MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 I. Cơ sở lý luận về tỷ giá hối đoái và vai trò của chính sách tỷ giá đối với nền kinh tế quốc gia. 2 1.1. Khái niệm về tỷ giá hối đoái và phân loại tỷ giá hối đoái 2 1.1.1. Khái niệm về tỷ giá hối đoái 2 1.1.2. Phân loại tỷ giá hối đoái 3 1.1.2.1. Theo phương tiện chuyển ngoại hối: 3 1.1.2.2. Theo phương tiện thanh toán: 3 1.1.2.3. Theo thời điểm mua bán ngoại hối 4 1.1.2.4. Theo nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối 4 1.1.2.5. Theo cơ chế điều hành tỷ giá: 4 1.2. Tỷ giá và sự hình thành cung – cầu ngoại tệ 5 1.2.1. Cung ngoại tệ (Sfm): 5 1.2.2. Cầu ngoại tệ (Dfm) 6 1.2.3. Sự hình thành tỷ giá theo cung – cầu ngoại tệ 6 1.3. Chế độ tỷ giá hối đoái và vai trò của NHTW: 8 1.3.1. Chế độ tỷ giá cố định 8 1.3.2. Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn 9 1.3.3. Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết 10 1.3.4. Chế độ tỷ giá linh hoạt 10 1.4. Các yếu tố tác động đến tỷ giá hối đoái. 11 1.4.1. Lạm phát 11 1.4.2. Lãi suất 12 1.4.3. Cán cân thương mại 13 1.4.4. Các yếu tố khác: (chính sách vĩ mô của Chính Phủ, tâm lý người dân) 13 1.5. NHTW và chính sách tỷ giá 14 1.5.1. Vai trò điều tiết của NHTW đối với tỷ giá hối đoái và thị trường ngoại hối: 14 1.5.2. Các công cụ điều chỉnh tỷ giá hối đoái 14 1.5.2.1. Lãi suất chiết khấu: 14 1.5.2.2. Nghiệp vụ thị trường mở: (nghiệp vụ thị trường mở thuần túy và nghiệp vụ thị trường mở nội tệ) 15 1.5.2.3. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc 16 1.5.2.4. Lập quỹ bình ổn tỷ giá: 16 1.5.2.5. Phá giá và nâng giá nội tệ: 17 II. Chính sách tỷ giá của NHNN Việt Nam và tác động của nó đến nền kinh tế Việt Nam trong thời gian 5 năm trở lại đây. 19 2.1. Giai đoạn 2006 – 2007: 19 2.2. Giai đoạn 2008 – 2011: 26 2.2.1. Năm 2008 26 2.2.2. Năm 2009 33 2.2.3. Năm 2010 39 2.2.4. Năm 2011 48 III. Kiến nghị 57 KẾT LUẬN 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO 59 LỜI MỞ ĐẦU Với sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế thế giới, các mối quan hệ kinh tế trên mọi lĩnh vực của một nước ngày càng được mở rộng ra các nước khác, do đó vấn đề thanh toán, định giá, so sánh, phân tích đánh giá về mặt giá trị và hiệu quả trở nên phức tạp hơn nhiều. Đơn vị thanh toán không chỉ là tiền tệ trong nước mà còn phải sử dụng các loại ngoại tệ khác nhau liên quan đến việc trao đổi tiền của nước khác. Hoạt động chuyển đổi đồng tiền này thành đồng tiền khác trong qua trình quan hệ giữa các nước với nhau đã làm nảy sinh phạm trù tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái tác động lên hoạt động xuất nhập khẩu, hoạt động Ngân hàng và có ảnh hưởng rất mạnh tới nền kinh tế. Tỷ giá hối đoái còn là một công cụ hữu ích trong chính sách của nhà nước để đạt được các mục tiêu kinh tế đặt ra. Tuy nhiên tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế nhạy cảm và rất phức tạp nên việc quản lý tỷ giá là rất khó khăn. Hiện nay với việc tỷ giá hiện nay biến động mạnh và khó lường cho thấy chính sách tỷ giá của Việt Nam hiện nay chưa hợp lý, công tác quản lý tỷ giá yếu kém. Để tìm ra chính sách tỷ giá hối đoái hợp lý, linh hoạt và nâng cao năng lực quản lý tỷ giá của cơ quan nhà nước nên nhóm 8 lựa chọn tìm hiểu về: “ Phân tích và bình luận về chính sách tỷ giá của NHNN Việt Nam trong thời gian 5 năm trở lại đây”. Kết cấu đề tài gồm 3 phần: Phần I: Cơ sở lý luận về tỷ giá hối đoái và vai trò của chính sách tỷ giá đối với nền kinh tế quốc gia. Phần II: Chính sách tỷ giá của NHNN Việt Nam và tác động của nó đến nền kinh tế Việt Nam trong thời gian 5 năm trở lại đây. Phần III: Kiến nghị I. Cơ sở lý luận về tỷ giá hối đoái và vai trò của chính sách tỷ giá đối với nền kinh tế quốc gia. 1.1. Khái niệm về tỷ giá hối đoái và phân loại tỷ giá hối đoái 1.1.1. Khái niệm về tỷ giá hối đoái Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về tỷ giá hối đoái, do cách tiếp cận vấn đề khác nhau, đôi khi do cách diễn đạt khác nhau. Tỷ giá hối đoái là giá của đồng tiền này được tính theo một đồng tiền khác. Tỷ giá hối đoái cũng được hiểu là tỉ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền của hai quốc gia khác nhau. Tỷ giá hối đoái xuất hiện và phát triển cùng với sự ra đời, phát triển của thương mại quốc tế, nó được giải thích bởi một hiện tượng đơn giản, hàng hoá không có biên giới quốc gia trong khi tiền chỉ được chấp nhận trên lãnh thổ quốc gia phát hành ra nó. Ta có thể hiểu tỷ giá hối đoái theo 2 cách định nghĩa chính như sau: Định nghĩa 1: Tỷ giá hối đoái (thường được gọi tắt là tỷ giá) là tỷ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền của hai nước. Cũng có thể gọi tỷ giá hối đoái là giá của một đồng tiền này tính bằng một đồng tiền khác. Thông thường tỷ giá hối đoái được biểu diễn thông qua tỷ lệ bao nhiêu đơn vị đồng tiền nước này (nhiều hơn một đơn vị) bằng một đơn vị đồng tiền của nước kia. Ví dụ: tỷ giá hối đoái giữa Đồng Việt Nam và Dollar Mỹ là 20700 VNDUSD hay giữa Yên Nhật và Dollar Mỹ là 116,729 JPYUSD hay giữa Dollar Mỹ và Euro là 1,28262 USDEuro. Đồng tiền để ở số lượng một đơn vị trong các tỷ lệ như những ví dụ trên gọi là đồng tiền định danh hay đồng tiền cơ sở. Vì thế, khi cần thể hiện một cách nghiêm ngặt và chính xác, người ta thường nói: Tỷ giá hối đoái giữa Đồng Việt Nam và Dollar Mỹ trên thị trường ngoại hối định danh bằng Dollar Mỹ là 20700 Đồng bằng 1 Dollar hoặc Tỷ giá hối đoái giữa Đồng Việt Nam và Dollar Mỹ trên thị trường ngoại hối định danh bằng Đồng Việt Nam là 0,000048309 Dollar bằng 1 Đồng. Định nghĩa 2: Tỷ giá hối đoái là việc quy đổi mức tiền tệ của đồng tiền này sang 1 giá trị của đồng tiền khác, và mức quy đổi này ko làm giảm giá trị sử dụng của đồng tiền. Hiện tại ở nước ta, việc quay đổi tiền luôn được thực hiện qua một đồng tiền thứ 3 mới quay về giá trị thực. Ví dụ: Nếu muốn đổi 1 bảng anh, thì ta phải đổi sang USD rồi mới về VND. Và chính điều này làm cho giá trị nhận được giảm đi so với việc chuyển đổi trực tiếp từ 1 bảng anh về VND. Định nghĩa 3: Tỷ giá hối đoái là mối quan hệ so sánh sức mua giữa các đồng tiền với nhau. Đó là giá cả chuyển đổi một đơn vị tiền tệ của nước này thành những đơn vị tiền tệ của nước khác. Ví dụ: Tỷ giá bán ra của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ngày 17062011 là: 1 USD = 20700VND. Như vậy, bản chất của tỷ giá hối đoái là một loại giá cả nhưng là giá cả của hàng hóa đặc biệt đó là tiền tệ. Định nghĩa 4: Tỷ giá hối đoái là giá cả một đơn vị tiền tệ của quốc gia này được biểu diễn qua số đơn vị tiền tệ quốc gia khác xác định bằng một thời gian và không gian cụ thể. Ví dụ: Tỷ giá bán ra của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ngày 17062011 là: 1 USD = 20700VND. Các nhà kinh tế thường đề cập đến 02 loại tỷ giá: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (en): đây là tỷ giá được biết đến nhiều nhất do ngân hàng nhà nước công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hàng ngày. Tỷ giá hối đoái thực tế (er): được xác định er = en PnPf Pn: chỉ số giá trong nước. Pf: chỉ số giá nước ngoài. Tỷ giá hối đoái thực tế loại trừ được sự ảnh hưởng của chênh lệch lạm phát giữa các nước và phản ánh đúng sức mua và sức cạnh tranh của một nước. 1.1.2. Phân loại tỷ giá hối đoái 1.1.2.1. Theo phương tiện chuyển ngoại hối:
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
-o0o -TIỂU LUẬN Môn: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG VÀ SỰ PHÁT TRIỂN
Đề tài: “Phân tích và bình luận chính sách tỷ giá của NHNN
Việt Nam trong thời gian 5 năm trở lại đây”
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
I Cơ sở lý luận về tỷ giá hối đoái và vai trò của chính sách tỷ giá đối với nền kinh tế quốc gia 2
1.1 Khái niệm về tỷ giá hối đoái và phân loại tỷ giá hối đoái 2
1.1.1 Khái niệm về tỷ giá hối đoái 2
1.1.2 Phân loại tỷ giá hối đoái 3
1.1.2.1 Theo phương tiện chuyển ngoại hối: 3
1.1.2.2 Theo phương tiện thanh toán: 3
1.1.2.3 Theo thời điểm mua bán ngoại hối 4
1.1.2.4 Theo nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối 4
1.1.2.5 Theo cơ chế điều hành tỷ giá: 4
1.2 Tỷ giá và sự hình thành cung – cầu ngoại tệ 5
1.2.1 Cung ngoại tệ (Sfm): 5
1.2.2 Cầu ngoại tệ (Dfm) 6
1.2.3 Sự hình thành tỷ giá theo cung – cầu ngoại tệ 6
1.3 Chế độ tỷ giá hối đoái và vai trò của NHTW: 8
1.3.1 Chế độ tỷ giá cố định 8
1.3.2 Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn 9
1.3.3 Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết 10
1.3.4 Chế độ tỷ giá linh hoạt 10
1.4 Các yếu tố tác động đến tỷ giá hối đoái 11
1.4.1 Lạm phát 11
1.4.2 Lãi suất 12
1.4.3 Cán cân thương mại 13 1.4.4 Các yếu tố khác: (chính sách vĩ mô của Chính Phủ, tâm lý người dân)
13
Trang 31.5 NHTW và chính sách tỷ giá 14
1.5.1 Vai trò điều tiết của NHTW đối với tỷ giá hối đoái và thị trường ngoại hối: 14
1.5.2 Các công cụ điều chỉnh tỷ giá hối đoái 14
1.5.2.1 Lãi suất chiết khấu: 14
1.5.2.2 Nghiệp vụ thị trường mở: (nghiệp vụ thị trường mở thuần túy và nghiệp vụ thị trường mở nội tệ) 15
1.5.2.3 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc 16
1.5.2.4 Lập quỹ bình ổn tỷ giá: 16
1.5.2.5 Phá giá và nâng giá nội tệ: 17
II Chính sách tỷ giá của NHNN Việt Nam và tác động của nó đến nền kinh tế Việt Nam trong thời gian 5 năm trở lại đây 19
2.1 Giai đoạn 2006 – 2007: 19
2.2 Giai đoạn 2008 – 2011: 26
2.2.1 Năm 2008 26
2.2.2 Năm 2009 33
2.2.3 Năm 2010 39
2.2.4 Năm 2011 48
III Kiến nghị 57
KẾT LUẬN 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Với sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế thế giới, các mối quan hệ kinh tế trênmọi lĩnh vực của một nước ngày càng được mở rộng ra các nước khác, do đó vấn đềthanh toán, định giá, so sánh, phân tích đánh giá về mặt giá trị và hiệu quả trở nên phứctạp hơn nhiều Đơn vị thanh toán không chỉ là tiền tệ trong nước mà còn phải sử dụng cácloại ngoại tệ khác nhau liên quan đến việc trao đổi tiền của nước khác Hoạt động chuyểnđổi đồng tiền này thành đồng tiền khác trong qua trình quan hệ giữa các nước với nhau đãlàm nảy sinh phạm trù tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái tác động lên hoạt động xuất nhập khẩu, hoạt động Ngân hàng và cóảnh hưởng rất mạnh tới nền kinh tế Tỷ giá hối đoái còn là một công cụ hữu ích trongchính sách của nhà nước để đạt được các mục tiêu kinh tế đặt ra Tuy nhiên tỷ giá hốiđoái là một phạm trù kinh tế nhạy cảm và rất phức tạp nên việc quản lý tỷ giá là rất khókhăn Hiện nay với việc tỷ giá hiện nay biến động mạnh và khó lường cho thấy chínhsách tỷ giá của Việt Nam hiện nay chưa hợp lý, công tác quản lý tỷ giá yếu kém Để tìm
ra chính sách tỷ giá hối đoái hợp lý, linh hoạt và nâng cao năng lực quản lý tỷ giá của cơquan nhà nước nên nhóm 8 lựa chọn tìm hiểu về: “ Phân tích và bình luận về chính sách
tỷ giá của NHNN Việt Nam trong thời gian 5 năm trở lại đây”
Trang 5I Cơ sở lý luận về tỷ giá hối đoái và vai trò của chính sách tỷ giá đối với nền kinh
tế quốc gia
1.1 Khái niệm về tỷ giá hối đoái và phân loại tỷ giá hối đoái
1.1.1 Khái niệm về tỷ giá hối đoái
Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về tỷ giá hối đoái, do cách tiếp cận vấn đềkhác nhau, đôi khi do cách diễn đạt khác nhau Tỷ giá hối đoái là giá của đồng tiền nàyđược tính theo một đồng tiền khác Tỷ giá hối đoái cũng được hiểu là tỉ lệ trao đổi giữahai đồng tiền của hai quốc gia khác nhau Tỷ giá hối đoái xuất hiện và phát triển cùng với
sự ra đời, phát triển của thương mại quốc tế, nó được giải thích bởi một hiện tượng đơngiản, hàng hoá không có biên giới quốc gia trong khi tiền chỉ được chấp nhận trên lãnhthổ quốc gia phát hành ra nó Ta có thể hiểu tỷ giá hối đoái theo 2 cách định nghĩa chínhnhư sau:
- Định nghĩa 1: Tỷ giá hối đoái (thường được gọi tắt là tỷ giá) là tỷ lệ trao đổi giữahai đồng tiền của hai nước Cũng có thể gọi tỷ giá hối đoái là giá của một đồng tiền nàytính bằng một đồng tiền khác
Thông thường tỷ giá hối đoái được biểu diễn thông qua tỷ lệ bao nhiêu đơn vị đồngtiền nước này (nhiều hơn một đơn vị) bằng một đơn vị đồng tiền của nước kia Ví dụ: tỷgiá hối đoái giữa Đồng Việt Nam và Dollar Mỹ là 20700 VND/USD hay giữa Yên Nhật
và Dollar Mỹ là 116,729 JPY/USD hay giữa Dollar Mỹ và Euro là 1,28262 USD/Euro.Đồng tiền để ở số lượng một đơn vị trong các tỷ lệ như những ví dụ trên gọi là đồng tiềnđịnh danh hay đồng tiền cơ sở Vì thế, khi cần thể hiện một cách nghiêm ngặt và chínhxác, người ta thường nói: "Tỷ giá hối đoái giữa Đồng Việt Nam và Dollar Mỹ trên thịtrường ngoại hối định danh bằng Dollar Mỹ là 20700 Đồng bằng 1 Dollar" hoặc "Tỷ giáhối đoái giữa Đồng Việt Nam và Dollar Mỹ trên thị trường ngoại hối định danh bằngĐồng Việt Nam là 0,000048309 Dollar bằng 1 Đồng"
- Định nghĩa 2: Tỷ giá hối đoái là việc quy đổi mức tiền tệ của đồng tiền này sang 1giá trị của đồng tiền khác, và mức quy đổi này ko làm giảm giá trị sử dụng của đồng tiền.Hiện tại ở nước ta, việc quay đổi tiền luôn được thực hiện qua một đồng tiền thứ 3mới quay về giá trị thực Ví dụ:
Nếu muốn đổi 1 bảng anh, thì ta phải đổi sang USD rồi mới về VND Và chính điềunày làm cho giá trị nhận được giảm đi so với việc chuyển đổi trực tiếp từ 1 bảng anh vềVND
Trang 6- Định nghĩa 3: Tỷ giá hối đoái là mối quan hệ so sánh sức mua giữa các đồng tiềnvới nhau Đó là giá cả chuyển đổi một đơn vị tiền tệ của nước này thành những đơn vịtiền tệ của nước khác.
Ví dụ: Tỷ giá bán ra của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ngày 17/06/2011 là:
Các nhà kinh tế thường đề cập đến 02 loại tỷ giá:
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (en): đây là tỷ giá được biết đến nhiều nhất do ngân hàngnhà nước công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hàng ngày
Tỷ giá hối đoái thực tế (er): được xác định er = en * Pn/Pf
Pn: chỉ số giá trong nước
Pf: chỉ số giá nước ngoài
Tỷ giá hối đoái thực tế loại trừ được sự ảnh hưởng của chênh lệch lạm phát giữa cácnước và phản ánh đúng sức mua và sức cạnh tranh của một nước
1.1.2 Phân loại tỷ giá hối đoái
1.1.2.1 Theo phương tiện chuyển ngoại hối:
Căn cứ vào phương tiện chuyển ngoại hối, tỷ giá được phân thành hai loại:
- Tỷ giá điện hối: là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện, ngân hàng có trách nhiệmchuyển ngoại hối bằng điện Đây là tỷ giá cơ sở để xác định các loại tỷ giá khác
- Tỷ giá thư hối: là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư, ngân hàng có trách nhiệmchuyển ngoại hối bằng thư
1.1.2.2 Theo phương tiện thanh toán:
Căn cứ vào phương tiện thanh toán quốc tế, tỷ giá được chia ra làm 5 loại:
- Tỷ giá séc là tỷ giá mua bán các loại séc ngoại tệ
- Tỷ giá hối phiếu trả tiền ngay là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu trả tiền ngaybằng ngoại tệ
- Tỷ giá hối phiếu có kỳ hạn là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu có kỳ hạn bằngngoại tệ
Trang 7- Tỷ giá chuyển khoản là tỷ giá mua bán ngoại hối bằng cách chuyển khoản quangân hàng.
- Tỷ giá tiền mặt là tỷ giá mua bán ngoại hối được thanh toán bằng tiền mặt
1.1.2.3 Theo thời điểm mua bán ngoại hối
- Tỷ giá mở cửa: là tỷ giá vào đầu giờ giao dịch hay tỷ giá mua bán ngoại hối củachuyến giao dịch đầu tiên trong ngày
- Tỷ giá đóng cửa: là tỷ giá mua bán ngoại tệ của hợp đồng ký kết cuối cùng trongngày giao dịch
- Tỷ giá giao nhận ngay là tỷ giá mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận ngoại tệđược thực hiện ngay trong ngày hôm đó hoặc một vài ngày sau Loại tỷ giá này do tổchức tín dụng yết giá tại thời điểm giao dịch hoặc do hai bên thỏa thuận nhưng phải đảmbảo trong biểu độ do Ngân hàng nhà nước quy định Việc thanh toán giữa các bên phảiđược thực hiện trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo sau ngày cam kết mua bán
- Tỷ giá giao nhận có kỳ hạn là tỷ giá giao dịch do tổ chức tín dụng yết giá hoặc dohai bên tham gia giao dịch tự tính toán và thỏa thuận với nhau nhưng phải đảm bảo trongbiên độ quy định về tỷ giá kỳ hạn hiện hành của ngân hàng nhà nước tại thời điểm ký hợpđồng
Thường là giá mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận ngoại tệ được thực hiện theo hợpđồng (1,3,6 tháng…)
1.1.2.4 Theo nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối
Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của ngân hàng chia làm 02 loại:
- Tỷ giá mua: là tỷ giá ngân hàng mua ngoại hối vào
- Tỷ giá bán: là tỷ giá ngân hàng bán ngoại hối ra
1.1.2.5 Theo cơ chế điều hành tỷ giá:
Căn cứ vào cơ chế điều hành tỷ giá chia làm 02 loại:
- Tỷ giá chính thức: là tỷ giá do Nhà nước công bố được hình thành trên cơ sởngang giá vàng
- Tỷ giá tự do: là tỷ giá hình thành tự phát trên thị trường do quan hệ cung cầu quyđịnh
- Tỷ giá thả nổi: là tỷ giá hình thành tự phát trên thị trường và nhà nước không canthiệp vào sự hình thành và quản lý tỷ giá này
- Tỷ giá cố định: là tỷ giá không biến động trong phạm vi thời gian nào đó
Chính sách tỷ giá là các quyết định về tỷ giá của ngân hàng trung ương – đại diện cho cơ quan có thẩm quyền về tiền tệ của chính phủ Chính sách tỷ giá bao gồm
Trang 8các quyết định về ổn định giá trị đồng tiền nói chung và giá trị đối ngoại của bản tệ nói riêng biểu hiện bằng việc lựa chọn cơ chế xác định tỷ gía trên thị trường; các quyết định về việc lựa chọn các công cụ và biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu đề ra.
1.2 Tỷ giá và sự hình thành cung – cầu ngoại tệ
1.2.1 Cung ngoại tệ (Sfm):
Cung ngoại tệ là lượng ngoại tệ muốn bán trên thị trường ngoại hối tương ứng với môt mức tỷ giá nhất định
- Lượng hàng hóa và dịch vụ được xuất khẩu ra nước ngoài
- Các dòng vốn và các khoản chuyển nhượng vào trong nước
- Khách nước ngoài đến tham quan, du lịch trong nước
- Kiều hối gửi về trong nước
- Các khoản vốn vay nước ngoài
tỷ giá lên lượng cung ngoại tế:
- Khi tỷ giá giữa đồng tiền của một quốc gia so với đồng ngoại tệ tăng, có nghĩa là đồng nội tệ của nước đó bị đánh giá thấp hơn đồng ngoại tệ Giá hàng hóa của quốc gia này sẽ trở nên rẻ hơn tương đối so với đồng ngoại tệ khiến nhu cầu nhập khẩu hàng hóa dịch vụ của quốc gia ở các nước khác tăng lên Điều đó có nghĩa là quốc gia có điều kiện tăng lượng hàng hóa dịch vụ xuất khẩu, thu nhiều ngoại tệ hơn, làm tăng lượng cung ngoại tệ
- Khi tỷ giá giữa đồng tiền của một quốc gia so với đồng ngoại tệ giảm, có nghĩa là đồng nội tệ được đánh giá cao hơn so với đồng ngoại tệ Giá hàng hóa của quốc gia sẽ trởnên đắt hơn tương đối so với đồng ngoại tệ Nhu cầu xuất khẩu hàng hóa của quốc gia sẽ giảm, và làm giảm cung ngoại tệ
xuất khẩu của một nước tăng lên ):
- Thu nhập của người nước ngoài tăng Khi đó, nhu cầu của người dân sống ở nước ngoài đối với hàng hóa nhập khẩu tăng
- Giá hàng hóa ở nước ngoài tăng tương đối
- Thói quen tiêu dùng của người dân ở nước ngoài:
Trang 91.2.2 Cầu ngoại tệ (Dfm)
Cầu ngoại tệ ám chỉ lượng ngoại tệ muốn bán trên thị trường ngoại hối tương ứng với một tỷ giá nhất định
- Nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ từ nước ngoài
- Đầu tư ra nước ngoài, chuyển nhượng ra nước ngoài
- Đi du lịch, du học ở nước ngoài
- Trả lãi vay và vốn vay nước ngoài
- Khi tỷ giá giữa đồng nội tệ của một quốc gia so với đồng ngoại tệ tăng tức là đồng nội tệ bị đánh giá thấp hơn so với đồng ngoại tệ hay hàng hóa dịch vụ của nước đó trở nên rẻ hơn tương đối so với ở nước ngoài Do đó, nhu cầu nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ
từ nước ngoài giảm, khiến cho lượng ngoại tệ cần trong thanh toán quốc tế giảm đi, cầu ngoại tệ giảm
- Khi tỷ giá giữa đồng nội tệ của một nước so với đồng ngoại tệ giảm tức là đồng nội tệ bị đánh giá cao hơn so với đồng ngoại tệ hay nói cách khác, hàng hóa và dịch vụ trong nước trở nên đắt hơn tương đối so với ở nước ngoài Các doanh nghiệp nhập khẩu nhiều hàng hóa từ nước ngoài hơn và cần ngoại tệ để thanh toán tiền hàng Do đó, cầu ngoại tệ tăng
Như vậy, cầu ngoại tệ là một hàm nghịch biến theo tỷ giá Do đó, trong hệ tọa độ với trục tung là tỷ giá, đường cầu là là một đường dốc xuống
- Thu nhập của dân chúng trong nước tăng lên
- Giá hàng hóa và dịch vụ trong nước tăng tương đối so với nước ngoài
- Sở thích của người dân trong nước thích sử dụng hàng ngoại hơn
1.2.3 Sự hình thành tỷ giá theo cung – cầu ngoại tệ
Tương quan cung và cầu ngoại tệ trên thi trường sẽ xác lâp một tỷ giá thích hợp.Mức tỷ giá mà tại đó cung – cầu tiền tệ trên thị trường ngoại hối bằng nhau gọi là tỷ giácân bằng Tỷ giá cân bằng được xác định là giao điểm của đường cung ngoại tệ (Sfm) vàcầu ngoại tệ (Dfm)
Trang 10Hình 1 - Cân bằng cung – cầu ngoại tệ
Tại điểm giao nhau, cung và cầu ngoại tệ là bằng nhau và tỷ là tại E* là tỷ giá cânbằng
Khi các nhân tố làm tăng cung ngoại tệ khiến cho cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại
tệ, lượng ngoại tệ mà thị trường cần bán ra nhiều hơn lượng ngoại tệ cần mua vào Khi
đó, một số người không bán được sẽ sẵn sàng bán với mức giá thấp hơn Đường cung Sfm
dịch chuyển sang phải, làm tỷ giá giảm từ E* xuống E1
Hình 2 - Tỷ giá giảm khi cung ngoại tệ tăng
Trang 11Khi các nhân tố bên ngoài tác động khiến cầu ngoại tệ tăng, đường cầu Dfm dịchchuyển lên trên và sang phải Một số người không thể mua được ngoại tệ sẽ sẵn sàng trảgiá cao hơn, đẩy giá ngoại tệ tăng từ E* đến E2.
Hình 3 - Tỷ giá tăng khi cầu ngoại tệ tăng
Như vậy, bất kỳ yếu tố nào làm tăng cầu của một đồng ngoại tệ trên thị trườngngoại hối hoặc làm giảm cung của nó cũng đều có xu hướng làm cho tỷ giá hối đoái tănglên Bất kỳ yếu tố nào làm tăng cung của đồng ngoại tệ hoặc giảm cầu của nó trên thịtrường ngoại hối cũng có xu hướng làm tỷ giá hối đoái giảm
1.3 Chế độ tỷ giá hối đoái và vai trò của NHTW:
Chế độ tỷ giá cố định hay thả nổi chỉ là hai trường hợp đặc trưng thuộc hai cựctrong việc phân loại chế độ tỷ giá Do các quốc gia có những lựa chọn khác nhau và sựlựa chọn của các quốc gia có thể thay đổi từ thời gian này qua thời gian khác, chính vìvậy trong thực tế đã và đang tồn tại nhiều chế độ tỷ giá Các chế độ tỷ giá này là sự kếthợp giữa hai chế độ tỷ giá cố định và thả nổi Tùy theo mức độ can thiệp của chính phủ
mà ta có các chế độ tỷ giá khác nhau, có thể kể đến 4 chế độ tỷ giá đặc trưng sau:
1.3.1 Chế độ tỷ giá cố định
Khái niệm: Là chế độ tỷ giá, trong đó NHTW công bố và cam kết can thiệp để duytrì một mức tỷ giá cố định gọi là tỷ giá trung tâm trong một biên độ giao động hẹp đãđược định trước
Trang 12Như vậy trong chế độ tỷ giá cố định, NHTW buộc phải mua vào hay bán ra đồngnội tệ trên thị trường ngoại hối nhằm duy trì cố định tỷ giá trung tâm và duy trì sự biếnđộng của nó trong một biên độ giao động hẹp đã định trước.
Để tiến hành can thiệp trên thị trường ngoại hối đòi hỏi NHTW phải có sẵn nguốn
dự trữ ngoại hối nhất định Do mỗi đồng tiền quốc gia đều có tỷ giá với các đồng tiềnkhác, do đó tỷ giá của một đồng tiền có thể được thả nổi với đồng tiền này nhưng lại cốđịnh với đồng tiền khác
1.3.2 Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn
Khái niệm : Là chế độ trong đó tỷ giá hoàn toàn được xác định tự do theo quy luậtcung - cầu trên thị trường ngoại hối mà không có bất cứ sự can thiệp nào của NHTW.Trong chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn, sự biến động của tỷ giá là không có giới hạn
và luôn phản ánh những thay đổi trong quan hệ cung - cầu trên thị trường ngoại hối.Chính phủ tham gia trên thị trường ngoại hối với tư cách là một thành viên bình thường.Nghĩa là Chính phủ có thể mua vào, bán ra một đồng tiền nhất định để phục vụ cho hoạtdộng của mình chứ không nhằm mục đích can thiệp lên tỷ giá hay giữ cố định tỷ giá.Điều hiển nhiên là chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn không có bất cứ sự can thiệp nàocủa Chính phủ chỉ tồn tại về mặt lý thuyết Trên thực tế nói là áp dụng chế độ tỷ giá thảnổi hoàn toàn nhưng Chính phủ không thờ ơ trước sự biến động thất thường của tỷ giá,nên đã có ít nhiều can thiệp để giảm bớt sự biến động của tỷ giá Tuy nhiên, can thiệp củaChính phủ là tuỳ ý và không đặt ra bất cứ mục tiêu cụ thể nào phải đạt được
Ưu điểm :
- Phản ánh đúng quan hệ cung - cầu của thị trường ngoại tệ, sự biến động của thịtrường Tỷ giá phản ánh sát với giá trị thực của đồng tiền
- Đảm bảo sự tự điều tiết của thị trường ngoại tệ, bảo vệ thị trường trong nước trước
sự biến động của thị trường bên ngoài, góp phần bảo vệ nền kinh tế ổn định và phát triển
Trang 13- Tiết kiệm ngoại tệ cho ngân sách Nhà nước.
Nhược điểm :
- Tỷ giá biến động thường xuyên, khó lường tạo tâm lý không ổn định trong côngchúng, gây khó khăn cho việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước vàtính toán của các nhà đầu tư, cản trở việc thu hút nguồn vốn đầu tư và kinh doanh quốctế
- Thị trường luôn có rủi ro và méo mó do các thế lực của thị trường nên dẫn đến tỷgiá hối đoái ở mức không phù hợp với các chỉ số cơ bản của nền kinh tế
1.3.3 Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết
Khác với chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn, chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết tồn tạikhi NHTW tiến hành can thiệp tích cực trên thị trường ngoại hối nhằm duy trì tỷ giá biếnđộng trong một vùng nhất định, nhưng NHTW không cam kết duy trì một tỷ giá cố địnhhay một biên độ giao động hẹp xung quanh tỷ giá trung tâm Chẳng hạn, NHTW khôngcông bố và không cam kết duy trì một tỷ giá cố định nào, nhưng cam kết can thiệp để tỷgiá ngày hôm nay chỉ biến động trong một giới hạn tỷ lệ phần trăm nhất định so với ngàyhôm trước
Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết được xem như chế độ tỷ giá hỗn hợp giữa chế độ
tỷ giá cố định và chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn
Ưu điểm :
- Tỷ giá vẫn thay đổi linh hoạt theo cung - cầu thị trường nhưng tương đối ổn định
- Các ưu điểm của tỷ giá thả nổi hoàn toàn về cơ bản được tận dụng nhưng khắcphục được nhược điểm của nó
Nhược điểm :
- Nhà nước phải thường xuyên theo dõi thị trường và sẵn sàng dự trữ ngoại tệ đểcan thiệp, gây tốn kém cho ngân sách Nhà nước
1.3.4 Chế độ tỷ giá linh hoạt
Khái niệm: là chế độ tỷ giá có sự pha trộn giữa cố định (fixing), thả nổi (floating) vàquản lý (managing) Nghĩa là tùy từng điều kiện cụ thể mà chủ động điều chỉnh tỷ giámột cách linh hoạt
Mỗi chế độ tỷ giá đều có những ưu nhược điểm riêng, việc lựa chọn tỷ giá cố địnhhay linh hoạt phụ thuộc vào mục tiêu phát triển kinh tế trong từng thời kỳ , cũng như sựdung hòa giữa hai tư tưởng tự chủ quốc gia về tiền tệ và tư tưởng hội nhập quốc tế vềkinh tế Đối với các quốc gia chú trọng các mục tiêu trong nước như: kiềm chế lạm phát,
ổn định đồng tiền…, các nước này buộc phải sử dụng nhiều chính sách vĩ mô khác nhau
Trang 14để tác động vào nền kinh tế, điều này gây khó khăn cho việc thực hiện chế độ tỷ giá cốđịnh Nói cách khác, chế độ tỷ giá phù hợp với chính sách ổn định nền kinh tế nội địa làchế độ tỷ giá linh hoạt Đối với các quốc gia quan tâm đến mục tiêu tăng cường hội nhậpvào kinh tế toàn cầu, thi chế độ tỷ giá cố định gắn bản tệ với một, hoặc một rổ tiền tệ xem
ra có nhiều lợi điểm vì sự gắn bó về tiền tệ sẽ đẩy nhanh quá trình liên kết giữa các QGChế độ thả nổi có quản lý và chế độ linh hoạt được nhiều nước áp dụng Ở ViệtNam hiện nay đang áp dụng chế độ tỷ giá linh hoạt
1.4 Các yếu tố tác động đến tỷ giá hối đoái.
Trong điều kiện lưu thông tiền giấy như hiện nay, lạm phát là hiện tượng không thểtránh khỏi của nền kinh tế Cũng như mọi vấn đề khác, lạm phát cũng có hai mặt của nó.Một mặt, nó gây ra những tác hại như: chi phí mòn giầy, chi phí thực đơn, biến động giátương đối, thay đổi không định trước các khoản nợ thuế và tái phân phối một cách tùytiện giữa người đi vay và người cho vay Nhưng mặt khác, lạm phát cũng là một động lựccủa tăng trưởng kinh tế và lạm phát đó có xu hướng ổn định trong thời gian dài và dự tínhtrước được
Trong nền kinh tế toàn cầu và mỗi nền kinh tế đơn lẻ đều tồn tại các mức lạm phátkhác nhau Sự khác nhau này là do sự hoạt động của tiền tệ theo sự quản lý của NHTW.Lạm phát và tỷ giá là hai yếu tố quan trọng trong nền kinh tế vĩ mô, vì vậy chính phủ mỗinước đều cố gắng duy trì các yếu tố trên ở mức tối ưu nhất Khi lạm phát ở cả hai quốcgia có sự chênh lệch tương đối rõ, tỷ lệ đồng ngoại tệ trên đồng nội tệ của nước có lạmphát cao hơn sẽ tăng, mặc dù đồng tiền của cả hai nước đều mất giá Chính sự chênh lệchlạm phát giữa các nước là yếu tố làm tỷ giá hối đối thay đổi Cơ sở của mức chênh lệchlạm phát giữa hai quốc gia ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái là thuyết ngang giá sức muaPPP Theo thuyết ngang giá sức mua, khi lạm phát của một nước tăng cao, trong điềukiện các nhân tố khác không đổi, sẽ dẫn đến giá cả của hàng hóa ở hai quốc gia có nhữngbiến động, làm cho ngang giá sức mua của hai đồng tiền đó bị phá vỡ và làm cho tỷ giáhối đoái thay đổi Như vậy, mức chênh lệch lạm phát giữa các quốc gia tác động lên tỷgiá hối đoái trong dài hạn
Trang 15Khi một nước có lạm phát, sức mua đồng tiền nội tệ giảm làm cho hàng hoá dịch vụtrong nước đắt hơn trên thị trường nước ngoài trong khi hàng hoá dịch vụ nước ngoài rẻhơn trên thị trường trong nước Do hàng ngoại rẻ hơn nên người dân sẽ chuyển sang dùnghàng ngoại nhiều hơn làm cầu ngoại tệ tăng dẫn tới tỷ giá hối đoái tăng Tương tự thì cưdân nước ngoài sẽ nhập khẩu ít hàng trong nước hơn làm cho xuất khẩu giảm, cung ngoại
tệ trên thị trường giảm, tỷ giá hối đoái tăng Như vậy lạm phát ảnh hưởng đến cả cung vàcầu ngoại tệ theo hướng tăng giá ngoại tệ, tác động cộng gộp làm cho tỷ giá hối đoái tăngnhanh hơn
Giả sử mô hình thương mai giữa hai nước là Mỹ và Việt Nam Ban đầu, Việt Nam
và Mỹ duy trì tỷ lệ lạm phát thấp Sau đó, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam tăng lên một cáchtương đối so với tỷ lệ lạm phát của Mỹ, khiến cho giá cả hàng hóa và dịch vụ của ViệtNam cao hơn tương đối so với giá cả hàng hóa và dịch vụ của Mỹ Nhu cầu về hàng hóa
và dịch vụ từ Việt Nam ở Mỹ giảm xuống trong khi cầu về hàng hóa dịch vụ nhập khẩu
từ Mỹ ở Việt Nam sẽ có xu hướng tăng lên Do đó, cầu về USD của Việt Nam tăng docác doanh nghiệp cần ngoại tệ để thanh toán tiền hàng Đường cầu USD ở Việt Nam dịchchuyển lên trên và sang phải Kết quả là tỷ giá USD/VND tăng lên từ E0 đến E1, và VNĐgiảm giá trị tương đối so với USD
Hình 4 - Lạm phát tăng cao đẩy tỷ giá tăng cao
Trang 16Lãi suất là một biến số tổng hợp tác động đến nhiều chỉ tiêu khác nhau, trong đó tỷgiá và lãi suất có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với nhau Trong một nước nếu lãi suất nội
tệ tăng trong khi lãi suất thế giới ổn định sẽ làm cho các luồng vốn quốc tế đổ vào nhiều
vì mức lãi suất hấp dẫn, làm cho cung ngoại tệ tăng lên và tỷ giá giảm
1.4.3 Cán cân thương mại
Hoạt động xuất nhập khẩu ảnh hưởng rất lớn đến sự biến động của tỷ giá Khi mộtnước có chính sách tăng xuất khẩu thì lượng cung ngoại tệ tăng làm cho tỷ giá giảm,ngược lại nếu nước đó có chủ trương giảm xuất khẩu và tích cực nhập khẩu thì làm cầungoại tệ tăng làm cho tỷ giá tăng
1.4.4 Các yếu tố khác: (chính sách vĩ mô của Chính Phủ, tâm lý người dân)
Cán cân thanh toán quốc tế phản ánh mức cung – cầu về ngoại tệ trên thị trường vìvậy nó ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ giá hối đoái Bội thu cán cân thanh toán sẽ làm cho tỷgiá giảm và bội chi cán cân thanh toán sẽ làm cho tỷ giá tăng
Trong ngắn hạn, khi người dân kỳ vọng hoặc nghe tin đồn là tỷ giá sẽ tăng trongtương lai thì dân chúng sẽ đi mua ngoại tệ làm cho cầu ngoại tệ sẽ tăng và tỷ giá tăng,ngược lại nếu có nhận định tỷ giá sẽ giảm trong tương lai thì ngưòi dân sẽ lập tức bánngoại tệ khiến cho cung ngoại tệ tăng và tỷ giá giảm
Trong dài hạn, một sự ưa thích hàng ngoại của một nước làm tăng cầu hàng ngoạikhiến cho đồng nội tệ nước đó giảm giá Cầu đối với hàng xuất khẩu của một nước tănglên về lâu dài làm cho đồng tiền của nước đó tăng giá còn cầu về hàng nhập khẩu tăng lênlàm cho đồng tiền của nước đó giảm giá Ngoài ra tình trạng “Đôla hoá” cũng tác độngtới tỷ giá Hiện nay phần lớn các nước đang phát triển đều phải đối mặt với tình trạng
“Đôla hoá” trong nền kinh tế Đó là sự mất niềm tin vào đồng nội tệ, người dân và các tổchức kinh tế găm giữ ngoại tệ và chỉ tín nhiệm đồng tiền này trong thanh toán và trao đổi
Do vậy cầu ngoại tệ rất lớn dẫn tới ngoại tệ tăng giá, nội tệ giảm giá
Đây là hàng rào đối với hàng nhập khẩu và bảo hộ hàng sản xuất trong nước Điềunày làm tăng cầu hàng nội và dẫn đến việc tăng giá của đồng nội tệ Thuế quan và cô ta
về lâu dài làm cho đồng tiền của một nước tăng giá
Trang 17Nếu năng suất lao động của một nước cao hơn các nước khác thì những nhà kinhdoanh trong nước đó có thể hạ giá hàng nội tương đối so với hàng ngoại và vẫn thu đượclãi Kết quả là cầu về hàng nội tăng lên và đồng nội tệ có xu hướng tăng giá bởi vì hàngnội sẽ tiếp tục được bán tốt với một giá trị cao hơn của đồng nội tệ Ngược lại nếu năngsuất lao động của nước đó kém hơn các nước khác, thì hàng hoá nước đó trở thành tươngđối đắt hơn và đồng tiền của nó có xu hướng giảm giá Về lâu dài, do năng suất lao độngcủa một nước cao hơn tương đối so với các nước khác, nên đồng tiền của nước đó tănggiá.
Ngân hàng trung ương có hai nhiệm vụ Thứ nhất là điều tiết các hoạt động ngânhàng và đảm bảo sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng NHTW thường xuyên giám sáttình hình tài chính của các ngân hàng và tạo môi trường thuận lợi cho các giao dịch ngânhàng bằng thanh toán liên ngân hàng Ngoài ra, NHTW còn có thể cho các ngân hàngthương mại vay khi các ngân hàng này có nhu cầu
Nhiệm vụ thứ hai là kiểm soát lượng tiền cung ứng Thông qua các nghiệp vụ thịtrường mở, các quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lái suất chiết khấu (lãi suất cho cácngân hàng thương mại vay) Ngân hàng trung ương có khả năng kiểm soát cung tiển vàđiều kiện tín dụng của một quốc gia
1.5.2 Các công cụ điều chỉnh tỷ giá hối đoái
1.5.2.1 Lãi suất chiết khấu:
Là chính sách của NHTW dùng cách thay đổi lãi suất chiết khấu để điều chỉnhTGHĐ trên thị trường Khi TGHĐ trên thị trường nâng cao đến mức báo động cần phảican thiệp thì NHTW nâng cao lãi suất chiết khấu Khi lãi suất chiết khấu tăng, lãi suấtcho vay trên thị trường cũng tăng lên, kích thích nguồn vốn nước ngoài chảy vào nướcmình để thu lãi cao, do đó TGHĐ sẽ giảm xuống Ngược lại, khi NHTW áp dụng lãi suấtchiết khấu thấp,TGHĐ sẽ tăng lên
Tuy nhiên, chính sách này chỉ có tác dụng chừng mực đến việc điều chỉnh tỷ giá vìquan hệ giữa lãi suất chiết khấu là tỷ giá chỉ là quan hệ tác động qua lại một cách giántiếp chứ không phải là quan hệ trực tiếp nhân quả
Trang 18Lãi suất do quan hệ cung cầu của vốn vay quyết định và nó chỉ có thể biến độngtrong phạm vi tỷ suất lợi nhuận bình quân ( trừ những trường hợp thật đặc biệt nó có thểvượt qua tỷ suất lợi nhuận bình quân) Trong khi đó, tỷ giá do quan hệ cung cầu về ngoại
tệ quyết định và quan hệ này bị chi phối chủ yếu bởi tình trạng cán cân thanh toán quốc
tế Do vậy, biến động của lãi suất không nhất thiết kéo theo sự biến động của tỷ giá.Chẳng hạn, trong điều kiện tình hình kinh tế, chính trị, và tiền tệ của một nước tương đối
ổn định, khi lãi suất cao có thể thu hút vốn ngắn hạn của nước ngoài chạy vào Ngược lại,trong điều kiện tình hình kinh tế, chính trị, và tiền tệ của một nước không ổn định, khi lãisuất cao chưa chắc đã thu hút vốn ngắn hạn của nước ngoài chạy vào, bởi vì đối với vốnnước ngoài, vấn đề lúc đó đặt ra trước tiên là vấn đề an toàn vốn chứ không phải là vấn
đề thu lãi nhiều
Tuy nhiên, không nên hoàn toàn coi thường chính sách chiết khấu, nếu tình hìnhtiền tệ của các nước nhìn chung như nhau, thì xu hướng đầu tư ngắn hạn vẫn hướng vàocác nước có lãi suất cao Do vậy, hiện nay chính sách chiết khấu vẫn có ý nghĩa to lớncủa nó
1.5.2.2 Nghiệp vụ thị trường mở: (nghiệp vụ thị trường mở thuần túy và nghiệp vụ
thị trường mở nội tệ) Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động ngân hàng trung ương mua vào hoặc bán ra những giấy tờ có giá của chính phủ trên thị trường Thông qua hoạt động mua bán giấy tờ
có giá, ngân hàng trung ương tác động trực tiếp đến nguồn vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng, từ đó điều tiết lượng cung ứng tiền tệ và tác động gián tiếp đến lãi suất thị
trường
Tác động của nghiệp vụ thị trường mở
Trong bảng tổng kết tài sản của ngân hàng trung ương, tài sản có chủ yếu là giấy tờ
có giá của chính phủ, tài sản nợ chủ yếu là tiền giấy và tiền gửi dự trữ của các ngân hàngthương mại Khi ngân hàng trung ương bán ra những giấy tờ có giá của chính phủ trên thịtrường như trái phiếu chính phủ, ngân hàng trung ương sẽ "thu tiền" về theo cơ chế sau:tài khoản vãng lai của người mua trái phiếu chính phủ bị ngân hàng thương mại ghi nợ vàngân hàng trung ương sẽ ghi giảm tài khoản tiền gửi dự trữ của các ngân hàng thươngmại tại đó Vì tỷ lệ tiền mặt dự trữ của ngân hàng thương mại bằng tiền gửi dự trữ tạingân hàng trung ương cộng với tiền mặt tại két dự trữ của họ nên khi tài khoản tiền gửi
dự trữ của các ngân hàng thương mại tại ngân hàng trung ương giảm xuống, cơ sở tiền tệ
đã giảm đi làm giảm cung tiền một lượng bằng giá trị của trái phiếu chính phủ bán ranhân với số nhân tiền tệ
Trang 19Ngược lại, khi ngân hàng trung ương mua vào giấy tờ có giá của chính phủ, nó sẽghi tăng tài khoản dự trữ của các ngân hàng thương mại và làm tăng cơ sở tiền tệ dẫn đếncung tiền tăng Việc ghi tăng tài khoản dự trữ của các ngân hàng thương mại có thể dẫn
đến kết cục ngân hàng trung ương phải in thêm tiền giấy nếu các ngân hàng thương mại
có nhu cầu lớn về tiền giấy trong khi tiền giấy của ngân hàng trung ương không đủ đáp
ứng.Sử dụng biên pháp này khi ngân hàng muốn thắt chặt tiền tệ
Các loại nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở của các ngân hàng trung ương chủ yếu có hai loại: muabán giấy tờ có giá dài hạn và mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn Ở Mỹ, nghiệp vụ thịtrường mở chủ yếu được thực hiện đối với trái phiếu chính phủ dài hạn Ở Việt nam, theoLuật Ngân hàng Nhà nước Việt nam, nghiệp vụ thị trường mở chỉ là việc mua bán giấy tờ
có giá ngắn hạn như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước
và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác
1.5.2.3 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Ngân hàng trung ương cũng có thể tác động tới cung ứng tiền tệ thông qua tỷ lệ dựtrữ bắt buộc Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một quy định của ngân hàng trung ương về tỷ lệgiữa tiền mặt và tiền gửi mà các ngân hàng thương mại bắt buộc phải tuân thủ để đảmbảo tính thanh khoản Các ngân hàng có thể giữ tiền mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ dữ trữbắt buộc nhưng không được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này Nếu thiếu hụt tiền mặt cácngân hàng thương mại phải vay thêm tiền mặt, thường là từ ngân hàng trung ương đểđảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc Đây là một trong những công cụ của ngân hàng trung ươngnhằm thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách làm thay đổi số nhân tiền tệ
Sự gia tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc hàm ý các ngân hàng phải dự trữ nhiều hơn, do đócho vay ít hơn từ mỗi đồng mà Ngân hàng nhận được dưới dạng tiền gửi Kết quả là, nólàm tăng tỷ lệ dự trữ, làm giảm số nhân tiền và làm giảm cung tiền Ngược lại, biện phápcắt giảm tỷ lệ dữ trữ bắt buộc làm tăng só nhân tiền và cung tiền
1.5.2.4 Lập quỹ bình ổn tỷ giá:
Là chính sách của NHTW dùng cách thay đổi lãi suất chiết khấu để điều chỉnhTGHĐ trên thị trường Khi TGHĐ trên thị trường nâng cao đến mức báo động cần phảican thiệp thì NHTW nâng cao lãi suất chiết khấu Khi lãi suất chiết khấu tăng, lãi suấtcho vay trên thị trường cũng tăng lên, kích thích nguồn vốn nước ngoài chảy vào nướcmình để thu lãi cao, do đó TGHĐ sẽ giảm xuống Ngược lại, khi NHTW áp dụng lãi suấtchiết khấu thấp,TGHĐ sẽ tăng lên
Trang 20Tuy nhiên, chính sách này chỉ có tác dụng chừng mực đến việc điều chỉnh tỷ giá vìquan hệ giữa lãi suất chiết khấu là tỷ giá chỉ là quan hệ tác động qua lại một cách giántiếp chứ không phải là quan hệ trực tiếp nhân quả.
Lãi suất do quan hệ cung cầu của vốn vay quyết định và nó chỉ có thể biến độngtrong phạm vi tỷ suất lợi nhuận bình quân ( trừ những trường hợp thật đặc biệt nó có thểvượt qua tỷ suất lợi nhuận bình quân) Trong khi đó, tỷ giá do quan hệ cung cầu về ngoại
tệ quyết định và quan hệ này bị chi phối chủ yếu bởi tình trạng cán cân thanh toán quốc
tế Do vậy, biến động của lãi suất không nhất thiết kéo theo sự biến động của tỷ giá.Chẳng hạn, trong điều kiện tình hình kinh tế, chính trị, và tiền tệ của một nước tương đối
ổn định, khi lãi suất cao có thể thu hút vốn ngắn hạn của nước ngoài chạy vào Ngược lại,trong điều kiện tình hình kinh tế, chính trị, và tiền tệ của một nước không ổn định, khi lãisuất cao chưa chắc đã thu hút vốn ngắn hạn của nước ngoài chạy vào, bởi vì đối với vốnnước ngoài, vấn đề lúc đó đặt ra trước tiên là vấn đề an toàn vốn chứ không phải là vấn
đề thu lãi nhiều
Tuy nhiên, không nên hoàn toàn coi thường chính sách chiết khấu, nếu tình hìnhtiền tệ của các nước nhìn chung như nhau, thì xu hướng đầu tư ngắn hạn vẫn hướng vàocác nước có lãi suất cao Do vậy, hiện nay chính sách chiết khấu vẫn có ý nghĩa to lớncủa nó
1.5.2.5 Phá giá và nâng giá nội tệ:
Phá giá tiền tệ có tác dụng đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa, hạn chế nhập khẩu hànghóa, do đó góp phần cải thiện cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế, chính vìvậy TGHĐ sẽ bớt tăng lên Tuy nhiên, tác dụng cải thiện cán cân thương mại của việcphá giá tiền tệ có trở thành hiện thực hay không còn phụ thuộc vào năng lực cạnh tranhcủa hàng hóa xuất khẩu nước đó Nhưng đồng thời phá giá tiền tệ khuyến khích nhậpkhẩu vốn, kiều hối và hạn chế xuất khẩu vốn ra bên ngoài cũng như chuyển tiền ra nướcngoài, do đó có tác dụng làm tăng khả năng cung ngoại hối, giảm cầu về ngoại hối, nhờ
đó TGHĐ sẽ giảm xuống Ngoài ra, phá giá tiền tệ còn khuyến khích du lịch vào trongnước, hạn chế du lịch ra nước ngoài, vì vậy quan hệ cung cầu ngoại hối bớt căng thẳng.Nâng giá tiền tệ là việc nâng giá chính thức đơn vị tiền tệ nước mình so với ngoại
tệ, tức là hạ thấp TGHĐ của một đơn vị ngoại tệ
Nâng giá tiền tệ có tác dụng giẩm xuất khẩu hàng hóa, tăng mạnh nhập khẩu hànghóa, do đó góp phần cải thiện cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế, chính vìvậy TGHĐ sẽ bớt giảm xuống Tuy nhiên, tác dụng cải thiện cán cân thương mại của việcnâng giá tiền tệ có trở thành hiện thực hay không còn phụ thuộc vào năng lực cạnh tranhcủa hàng hóa xuất khẩu nước đó Nhưng đồng thời nâng giá tiền tệ khuyến khích xuất
Trang 21khẩu vốn, kiều hối và tăng xuất khẩu vốn ra bên ngoài cũng như chuyển tiền ra nướcngoài, do đó có tác dụng làm giảm khả năng cung ngoại hối, tăng cầu về ngoại hối, nhờ
đó TGHĐ sẽ tăng lên
Trang 22II Chính sách tỷ giá của NHNN Việt Nam và tác động của nó đến nền kinh tế Việt Nam trong thời gian 5 năm trở lại đây.
2.1 Giai đoạn 2006 – 2007:
Bảng 1 - Các chỉ tiêu kinh tế xã hội của Việt Nam năm 2006 và 2007
ST
Thực hiện năm 2006
Thực hiện năm 2007
1 Tốc độ tăng tổng sản phẩm
2 Giá trị tăng thêm của ngành
3 Giá trị tăng thêm của ngànhcông nghiệp và xây dựng %
Trang 23Bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2006:
Năm 2006, kinh tế nước ta phát triển trong điều kiện trong nước và thế giới cónhững sự kiện nổi bật: Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Hội nghị APEC tại Hà Nộithành công tốt đẹp, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mạithế giới (WTO) Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có không ít khó khăn tác động không thuậnlợi đến sản xuất và đời sống nhân dân: Ở trong nước là ảnh hưởng của bão số 1, bão số 6,bảo số 9 và các bất thường khác về thời tiết, dịch bệnh trong nông nghiệp, … Trên thịtrường quốc tế, giá cả nói chung, đặc biệt là giá xăng dầu diễn biến phức tạp và có chiềuhướng tăng
Sản xuất tăng và giá tiêu dụng tăng thấp hơn mức tăng trưởng nên đời sống dân cưđược cải thiện Xuất khẩu tăng trưởng cao và tăng nhanh hơn tốc độ tăng nhập khẩu nên
đã giảm dần được nhập siêu Đầu tư từ nguồn trong nước và thu hút đầu tư nước ngoàităng mạnh Tỷ giá gia tăng thấp góp phần ổn định các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Tình hình xãhội ổn định, văn hóa, y tế, giáo dục tiếp tục phát triển
Bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2007:
Trong năm 2007, bên cạnh những thuận lợi về sự ổn định về chính trị, xã hội và ổnđịnh kinh tế vĩ mô, nền kinh tế gặp rất nhiều khó khăn: Thiên tai, các dịch bệnh nguyhiểm phát sinh, giá cả tăng cao ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống nhân dân Tìnhhình kinh tế thế giới tiếp tục có những diễn biến phức tạp, giá dầu thô và nhiều vật tưnguyên liệu tăng cao ảnh hưởng xấu đến sự ổn định và tăng trưởng kinh tế thế giới, nhất
là đối với các nước nghèo, phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu tuy nhiên nềnkinh tế nước ta tiếp tục tăng trưởng cao và ổn định Tình trạng thâm hụt cán cân thươngmại ngày càng gia tăng, cán cân vốn đặc biệt là nguồn vốn ngắn hạn bị biến động mạnh
Cơ chế chính sách tỷ giá
Trong các báo cáo của NHNN trong giai đoạn này, NHNN đều tuyên bố Việt Namđang theo đuổi chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt có điều tiết NHNN áp dụng Chính sách tỷgiá linh hoạt Tỷ giá thả nổi có kiểm soát, đây là chế độ tỷ giá phù hợp với chính sách ổnđịnh nền kinh tế nội địa Trong chế độ tỷ giá thả nổi có kiểm soát, chính phủ thườngxuyên điều chỉnh tỷ giá thông qua sự thay đổi của các biến số như: mục tiêu phát triểncủa quốc gia; mức độ hoàn thiện của thị trường tài chánh, thị trường tiền tệ; khả năngquản trị của các doanh nghiệp, đặc biệt là của hệ thống ngân hàng thương mại; sự thâmhụt hoặc thặng dư của cán cân thanh toán, tình hình dự trữ, sự biến động của nền kinh tếtoàn cầu v.v
Trang 24Ngày 24/2/1999 được xem là mốc quan trọng trong điều hành tỷ giá của NHNN khiThống đốc NHNN ký quyết định số 64/1999/QĐ/NHNN và quyết định số65/1999/QQĐ/NHNN ban hành cơ chế điều hành tỷ giá bình quân trên thị trường ngoại
tệ liên ngân hàng, với nguyên tắc cơ bản là tỷ giá được xác định theo cung cầu thị trường,
có sự điều tiết của nhà nước Cùng với các quyết định đó, với mục tiêu ổn định tỷ giá,kiểm soát lạm phát, NHNN cũng đưa ra biên độ dao động rất hẹp cho tỷ giá giao dịch củacác NHTM là 0.1%, sau đó nâng lên là 0.25% vào ngày 1/7/2002
Bảng 2 - Chính sách tỷ giá Việt Nam giai đoạn 2006-2007:
cả năm tăng
Tỷ giá USD/VND thời điểm 29/12
2006 Kiểm soát lạm
phát
Chế độ tỷ giá cố địnhthông thường, biên độgiao dịch ± 0.25 %
2007 Kiểm soát lạm
phát
Chế độ tỷ giá cố địnhthông thường, biên độgiao dịch ± 0.5 %, sau
đó nâng lên ± 0.75 %
Ba nét nổi bật của diễn biến tỷ giá USD/VND trong năm 2007:
VND có dấu hiệu tăng giá so với USD sau “truyền thống” nhiều năm liêntục giảm giá;
Mức độ dao động của tỷ giá trong năm 2007 lớn hơn các năm trước;
NHNN nới rộng biên độ giao dịch tỷ giá USDVND bình quân liên ngânhàng
Trong các tháng đầu năm 2007, nguồn cung ngoại tệ dồi dào do luồng vốn đầu tưnước ngoài đổ vào trong nước tăng đột biến sau sự kiện Việt Nam gia nhập WTO đã đẩygiá VND giao dịch thực tế LNH tăng mạnh và có thời điểm đã tăng tới 0,3% so với USD(tháng 02/2007) Động thái liên tục mua ngoại tệ của NHNN để tăng dự trữ ngoại trong 5tháng đầu năm làm giảm đáng kể cung USD trên thị trường, kết quả VND liên tục giảmgiá trở lại trong các tháng sau đó
Trang 25Sau đợt giảm giá mạnh giữa tháng 8/2007, VND một lần nữa quay trở lại nhịp độtăng giá hồi đầu năm Trong cuối tháng 10 và tháng 11, tỷ giá USD/VND giao dịch thực
tế đổi chiều ngoạn mục, từ mức giao dịch trên trần trong vòng 2 tháng trước đó, đã nhanhchóng rớt xuống dưới mức giá sàn từ 50-80 điểm Nguyên nhân tác động chủ yếu có thể
là do lượng cung ngoại tệ những tháng cuối năm 2006 tăng mạnh trong khi NHNN khôngthực hiện mua vào USD như các tháng đầu năm, cùng với chênh lệch lãi suất VND, USDgia tăng và tác động của việc USD giảm giá mạnh trên thị trường quốc tế
Tính đến thời điểm 31/12/2007, tỷ giá bình quân LNH do NHNN công bố chỉ tăng
13 điểm (0,12%) và tỷ giá giao dịch thực LNH cũng chỉ tăng nhẹ 0,1% so với thời điểmđầu năm Song mức dao động của tỷ giá trong năm là rất lớn
Nếu so sánh hai mốc thời gian: cuối năm và đầu năm, thì mức độ biến động của tỷgiá là không đáng kể, tuy nhiên so với các năm trước, tỷ giá giao dịch thực tế có nhiềudiễn biến phức tạp hơn với các đợt biến động mạnh (tăng/giảm mạnh, bất thường) trongnăm với những tín hiệu cho thấy xu hướng VND sẽ tăng giá trong những năm tới
Công cụ điều hành chính sách tỷ giá:
*Dự trữ bắt buộc:
NHNN đã điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với ngoại tệ từ 5% lên 10%tháng 7 năm 2007
*Quy định biên độ xác định tỷ giá kinh doanh
Sau gần 5 năm (từ 2002 đến 2006) duy trì biên độ tỷ giá ở mức +/-0,25%, đầu năm
2007 Ngân hàng Nhà nước đã mở rộng biên độ thêm +/-0,25% lên mức +/-0,5% với mụcđích từng bước làm cho tỷ giá sát với thực tế của thị trường hơn Với đà tăng tỷ giá ở năm
2006 (năm 2006 tỷ giá VND/USD tăng 1,38%) việc nới rộng biên độ ở đầu năm được kỳvọng là sẽ làm cho tỷ giá tiếp tục tăng
Tuy nhiên, từ 2007, luồng vốn FDI tăng đột biến, tăng gấp 5 lần so với năm 2006,cùng với lượng kiều hối chuyển về lớn đã gây áp lực tăng giá VND Do đó, việc điềuchỉnh tăng biên độ dao động ở đầu năm đã gây tác dụng ngược so với kỳ vọng ban đầu.NHNN chính thức công bố nới rộng biên độ giao dịch tỷ giá USDVND LNH từ +/-0,50%lên +/-0,75% (áp dụng từ ngày 24/12/2007) theo Quyết định số 3039/QĐ-NHNN Tuynhiên, sát thời điểm kết thúc năm 2007, nguồn cung ngoại tệ (đặc biệt là kiều hối) đổ vàotrong nước tăng mạnh và QĐ nới rộng biên độ giao dịch tỷ giá USDVND LNH có thể đã
hỗ trợ VND tăng giá nhẹ trở lại
Quyết định nới rộng biên độ tỷ giá giao dịch của NHNN tháng 12/2007 một mặt chothấy NHNN đang đi theo hướng điều chỉnh chính sách tiền tệ linh hoạt và sát với cungcầu thị trường hơn, mặt khác cho thấy NHNN, sau nhiều năm duy trì chính sách cố định
tỷ giá đã phải chấp nhận một thực tế đó là mức độ dao động tỷ giá dần lớn hơn trong bối
Trang 26cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới và đồng thời khả năngcan thiệp của NHNN sẽ hạn chế hơn.
*Công cụ lãi suất
Kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2007 NHNN chính thức bỏ trần lãi suất tiền gửi bằngUSD đối với pháp nhân Quyết định này đã tạo điều kiện cho các NHTM tăng lãi suấttiền gửi bằng USD đối với pháp nhân cho phù hợp với thị trường và xu hướng quốc tế.Trong năm 2007 và 2008, nguồn cung ngoại tệ tăng đột biến, việc gia tăng lãi suất USD
đã góp phần làm tăng lượng USD tiền gửi, giảm bớt áp lực tăng giá của USD và cũngkhông gây thêm lạm phát do giảm bớt lượng tiền Đồng tung ra mua USD
*Qũy dự trữ ngoại hối
Dự trữ ngoại tệ của Việt Nam tăng qua các năm , đặc biệt trong năm 2007 dự trữngoại tệ đạt gần 50% giá trị xuất khẩu (khoảng 25 tỷ USD), tăng hơn 75% so với dự trữngoại tệ năm 2006 Điều này chứng tỏ các năm qua Ngân hàng Nhà nước đã mua mộtlượng USD đáng kể của thị trường qua đó góp phần giảm bớt áp lực tăng giá VND Tuynhiên trong bối cảnh lạm phát tăng cao, giá trị nhập siêu lớn như năm 2007 thì việcNHNN bơm VND vào thị trường mua USD để kìm hãm sự tăng giá của VND là khônghợp lý Việc cố gắng giữ một tỷ giá có lợi cho xuất khẩu đã làm trầm trọng thêm vấn đềnhập siêu và lượng lớn VND cung ra thị trường làm tăng lạm phát
Tác động đến hoạt động ngân hàng (gây mất cân đối nguồn vốn ngân hàng, sử
dụng vốn của các ngân hàng, gây mất an toàn cho hoạt động của NHTM)
Năm 2006: Các ngân hàng thương mại trong 6 tháng đầu năm cân đối nhu cầu rấttốt, thể hiện ở chỗ lượng ngoại tệ được các chứng tỏ nhu cầu ngoại tệ của các doanhnghiệp đã được đáp ứng đủ và các ngân hàng vẫn còn dư ngoại tệ Có thể nói rằng cácquyết định trên của NHNN là một cuộc cải cách thực sự về cơ chế vận hành tỷ giá phùhợp với điều kiện và tình hình Việt Nam Mức chênh lệch tỷ giá giữa thị trường chínhthức và thị trường tự do theo đó được thu hẹp dần Tuy nhiên, biên độ dao động quá hẹpdẫn đến kết quả khả năng để tỷ giá biến động là không đáng kể, kết quả là tỷ giá niêm yếttại các NHTM luôn chịu áp lực tăng giá
Năm 2006, Theo nội dung thông báo số 3612/TB-NHNN ngày 10/05/2006 về kếtluận của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngân hàngnhững tháng còn lại của năm 2006 đã nêu một trong các trọng tâm công tác đáng chú ýcủa ngành Ngân hàng là: Tiếp tục theo dõi diễn biến vĩ mô để điều hành chính sách tiền
tệ thận trọng, linh hoạt nhằm ổn định giá cả; đảm bảo mức độ tăng giá thấp hơn mức độtăng trưởng kinh tế Thực hiện các giải pháp linh hoạt, khéo léo trong quản lý tỷ giá,tranh thủ các cơ hội để tăng dự trữ ngoại hối nhà nước Việc điều hành tỷ giá phải đảm
Trang 27bảo nguyên tắc biến động tỷ giá cộng với lãi suất huy động ngoại tệ phải nhỏ hơn lãi suấthuy động nội tệ, nhằm tránh sự dịch chuyển giữa hai đồng tiền tuy các chính sách nàykhông được thực hiện nhanh chóng đã dẫn đến tình trạng từ cuối năm 2006, lần đầu tiêntrong điều hành tỷ giá, các NHTM niêm yết tỷ giá VND/USD ở mức thấp nhất (giá sàn)
do thời điểm này các nguồn vốn ngoại tệ lớn đổ vào Việt Nam lớn (nguồn vốn đầu tưgián tiếp vào TTCK (5 tỷ USD), nguồn kiều hối chuyển về nước (5,2 tỷ USD), lượngkhách du lịch từ nước ngoài tăng, nguồn vốn đầu tư trực tiếp (FDI: 10,2 tỷ USD) và vốnODA Nguyên nhân của hiện tượng này là nguồn cung USD tăng vọt chủ yếu từ nguồnvốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam Tỷ giá giảm làmgia tăng nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu, cán cân thương mại bị thâm hụt Để cải thiện cáncân thương mại, NHNN buộc phải điều chỉnh tỷ giá Về lý thuyết, NHNN có thể (1) canthiệp thông qua thị trường ngoại tệ liên ngân hàng hoặc (2) điều chỉnh tỷ giá do NHNNcông bố hằng ngày Những ngày đầu năm 2007, NHNN đã tăng cường mua vào USD đểgia tăng quỹ dự trữ ngoại hối Tuy nhiên mặt trái của việc làm này là chỉ số lạm phát códấu hiệu gia tăng do cung tiền tăng lớn Lúc này, NHNN buộc phải sử dụng chính sáchcan thiệp trung hòa thông qua nghiệp vụ thị trưởng mở (OMO), nhưng do cầu vốn trên thịtrường trong giai đoạn này quá lớn, đấu thầu trái phiếu với mức lãi suất 7%/ năm khôngthành công như mong đợi Điều này có nghĩa, NHNN không thể chủ động trong thu hồitiền từ lưu thông Nguy cơ lạm phát từ cung tiền tăng cao Chính vì vậy, cuối tháng3/2007, NHNN đã chủ động nâng tỷ giá giao dịch bằng cách gia tăng tỷ giá công bố Đếncuối tháng 4/2007, trước nhu cầu chuyển lợi nhuận về nước của các công ty đầu tư nướcngoài đã làm cầu USD tăng vọt, tỷ giá VND/USD lại chạm trần Và trong 6 tháng đầunăm 2007, NHNN đã tung ra trên 112.000 tỷ đồng để mua vào 7 tỷ USD Tuy nhiên, áplực về cung ngoại tệ trên thị trường là rất lớn và các NHTM đang ôm USD vào với mộtlượng lớn và NHNN không mua USD vào làm cho đồng VND đang lên giá so với đồngUSD, tác động không tốt đến xuất khẩu Các ngân hàng thương mại để giữ chân cáckhách hàng của mình buộc phải mua tối đa số ngoại tệ khách hàng truyền thống bán chomình Song mua vào rồi phải bán ra để tránh tình trạng vượt trạng thái và có tình trạngngân hàng niêm yết tỷ giá mua ngoại tệ bằng tỷ giá bán ngoại tệ
Tháng 10 năm 2007, USD bán không ai mua, các ngân hàng thương mại chờ đợiNgân hàng Nhà nước mua vào Những tháng cuối năm, tỷ giá làm giảm mạnh mà nguyênnhân của nó cũng chính là từ nguồn vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào thị trường bất độngsản của Việt Nam Đối phó với áp lực giảm giá USD, NHNN đã nới rộng biên độ xácđịnh tỷ giá kinh doanh từ +/- 0.5% lên +/- 0.75%
Việc nới rộng biên độ tỷ giá năm 2007 đã đẩy tỷ giá của các NHTM xuống sàn biên
độ trong thời gian dài
Trang 28Lãi suất USD tăng 3 đợt phổ biến trong năm (đầu năm 2007 là 4,55%/năm; tháng7/2007 là 5,25%/năm: tăng thêm khoảng 0,5%/năm).
Lãi suất cho vay USD do Các ngân hàng tự do ấn định lãi suất
Tác động đến các cán cân:
+ Cán cân vốn: - Lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam năm
2006 có sự tăng trưởng vượt bậc, đạt mức kỷ lục 10,2 tỷ USD, vượt xa mức dự báo 6,5 tỷUSD trong đó thông tin lượng vốn đầu tư vào các dự án cấp phép mới đạt 7,6 tỷ USD,chiếm gần 75% tổng vốn FDI Năm 2006 cũng là năm đánh dấu Việt Nam có số dự ánđược tăng vốn lớn nhiều nhất từ trước đến nay Từ đầu năm 2006 đến nay tháng 6/2006,lượng ngoại tệ trong nước khá dồi dào do cán cân thương mại vãng lai được cải thiện và
đã có thặng dư bước đầu; lượng vốn bên ngoài đổ vào Việt Nam tăng do một loạt chínhsách được thay đổi: Nới lỏng tỉ lệ nắm giữ của các nhà đầu tư nước ngoài vào cổ phiếu,
cổ phần từ 30 lên 49%, vốn đầu tư gián tiếp vào Việt Nam không phải lưu giữ 1 năm mớiđược chuyển ra nước ngoài như trước, mà có thể điều chuyển bất cứ lúc nào do tronggiai đoạn này, tỷ giá VND/USD tăng một chiều trong biên độ hẹp nên tác động rõ rệt của
tỷ giá lên cán cân vốn là không rõ ràng
+ Với sự cải thiện của cán cân vãng lai trong 6 tháng đầu năm nhưng kết thúc năm
2006, cán cân vãng lai vẫn thâm hụt tuy nhiên đã gần đạt mức cân bằng (thâm hụt tronggiai đoạn năm 2002-2006, 2006 tuy đã giảm thâm hụt nhiều so với năm 2004 và 2005).+ Cán cân thương mại: Năm 2006, NHNN điều chỉnh tỷ giá theo mức tăng nhẹ+1,36%, CCTM giai đoạn này thâm hụt là biểu hiện tất yếu của diễn biến tỷ giá dưới tácđộng của chính sách tỷ giá giai đoạn này (sự giảm giá ổn định trong biên độ hẹp củaVND so với USD)
Năm 2006 là năm đỉnh điểm của nhập siêu trong giai đoạn này với mức nhập siêu là2775.6 triệu USD góp phần đưa tốc độ tăng trưởng thâm hụt lên cao Nền kinh tế ViệtNam ngành dịch vụ luôn chiếm tỷ trọng nhỏ so với các ngành kinh tế khác cho nên nănglực cạnh tranh của Việt Nam trong lãnh vực này chưa cao nên phần lớn dịch vụ của ViệtNam là “nhập khẩu”
Tác động đến xuất nhập khẩu:
Xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo nguồn cung ngoại tệ lớn và ổn địnhcho nền kinh tế Bên cạnh đó, nguồn cung ngoại tệ dồi dào còn phải kể đến sự đóng gópcủa vốn đầu tư gián tiếp và lượng kiều hối lớn trong năm, cụ thể nguồn vốn ODA năm
2006 có tổng khối lượng cam kết đạt trên 4,4 tỷ USD và nguồn kiều hối dự báo vượt trên
4 tỷ USD
Diễn biến tỷ giá USD/VND trong tháng 03/2007 cho thấy đã bắt đầu có sự điềuchỉnh từ phía NHNN Với kim ngạch xuất khẩu trong tháng ổn định, vốn đầu tư nước
Trang 29ngoài FDI gia tăng,… tiếp tục làm tăng nguồn cung ngoại tệ đổ vào trong nước, VND lẽ
ra đã có thể chịu sức ép lên giá tiếp tục so với đôla Mỹ.Tuy nhiên để đảm bảo tăng trưởngxuất khẩu, cũng như mục tiêu tăng trưởng kinh tế và mục tiêu lạm phát trong năm nay,VND đã được điều chỉnh giảm giá trở lại dưới sự tác động từ phía Ngân hàng nhà nước.NHNN đã áp dụng các biện pháp can thiệp nhất định để chặn đà tăng giá của VND, vốnkhông có lợi cho xuất khẩu
Nhập siêu năm 2007 là 14,12 tỷ USD, bằng 29% tổng kim ngạch xuất khẩu, tănggấp hơn 2,5 lần so với năm 2006 (số báo cáo Quốc hội nhập siêu là 9 tỷ USD, tỷ lệ nhậpsiêu là 18,75%) Một số thị trường nhập siêu lớn như: Trung Quốc 9,2 tỷ USD, Singapore5,4 tỷ USD, Đài Loan 5,8 tỷ USD, Nguyên nhân của tình hình trên chủ yếu do: Tăngnhập khẩu máy móc thiết bị và vật tư, nguyên liệu phục vụ cho đầu tư phát triển, sản xuấthàng xuất khẩu và tiêu thụ trong nước; giá cả thị trường thế giới tăng và việc mở cửa thịtrường, giảm thuế nhập khẩu theo các lộ trình cam kết hội nhập Hệ quả là kim ngạchnhập khẩu năm 2007 tăng tới 39,6%, trong khi kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng 21,9% Từ
đó đặt ra vấn đề, để giảm thiểu nhập siêu thì phải tìm mọi giải pháp để thúc đẩy tăngnhanh xuất khẩu, đồng thời phải nghiên cứu chính sách thương mại đối với các thị trườnglớn, nhất là đối với các thị trường nước ta đang nhập siêu
Xuất khẩu của năm 2007 ước đạt 48 tỷ USD, tăng 20,5 % so với năm 2006 Với cácchỉ số nhập khẩu tương ứng là ước 59 tỷ USD và tăng 31%, tỷ lệ nhập siêu năm 2007khoảng 22% so với 12,7% năm 2006
Tác động đến tăng trưởng kinh tế, lạm phát:
Như vậy, theo đúng qui luật cung cầu, tỷ giá trên thị trường phải có những biếnđộng tương ứng Nhưng tỷ giá VND/USD quá ổn định, điều hành tỷ giá của NHNN quátốt, luôn can thiệp đúng lúc với nguồn cung thiếu hụt và nguồn cung dư thừa trên thịtrường đảm bảo cho VND luôn giảm giá nhẹ so với USD đây chính là nguyên nhântạo ra sự mất cân đối trên thị trường
Năm 2007: Năm 2007, mục tiêu ưu tiên của Việt Nam là kiểm soát lạm phát Trongbối cảnh kinh tế và thị trường tài chính quốc tế có nhiều biến động khó lường, NHNN sẽvẫn duy trì chế độ tỷ giá gần như là cố định như trong giai đoạn trước đây để nhằm mụctiêu kiểm soát lạm phát của mình là không hợp lý thậm chí còn đẩy lạm phát lên cao
2.2 Giai đoạn 2008 – 2011:
2.2.1 Năm 2008
Trang 30 Bối cảnh kinh tế - xã hội:
Sang năm 2008, luồng vốn đầu tư nước ngoài và kiều hối tiếp tục tăng mạnh mẽtrong nửa đầu năm, nền kinh tế tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá tốt Tuy nhiên,lạm phát cao (xuất hiện từ cuối năm 2007) đã vượt ngoài tầm kiểm soát Cùng lúcnày, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra từ nửa cuối năm 2008 đã ảnh hưởngmạnh mẽ đến các hoạt động kinh tế trong nước đồng thời đẩy lạm phát lên cao hơn,gây ra tình trạng bất ổn trong nền kinh tế vĩ mô Cũng trong năm 2008, tình trạng nhậpsiêu lên đến đỉnh điểm do hệ quả của một thời gian dài lạm phát trong nước cao hơntương đối so với lạm phát nước ngoài mà Việt Nam đồng không có mức giảm giátương ứng Hệ quả là tăng trưởng GDP trong nước giảm chỉ còn 6.2%, lạm phát ở mứcphi mã 19.9%
*) Mục tiêu chính sách tỷ giá
Năm 2008, sáu tháng đầu năm vẫn là mục tiêu kiểm soát lạm phát Trước hậu quả
to lớn của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gây ra đối với nền kinh tế thế giới, cùngnhững tác động bất lợi đến kinh tế trong nước, Chính phủ đã chuyển hướng mục tiêu từkiểm soát lạm phát sang ngăn ngừa suy giảm kinh tế vào 6 tháng cuối năm
Trong các báo cáo của NHNN trong giai đoạn này, NHNN đều tuyên bố Việt Namđang theo đuổi chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt có điều tiết
Bảng 3 - Chính sách tỷ giá của Việt Nam năm 2008
Thời gian
Mục tiêu của chính sách tỷ giá Phân loại Chế độ tỷ giá Việt Nam
• Chế độ tỷ giá cố định thôngthường, biên độ giao dịch ± 1 %
• Chế độ tỷ giá cố định thôngthường với biên độ ± 2 %, sau đónâng lên ±3 %
*) Các công cụ điều hành tỷ giá:
Dự trữ bắt buộc:
Trang 31Từ nửa đầu năm 2008, NHNN đã 2 lần điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộcđối với ngoại tệ từ 8% lên 10% tháng 7 năm 2007 và 10% lên 11% tháng 2 năm 2008.Đây đều là những thời điểm mà chỉ số giá tiêu dùng trong nước tăng mạnh, nhập siêulớn và dòng vốn FDI cũng như kiều hối đổ về nước nhiều.
Quyết định điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ củaNHNN đã làm giảm nguồn cung ngoại tệ của các NHTM ra thị trường Mặt khác, tăng
dự trữ bắt buộc cũng góp phần làm tăng chi phí đầu vào của các NHTM kéo theo sựgia tăng lãi suất cho vay ngoại tệ qua đó tác động làm giảm cầu vốn ngoại tệ trên thịtrường Việc quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng ngoại tệ cao hơn sovới nội tệ cũng khuyến khách hàng vay vốn bằng VND Đồng thời, việc duy trì hoặc hạ
tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng ngoại tệ sẽ có tác dụng tích cực hơn trongviệc chống lạm phát
Quy định biên độ xác định tỷ giá kinh doanh
Đầu năm 2008, NHNN đã tiếp tục điều chỉnh biên độ tỷ giá lên +/- 1%, tăngthêm +/- 0,25% so với tháng 12 năm 2007 Điều đáng chú ý là trái ngược với “truyềnthống” duy trì tương đối lâu biên độ tỷ giá, lần này khoảng cách giữa 2 lần điều chỉnhchỉ là 2 tháng (từ 24/12/2007 đến 7/3/2008) Việc liên tiếp tăng biên độ giao dịch tỷ giátrong bối cảnh VND tăng giá so với USD và USD rớt giá so với các ngoại tệ khác trênthế giới đã làm cho tỷ giá VND/USD chịu thêm áp lực tăng giá Trên thực tế từ tháng
12 năm 2007 đến đầu tháng 4 năm 2008 VND trên thị trường tự do và thị trường liênngân hàng đều tăng giá qua đó góp phần giảm bớt giá trị nhập siêu
Tuy nhiên đi kèm với việc nới rộng biên độ tỷ giá, như đã đề cập ở phần dự trữ bắtbuộc, NHNN cũng tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng ngoại tệ trong thờigian này Tháng 2 tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và tháng 3 tăng biên độ tỷ giá cho thấy sựthiếu nhất quán của các công cụ tiền tệ Cụ thể, tháng 2 năm 2008 NHNN tăng tỷ lệ dựtrữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ thêm 1% làm giảm sức ép lên giá của VND và việctiếp tục điều chỉnh biên độ tỷ giá lên +/-1% nhằm gia tăng áp lực cho VND giảm giá.Nhưng trong bối cảnh USD có xu hướng giảm từ cuối năm 2007 đến thời điểm này thìviệc tăng biên độ giao dịch chỉ có tác dụng làm tăng giá VND nhanh hơn Ngược lại nếuNHNN tăng biên độ tỷ giá để tạo cơ hội cho VND tăng giá nhằm giảm bớt áp lực nhậpsiêu thì giữa công cụ dự trữ bắt buộc và biên độ tỷ giá đã có mâu thuẫn
Công cụ lãi suất:
Trong 2008, nguồn cung ngoại tệ tăng đột biến, việc gia tăng lãi suất USD đã gópphần làm tăng lượng USD tiền gửi, giảm bớt áp lực tăng giá của USD và cũng không gây