1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng của chính sách Tỷ giá ở Việt Nam và các giải pháp hoàn thiện trong bối cảnh áp dụng chính sách mở của, hội nhập quốc tế

36 578 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng của chính sách tỷ giá ở Việt Nam và các giải pháp hoàn thiện trong bối cảnh áp dụng chính sách mở của, hội nhập quốc tế
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 458 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ 2 1. Tỷ giá 2 1.1 Khái niệm và phân loại 2 1.2. Cơ sở hình thành tỷ giá hối đoái 3 2. Chính sách tỷ giá 6 2.1. Khái niệm và hệ thống chính sách tỷ giá 6 2.2. Các công cụ của Chính sách tỷ giá 6 2.3. Vai trò của chính sách tỷ giá tới tăng trưởng kinh tế 8 3. Kinh nghiệm của một số quốc gia về chính sách tỷ giá 10 3.1 Nhóm các nước có đồng tiền mạnh 10 3.2. Nhóm các nước đang chuyển đổi về cơ cấu kinh tế (Ba Lan, Nga, Séc…) 11 3.3. Nhóm các nước Châu Á và khu vực ASEAN 12 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ Ở VIỆT NAM 14 1. Giai đoạn 1986 – 1996 14 2. Giai đoạn 1997 – 1998 16 3. Giai đoạn 1999 – 2006 20 4. Diễn biến Chính sách tỷ giá ở Việt Nam trong những năm gần đây 21 4.1 Năm 2008 21 4.2 Năm 2009 23 4.3 Năm 2010 24 4.4 Năm 2011 25 4.5 Đánh giá chính sách tỷ giá trong giai đoạn 2008 – 2011 26 CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP 29 1. Thiết lập chế độ tỷ giá thả nổi có sự điều tiết của Nhà nước 29 2. Thực hiện chính sách đa ngoại tệ 29 3. Kết hợp đồng bộ với các chính sách quản lý vĩ mô khác của Nhà nước 30 4. Hoàn thiện công tác quản lý ngoại hối 31 5. Nâng cao hiệu quả quản lý dự trữ ngoại hối của NHNN 33 6. Nâng cao vị thế đồng tiền Việt Nam 33 KẾT LUẬN 35 LỜI NÓI ĐẦU Tỷ giá hối đoái giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh tế của mỗi quốc gia cũng như các quan hệ thương mại quốc tế thông qua việc phản ánh tương quan giá trị đồng tiền của những nước khác nhau. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế, ngày nay tỷ giá hối đoái đã trở thành công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của mỗi quốc gia và là vũ khí lợi hại trong cuộc chiến tranh thương mại hết sức khốc liệt trên thế giới. Trong thời gian qua, để thúc đẩy nền kinh tế phát triển, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần thay đổi phương pháp điều hành tỷ giá. Từ chỗ được giữ cố định, “đông cứng” trong một thời gian khá dài, đến nay tỷ giá hối đoái đã được hình thành một cách khách quan theo tín hiệu thị trường và có sự điều tiết của Nhà nước. Thực tế đã chứng minh rằng, cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái hiện nay là phù hợp với đặc điểm tình hình và mục tiêu phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên, để cơ chế điều hành tỷ giá mới có thể thực sự phát huy tác dụng cần thiết phải có những cải cách hơn nữa trong việc quản lý tỷ giá hối đoái. Làm sao để tỷ giá hối đoái sát hợp với tín hiệu thị trường, theo hướng điều tiết của Nhà nước, khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, nâng cao uy tín của đồng tiền và tiến tới một đồng Việt Nam có khả năng chuyển đổi luôn là câu hỏi được đặt ra cho không chỉ những nhà hoạch định chính sách mà còn cho tất cả chúng ta những người học và nghiên cứu kinh tế. Đề tài nghiên cứu: “Thực trạng của chính sách Tỷ giá ở Việt Nam và các giải pháp hoàn thiện trong bối cảnh áp dụng chính sách mở của, hội nhập quốc tế” được lựa chọn chính từ những yêu cầu, đòi hỏi đó. Nội dung của bài luận này chỉ dừng lại nghiên cứu việc điều hành chính sách tỷ giá của NHTW Việt Nam và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tỷ giá hối đoái trong thời gian tới. Bên cạnh đó, do hạn chế về thời gian, thông tin và trình độ lý luận nên trong quá trình viết không tránh khỏi những sai sót nhất định. Chúng em rất mong nhận được sự hướng dẫn đóng góp của các thầy cô, bạn bè để hoàn thiện hơn trong việc học tập.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ 2

1 Tỷ giá 2

1.1 Khái niệm và phân loại 2

1.2 Cơ sở hình thành tỷ giá hối đoái 3

2 Chính sách tỷ giá 6

2.1 Khái niệm và hệ thống chính sách tỷ giá 6

2.2 Các công cụ của Chính sách tỷ giá 6

2.3 Vai trò của chính sách tỷ giá tới tăng trưởng kinh tế 8

3 Kinh nghiệm của một số quốc gia về chính sách tỷ giá 10

3.1 Nhóm các nước có đồng tiền mạnh 10

3.2 Nhóm các nước đang chuyển đổi về cơ cấu kinh tế (Ba Lan, Nga, Séc…) 11

3.3 Nhóm các nước Châu Á và khu vực ASEAN 12

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ Ở VIỆT NAM 14

1 Giai đoạn 1986 – 1996 14

2 Giai đoạn 1997 – 1998 16

3 Giai đoạn 1999 – 2006 20

4 Diễn biến Chính sách tỷ giá ở Việt Nam trong những năm gần đây 21

4.1 Năm 2008 21

4.2 Năm 2009 23

4.3 Năm 2010 24

4.4 Năm 2011 25

4.5 Đánh giá chính sách tỷ giá trong giai đoạn 2008 – 2011 26

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP 29

1 Thiết lập chế độ tỷ giá thả nổi có sự điều tiết của Nhà nước 29

2 Thực hiện chính sách đa ngoại tệ 29

3 Kết hợp đồng bộ với các chính sách quản lý vĩ mô khác của Nhà nước 30

4 Hoàn thiện công tác quản lý ngoại hối 31

5 Nâng cao hiệu quả quản lý dự trữ ngoại hối của NHNN 33

6 Nâng cao vị thế đồng tiền Việt Nam 33

KẾT LUẬN 35

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Tỷ giá hối đoái giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh tế củamỗi quốc gia cũng như các quan hệ thương mại quốc tế thông qua việc phản ánhtương quan giá trị đồng tiền của những nước khác nhau Cùng với sự phát triểnmạnh mẽ của thương mại quốc tế, ngày nay tỷ giá hối đoái đã trở thành công cụđiều tiết vĩ mô quan trọng của mỗi quốc gia và là vũ khí lợi hại trong cuộc chiếntranh thương mại hết sức khốc liệt trên thế giới

Trong thời gian qua, để thúc đẩy nền kinh tế phát triển, Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam đã nhiều lần thay đổi phương pháp điều hành tỷ giá Từ chỗ được giữ cốđịnh, “đông cứng” trong một thời gian khá dài, đến nay tỷ giá hối đoái đã đượchình thành một cách khách quan theo tín hiệu thị trường và có sự điều tiết của Nhànước Thực tế đã chứng minh rằng, cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái hiện nay làphù hợp với đặc điểm tình hình và mục tiêu phát triển kinh tế đất nước Tuy nhiên,

để cơ chế điều hành tỷ giá mới có thể thực sự phát huy tác dụng cần thiết phải cónhững cải cách hơn nữa trong việc quản lý tỷ giá hối đoái Làm sao để tỷ giá hốiđoái sát hợp với tín hiệu thị trường, theo hướng điều tiết của Nhà nước, khuyếnkhích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, nâng cao uy tín của đồng tiền và tiến tới mộtđồng Việt Nam có khả năng chuyển đổi luôn là câu hỏi được đặt ra cho không chỉnhững nhà hoạch định chính sách mà còn cho tất cả chúng ta những người học vànghiên cứu kinh tế

Đề tài nghiên cứu: “Thực trạng của chính sách Tỷ giá ở Việt Nam và các giải pháp hoàn thiện trong bối cảnh áp dụng chính sách mở của, hội nhập quốc tế” được lựa chọn chính từ những yêu cầu, đòi hỏi đó.

Nội dung của bài luận này chỉ dừng lại nghiên cứu việc điều hành chính sách

tỷ giá của NHTW Việt Nam và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tácquản lý tỷ giá hối đoái trong thời gian tới Bên cạnh đó, do hạn chế về thời gian,thông tin và trình độ lý luận nên trong quá trình viết không tránh khỏi những saisót nhất định Chúng em rất mong nhận được sự hướng dẫn đóng góp của các thầy

cô, bạn bè để hoàn thiện hơn trong việc học tập

Trang 3

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH

SÁCH TỶ GIÁ

1 Tỷ giá

1.1 Khái niệm và phân loại

a) Khái niệm

Trong nền kinh tế hàng hoá hiện đại, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều

có đồng tiền riêng khác nhau cả về hình thức lẫn giá trị và đều tham gia ngày càngtích cực vào đời sống kinh tế xã hội quốc tế theo trình độ phát triển và vị thế củaquốc gia mình Trong quá trình tham gia các hoạt động thương mại, đầu tư, vaymượn và trao đổi quốc tế các nước, các tổ chức , cá nhân, các đối tác phải thanhtoán với nhau thông qua các đồng tiền của các bên được chuyển đổi, tính toán theomột tương quan tỷ lệ nhất định

Vì vậy, tuỳ thuộc vào từng góc độ nghiên cứu, xem xét mà tỷ giá hối đoái cóthể được định nghĩa theo hai cách sau:

Định nghĩa 1: Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này thểhiện bằng một số đơn vị tiền tệ nước kia

Theo định nghĩa này, tỷ giá hối đoái được coi là giá cả của một loại hàng hoáđặc biệt- hàng hoá tiền tệ

Ví dụ: 1 USD = 19.500 VND

Định nghĩa 2: Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh giữa hai tiền tệ của hainước với nhau mà trong thời đại ngày nay sự so sánh đó là sự so sánh sức mua củacác tiền tệ

b) Phân loại

Trong thực tế tuỳ từng nơi từng lúc khi quan tâm đến một khía cạnh nào đócủa tỷ gía hối đoái người ta thường gọi đến tên đến loại tỷ giá đó Do vậy cần thiếtphải phân loại tỷ giá hối đoái

1.2 Cơ sở hình thành tỷ giá hối đoái

Trang 4

Trong thời kỳ bản vị kim loại, nhất là bản vị vàng (và bạc), các đồng tiềnquốc gia đều được so sánh, quy đổi với nhau trên cơ sở hàm lượng kim loại (vàng)chứa đựng trong đồng tiền của mình hay do đơn vị đồng tiền của mình đại diện.Trong giai đoạn này, đặc biệt từ năm 1870 đến thời kỳ đầu đại chiến thế giới lầnthứ nhất, người ta xác định tỷ giá giữa các đồng tiền bằng cách so sánh hàm lượngvàng chứa trong mỗi đơn vị tiền tệ của từng nước.

Ví dụ: Hàm lượng vàng của một bảng Anh (GBP) là 2,488281 gam và củamột đô la Mỹ là 0,888671 gam Do đó, tỷ giá hối đoái của GBP và USD là:

GBP/USD=2,488281/0,888671=2,80

Trong chế độ bản vị vàng, tỷ giá hối đoái của một nước cũng như trên thếgiới khá ổn định và thường chỉ biến động theo mức tăng giảm hàm lượng vàngchứa đựng trong mỗi đơn vị tiền tệ

Do hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới sau Chiến tranh thế giớilần thứ nhất, đặc biệt là do những bất lợi của chế độ bản vị vàng (kiềm chế sự pháttriển kinh tế và giao lưu kinh tế quốc tế ) nên phần lớn các nước đã từ bỏ chế độbản vị vàng vào đầu những năm 30 Đến năm 1971, các nước hoàn toàn bãi bỏ chế

độ bản vị vàng

b) Thuyết ngang giá sức mua ( Purchasing Power Parity - PPP )

Khi tỷ lệ lạm phát của một nước tăng tương đối so với lạm phát của mộtnước khác, mức cầu đồng tiền nước đó giảm do xuất khẩu giảm Ngoài ra, ngườitiêu dùng và các doanh nghiệp trong nước có lạm phát cao có xu hướng tăng nhậpkhẩu Như vậy, cả hai lực lượng này tạo áp lực giảm giá đồng tiền của nước cólạm phát cao.Tỷ lệ lạm phát thường khác nhau giữa các quốc gia, tạo nên các kiểumẫu mậu dịch quốc tế để điều chỉnh thích hợp và ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái Một trong những lý thuyết nổi tiếng nhất và gây nhiều tranh cãi nhất trongtài chính quốc tế là thuyết ngang giá sức mua, tập trung vào mối liên hệ lạm phát –

tỷ giá hối đoái

Trang 5

Ý tưởng căn bản của thuyết ngang giá sức mua ban đầu được phát triển bởinhà kinh tế học cổ điển David Ricardo vào thế kỷ 19 Nhưng chính Gustar Cassel,một nhà kinh tế người Thụy Điển mới là người phổ biến rộng rãi PPP vào nhữngnăm 20 của thế kỷ XX Trong những năm này, rất nhiều nước như Đức, Hungary,Nga phải trải qua thời kỳ lạm phát phi mã vì sức mua đồng tiền của các nước đógiảm rất mạnh, bị mất giá mạnh so với các đồng tiền ổn định như USD Lúc nàyquan niệm về thuyết PPP trở nên phổ biến trước thực trạng lịch sử như vậy Cónhiều hình thức khác nhau của thuyết PPP.

Theo hình thức tuyệt đối, thuyết PPP là sự phát triển của quy luật một giá.Nội dung cơ bản của quy luật một giá là: nếu hai nước cùng sản xuất một loạihàng hoá giống nhau thì giá cả của hai loại hàng hoá đó giống nhau trên toàn thếgiới và không phụ thuộc vào nước nào sản xuất ra nó

Như vậy, theo quy luật một giá thì nếu như thép của Mỹ được sản xuất vớigiá 100 USD/tấn, còn thép của Nhật được sản xuất ra với giá 10.000 JPY/tấn thì

có nghĩa là 1 USD = 100 JPY, tỷ giá USD/JPY = 100

Giả sử tỷ giá USD/JPY = 50 thì điều đó có nghĩa: thép của Nhật bị đắt tươngđối so với thép của Mỹ Khi đó cầu thép của Nhật sẽ giảm xuống cho đến khi giáthép của Nhật còn 5000 JPY/tấn hoặc tỷ giá phải nâng lên USD/JPY = 100 (tức làgiảm giá đồng JPY) Tương tự khi tỷ giá là 150 JPY/USD thì xu hướng là cầu thépcủa Nhật tăng tới 15.000JPY/tấn hoặc tỷ giá phải giảm xuống đến 100 JPY/USD(tăng giá đồng JPY)

Trên cơ sở quy luật một giá, thuyết PPP phát biểu rằng: Tỷ giá bất kỳ giữahai đồng tiền của hai nước sẽ bằng tỷ số mức giá của hai nước đó tại cùng thờiđiểm

Ví dụ: Thép Nhật tăng giá 11.000 JPY/tấn, thép Mỹ vẫn ở giá 100 USD/tấn,

tỷ giá cũ là 100 JPY/USD, thì lúc đó thuyết PPP nói rằng tỷ giá sẽ được điều chỉnh

Trang 6

theo hướng giảm giá đồng JPY, tức là bằng 110 JPY/USD Việc vận dụng thuyếtPPP chỉ cung cấp cho ta một hướng dẫn lâu dài về sự vận động của tỷ giá.

Tuy nhiên, trong ngắn hạn nó không được hoàn hảo, thậm chí còn bị sai lệchđáng kể vì thị trường là không hoàn hảo, tồn tại chi phí vận chuyển, bảo hiểm,thanh toán, thông tin và nhiều hàng rào thương mại khác, do đó, thuyết PPP tuyệtđối hiếm khi thấy trong thực tế, nhưng thuyết PPP tương đối lại khá phổ biến.Thuyết PPP tương đối được duy trì, dù cho sức mua của đồng tiền khônggiống nhau ở mọi nơi, thay đổi mức giá cả giữa hai quốc gia được hấp thụ bởi sựbiến động của tỷ giá, do đó, quan hệ PPP được duy trì không thay đổi Nếu nước A

có tỷ lệ lạm phát bằng 0% và nước B có tỷ lệ lạm phát bằng 10% thì đồng tiền củanước B phải giảm giá 10% so với đồng tiền của nước A Sự biến động của tỷ giá

sẽ duy trì tỷ lệ giá cả giữa hai nước trước và sau khi lạm phát xảy ra là không thayđổi

Nếu thuyết PPP tương đối hoạt động, có hiệu lực ngay lập tức và chính xác,thì chính sách tiền tệ sẽ không có tác dụng cải thiện cán cân thương mại Bất cứ sựthay đổi nào trong các mức giá cả giữa hai nước do thay đổi mức cung ứng tiền sẽđược hấp thụ ngay lập tức bởi sự thay đổi của tỷ giá Trong thực tế thuyết PPPtương đối có ảnh hưởng tương đối tới sự biến động của tỷ giá, nhưng xảy ra chậmhơn Xu hướng là rõ ràng nhưng nhiều yếu tố có thể làm méo mó quan hệ nàytrong ngắn hạn Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do trong giai đoạn ngắnhạn đối với cả thị trường trong nước và thị trường quốc tế thì giá cả hàng hoá đượccoi như là cố định Trong khi đó tỷ giá trao đổi thì được điều chỉnh thường xuyên

do sự cập nhật thông tin và do sự thay đổi của chính sách kinh tế Điều đó cónghĩa, sự thay đổi của tỷ giá đã tạo ra sự sai lệch lớn và kéo dài so với thuyết PPP

Trang 7

2 Chính sách tỷ giá

2.1 Khái niệm và hệ thống chính sách tỷ giá

Chính sách tỷ giá là tổng thể các nguyên tắc công cụ biện pháp được nhànước điều chỉnh tỷ giá của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định nhằm đạtmục tiêu đã định trong chiến lược phát triển của quốc gia đó

Để quản lý và điều hành tỷ giá NHTW thường sử dụng các chính sách chủyếu sau:

- Chính sách chiết khấu: khi NHTW nâng cao lãi suất chiết khấu làm lãi suấttrên thị trường tăng, làm các nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường quốc tế chạy vàonước mình để thu lợi tức cao làm dịu sự căng thẳng của cầu vượt cung ngoại hối

do đó làm tỷ giá giảm xuống và ngược lại

- Chính sách hối đoái: khi tỷ giá lên cao NHTW bán ngoại hối ra thị trườngkéo tỷ giá tụt xuống và ngược lại Tuy nhiên NHTW phải có dự trữ ngoại hối đủlớn, nếu cán cân thanh toán thiếu hụt thường xuyên thì khó có đủ ngoại hối thựchiện phương pháp này

- Phá giá tiền tệ: là sự nâng cao một cách chính thức TGHĐ hay là việc nhànước hạ thấp sức mua đồng tiền nước mình so với ngoại tệ làm đẩy mạnh xuấtkhẩu hạn chế nhập khẩu cải thiện cán cân thương mại làm tỷ giá bớt căng thẳng

- Nâng giá tiền tệ: là việc Nhà nước chính thức nâng giá đơn vị tiền tệ nướcmình so với ngoại tệ làm cho tỷ giá giảm xuống

2.2 Các công cụ của Chính sách tỷ giá

a) Nhóm công cụ trực tiếp

NHTW thông qua việc mua bán đồng nội tệ nhằm duy trì một tỷ giá cố địnhhay gây ảnh hưởng làm cho tỷ giá thay đổi đạt tới một mức nhất định theo mụctiêu đã đề ra Hoạt động can thiệp trực tiếp của ngân hàng trung ương tạo ra hiệuứng thay đổi cung tiền có thể tạo ra áp lực lạm phát hay thiểu phát không mongmuốn cho nền kinh tế vì vậy đi kèm hoạt động can thiệp này của NHTW thì phải

Trang 8

sử dụng thêm nghiệp vụ thị trường mở để hấp thụ lượng dư cung hay bổ sung phầnthiếu hụt tiền tệ ở lưu thông.

Nghiệp vụ thị trường mở ngoại tệ được thực hiện thông qua việc NHTWtham gia mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ Một nghiệp vụ mua ngoại tệtrên thị trường của NHTW làm giảm cung ngoại tệ do đó làm tăng tỷ giá hối đoái

và ngược lại Do đó đây là công cụ có tác động mạnh lên tỷ giá hối đoái

Nghiệp vụ thị trường mở nội tệ là việc NHTW mua bán có chứng từ có giá.Tuy nhiên nó chỉ tác động gián tiếp đến tỷ giá mà lại có tác động trực tiếp đến cácbiến số kinh tế vĩ mô khác (lãi suất, giá cả) Nó được dùng phối hợp với nghiệp vụthị trường mở ngoại tệ để khử đi sự tăng, giảm cung nội tệ do nghiệp vụ thị trường

mở gây ra

Ngoài ra Chính phủ có thể sử dụng biện pháp can thiệp hành chính như biệnpháp kết hối, quy định hạn chế đối tượng được mua ngoại tệ, quy định hạn chếmục đích sử dụng ngoại tệ, quy định hạn chế số lượng mua ngoại tệ, quy định hạnchế thời gian mua ngoại tệ, nhằm giảm cầu ngoại tệ, hạn chế đầu cơ và giữ cho tỷgiá ổn định

b) Nhóm công cụ gián tiếp

Lãi suất tái chiết khấu là công cụ hiệu quả nhất Cơ chế tác động đến tỷ giáhối đoái của nó như sau: Khi lãi suất chiết khấu thay đổi kéo theo sự thay đổi cùngchiều của lãi suất trên thị trường Từ đó tác động đến xu hướng dịch chuyển củadòng vốn quốc tế làm thay đổi tài khoản vốn hoặc ít nhất làm cho người sở hữuvốn trong nước chuyển đổi đồng vốn của mình sang đồng tiền có lãi suất cao hơn

để thu lợi và làm thay đổi tỷ giá hối đoái Cụ thể lãi suất tăng dẫn đến xu hướng làmột dòng vốn vay ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ đổ vào trong nước vàngười sở hữu vốn ngoại tệ trong nước sẽ có xu hướng chuyển đồng ngoại tệ củamình sang nội tệ để thu lãi suất cao hơn do đó tỷ giá sẽ giảm (nội tệ tăng) vàngược lại muốn tăng tỷ giá sẽ giảm lãi suất tái chiết khấu

Trang 9

Muốn giảm tỷ giá hối đoái thì Chính Phủ có thể quy định mức thuế quan cao,quy định hạn ngạch và thực hiện trợ giá cho những mặt hàng xuất khẩu chiến lược.

Và ngược lại sẽ làm tăng tỷ giá hối đoái

Ngoài ra Chính Phủ có thể sử dụng một số biện pháp khác như điều chỉnh tỷ

lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ với NHTW, quy định mức lãi suất trần kém hấpdẫn đối với tiền gửi bằng ngoại tệ Mục đích là phòng ngừa rủi ro tỷ giá, hạn chếđầu cơ ngoại tệ, làm giảm áp lực lên tỷ giá khi cung cầu mất cân đối

2.3 Vai trò của chính sách tỷ giá tới tăng trưởng kinh tế

a) Đối với cán cân thanh toán

Tỷ giá giữa đồng nội tệ và ngoại tệ là quan trọng đối với một quốc gia vìtrước tiên nó tác động trực tiếp tới giá cả hàng xuất nhập khẩu của chính quốc gia

đó Khi TGHĐ tăng (đồng nội tệ xuống giá) sẽ làm tăng giá trong nước của hàngnhập khẩu và giảm giá ngoài nước của hàng xuất khẩu của nước đó, cải thiện sứccạnh tranh quốc tế của hàng trong nước Các nguồn lực sẽ được thu hút vào nhữngngành sản xuất mà giờ đây có thể cạnh tranh hiệu quả hơn so với hàng nhâp khẩu

và cũng vào ngành xuất khẩu mà giờ đây có thể có hiệu quả hơn trên các thịtrường quốc tế Kết quả là xuất khẩu tăng nhập khẩu giảm làm cán cân thanh toánđược cải thiện

b) Với lạm phát và lãi suất

Khi các yếu tố khác không đổi TGHĐ tăng làm tăng giá các mặt hàng nhậpkhẩu tính bằng nội tệ Các hộ gia đình,các nhà sản xuất sử dụng đầu vào nhậpkhẩu phải tiêu dùng hàng nhập khẩu với mức giá tăng cùng tỷ lệ phá giá Kết quảmức giá chung trong nền kinh tế trở nên cao hơn đặc biệt là nền kinh tế nhỏ, mởcửa với thế giới bên ngoài có xuất khẩu và nhập khẩu chiếm tỷ lệ cao so với GDP.Nếu TGHĐ tiếp tục có sự gia tăng liên tục qua các năm có nghĩa là lạm phát đãtăng Nếu lãi suất tăng ở mức vừa phải có thể kiểm soát sẽ kích thích tăng trưởng

Trang 10

nhưng nếu lạm phát tăng quá cao sẽ tác động làm lãi xuất tăng làm giảm đầu tưảnh hưởng không tốt đến đời sống kinh tế.

c) Với sản lượng và việc làm

Đối với các lĩnh vực sản xuất chủ yếu dựa trên nguồn lực trong nước thì khiTGHĐ tăng, sự tăng giá hàng nhập khẩu sẽ giúp tăng khả năng cạnh tranh cho cáclĩnh vực này giúp phát triển sản xuất từ đó tạo thêm công ăn việc làm giảm thấtnghiệp, sản lượng quốc gia có thể tăng lên và ngược lại

d) Đối với đầu tư quốc tế

- Đầu tư trực tiếp: TGHĐ tác động tới giá trị phần vốn mà nhà đầu tư nướcngoài đầu tư hoặc góp vốn liên doanh Vốn ngoại tệ hoặc tư liệu sản xuất đượcđưa vào nước sở tại thường được chuyển đổi ra đồng nội tệ theo tỷ giá chính thức.Bên cạnh đó tỷ giá còn có tác động tới chi phí sản xuất và hiệu quả các hoạt độngđầu tư nước ngoài Do đó sự thay đổi TGHĐ có ảnh hưởng nhất định tới hành vicủa các nhà đầu tư nước ngoài trong việc quyết định có đầu tư vào nước sở tại haykhông

- Đầu tư gián tiếp: là loại hình đầu tư thông qua hoạt động tín dụng quốc tếcũng như việc mua bán các loại chứng khoán có giá trên thị trường

Trong một thế giới có sự luân chuyển vốn quốc tế tự do khi TGHĐ tăng tổnglợi tức từ khoản vay bằng ngoại tệ lớn hơn lãi suất trong nước sẽ xảy ra hiện tượngluồng vốn chảy ra nước ngoài và ngược lại TGHĐ giảm luồng vốn sẽ đổ vào trongnước

Như vậy muốn tạo môi trường đầu tư ổn định nhằm phát triển kinh tế đòi hỏicác quốc gia xây dựng và điều chỉnh một chính sách tỷ giá ổn định hợp lý giảmmức độ rủi ro trong lĩnh vực đầu tư và thu hút vốn đầu tư nước ngoài

e) Với nợ nước ngoài

Trang 11

Các khoản vay nợ nước ngoài thường được tính theo đơn vị tiền tệ nước đóhoặc những đồng tiền mạnh nên khi TGHĐ tăng lên cũng đồng nghĩa với sự tănglên của gánh nặng nợ nước ngoài Ngày nay khi sự luân chuyển vốn quốc tế ngàycàng tự do thì các nước đặc biệt các nước đang phát triển càng cần phải thận trọnghơn trong chính sách tỷ giá để đảm bảo tăng trưởng và khả năng trả nợ nướcngoài.

3 Kinh nghiệm của một số quốc gia về chính sách tỷ giá

Hiện nay trên thế giới, các quốc gia nhìn chung đều sử dụng chính sách thả nổi

có quản lý nhưng mức độ quản lý hay thả nổi là khác nhau ở các quốc gia khácnhau

3.1 Nhóm các nước có đồng tiền mạnh

Những nước này gần như tự do ngoại hối và thống nhất một tỷ giá duy nhấtcho tất cả các hoạt động có liên quan Các nước này có khả năng dự trữ ngoại tệcủa NHTW dồi dào, có thị trường ngoại hối phát triển ở mức độ cao, các công cụgián tiếp mà NHTW sử dụng rất phong phú, đa dạng và có tính chất hỗ trợ nhau.Điển hình ở nhóm này là Mỹ

Thị trường tiền tệ, ngoại hối của Mỹ là thị trường phát triển và hoàn chỉnhvào loại nhất thế giới, nghệ thuật điều chỉnh tỷ giá của họ cũng đạt đến độ hoànhảo và có ảnh hưởng toàn cầu Chính sách đồng đô-la yếu, rơi tự do chính là yếu

tố kích thích xuất khẩu của Mỹ, thúc đẩy tăng trưởng tạo ra nhiều nhu cầu việclàm, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp vốn vẫn lơ lửng như một mối đe doạ vớisiêu cường quốc kinh tế thế giới Về dài hạn, chính sách này ít nguy cơ gây tăngmạnh lạm phát và sẽ làm tăng lãi suất và kích thích các nhà đầu tư nước ngoài tạo

ra hàng tỷ đô-la cho Mỹ trang trải các thâm hụt trong ngân sách và tài khoản vãnglai

Trang 12

3.2 Nhóm các nước đang chuyển đổi về cơ cấu kinh tế (Ba Lan, Nga, Séc…)

Các nước trong nhóm này đều gắn đồng tiền với một số ngoại tệ nhất định(Ba Lan với 5 đồng tiền USD, DEN, GBP, FRF, CHF; CH Séc với 2 đồng tiềnDEM, USD) tỷ giá được công bố hàng ngày với mức dao động cho phép NHTW

sẽ can thiệp khi tỷ giá ra ngoài biên độ dao động Trong giai đoạn chuyển sang nềnkinh tế thị trường, dự trữ ngoại tệ thấp, thị trường hối đoái và nội tệ chưa pháttriển thì cơ chế trên tỏ ra là một điểm tựa tương đối chắc chắn cho NHTW trongviệc kiểm soát chính sách tỷ giá Chúng ta sẽ xem xét trường hợp của nước Nga Trước cuộc khủng hoảng T8/1998, chủ trương thực hiện liệu pháp ‘sốc’

để cải tổ nền kinh tế, Chính phủ Nga đã áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi hoàn toàncùng với khá nhiều chính sách tự do hoá trong giai đoạn 91-95 Những đợt phá giá

vô căn cứ đã góp phần tạo ra sự tụt dốc tới 3000 lần của đồng Rúp so với USD,làm tăng lạm phát trong nước Ước tính đến năm 1995, tổng giá trị USD bằng tiềnmặt lưu hành quy đổi giá trị so với đồng Rúp đã vượt quá 3 lần, Nga là quốc giatầm cỡ duy nhất trong lịch sử phụ thuộc quá nhiều vào đồng tiền của một quốc giakhác Ngày 6-7-1995, Chính phủ Nga đưa ra hệ thống ‘hành lang hối đoái’ nhằmtạo tiền đề cho quá trình cố định tỷ giá đồng tiền này

Năm 1998, sau khi thay đổi mệnh giá đồng Rúp theo tỷ lệ mới 1/1000 tỷgiá đồng Rúp giảm xuống còn một con số, Chính Phủ Nga đã quyết định thực hiệnchính sách cố định tỷ giá ở mức 6.2 R/USD Song với những biến động quá lớn vềgiá cả một số mặt hàng chủ chốt trên thị trường quốc tế đã gây nên khủng hoảngtiền tệ T8/1998, hệ thống Ngân hàng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán,khoảng 1/3 ngân hàng bị phá sản, gần 160 tỷ USD nợ nước ngoài không có khảnăng trả Ngày 9/9/1998, Nga đã buộc phải từ bỏ mục tiêu biên độ tỷ giá vàchuyển sang hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi, do thị trường quyết định, NHTW chỉ

có nhiệm vụ ngăn chặn sự dao động quá nhiều của tỷ gía T7/2004, NHTW Nga đã

Trang 13

quyết định chuyển sang hệ thống mới, tỷ gía được xác định trên cơ sở tỷ giá bìnhquân của đồng Rúp so với USD và €

Bài học rút ra ở đây là:

+ Cơ chế điều hành TGHĐ cần được đặt trong mối quan hệ với lãi suất

và lạm phát, phù hợp với từng thời kỳ nhất định, phối hợp song song với chínhsách kinh tế trên tất cả ngành lĩnh vực khác

+ Sự phá giá vô căn cứ đồng tiền quốc gia trong thời kỳ chuyển đổi vàchính sách thả nổi khiến đồng tiền nội tệ bị mất giá nghiêm trọng, lạm phát giatăng khó kiểm soát làm tháo chạy dòng vốn đầu tư nước ngoài, giảm tốc độ tăngtrưởng

+ Cơ chế TGHĐ thả nổi nếu được đặt trong biên độ dao động nhất định

có thể thành công và thích hợp với công cuộc cải cách kinh tế- xã hội

3.3 Nhóm các nước Châu Á và khu vực ASEAN

Các nước ASEAN đa số đều thả nổi TGHĐ, không quy định giới hạn với cácNHTM Đa số các nước này có thị trường hối đoái phát triển, thị trường chứngkhoán có tốc độ tăng trưởng cao, mức dự trữ ngoại tệ lớn đủ điều kiện để tiến tới

tự do hoàn toàn, NHTW có đủ sức cũng như các công cụ để can thiệp trong trườnghợp cần thiết

Trung Quốc là nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng mạnh và hàng đầu ởChâu Á, T4/1994 Chính Phủ nước này đã chính thức công bố thực hiện chính sáchTGHĐ “thả nổi có quản lý”: tỷ giá đồng NDT được dao động trong một biên độhẹp và NHTW có thể điều chỉnh tỷ giá mục tiêu trên cơ sở các biện pháp kiểmsoát chặt chẽ vốn vào ra của Chính phủ Điều này không những làm ổn định tiền tệ

mà còn tạo được lòng tin của nhõn dõn thông qua việc đưa đồng tiền đến gần giátrị thực của nó T12/1996, NDT được chính thức chuyển đổi trong các giao dịchtrên tài khoản vãng lai sau khi đựơc ấn định ở mức 8.27 NDT/USD( biên độ daođộng 0.125% ) Chế độ tỷ giá mới này đã biến Trung Quốc thành khu vực an toàn,

Trang 14

thu hút đầu tư rất mạnh kể cả trong thời kỳ khủng hoảng khu vực, thay thế Mỹ trởthành nước thu hút FDI lớn nhất thế giới, dự trữ ngoại tệ chỉ xếp sau Nhật Bản.Vai trò của đồng NDT ngày càng được củng cố và nâng cao trên khu vực và thếgiới.

Ngày 31/7/2005, Trung Quốc tuyên bố TGHĐ đồng NDT căn cứ vào

“giỏ” ngoại tệ gồm USD, Euro, yên Nhật và đồng won Hàn Quốc NHTW TrungQuốc mới đây đã tăng giá NDT 2% nhằm làm dịu tình trạng mất cân bằng trongmậu dịch đối ngoại của Trung Quốc, mở rộng kích cầu trong nước cũng như nângcao mức cạnh tranh của doanh nghiệp trên trường quốc tế, nâng cao hiệu quả tậndụng vốn nước ngoài…Người phát ngôn NHTW Trung Quốc cho biết: hiện naykhâu quản lý ngoại tệ của nước này đã được nới lỏng dần dần, việc xây dựng thịtrường ngoại tệ không ngừng tăng cường, các cuộc cải cách tiền tệ đã thu đượctiến triển thực chất, kiểm soát vĩ mô thu được thành quả nổi bật, kinh tế quốc dântiếp tục duy trì đà tăng trưởng ồn định.Vì vậy Trung Quốc chọn thời điểm này đểthực hiện cải cách tỷ giá

Kết luận

Khi có một thị trường hối đoái và nội tệ phát triển ở mức cao có đầy đủcông cụ gián tiếp giúp NHTW linh hoạt trong can thiệp và trung hoà giữa các chỉtiêu của chính sách tiền tệ.Bản thân nền kinh tế đó cũng phải phát triển mạnh, có

dự trữ đồng tiền có sức mạnh và có khả năng chuyển đổi, ổn định tương đối, có xuhướng tăng giá

Trang 15

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ Ở VIỆT NAM

1 Giai đoạn 1986 – 1996

Năm 1986 là năm có tỉ lệ lạm phát tăng cao nhất (775%) so với các năm trước

đó, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) từ 1981 – 1985 lần lượt tăng là: 70%, 95%, 50%,65% và 92% Sau đổi tiền, CPI năm 1985 tăng đến 92%, năm 1986 lên tới 775%,nền kinh tế bước vào thời kỳ lạm phát dữ dội với tỉ lệ tăng 3 chữ số kéo dài trong

2 năm tiếp theo

Đến cuối năm 1988 và qua năm 1989, nhiều biện pháp về tiền tệ nhằm kiểmsoát lạm phát mới được đưa ra Một trong những quyết định quan trọng lúc đó làviệc lần đầu tiên NHNN mạnh tay nới lỏng tỷ giá VND/USD vào cuối năm 1988

và tiếp tục cơ chế linh hoạt đến năm 1991, trước khi bước vào giai đoạn đóng băng

tỷ giá từ năm 1992

Trong giai đoạn này, tỷ giá VND/USD liên tục tăng qua các năm và đã đượcđiều chỉnh sát với giá thị trường, chứng tỏ rằng NHNN đã bắt đầu thả nổi tỷ giá,mối quan hệ cung – cầu được quan tâm hơn Tuy nhiên, với việc thả nổi tỷ giá đã

có nhiều hạn chế:

- Kích thích tâm lý nắm giữ USD để đầu cơ ăn chênh lệch giá

- Tỷ giá thường xuyên thay đổi và tình trạng thiếu ngoại tệ đã gây mất ổnđịnh nền kinh tế

- Nhà nước không kiểm soát được việc lưu thông tiền tệ

Do vậy, sau năm 1992 Chính phủ đã có những diều chỉnh cải cách về chính sách

Trang 16

- Bãi bỏ hoàn toàn hình thức quy định tỷ giá nhóm hàng trong thanh toánngoại thương giữa ngân sách với các đơn vị kinh tế tham gia vào hoạt độngngoại thương.

Sự thay đổi này đã có tác động rất mạnh đến cán cân thương mại Tỉ lệnhập siêu so với xuất khẩu đã lập tức giảm mạnh từ 47,6% trong năm 1986 xuốnggần như cân bằng vào năm 1989 và thậm chí đã có xuất siêu vào năm 1990

Trong 2 năm 1992 và 1993 nạn đầu cơ ngoại tệ về cơ bản đã được giải tỏa,những đồng ngoại tệ đã được hướng mạnh vào hoạt động kinh doanh xuất nhậpkhẩu Tình hình cung – cầu ngoại tệ đã được cải thiện NHTW còn khuyến khíchtích lũy giá trị dưới dạng nội tệ hơn là ngoại tệ, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thuhút được lượng ngoại tệ lớn lao từ kiều hối Nhìn chung tỷ lệ lạm phát đã duy trì ởmức độ chấp nhận được và ổn định giá trị đồng Việt Nam trong thời kì này

Từ năm 1993 trở đi, giá USD trên thị trường quốc tế biến động mạnh trongkhi ở Việt Nam lại khá ổn định Tuy nhiên trên thực tế, đây là giai đoạn tăng giámạnh của đồng Việt Nam, tỷ giá hối đoái danh nghĩa thường xuyên bị neo trongkhoảng 10.835VND/USD đến 11.060

VNĐ/USD từ năm 1993 – 1996 Hơn nữa, Việt Nam nằm trong tình trạng nhậpsiêu, thâm hụt ngoại thương, nợ nước ngoài tăng, dự trữ ngoại tệ tăng chậm, nguy

cơ đỗ vỡ cán cân thanh toán quốc tế luôn rình rập, báo hiệu khủng hoảng nợ nước

ngoài… dẫn đến việc không thể thực hiện được mục tiêu cân bằng ngoại tệ Việc

duy trì chính sách tỷ giá cố định trong 1 thời gian dài đã không kích thích đượcxuất khẩu dẫn đến thương mại kém phát triển

Như vậy từ năm 1989 nước ta bước sang giai đoạn tỷ giá thả nổi cho đếncuối năm 1991, từ năm 1992 nước ta chuyển sang chế độ tỷ giá cố định có điềuchỉnh đã phát huy nhiều mặt tích cực góp phần ổn định nền kinh tế và chính sáchtiền tệ

Trang 17

2 Giai đoạn 1997 – 1998

Vào nửa cuối năm 1997, khủng hoảng tài chính tiền tệ ở các nước khu vựcĐông Nam Á bùng nổ và tăng nhanh, các nước trong khu vực hầu như đã phá giámạnh đồng nội tệ của mình điển hình đồng nội tệ của Indonexia đã mất giá hơn95% dẫn đến tình trạng khan hiếm ngoại tệ Đồng VND được đánh giá cao hơncác đồng nội tệ của các nước trong khu vực nên gây khó khăn lên ngành xuất khẩucủa Việt Nam, nhập khẩu tăng dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại Đồng thờinhu cầu ngoại tệ để thanh toán L/C trả chậm và trả nợ vay nước ngoài của cácngân hàng càng làm thị trường ngoại tệ căng thẳng hơn trong khi cán cân vãng lai

đã bội chi đến mức báo động

Đứng trước tình hình này, để tạo sự cân bằng cung – cầu trên thị trường vàgiảm áp lực căng thẳng ngoại tệ, giảm tác động tiêu cực của khủng hoảng đến nềnkinh tế Việt Nam, NHTW đã điều chỉnh chính sách tỷ giá và cho phá giá đồngVND, mở rộng biên độ giao dịch, cụ thể:

- NHNN đã ban hành Quyết định số 45/QĐ-NH7 ngày 27/2/1997 mở rộng biên

độ giao dịch từ 1%lên 5%

- Ngày 13/10/1997, tăng biên độ dao động lên 10%

Việc nới rộng biên độ giao dịch đã làm cho tỷ giá thị trường tăng mạnh.Mặc dù tỷ giá tăng, nhưng giá cả trên thị trường không có những biến động đángkể

Điển hình quý IV năm 1997, tỷ giá hối đoái công bố của NHNN suốt hơn 1năm là 11.170 - 11.175 VND/USD, với biên độ được phép là 10% thì giá giao dịchthường xuyên của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là từ 12.292 - 12.293VNĐ/USD Chênh lệch thấp tới khoảng 7 – 8% so với tỷ giá thực tế thị trường (tỷgiá hối đoái thị trường đã lên tới mức trên 13.000 VNĐ/USD từ tháng 11/1997)

Trang 18

Đến đầu năm 1998, với mức lạm phát năm 1997 của VND là 3,7%, củaUSD là 2,5%; trong lúc USD lên giá khoảng 20% thì tỷ giá giao dịch ở thị trườngngoại tệ liên ngân hàng lúc đó là 13.567 VNĐ/USD Có thể thấy rằng, NHNNthông qua tỷ giá chính thức thấp (11.175 VNĐ/USD) và biên độ khống chế 10%

đã buộc các NHTM phải giao dịch tỷ giá ở mức tối đa (sát trần) mà vẫn thấp hơn10% (13.567/12.293) so với mức thực tế

Sự bất hợp lý này chỉ giải quyết bằng cách điều chỉnh tỷ giá hối đoái danhnghĩa (mức 10% đã là quá cao) Ngày 14/2/1998 theo quyết định 37/1998/QĐ-TTG của thủ tướng chính phủ đã chính thức điều chỉnh tăng tỷ giá hối đoái chínhthức 5,6% từ 11.175 lên 11.800VND/USD Với quyết định này đã giúp giảm bớtmức độ VND bị đánh giá cao trong thanh toán đối ngoại, tạo điều kiện rút ngắnchênh lệch về tỷ giá của thị trường liên ngân hàng và thị trường tự do (khoảngcách chênh lệch giữa 2 thị trường trên chỉ còn khoảng 0,2% so với đầu năm 1998

là 7 – 8%), mức chênh lệch về lãi suất nội tệ và ngoại tệ được điều chỉnh hợp lý,rủi ro về tỷ giá hối đoái nói chung đã thấp hơn nhiều so với các năm trước Điềunày tạo điều kiện tốt cho kinh doanh ngân hàng, ổn định tâm lý gửi tiền, nhà đầu

tư và doanh nghiệp

Tháng 8/1998, so với USD thì VND lên giá tuyệt đối khoảng 16%, hoạtđộng kinh tế đối ngoại gặp nhiều khó khăn hơn, nhất là xuất khẩu do sự giảm giáhàng loạt của các đồng tiền, tình hình cung cầu ngoại tệ lại căng thẳng trở lại Vìthế, ngày 7/8/1998, NHNN giảm biên độ giao dịch còn 7%, tỷ giá chính thứcđiều chỉnh từ 11.815 lên 12.298 VND/USD, tức VND giảm giá 4,1% Mặc dù biên

độ được điều chỉnh giảm nhưng tỷ giá chính thức tăng nên thực chất VND bị phágiá Tỷ giá chính thức này được ấn định trên cơ sở tỷ giá mua bán trên thị trườngngoại tệ liên ngân hàng nên tỷ giá này sẽ phản ánh sát hơn tương quan cung cầungoại tệ trên thị trường Quyết định này đã giúp cho thị trường ngoại tệ liên ngân

Ngày đăng: 27/08/2014, 14:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1. Tỷ giá hối đoái năm 1997 - Thực trạng của chính sách Tỷ giá ở Việt Nam và các giải pháp hoàn thiện trong bối cảnh áp dụng chính sách mở của, hội nhập quốc tế
Sơ đồ 2.1. Tỷ giá hối đoái năm 1997 (Trang 20)
Sơ đồ 2.2. Giá trị xuất, nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 1986 – 2008 - Thực trạng của chính sách Tỷ giá ở Việt Nam và các giải pháp hoàn thiện trong bối cảnh áp dụng chính sách mở của, hội nhập quốc tế
Sơ đồ 2.2. Giá trị xuất, nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 1986 – 2008 (Trang 20)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w