1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đồ án so sánh giữa hai loại giao thức tìm đường distance vector và link state phân tích hoạt động của giao thức chọn đường OSPF

66 373 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 14,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa trên số lượng các hop để đi tới đích , nếu có hai con đường khác nhau để tới đích nó sẽ chọn con đường ngắn nhất không chú ý tốc độ kết nối Dưới đây là một bảng routing table đơn giả

Trang 1

Distance Vector — LínI-State va OSPE`

Lời nói đầu

Với tốc độ phát triển công nghệ thông tin nhanh chóng như hiện nay, mạng máy

tính không còn là một khái niệm xa lạ, mơ hồ đối với nhiều người Đây là một lĩnh vực của CNTT có phạm vi nghiên cứu và ứng dụng lớn.Một vấn đề rất quan trọng trong lĩnh vực này đó là tối ưu hoá về tốc độ cũng như bảo toàn thông tin trên mạng

Trong khuôn khổ đồ án môn học Thiết Bị Mạng, nhóm chúng em sẽ trình bày về

“So sánh giữa hai loại giao thức tìm đường Distance vector và Link State

Phân tích hoạt động của giao thức chọn đườngOSPF”

Trang 2

Muc Luc 218.0 3

I)Giới thiệu 3 II)Hoạt động 3 Maximum Hot C 0uÌf ¿ 5-5 5< < 5 5< %4 8.9893 5698 689568956856 6 Split HOTizom : <5-< 5< 5< =Ă S995 59595 95 988180850838050858000080006 7 Roufer PỌSOnÏng : o.< 55 << 5< << 5 0 0 0000000860896 7 lII)Phân loại : 8 A)Routing Information Protocol - RÍP : -< <<=<<s=<< 8 B)Interior Gateway Protocol - IGIRFP : << 55 << se s9 s92 9 PHAN B 9

I)Giới thiệu 9 II)Hoạt động 9 So sánh giữa giao thức Link State và Distance Vector _ 10

Các biện pháp kỹ thuật để khắc phục nhược điểm 10

l1 11

I)Giới thiệu 11 II)Chuơng 1 11 1)So sanh gitfa OSPF va RIP G- G0996 ng 11 2)Thuật tốn Link - States 12

a)Giải thuật đường đi ngắn nhất .13

b)Giá OSPF-Cây đường đi ngắn nhất : -.- 13

3)Khái niệm vùng(Area) và biên(Border) của các Router 14

4)Các gĩi Link-Sf¿4f©: - << «s2 c0 010010009 088098 2ø 15 5) Chức năng của OSPF trên các router see 6) Xác nhận OSPPF - GHI TH TH 0056 a)Xác nhận dựa trên mật khẩu . -2-cz+©ceeecccszzee b)Xác nhận phân loại lời nhắn ws r0) 0 0/0

B)CAC KEt NOI BO

9)Cac router hang xom (Neighbors)

U94) 67007 —

III)Chương 2 1)Các biện pháp để giảm bới rắc rối khi cấu hình các router hàng xĩm và chỉ định các router thành DR và BDR trên mạng NBMA 29

Trang số 2

Trang 3

Distance Vector — LínI-Statfe va OSPF'

d)Các ghép nối broadcast -5-5c+ccsccsseeresrrsrrserservee 34 2)OSPF và sự hợp nhất các router (Router Summarization) 34

a)Hợp nhất trong vùng -5-csss+csrrersrrtersrerrsrsrsrrs 34 23) ¡000017 35

3)Vùng gốc -<-sc-sc-ses 36

4)Cấu hình lại router theo chuẩn OSPF 41

5)Cấu hình lại OSPF thành các giao thức khác 22045

a)Chuyển đổi các Metric -s « 45

c)Cấu hình tương tác 48 6)Sự thâm nhập ngầm định vào OSPF - 2 5s c<cseses 51

7)Các thủ thuat thiét KE OSPF uuu esessessesssssscssessecsessessessscsssssceseeseeees 53

a) Số hàng xóm tối đa trên một phân đoạn 53 b)Số vùng cho mỗi ABR 54

c)Mô hình lưới toàn cục và lưới cục bộ S5

ảnh hưởng tới quy mô của mạng dùng

Distansce Vector Có hai giao thức tìm đường theo Distansce Vector :

Routing Information Protocol (RIP) , Interior Gateway Routing Protocol ( IGRP )

II)Hoạt động

Giao thức Distansce Vector nhìn mạng trên phương diện các quan hệ của các

lân cận và số đếm hop Trong đó số hop tối đa đối với RIP là 15 và 255 cho

IGMP Số đếm hop sẽ tăng khi gói tin đi qua một router

Trang số 3

Trang 4

Do đó số router quyết định về cách mà gói tin sẽ đi Dựa trên

số lượng các hop để đi tới đích , nếu có hai con đường khác nhau để tới đích nó

sẽ chọn con đường ngắn nhất không chú ý tốc độ kết nối

Dưới đây là một bảng routing table đơn giản trong đó router sử dụng giao thức Distansce Vector :

Bây giờ khi một router được bật , nó sẽ ngay lập tức biết về các mạng nối đến

các cổng của nó Trong trường hợp Router biết cổng E0 được nối đến mạng

192.168.0.0 và cổng S0 được nối đến mạng 192.168.10.0

Trong bảng routing table , đối với router B , con số ta thấy bên phải cạnh ky

hiệu cổng là hop cout hay còn gọi là số đếm gate way ,đây là thông số thông

qua đó giao thức Distance Vector sẽ dùng để xác định khoảng cách đến nút

mạng tương ứng đó Với hai mạng được với cổng của router thì số đếm đó sẽ có

giá trị là 0 Luật này đựơc áp dụng với các router khac

Khi chúng ta vừa bật các router lên , thì đồng thời mạng đang hội tụ , điều này

có nghĩa là chưa có số liệu nào được chuyển Khi ta nói không có số liệu nào được chuyển có nghĩa là các số liệu ở các máy computer hay server ở trên mạng Trong thời gian hội tụ , chỉ có các số liệu được truyển qua các router nhằm cập nhật đầy đủ bảng routing table của chúng , sau đó số liệu khác mới được truyền giữa chúng Vì thế nếu thời gian chuyển đổi càng nhanh thì sẽ tạo điều kiện càng lớn cho các bước sau này

Nhược điểm của RIP là thời gian hội tụ chậm

Trang số 4

Trang 5

Distance Vector — LinI-State va OSPF

Trong sơ đồ trên , mạng đang trong trạng thái chưa hội tụ , nói theo

một cách khác , các router trên mạng đang hoàn thiện bảng routing table , nhận biết các mạng nó đang kết nối đến

Trong các bảng routing table ta sẽ nhận thấy địa chỉ mạng với cổng ra ở bên tay phải và ngay cạnh nó là hop count

Hãy nhớ rằng giao thức RIP chỉ quản lý được tối đa được 15 hops

Mỗi router sẽ broadcast toàn bộ bảng routing table sau mỗi 30 giây

Việc tìm đường dựa trên Distance Vector có thể gây ra nhiều vấn

đề khi các kết nối được thêm hay bớt đi nó là nguyên nhân gây ra lặp vô tận sự

thay đổi của các router goi là hiện tượng routing loop

Chúng ta thử tìm hiểu sâu thêm về vấn đề này :

Network 3 Network 4

DD em

Trong sơ đồ trên ta thấy có 5 router trong đó router A và router B được nối

với router C ,sau đó chúng đi qua router D và E để tới network 5

Trang số 5

Trang 6

Khi router A gửi bảng routing table của nó đi , router B, router C nhận được

bảng đó và thông qua đó xác nhận thông tin rằng có thể đi tới Network 5

thông qua router A Và kể từ bây giờ các gói tin vdi dia chi dich la Network 5 sau khi đi qua router A sẽ tới router B và lại quay trở lại router A ( bởi vì trong

routing table của B có thông tin rằng có thể đi qua Network 5 thông qua

router A ) Cứ như thế ta có một vòng lặp vô tận , gói tin không đến được địa chỉ địch mà cứ chuyển từ router này sang router khác giống như trò chơi bóng ban

Các biện pháp kỹ thuất để giải quyết vấn đề này :

Maximum Hot Coult :

Hiên tượng gói tin bị chuyển loanh quanh giữa các router như vậy xảy ra do

có những thông tin thừa và sai được chuyển giữa các router Một phương

pháp được đưa ra để khắc phục là định nghĩa một con số ( maximum hop

Trang so 6

Trang 7

Distance Vector — LínI-State va OSPE`

count ) Distance Vector ( RIP ) chỉ quản lý tối đa được 15 hop , do vậy khi vòng lặp xảy ra gói tin sẽ chạy quanh mạng cho tới khi hop count

của nó đạt tới con số 15 và khi nó chạy tới router kế tiếp nó sẽ bị xóa

Hold-Down Timers:

Các router sẽ giữ thông tin trạng thái của network bị sự cố trong một khoảng

thời gian để các router khác tính toán lại tương ứng với sự thay đổi cấu hình

mạng, khoảng thời gian đó còn dành cho các router bị sự cố khôi phục lại hoặc

để cho mạng

ổn định lại trước khi thay đổi

Trong ví dụ của chúng ta mọi thông tin cập nhật gửi từ router A tới router B sẽ

không được chấp nhận cho đến khi hold-down timer kết thúc Điều này sẽ đảm

bảo rằng router B sẽ không nhận những thông tin sai từ các router khác chưa nhận ra Network 5 bị sự cố Router B sẽ gửi thông tin cập nhật để sửa lỗi các bảng routing table của các router khác

Khi một router nhận được thông tin từ router khác thông báo network

đã được truy cập trước đó không hoạt động hoặc không có khả năng truy

nhập,khi đó bộ đếm thời gian bắt đầu hoạt động ( hold-down timer ) Nếu thông tin mới được nhân từ hàng xóm với metric tốt hơn thông tin băn đầu , trang thái hold — down bị nhắt và dữ liệu được truyền qua.Nhưng nếu thông tin mới được

nhận từ router hàng xóm trước khi trạng thai hold-down kết thúc và nó có metric thấp hơn so với tuyến trước đó thì bản update sẽ bị bỏ qua và trạng thái hold- down tiếp tục.Nó sẽ cho mạng thêm thời gian để hội tụ.Bộ định giờ Hold-down sử

Trang số 7

Trang 8

dụng các triggered update để reset đồng hồ hold-down, mỗi lần báo cho các

router hàng xóm có sự thay đổi trên mạng

Không giống như các update message từ các router hàng xóm ,các

triggered update tạo ra một bảng routing table mới và được gửi ngay lập tức cho các router hàng xóm bởi một sự thay đổi đã được phát hiện trên mạng.Có 3

trường hợp khi triggered update sẽ thiết lập lại hold-down timer

1)Thời gian cho trạng thái hold-down kết thúc

2) Khi một router nhận nhiệm vụ xử lý một tiến trình cân đối các kết nối trên mạng

3)Khi thông tin nhận được chỉ ra rằng trạng thái của mạng đã thay đổi

Trên thực tế hai giải pháp Hold-Down Timers và Route poisoning thường được

sử dụng cùng với nhau nhằm làm tăng tốc độ hội tụ vì các router không phải đợi

30 giây trước khi thông báo poisoned route

III)Phân loại :

A)Routing Information Protocol - RIP :

Là một giao thức tìm đường kiểu Didtance-Vector Nó gửi bảng routing table tới các nút nhận sau mỗi 30 giây RIP lấy số lượng Gateway ( hop count )mà nó phải đi qua để làm căn cứ chọn con đường tốt nhất Tuy nhiên nó chỉ cho phép

số hop count tối đa là 15.RIP hoạt động tốt với các mạng nhỏ Đối với các mạng diện rộng với các đường truyền chậm hoặc với mạng có nhiều router thì

nó hoạt động không có hiệu quả

RIP có hai phiên bản khác nhau là : RIP ver 1 và RIP ver 2:

RIP ver 1 dùng broadcast khi gửi routing table

(255.255.255.255)

RIP ver 2 dùng multicasts khi gửi routing table

(224.0.0.9)

Một số thuật ngữ :

Router Update Timer :Đặt thời gian nghỉ , thường là 30 giây giữa các chu kỳ

gửi bảng routing table

Route Invalid Timer :Khi một router xác định được một router có sự cố, nó sẽ đợi ( thường là 90 giây ) để lắng nghe các thông tin về router đó trong khoảng thời gian này (Route Invalid Timer) nếu hết thời gian đó , router sẽ gửi thông báo cho các router khác biết về router không hợp lệ đó

Route Flush Timer:Là khoảng thời gian từ lúc router có sự cố cho tới lúc nó bị xóa khỏi bảng routing table (thường là 240 giây ).Trước khi nó bị xóa nó sẽ thông báo cho các router lân cận biết Thời gian router invalid timer phải nhỏ

hơn router flush timer để cho router có đủ thời gian thông báo cho các router lân cận biết về router gặp sự cố trước khi bảng routing table được cập nhật

Trang số 9

Trang 9

Distance Vector — LínI-State va OSPE`

B)Interior Gateway Protocol - IGRP :

Interior Gateway Protocol (IGRP) la san phdm déc quyền của Cisco, là giao thức tìm đường kiểu Distance - Vector Có nghĩa là chỉ có các router của Cisco mới được sử dụng IGRP trong mạng của bạn tuy nhiên Window 2000 cũng hỗ trợ bạn điều đó vì nó đã

mua đăng ký sử dụng của Cisco cho giao thức náy

Cisco tìm ra giao thức này nhằm giải quyết các vấn đề mà RIP gặp phải IGRP có số hop count tối đa là 255,với con số ngầm định là 100.Điều này tạo

thuận lợi cho phép làm việc với các mạng có quy mô lớn bởi theo chuẩn RIP thi

số hop tối đa cho phép là 15 IGRP còn sử dụng metric khac véi IGRP , IGRP

sử dụng các tham số như dải thông và độ trễ của đường truyền làm tham số để tìm đường đi tốt nhất trên mạng Đây gọi là metric hỗn hợp ,để thực sự tăng độ tin cậy “ load “ và Maximun Transmission Unit (MTU ) có thể được sử dụng IGRP có một tập các Timer nhằm nâng cao hiệu năng sử dụng:

Update Timer :Chỉ định tần suất gửi thông điệp routing-update được gửi Giá trị

ngầm định là 90 giây

Invalid Timer : Chỉ định khoảng thời gian đợi trước khi thông báo một router là

không hợp lệ Giá trị ngầm định là bằng 3 lần của Update Timer

Hold-down Timer : Chỉ định khoảng thời gian Hold-Down Giá trị ngầm định là bằng 3 lần của Update-Timer cộng thêm 10 giây

Router Flush Timer: Chỉ định khoảng thời gian trước khi một router bị xoá khỏi

bằng routing table.Giá trị ngầm định là 7 lần của Update Timer

Giao thức Link State không xem mạng như là tập các quan hệ gần kề của các

router và “hop count” Nó đưa ra một cách nhìn thông minh về toàn thể mạng

trên bình diện đánh giá chiều dài của các tuyến đường bằng cách lượng giá cho

chúng với giải thuật đường đi ngắn nhất.Từ các router tạo nên một “topological

Trang số 9

Trang 10

database “ trong đó phản ánh môt cách hệ thống về mạng và con đường của các router Trong hệ thống này, các router tự đăt mình vào vì trí trung tâm và từ đó

hoàn thiện cái nhìn về hệ thống

Khi một router sử dụng giao thức Link-State như là OSPF (Open Shortest Path

First ) biết được có sự thay đổi diễn ra trên mạng nó sẽ gửi multicast để thông

báo về sự thay đổi này ngay lập tức và thông tin này sẽ nhanh chóng được gửi

trên toàn mạng.Những thông tin mà một router cần để xây dựng nên cơ sở dữ

liệu của nó sẽ được cung cấp theo dạng một gói “ Link State advertisement

packet “ ( LSAP ).Các router sẽ không gửi đi toàn bộ bảng routing table của nó cho toàn bộ các router trên mạng mà thay vào đó chỉ gửi thông tin của nó cho

các router ở sát ngay bên cạnh

So sánh giữa giao thức Link State và Distance Vector

Cần nhiều bộ nhớ hơn

Quá trình tính toán đường đi ngắn nhất cần nhiều chu kỳ của CPU

Với mạng ổn định có dải thông nhỏ thì quá trình ổn định lại sau khi topology thay đổi diễn ra nhanh chóng

.Do tất cả cơ sở dữ liệu đều được gửi cho các nút lân cận nên quá trình gửi thông báo không thể bị “filtered”

.Tất cả các nút mạng lân cận phải đáng tin cậy

.Cơ chế xác nhận có thể được sử dụng để tránh hiên tượng các nút không nhận

được thông tin

.Không thể áp dụng kỹ thuật split horizon(phân mảnh ngang)

Link-State là một giao thức rất hiệu quả tuy nhiên khi sử dụng có rất nhiều vấn đề nảy sinh Các vấn đề thường xuất hiện khi có sự thay đổi trong topo mạng (các kết nối được thêm vào hoặc ngắt đi ), các router không thể cập nhật ngay lập từc

các thay đổi đó bởi vì chúng ở trên các đường truyền có tốc đồ khác nhau do đó

router ở trên đường truyền có tốc độ nhanh sẽ nhần được thay đổi nhanh hơn các router trên đường truyền chậm

Tuy nhiên có rất nhiều các kỹ thuật được phát triển để giải quyết các vấn đề nêu

4)Trao đổi các bản tóm lược tại các vùng biên

5)Sử dụng cách đánh số cho các bản tin update

6)Quản lý các vùng dựa trên hệ thống cấu hình của các vùng

Open Shortest Path First Routing Protocol - OSPF

Trang số 10

Trang 11

Distance Vector — LínI-State va OSPE`

Là giao thức tìm đường được phát triển cho giao thức IP (Internet Protocol ) bởi nhóm các kỹ sư phát triển các giao thức sau gateway gọi tắt là IETF.Nhóm này được thành lập năm 1988 với nhiệm vụ thiết kế các giao thức sau gateway( IGP ) dựa trên thuật toán đường đi ngắn nhất để sử dụng cho mạng Internet Tương tự như IGP , OSPF cũng được hình thành vào giữa nhưng năm 80 khi mà giao thức RIP gặp rắc rối đối với các mạng diện rộng cùng với các phát sinh của nó

OSPF được gọi là giao thức tìm đường kiểu classless, có nghĩa là trong thông tin

nó gửi đi bao gồm các subnet của các router nó đã biết Các thông tin này

đượcmulticast với đìa chỉ (224.0.0.5 và 224.0.0.6 )

Trong các phấn sau ta tiếp tục tìm hiểu về công nghệ và thuật toán OSPF

II)Chuơng 1

1)So sánh giữa OSPF và RIP

@) Tốc độ tăng vọt của mạng INTERNET cũng như sự mở rộng của nó trong

những năm gần đây đã đạt tới giới hạn của RIP Và chắc chắn điều đó sẽ gây ra

những vấn đề trong những mạng có quy mô lớn

@) RIP có tối đa 15 tuyến ( 15 router ) Điều đó có nghĩa với những mạng kéo

dài hơn 15 tuyến thì chuẩn RIP là không thể áp dụng được

@) RIP không thể điều khiển được VLSM Căn cứ vào sự thiếu hụt của địa

chỉ IP và tính linh động của VLSM đưa r a những điều chnh có hiệu quả nhất cho địa chỉ IP Đây rõ ràng là một thiếu sót lớn

@) Việc phát đi địa chỉ bradcast một cách định kì sẽ chiếm một dải thông rộng

Trang số II

Trang 12

Đây thực sự là một vấn đề lớn đối với các mạng diện rộng và đặc biệt là các mạng có tốc độ chậm và các mang WAN

@)RIP hột tụ chậm hơn OSPF Trong các mạng lớn, tốc độ hội tụ là rất quan trọng

(@) Chuẩn RIP không có sự tính toán giữa độ trễ của mạng và giá của kết nốt Việc tìm đường sẽ dựa trên cơ sở các hop Con đường với số hop ít nhất sẽ được lựa chọn cho dù đó là con đường dài với dải thông hẹp hơn và độ trễ lớn hơn

@)Mạng RIP là một mạng đơn giản (flat).Không có khái niệm về vùng và

biên

Một số cải tiến đã được áp dụng trong version mới nhất của RIP la RIP 2 Tuy

nhiên RIP 2 không phải là một bước đột phá so với RIP ( bây giờ ta gọ là RIP 1) bởi vì nó vẫn có giới hạn số các hop và độ hội tụ chậm Mà đó lại là những điều cần thiết trong những mạng có quy mô lớn ngày nay

Trong khi đó OFPF lại hướng đến các tiêu chuẩn sau :

- _ Với OFPF khong có giới hạn các hop

- _ Việc sử dụng thông minh của VLSM rất hiệu quả trong việc phân phối địa chi IP

- OSPF stf dung IP multicast để gửi những cập nhật về link-state Điều đó làm

giảm các tiến trình trên các router không lắng nghe các gói OFPF Tuy vậy tin

tức cập nhật chỉ được gửi đi khi routing changes diễn ra một cách không định kì Điều đó đảm bảo chất lượng của dải thông

- _ OSPF có độ hội tụ tốt hơn RIP Bởi vì sự thay đổi của các tuyến được truyền

đi ngay lập tức chứ không đợi theo định kỳ

- OFPS cho phép xác nhận các tuyến bằng cách sử dụng những phương pháp khác nhau trong quá triình xác nhận mật khẩu

- OSPF cho phép chuyển và theo dõi các tuyến ngoài khi thiết lập một chế

độ tự trị.Nó cho phép theo dõi dấu vết của các tuyến ngoài khi xâm nhập vào một giao thức khác như BGP

2)Thuật toán Link - States

OSPF sử dụng thuật toán Link - States nhằm mục đích xây dựng và tính toán

đường đi ngắn nhất để tới đích Thuật toán đó rất phức tạp không thể diễn dải

một cách đầy đủ và cụ thể , chúng ta đưa ra một cách nhìn tổng quan về thuật toán này

1 Thông qua quá trình nhận dạng, cập nhật các thay đổi của thông tin routing , bộ router sẽ phân tích các thông tin về trạng thái kết nối Những thông tin này sẽ mô tả tập các trạng thái kết nối trên router đó

2 Các router sẽ thuyên chuyển các thông tin trạng thái kết nối này cho lẫn nhau Mỗi router sau khi nhận được thông tin trạng thái đường truyền ( Link

-States ) lưu thông tin trạng thái đó vào cơ sở dữ liệu của nó rồi chuyển các

bản vừa cập nhật cho các router khác

Trang số I2

Trang 13

Distance Vector — LínI-State va OSPE`

3 Sau khi các cơ sơ dữ liệu của mỗi router hoàn chỉnh Router sẽ tính toán

cây đường đi ngắn nhất tới mỗi nút đích Router sử dụng thuật toán Dijkstra

để tính toán ra cây đường đi ngắn nhất đó Các địa chỉ đích đó , giá và các

hop để đến đi chỉ đích dó sẽ hình thành lên bảng routing IP

4 Trong trường hợp không có sự thay đổi xảy ra trong mạng OSPF, như giá

của kết nối hay các nút mạng được thêm vào hay gỡ ra OSPF sẽ giữ

nguyên trạng thái Bất cứ thay đổi nào xảy ra đều được truyền thông qua

các gói link - state và thuật toán Dijkstra sẽ tính toán lại để tìm ra đường đi

ngắn nhất

a)Giải thuật đường đi ngắn nhất

Giải thuật tìm đường đi ngắn nhất sử dụng giải thuật Dijkstra Giải thuật này coi mỗi router như một nút cuả cây và tính toán con đường đi ngắn nhất tới đích cách cộng giá phải trả khi đi qua một nút , do vậy mỗi router sẽ có riêng một cấu

hình cơ sở

Tất cả các router sẽ xây dựng lên cây đường đi ngắn nhất sử dụng cùng một cơ

sở dữ liệu link - states Và sau đây là một số bước quan trọng trong quá trình xây

dựng cây đường đi ngắn nhất

b)Giá OSPF-Cây đường đi ngắn nhất :

Giả sử chúng ta có một mô hình mạng như sau với các mức giá đã được qui

định trước Nhằm mục đích xây dựng cây đường đi ngắn nhất cho RTA , chúng

ta hãy coi RTA là gốc của cây và tính tóan giá nhỏ nhất cho mỗi nút đích

128.2130.0

192.213.110 222.211.100

Trang số 13

Trang 14

Trên đây là một mô hinh mạng , nhận thấy hướng của mũi tên chỉ về nút tại

đó đang được lượng giá Ví dụ giá của kết nối từ cổng của Router B(RB) tới

mạng 128.213.0.0 không có quan hệ gì tới việc tính toán giá của kết nối tới mạng 192.213.11.0 Router A có thể đi tới mạng 192.213.11.0 thông qua Router B với giá là 15 (10+5) Router A cũng có thể đi tới mạng 222.211.10.0 thông qua

Router C với giá 20(10+10)hoặc thông qua Router B với giá 20(10 + 10) Trong

trường hợp này tồn tại các con đường tới địa chỉ đích có cùng giá Theo tuyên bố của Cisco cho giao thức OSPF sẽ lưu tối đa 6 con đường tới cùng một địa chỉ

3)Khái niệm vùng(Area) và biên(Border) của các Router

Như đã đề cập ở trên ,OSPF gửi các thông tin trạng thái link-state giữa các router

bằng phương pháp flooding (lan toả ).Khái niệm vùng (area ) để chỉ vùng giới hạn

lan toả của các thông tin mới ,quá trình lan toả và tính toán của giải thuật Dijkstra trên một router chỉ giới hạn trong phạm vi của vùng đó Tất cả các router nằm trong cùng một vùng có cùng một cơ sở dữ liệu như nhau Các router thuộc nhiều vùng khác nhau được gọi là các router vùng biên (Area border router — ABR ) có

nhiệm vụ chuyển tiếp các thông tin về tuyến cùng với các thay đổi giữa các vùng

khác nhau

AS100 Axea Border Router

Internal Router mm Autonomous System

Bordex Router (ASBR)

Mỗi vùng là một mảng ghép nối riêng biệt Một Router có tất cả các kết nối

nằm trong một vùng được gọi là Internal router(IR) còn Router mà có kết nối đến các vùng khác nhau được gọi là Area border router(ABR) Router làm viêc như một gate way (có nhiệm vụ phân phối lại ) giữa OSPF và các giao thức tìm đường khác (IGRP,EIGRP,IS-IS,RIP,BGP,Static) hoặc giữa các tiến trình cla OSPF

Trang số 14

Trang 15

Distance Vector — LinI-State va OSPF

được gọi là Autonomóu system border router(ASBR).Bất cứ một router náo cũng

có thể là ABR hay ASBR

4)Các gói Link-State:

Có rất nhiều loại gói Link-State Các loại khác nhau đó được mô tả qua sơ đồ dưới đây:

Describe the state and cost

of the router's lirks (interfaces)

to the ama (Intya-area) Origirated by ABRs only

Describe networks in the AS but outside of an Area (Inter-area)

Also describe the location of the ASBR

Network Links External Links

DR

Originated fox rwlti-access segments

with oom than one attached router

Describe all routers attached to the

specific segment Originated by a

esignated Router (discussed later on)

Originated by an ASBR

Describe destinations external the

autonomous system or a default route

to the outside AS

Theo như sơ đồ trên ta nhận thấy ,các gói router link thé hiện trạng thái và

giá kết nối cuả router đến một vùng cụ thể Mỗi router sẽ phát các router link

đến các cổng của nó.Summary link được phát ra bởi các ABR ,nó chỉ ra cách

có thể phổ biến thông tin giữa các vùng khác nhau Một cách đơn giản ,tất cả

các thông tin được lưu vào một khung (area 0 ) sau đó quá trình quay vòng của khung này sẽ đẩy thông tin tới các vùng khác nhau.Các ABR đó khi đóng

nhiệm vụ của mét ASBR router thi summary link sé chi ra cach router cé thé

liên lạc được với một miền AS khác

Network Link được gửi bởi các Designated router (DR)(chúng ta sẽ tìm hiểu sau về thuật ngữ trên ).Thông tin này chỉ ra một cách cụ thể chỉ tiết các router

được nối đến phân đoạn như thế nào như Ethernet ,Token Ring và FDDI (hay

NBMA)

External Link được gửi bởi các mạng ở ngoài AS.Các mạng này xâm nhập vào OSPF thông qua cơ chế phân phối lại Các ASBR có nhiệm vụ đưa các router ngoài đó vào chế độ tự trị

Trang số 15

Trang 16

5) Chức năng của OSPF trên các router:

1.Cho phép một tiến trình OSPF ,lệnh: router ospf <process-id>

2.Phân công các vùng cho các cổng , lệnh : network <nefwork or IP address

><mask><area-id>

OSPF process-id là một giá trị số định vị cho router như vậy mỗi router có một process-id khác nhau Có thể chạy nhiều tiến trình OSPF trên cùng một router nhưng không có nghĩa là sẽ tạo ra nhiều cơ sở dữ liệu instance công thêm vào

tổng phí cho router đó

Điều khiển mạng tức là phân công một cổng cho một vùng cụ thể Mặt nạ được

sử dụng như là một shortcut, nó giúp chúng ta liệt kê các cổng trong một vùng

với cầu hình đơn giản Mặt nạ bao gồm các bit 0(match bit) và 1 ( do not care

1),ví dụ 0.0.255.255: là một số hiệu mạng với hai byte đầu là match bit

Area-id là số hiệu vùng mà chúng ta muốn kết nối đến,area-id có thể là các con

số nguyên từ 0 đến 4294967295 hoặc có thể có dạng giống như là địa chi IP

Sau đây là các ví dụ:

Area23 Area 0.0.0.0

E1 192.213.122 l¬-

Trang 17

Distance Vector — LinI-State va OSPF`

phù hợp đối với toàn bộ địa chỉ IP.Đây là một cách dễ dàng để đặt các cổng

trong cùng một vùng nếu chúng ta gặp vấn đề trong việc cấu hình một mặt nạ 6) Xác nhận OSPF

Để xác nhận xem gói OSPF có phải dành cho mình không router dựa trên mật khẩu được định nghĩa trước Một cách ngầm định router đặt giá trị xác nhận là null có nghĩa là mọi router trên mạng đều có thể nhận gói OSPF mà nó gửi đi.Có hai phương pháp xác nhận đơn giản được sử dụng : xác nhận dựa trên mật khẩu đơn giản và xác nhận phân loại lời nhắn(MD-5)

a)Xác nhận dựa trên mật khẩu

Xác nhận này cho phép một mật khẩu (chìa khoá) được dùng để đại diện cho một vùng Các Router trong cùng một vùng muốn tham gia vào một tuyến đường

phải có cùng mầt khẩu Trở ngại của phương pháp này là dễ bị tấn công Bất cứ ai với công cụ phân tích kết nối cũng dễ dàng lấy được mật khẩu Để xác nhận mật

khẩu ta sử dụng các lệnh sau đây:

ip ospf authentication-key key (this goes under the specific interface)

area area-id authentication (this goes under "router ospf <process-

b)Xác nhận phân loại lời nhắn

Thực chất đây là kiểu xác nhận dựa trên mật mã Một mật khẩu và một

khoá id được gán cho mỗi router Router sử dụng thuật toán dựa trên các

gói OSPF ,mật khẩu và khoá id để sinh ra các thông điệp (message

digest) gắn vào gói tin Không giống như phương pháp xác nhận đơn giân

,mật khẩu không được trao đổi trên toàn bộ kết nối Thêm vào đó các con

số nối tiếp nhau không giảm cũng được gắn vào các gói tin OSPF để tránh

sự tấn công ngược trở lại

Phương pháp này cũng cho phép sự chuyển tiếp liên tục giữa các khoá

Điều này có ích cho các nhà quản lý khi muốn thay đổi mật khẩu mà không

làm ngắt đường truyền.Nếu một cổng được định nghĩa một khoá mới ,

Trang số 17

Trang 18

router đó sẽ gửi bản sao của gói tin đó , mỗi gói được xác nhận bởi một

khoá khác nhau.Router sẽ ngừng việc gửi các gói tin một khi nó nhận ra

có router chấp nhận khóa mới đó.Sau đây là mã lệnh:

ip ospf message-digest-key keyid md5 key (used under the interface)

area area-id authentication message-digest (used under "router ospf

OSPF có sự hạn chế khi có nhiều vùng khác nhau cùng tham dự vào.Nếu

nhiều hơn một vùng được cấu hình thì một trong các vùng đó nhất thiết

phải là vùng 0.Vùng này đóng vai trò làm khung.Khi thiết kế mạng tốt nhất

nên thực hành với vùng 0 sau đó mới mở rộng nó ra các vùng khác

Khung phải là trung tâm của các vùng khác thể hiện ở chỗ các vùng khác

phải có kết nối vật lý tới khung.Các vùng sẽ gửi thông tin tới khung và đến

lượt mình ,khung sẽ phát thông tin đó tới các vùng khác.Sơ đồ trên sẽ mô

tả luồng thông tin trong mạng OSPF

Trang số I8

Trang 19

Distance Vector — LinI-State va OSPF

Trong sơ đồ trên các vùng đều nối trực tiếp tới khung Với một tình huống

đặc biệt khi một vùng mới được đưa vào không có kết nối trực tiếp đến

khung ,một kết nối ảo sẽ được hình thành

Dựa theo các tuyến thông tin khác nhau ta phân ra thành các loại sau:Các

tuyến nằm hoàn toàn trong một vùng (nguồn và đích nằm cùng một vùng )

được gọi là intra-area router.Các tuyến này được miêu tả bởi ký tự 0 trong

bảng IP routing table.Các tuyến xuất phát từ các vùng khác được gọi là

inter-area hay Summary router.Các tuyến này được miêu tả trong bảng

routing table qua các ký tự O IA.Các tuyến được tạo thành từ các giao thức

tìm đường khác khác với OSPF và được xen vào OSPF thông qua điều

chỉnh lại được gọi là các external router.Các router này được miêu tả thông

qua các ký tự O E2 hay O E1 trong bảng routing table Các tuyến cùng có

một địa chỉ đích có thứ tự ưu tiên như sau:intra-area,inter-area,external

1,external 2

8)Các kêt nối ảo

Các kết nối ảo được sử dụng với các mục đích sau:

- _ Kết nối các vùng không có các kết nối vật lý tới khung

-_ Ráp nối khung trong trường hợp khung bị gián đoạn

Các vùng không có kết nối trực tiếp tới vùng 0

Trang số I9

Trang 20

Như đã đề cập ở trên vùng 0 là trung tâm của các vùng khác Trong

trường hợp có các vùng không có kết nối tới khung các kết nối ảo sẽ được

sử dụng.Các kết nối ảo sẽ cung cấp một đường dẫn logic tới vùng 0 cho

các vùng trên Các kết nối ảo phải được thiết lập giữa hai vùng ABR có

chung một vùng với một ABR có kết nối đến khung

Trong sơ đồ trên vùng 1 không có kết nối trực tiếp tới vùng 0.Một kết nối ảo đã được thiết lập giữa RTA và RTB Vùng 2 được sử dụng như một vùng đệm và RTB là lối vào của vùng 0.Theo cách này RTA và vùng 1 có kết nối logic tới

khung Để cấu hình liên két ao ta dung lénh area <area-id> virtual-link <R/D>

router OSPF trén RTA và RTB ,area-id là tên của vùng chuyển tiếp Trên sơ đồ trên đó là vùng 2.RID là router id,OSPS router-id thường là địa chỉ IP cao nhất

trong bảng hoặc địa chỉ trở về cao nhất nếu nó tồn tại.Router- id chỉ được tính tại thời gian khởi động hay thời gian tiến trình OSPF bắt đầu Để tìm router-id sử

dung lénh show ip ospf interface Gia stt rang 1.1.1.1 va 2.2.2.2 la cac RID cia RTA va RTB ,cau hinh OSPF cho cacs router sé là:

Phan vung khung

OSPF cho phép kết nối các phần không liên tục của khung sử dụng các kết nối ảo Trong một số trường hợp các vùng 0 khác nhau cần phải kết nối lại với nhau.Điều này xảy ra khi một tác nhân muốn hoà nhập 2 mạng OSPF ra thành

một mạng với một vùng 0 chung.Trong các trường hờp khác các kết nối ảo được

thêm vào khi vài router gặp sự cố gây ra hiện tượng khung bị chia làm 2 phần

Nhưng cho dù với lý do gì đi nữa một kết nối ảo chỉ có thể được định hình giữa

các ABR có vùng 0 trong một vùng và phải có vùng chung

Trang số 20

Trang 21

Distance Vector — LínI-State va OSPE`

Trong sơ đồ trên hai vùng 0 được liên kết với nhau thông qua các kết nối ảo

Trong trường hợp vùng chung không tồn tài phải thêm vào một vùng như là vùng

3 để tạo ra vùng đệm trung chuyển

Trong trường hợp một vùng bất kỳ nào khác khung được chia ra ,khung sẽ không tạo các kết nối ảo đến các vùng được thêm mà thay vào đó ,một phần của vùng được tách sẽ được coi như là một phần khác thông qua inter-area router

chứ không phải intra — area router

9)Các router hàng xóm (Neighbors)

Các router chung một phân đoạn trở thành hàng xóm của nhau trên phân đoàn

đó Các router hàng xóm được lập thông qua giao thức Hello Các gói tin “Hello” được gửi định kỳ đến các cổng sử dung multicast Các router trở thành hàng xóm của một router khác ngay khi nó nhìn thấy nó được liệt kê trong danh sách hàng xóm của gói tin “Hello” do router đó gửi đến Theo cách này ,hai con đường giao

tiếp được đảm bảo.Hàng xóm chỉ cung cấp địa chỉ gốc Thêm nữa các địa chỉ có thể được định hình trên một cổng với sự hạn chế là chúng phải có cùng một địa chỉ gốc

Hai router không thể trở thành hàng xóm của nhau trừ khi chúng thoả mãn điều

kiện sau:

- _ Area-id: Hai router có cùng một phân đoạn ; các cổng của chúng cần phải

thuộc về một vùng trên phân đoàn đó Tất nhiên các cổng có thể thuộc về

một subnet và có mặt nạ như nhau

- _ Authentication(Có cùng sự xác nhận):OSPF cho phép định dạng cấu trúc mật khẩu trong các vùng khác nhau.Các router muốn trở thành hàng xóm

của nhau phải đổi mật khẩu trên cùng một phân đoàn cụ thể

-_ Thời gian cho lệnh Hello và Dead:OSPF trao đổi các gói “Hello” trên mỗi

phân đoạn Đây là cách để biết sự tồn tại của một router trên một phân đoạn nhằm mục đích chọn ra một router đại diện(designated router-DR) trong các phân đoạn đa truy cập Thời gian “Hello” là khoảng thời gian được tính bằng giây đo thời gian một gói “Hello” đi từ router đến cổng Thời gian “Dead” là số giây mà gói “Hello” của router mất liên lạc tới khi nó bị các router hàng xóm

tuyên bố OSPF router gắp sự cố

OSPF đòi hỏi các khoảng thời gian một cách chính xác giữa hai hàng

xóm.Nếu một trong chúng có thời gian trên khác nhau các router này sẽ

Trang s6 21

Trang 22

không trở thành hàng xóm cuả nhau nữa ,các lệnh để thiết lập thời gian trên là: ip ospf hello-interval seconds and ip ospf dead-interval seconds

- Stub area flag: Hai router cần phải cùng đồng ý trên một stub area flag

trong một gói “Hello” để trở thành hàng xóm của nhau.Khái niệm stub area

flag sé dudc dé cập đến sau nhưng cần phải lưu ý rằng định nghĩa này sẽ

làm ảnh hưởng tới việc kết nạp các hàng xóm

và một router là router backup của router đại diện đó (BDR) trong các phân đoạn

đa truy cập Các BDR đóng vai trò như một cơ chế dự phòng trong trường hợp

DR gặp sự cố Các BR đóng vai trò trung tâm tiếp xúc với sự thay đổi thông tin ,

thay vì mỗi router chuyển tiếp thông tin với các router trên một phân đoạn ,mỗi

router sẽ chỉ chuyển tiếp thông tin với các DR và BDR mà thôi.Các DR và BDR lưu giữ thông tin cho các router khác Điều đó làm giảm độ phức tạp tính toán từ O(n*n) đến O(n) với n là số router trong một phân đoạn đa truy cập

Trong sơ đổ trên , các router có chung một phân đoạn.Khi trao đổi gói “Hello”,

một router được chọn làm DR và một router khác được chọn làm BDR Mỗi router trên phân đoạn ( đã là router hàng xóm )sẽ thử thiết lập thành lân cận với DR và BDR

Lựa chọn DR

Các DR và BDR được lựa chọn thông qua giao thức Hello.Gói “Hello” được trao đổi thông qua các gói multicast IP (Phụ lục B) trong mỗi phân đoạn.Router với ưu tiên OSPF cao nhất trên phân đoạn sẽ trở thành DR trên phân đoạn đó Tiến trình trên lại được lặp lại cho các BDR Trong trường hợp ngang điểm thì router với RID cao hơn sẽ thắng Giá trị ưu tiên ngầm định cho một cổng của OSPF là một.Nhớ rằng khái niệm DR và BDR dành cho mỗi phân đoạn Thiết lập ưu tiên OSPF cho mét céng thuc hién bdi lénh ip ospf priority <value> interface

Trang số 22

Trang 23

Distance Vector — LinI-State va OSPF`

Giá trị ưu tiên là 0 để chỉ các cổng không thể được chọn làm DR hay BDR

.Trạng thái của một cổng với thứ tự ưu tiên là 0 sẽ là DROTHER

Trong sơ đồ trên ,RTA và RTB có cùng một giá trị ưu tiên nhưng RTB có RID cao hơn,RTB trở thành DR trên phân đoạn,RTC có ưu tiên cao hơn RTB,RTC trở thành DR trên phân đoạn đó

Xây dựng các lân cận

Như đã nói ở trên tiến trình xây dựng các lân cận chỉ có hiệu quả khi một số bước

khác đã kết thúc.Các router trở thành lân cận của nhay sẽ có chung một cơ sở sữ

liệu link-state Sau đây là bảng tóm tắt các bước phải trải qua để một router trở

thành lân cận của một router khác

.Down:Không một thông tin nào được nhận từ các router khác trên phân đoạn .Attempt:Trong các mạng như X.25 hay Frame Relay trạng thái này chỉ ra rằng không có thông tin mới nào được nhận từ các hàng xóm Mọi hoạt động chỉ là liên lạc với hàng xóm thông qua các gói “Hello” nhằm giảm tần số Polllnterval .Init:Các cổng đã phát hiện ra gói “Hello” từ hàng xóm nhưng giao tiếp hai chiều

vẫn chưa được thiết lập

.TWwo-way:Khi giao tiếp hai chiều đã được thiết lập với hàng xóm.Router đã nhìn thấy tên nó trong gói “Hello” được gửi từ router hàng xóm.Trong giai đoạn này các DR và BDR cũng được lựa chọn.Cuối giai đoạn router sẽ quyết định tiếp tục xây dựng một lân cận hay không.Quyết định này dựa trên tiêu chuẩn router đó có phải là DR hay BDR hay không ,kết nối là điểm điểm hay là kết nối ảo

.Exstart:Router sẽ thử khởi tạo một số thứ tự ,số này sẽ được dùng trong tiến trình trao đổi thông tin.Số này đảm bảo rằng router sẽ luôn có thông tin cập nhật Một router sẽ trở thành router gốc và một router khác trở thành router phụ.Router chính sẽ chuyển cho router phụ các thông tin của nó

.Exchange:Router sẽ miêu tả toàn bộ cơ sở dữ liệu link-state của nó bằng việc

gửi một gói tin vắn Tại trạng thái này gói tin đó phải gửi đến tất cả các cổng của

router

.Loading:Tại trạng thái này,các router hoàn thành quá trình trao đổi thông

tin.Router đã xây dựng xong danh sách yêu cầu link-state và danh sách truyền phát lại Thông tin nào chưa đầy đủ hoặc không còn giá trị nữa sẽ được lưu vào

Trang số 23

Trang 24

danh sách yêu cầu các thông tin được gửi sẽ được lưu trong danh sách truyền

phát lại cho đến khi nó được công nhận là đã đến đích

,Full:Tại trạng thái này các lân cận đã cấu hình xong Cac router hang xóm đã trở thành các lân cận của nhau, và các lân cận đã có một cơ sở dữ liệu link-state giống nhau

RTA,RTB,RTD và RTF cùng trên phân đoạn E) trong vung 0.0.0.0 Sau day la

quá trình cấu hình để RTA,RTB,RTD có cùng cấu hình như RTF

Trang 25

Distance Vector — LinI-State va OSPF

Sau đây là các ví dụ đơn giản mô tả các cặp lệnh ,chúng rất hữu ích trong quá trình gỡ rối cho mạng

sh ip ospf interface <interface>

Đây là lệnh kiểm tra nhanh tất cả các cổng thuộc vùng ma chúng được giả thiết

Ở trong đó Thứ tự các lệnh trong một mạng OSPF là rất quan trọng.Trong cấu hình của RTA nếu lệnh “network 203.250.0.0.0.0.255.255 area 0.0.0.0” được đặt trước lệnh “network 203.250.13.41.0.0.0.0 area 1” thì tất cả các cổng sẽ là vùng 0 điều này là sai vì cổng loopback nằm trong vùng 1.Chúng ta hãy xem xét các

lệnh trên RTA,RTF,RTB và RTD:

RTA#show ip ospf interface e0

Ethernet0 is up, line protocol is up

Internet Address 203.250.14.1 255.255.255.0, Area

0.0.0.0

Process ID 10, Router ID 203.250.13.41, Network Type

BROADCAST, Cost:

10

Transmit Delay is 1 sec, State BDR, Priority 1

Designated Router (ID) 203.250.15.1, Interface

Neighbor Count is 3, Adjacent neighbor count is 3

Adjacent with neighbor 203.250.15.1 (Designated

Router)

LoopbackO is up, line protocol is up

Internet Address 203.250.13.41 255.255.255.255, Area

1

Process ID 10, Router ID 203.250.13.41, Network Type

LOOPBACK, Cost: 1

Loopback interface is treated as a stub Host

RTF#show ip ospf interface e0

EthernetO is up, line protocol is up

Internet Address 203.250.14.2 255.255.255.0, Area

Trang 26

Designated Router (ID) 203.250.15.1, Interface

Neighbor Count is 3, Adjacent neighbor count is 3

Adjacent with neighbor 203.250.13.41 (Backup

Designated Router)

RTD#show ip ospf interface e0

Ethernet0 is up, line protocol is up

Internet Address 203.250.14.4 255.255.255.0, Area

0.0.0.0

Process ID 10, Router ID 192.208.10.174, Network

Type BROADCAST, Cost:

10

Transmit Delay is 1 sec, State DROTHER, Priority 1

Designated Router (ID) 203.250.15.1, Interface

Neighbor Count is 3, Adjacent neighbor count is 2

Adjacent with neighbor 203.250.15.1 (Designated

Router)

Adjacent with neighbor 203.250.13.41 (Backup

Designated Router)

RTB#show ip ospf interface e0

Ethernet0 is up, line protocol is up

Internet Address 203.250.14.3 255.255.255.0, Area

0.0.0.0

Process ID 10, Router ID 203.250.12.1, Network Type

BROADCAST, Cost: 10

Transmit Delay is 1 sec, State DROTHER, Priority 1

Designated Router (ID) 203.250.15.1, Interface

address 203.250.14.2

Backup Designated router (ID) 203.250.13.41,

Interface address

Trang số 26

Trang 27

Distance Vector — LinI-State va OSPF`

203.250.14.1

Timer intervals configured, Hello 10, Dead 40, Wait

40, Retransmit 5

Hello due in 0:00:03

Neighbor Count is 3, Adjacent neighbor count is 2

Adjacent with neighbor 203.250.15.1 (Designated

(ngầm định là 1),cổng của RTF được chọn làm DR bởi có RID cao nhất , theo

cách này RTA được chọn làm BDR ,RTD và RTB không được chọn làm DR hay BDR vì trạng thái của chúng là DRTHER

điều này là rất quan trọng cho OSPF để chạy một cách chính xác.Nhưng rất may

là trong các mạng điểm- điểm và điểm — nhiều điểm điều này không còn là quan

trọng nữa việc áp dụng OSPF cho NBMA sẽ được thảo luận trong các phần sau Tiếp theo chúng ta hãy chú ý các lệnh sau:

show ip ospf neighbor

Chú ý các lệnh trên RTD:

RTD#show ip ospf neighbor

Neighbor ID Pri State Dead Time Address Interface

203.250.12.1 1 2WAY/DROTHER 0:00:37 203.250.14.3 Ethernet0O

203.250.15.1 1 FULL/DR 0:00:36 203.250.14.2 Ethernet0

203.250.13.41 1 FULL/BDR 0:00:34 203.250.14.1 Ethernet0

Trang số 27

Trang 28

Lệnh show ip ospf neighbor chỉ ra trạng thái của các hàng xóm trên cùng một phân đoạn Trong trường hợp một “Neighbor ID” không thuộc về phân đoạn ta đang xem xét Với ví dụ của chúng ta là 202.250.12.1 và 103.250.15.1 không

thuộc Ethernet0.Điều này là dễ hiểu vì “Neighbor ID “ có thể là bất cứ ID nào trên

vùng RTD và RTB là hàng xóm của nhau đó là lý do tại sao trạng thái ở đây là 2WAY/DROTHER,RTD là lân cận của RTA và RTF ,trạng thái là FULL/DR và FULL/BDR

Lân cận trên các ghép nối điểm - điểm

OSPF luôn luôn hình thành một lân cận với hàng xóm thao một khía cạnh khác

của các ghép nối điểm - điểm ví dụ như các đường truyền nối tiếp điểm - điểm

Không có khái niệm DR hay BDR Trạng thái của các cổng nối tiếp là điểm -

điểm

Lân cận trên một mạng đa truy cập không sử dụng broadcast(NBMA):

Một điểm cần lưu ý ở đây đó là khi cấu hình OSPF trên các mạng NBMA như là

Frame Relay,X 25 ,ATM Giao thức này xem các mạng NBMA đó giống như là các manh sử dụng broadcast khác như Ethernet Các mạng NBMA thường được xây dựng trên topo hub và spoke (giống như topo sao) Các PVC và SVC được sắp đặt phân cấp trên mạng đó Chính vì vậy sự lựa chọn các DR trở thành vấn

đề bởi các DR và các BDR cần các kết nối vật lý tới các router trên toàn mạng đó.Không những thế vì thiếu khả năng broadcast ,các DR và BDR cần có bảng

trạng thái của các router trên mạng đó ,những điều này đạt được là nhờ sử dụng các lệnh:

the neighbor ip-address [priority number] [poll-interval seconds]

Với “ip-address “ va “priority” la cdc dia chỉ IP và mức ưu tiên mà OSPF cấp cho các hàng xóm Một hàng xóm với mức ưu tiên là 0 được xem như là không đủ tiêu

chuẩn để lừa chọn làm DR Khái niệm “poll-interval” là khoảng thời gian các cổng của NBMA đợi để gửi “Hello” để thăm dò xem cé router nào gặp sự cố không.Sơ

đồ sau đây sẽ chỉ rõ tầm quan trọng của viêc lựa chọn các DR

Trang số 28

Trang 29

Thiét Bi Gang N„Hhóm 2 - Tĩn2 - K42 — CNTT Distance Vector — LínI-State va OSPE`

: femme) BTA

Trong sơ đồ trên cho thấy cần thiết phải chọn cổng của RTA làm DR bởi

vì chỉ có RTA là có các kết nối tới các router khác Việc lựa chọn DR được tiến hành bằng cách thiết lập các mức ưu tiên cho các cổng Các router không có khả năng trở thành DR hoặc BDR sẽ có mức ưu tiên là 0

III)Chương 2

1)Các biện pháp để giảm bới rắc rối khi cấu hình các router hàng xóm

và chỉ định các router thành DR và BDR trên mạng NBMA

a)Các ghép nối logic điểm- điểm(GNLG)

Các GNLG điểm-điểm như là một cách định nghĩa logic một ghép nối Một ghép nối vật lý có thể được phân ra thành nhiều ghép nối logic với mỗi ghép nối logic được định nghĩa như là một ghép nối điểm-điểm Phương pháp này đầu tiên được

sử dụng với mục đích cải thiện một số vấn đề trên NBMA bằng cách phân mảnh

dọc dựa trên các giao thức tìm đường

Các GNLG điểm điểm có các đặc điểm như các ghép nối điểm-điểm khác

Với phương pháp này ,khi giao thức OSPF được thực thi trên mạng các lân cận

được hình thành dựa trên các GNLG điểm-điểm mà không ảnh hưởng tới sự lựa chọn các DR và BDR Sơ đồ sau sẽ mô tả chỉ tiết các GNLG điểm-điểm

Awa0

11 12321

Trang số 29

Trang 30

Theo sơ đồ trên ,vơi RTA chúng ta chia Serial 0 thành 2 GNLG điểm-điểm là

S0.1 và S0.2, theo cách này OSPF sẽ coi mạng như là tập hợp của các liên kết điểm-điểm hơn là một mạng đa truy nhập Trở ngại chính của phương pháp này

là mỗi phân đoạn sẽ thuộc về các subnet khác nhau Điều này không thể chấp

nhận khi một vài người quản trị đã ấn định một IP subnet cho toàn bộ mạng Cách khắc phục là sử dụng các ghép nối không được đánh số trên mạng Tuy nhiên điều này cũng gây trở ngại khi các nhà quản trị mạng WAN đó dựa trên địa

chỉ IP của các đường nối tiếp Sau đây là cách cấu hình cho RTA và RTB:

b)Chọn kiểu ghép nối cho cổng

Lệnh sau được sử dụng để chọn kiểu ghép nối OSPF :

ip ospf network {broadcast | non-broadcast | point-to-multipoint}

Trang số 30

Trang 31

Distance Vector — LinI-State va OSPF

c)Các ghép nối điểm - nhiều điểm(DND)

Một ghép nối OSPF DND được định nghĩa như là nhiều ghép nối điểm-điểm có

một hoặc một vài hàng xóm Khái niệm này sẽ được bàn đến tiếp trong phần sau

Các nhà quản trị mạng không phải lo lằng tới việc phải có nhiều subnet cho mỗi

kết nốt điểm-điểm nữa Mạng sẽ được cấu hình như một subnet Điều này sẽ tạo thuận lợi cho việc chuyển sang khái niệm điểm - điểm khi chưa đụng tới việc thay đổi địa chỉ IP trên mạng.Không những thế , các nhà quản trị không còn phải lo lắng

về các DR và những tuyên bố touter hàng xóm Ghép nối OSPF DND làm việc dựa

trên quá trình thêm vào thông tin link-state các thông tin về thiết bị được mô tả ở

trạng thái kết nối với các roter hàng xóm

Trang 32

RTA#show ip ospf interface s0

Serial0 is up, line protocol is up

Internet Address 128.213.10.1 255.255.255.0, Area 0

Process ID 10, Router ID 200.200.10.1, Network Type

POINT TO MULTIPOINT, Cost: 64

Transmit Delay is 1 sec, State POINT TO MULTIPOINT,

Timer intervals configured, Hello 30, Dead 120, Wait 120,

Retransmit 5

Hello due in 0:00:04

Neighbor Count is 2, Adjacent neighbor count is 2

Adjacent with neighbor 195.211.100.174

Adjacent with neighbor 128.213.63.130

RTA#show ip ospf neighbor

Neighbor ID Pri State Dead Time Address

RTB#show ip ospf interface sO

Serial0 is up, line protocol is up

Internet Address 128.213.10.2 255.255.255.0, Area 0

Process ID 10, Router ID 128.213.10.2, Network Type

POINT _TO_MULTIPOINT, Cost: 64

Transmit Delay is 1 sec, State POINT_TO MULTIPOINT,

Timer intervals configured, Hello 30, Dead 120, Wait 120,

Retransmit 5

Hello due in 0:00:14

Neighbor Count is 1, Adjacent neighbor count is 1

Adjacent with neighbor 200.200.10.1

RTB#show ip ospf neighbor

Neighbor ID Pri State Dead Time Address

Interface

Trang số 32

Trang 33

Distance Vector — LinI-State va OSPF

200.200.10.1 1 EULL/ - 0:01:52

128.213.10.1 Serial0

Trở ngại chính của phương pháp này là việc chia các Host router (các router với mặt nạ bít là 255.255.255.255) cho các router hàng xóm Khai báo Host router trong bảng routing table của RTB:

RTB#show ip route

Codes: C - connected, S - static, I - IGRP, R - RIP,

M - mobile, B - BGP

D - EIGRP, EX - EIGRP external, O - OSPF, IA -

OSPF inter area

El - OSPF external type 1, E2 - OSPF external type 2, E - EGP

i - IS-IS, Ll - IS-IS level-1, L2 - IS-IS

level-2, * - candidate default

Gateway of last resort is not set

200.200.10.0 255.255.255.255 is subnetted, 1 subnets

Ngày đăng: 27/08/2014, 15:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  IP  routing  table.Các  tuyến.  xuất  phát  từ  các  vùng  khác  được  gọi  là - Đồ án so sánh giữa hai loại giao thức tìm đường distance vector và link state   phân tích hoạt động của giao thức chọn đường OSPF
ng IP routing table.Các tuyến. xuất phát từ các vùng khác được gọi là (Trang 19)
Bảng  routing  table  của  RTE  trước  khi  vùng  2  được  cấu  hình  thành  vùng - Đồ án so sánh giữa hai loại giao thức tìm đường distance vector và link state   phân tích hoạt động của giao thức chọn đường OSPF
ng routing table của RTE trước khi vùng 2 được cấu hình thành vùng (Trang 37)
Hình  nếu  từ  khóa  subnet  không  được  chỉ  ra. - Đồ án so sánh giữa hai loại giao thức tìm đường distance vector và link state   phân tích hoạt động của giao thức chọn đường OSPF
nh nếu từ khóa subnet không được chỉ ra (Trang 41)
Hình  tương  tác  không  cho  phép  thông  tin  được  gửi  trở  về  giao  thức  mà  nó - Đồ án so sánh giữa hai loại giao thức tìm đường distance vector và link state   phân tích hoạt động của giao thức chọn đường OSPF
nh tương tác không cho phép thông tin được gửi trở về giao thức mà nó (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w