăng ROE thì doanh nghiệp cần phải:

- Tăng tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu bằng cách tiết kiệm chi phí, tăng doanh thu

để tăng tổng mức lợi nhuận và đạt tốc độ tăng lợi nhuận tốt hơn tốc độ tăng doanhthu

- Tăng tốc độ luân chuyển tài sản bằng cách tăng đầu tư và dự trữ tài sản hợp lýnhư: cung ứng sản phẩm hay dịch vụ được ưa chuộng và được định giá hợp lý vớicác chi phí hoạt động kiểm soát tốt nhu thế sản phẩm sẽ nhanh chóng bán nhanhtrên thị trường

- Giảm tỷ lệ vốn sở hữu : doanh nghiệp phải đảm bảo tốc độ tăng vốn chủ sở hữuthấp hơn tốc độ tăng tài sản

Với tất cả các tỷ số khả năng sinh lợi trên, việc so sánh một công ty tương tự hayvới ngành rất có giá trị Nó giúp ta đánh giá được khả năng sinh lợi của công tynào đó tốt hay xấu và nguyên nhân của nó

2 Các hạn chế của phân tích thông số:

 Đối với những công ty hoạt động trong nhiều ngành, việc xây dựngcác thông số bình quân ngành có ý nghĩa sẽ rất khó khăn Vì thế, phân tích thông

số thường có giá trị hơn đối với những công ty nhỏ, hoạt động tập trung trong mộtngành hẹp

 Với mục tiêu đạt mức bình quân cao hơn ngành thì chưa đủ để có thểđạt hiệu quả cao và tốt nhất vì thế nên cần phải tập trung vào các thông số của cácnhà dẫn đạo trong ngành

 Lạm phát có thể xảy ra ảnh hưởng không tốt tới báo cáo tài chính, nólàm cho giá trị sổ sách lệch so với giá trị thực tế, ảnh hưởng tới chi phí, lợinhuận…

 Các nhân tố ngành cũng tác động đến việc phân tích thông số Đặcbiệt là những công ty kinh doanh theo mùa vụ

 Các chế độ kế toán khác nhau cũng ảnh hưởng đến việc so sánh

 Rất khó để xác định một thông số là tốt hay xấu Như nếu thông sốkhả năng thanh toán hiện thời cao thì cho thấy dấu hiệu tốt về khả năng thanh toánnhưng đồng thời nó cũng phản ánh sự dư thừa tiền mặt, lúc này thì nó cho thấydấu hiệu không tốt vì tiền mặt không sản sinh ra lợi nhuận

 Một doanh nghiệp có vài thông số tốt, vài thông số xấu điều này gâykhó khăn trong việc đưa ra đánh giá chung về tình hình tài chính của công ty

 Nếu phân tích thông số mà thực hiện một cách khuôn khổ, không có

tư duy trí tuệ sẽ rất nguy hiểm vì thế phải vận dụng tư duy tốt để có khả năng đánhgiá tốt

Ngày đăng: 25/03/2013, 10:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG PHÂN TÍCH XU HƯỚNG BIẾN ĐỘNG TÀI SẢN - Phân tích tài chính của Công ty cổ phần du lịch và thương mại Vinpearl
BẢNG PHÂN TÍCH XU HƯỚNG BIẾN ĐỘNG TÀI SẢN (Trang 16)
BẢNG PHÂN TÍCH KẾT CẤU TÀI SẢN - (ĐVT: Triệu đồng) - Phân tích tài chính của Công ty cổ phần du lịch và thương mại Vinpearl
ri ệu đồng) (Trang 19)
BẢNG BÁO CÁO KINH DOANH CÔNG TY VINPEARL - Phân tích tài chính của Công ty cổ phần du lịch và thương mại Vinpearl
BẢNG BÁO CÁO KINH DOANH CÔNG TY VINPEARL (Trang 21)
BẢNG PHÂN TÍCH  BIẾN ĐỘNG DOANH THU CỦA VPL ( So sánh qua các năm 2007, 2008, 2009 – ĐVT: Triệu đồng) - Phân tích tài chính của Công ty cổ phần du lịch và thương mại Vinpearl
o sánh qua các năm 2007, 2008, 2009 – ĐVT: Triệu đồng) (Trang 22)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w