1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KINH NGHIỆM ĐIỀU HÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH Ở CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI: NHẬT BẢN, CÁC NƯỚC ĐÔNG Á

31 340 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kinh Nghiệm Điều Hành Và Phát Triển Tài Chính Ở Các Nước Trên Thế Giới: Nhật Bản, Các Nước Đông Á
Tác giả Lê Thu Hương, Nguyễn Thị Phương Thảo, Lê Mỹ Hạnh, Lê Thị Ngọc, Vũ Thị Huyền Trang
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính Ngân Hàng
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 353,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ CÁC NƯỚC ĐÔNG Á 1. Sơ lược về điều kiện tự nhiên và lịch sử phát triển các nước Đông Á Đông Á hay Á Đông là một khu vực của châu Á có thể được định nghĩa theo các thuật ngữ địa lý hay văn hóa. Về mặt địa lý, chiếm khoảng 11.640.000 km² hay 15% diện tích của châu Á. Về mặt văn hóa, bao gồm các cộng đồng ảnh hưởng nhiều của nền văn minh Trung Hoa, thể hiện rõ nét trong các ảnh hưởng lịch sử từ cổ văn Trung Quốc (chữ Nho truyền thống), Khổng giáo và Tân Khổng giáo, Phật giáo Đại thừa, Lão giáo. Tổ hợp này của ngôn ngữ, quan niệm chính trị và tôn giáo bao trùm lên trên sự phân chia địa lý của Đông Á. Theo quan điểm chính thống hiện nay, khu vực Đông Á gồm các quốc gia dưới đây: Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Trung Hoa dân quốc (tức Đài Loan), Hong Kong, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippines. 2. Lịch sử phát triển kinh tế của các nước Đông Á Sau thế chiến thứ 2, các nước Đông Á đều trở lại cùng một vạch xuất phát từ mức thu nhập và phát triển thấp. Thế nhưng chưa đầy 20 năm sau, tức là từ những năm 1960, các nước Đông Á đã trải qua một giai đoạn phát triển vượt bậc chưa từng có trong lịch sử. Ngày nay, những quốc gia Đông Á đều tự hào vì có Chính phủ năng động, hiệu quả, quyền năng và xã hội tiên tiến. Họ đã hoặc đang nhanh chóng xây dựng được một nền giáo dục và y tế đẳng cấp thế giới cho người dân của mình. Từ cuối thập niên 1950, các nước Đông Á nối tiếp nhau phát triển mạnh với đặc trưng là công nghiệp hoá tiến hành sâu rộng khắp khu vực. 2.1. Thời kỳ 1950 – 1973 Nhật Bản là nước có tốc độ phát triển vượt bậc, với GDP bình quân đầu người tăng mỗi năm 8%, như vậy mức sống thực tế của người Nhật Bản cứ 89 năm lại tăng gấp đôi. Trong khi đó Trung Quốc thuộc vào nhóm phát triển thấp nhất, với mức tăng GDP bình quân đầu người chỉ trên dưới 2%, như vậy các nước này cần tới 35 năm để tăng gấp đôi mức sống của dân chúng. Trong thời kỳ này, trừ Trung Quốc các nền kinh tế còn lại đạt một thành quả đáng kể, đặc biệt là các nước và lãnh thổ mà vào năm 1979 OECD gọi là các nước công nghiệp hóa mới (NICs) và sau này gọi là các nền kinh tế công nghiệp hoá mới (NIEs) như Hàn Quốc và Đài Loan, v.v.. Từ khoảng đầu thập niên 1960, nhiều nước Đông Á đã tiến hành chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu và sang thập niên 1970, các NIEs chuyển sang chiến lược hướng về xuất khẩu và bắt đầu cạnh tranh với Nhật Bản trong những ngành công nghiệp có hàm lượng lao động cao. Từ giữa thập niên 1960, tỷ trọng công nghiệp trong GDP của Nhật Bản đã đạt đỉnh cao 35% và dừng lại ở đó trong một thời gian khá dài, trong lúc đó Hàn Quốc đuổi theo Nhật Bản với tốc độ rất nhanh. Từ cuối thập niên 1970, làn sóng công nghiệp châu Á bắt đầu lan sang Trung Quốc. 2. 2. Thời kỳ 1973 – 1996 Sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và chuyển dịch trong nội bộ bộ môn công nghiệp từ những ngành có hàm lượng lao động cao sang các ngành sử dụng nhiều tư bản và công nghệ đã đưa nền kinh tế các nước châu Á phát triển với tốc độ cao hơn giai đoạn trước. Trong giai đoạn này, GDP bình quân đầu người tại các nước Đông Á đã tăng vọt so với giai đoạn trước (Đài Loan giữ mức rất cao của giai đoạn trước). Đặc biệt từ giữa thập niên 1980, làn sóng công nghiệp châu Á bước sang giai đoạn mới có sự thay đổi lớn về chất, với tốc độ cao của công nghiệp hoá tại Trung Quốc và ASEAN và sự chuyển dịch cơ cấu công nghiệp ở các nước diễn ra nhanh chóng. Nhật Bản dần dần chuyển sang thời đại sau công nghiệp nhưng vẫn duy trì sức cạnh tranh trong lĩnh vực này nhờ chủ động chuyển dịch cơ cấu công nghiệp sang các ngành có hàm lượng công nghệ, tri thức cao như xe hơi và các sản phẩm điện tử cao cấp, các loại máy móc kết hợp nhiều ngành công nghệ khác nhau. Nhiều cơ sở sản xuất các sản phẩm đồ điện gia dụng như TV, tủ lạnh, máy giặt, và các bộ phận, linh kiện xe hơi, điện tử chuyển nhanh từ Nhật Bản sang các nước châu Á khác. Các NIEs như Hàn Quốc, Đài Loan, cũng chuyển dịch cơ cấu công nghiệp từ các ngành sử dụng nhiều lao động sang các ngành có hàm lượng cao về tư bản và công nghệ. Bối cảnh của sự biến đổi về chất trong làn sóng công nghiệp Đông Á từ giữa thập niên 1980 là gì? Có thể nêu ra ba điểm: Thứ nhất, có sự thay đổi trong thái độ của các nước ASEAN và Trung Quốc về hoạt động của các công ty đa quốc gia. Trước đây, đặc biệt là trong giai đoạn trước 1975, các nước này lo ngại các công ty đa quốc gia chi phối kinh tế nên họ đã ngăn cản hoặc hạn chế hoạt động của các công ty đó. Quan điểm này đã thay đổi từ thập niên 1980, tạo điều kiện cho tư bản, công nghệ và tri thức quản lý kinh doanh di chuyển nhanh tại các nước tiên tiến mà chủ yếu là Nhật Bản. Thứ hai, đồng tiền yên của Nhật Bản tăng giá nhanh trong thời gian rất ngắn (chỉ 3 năm từ 1985 đến 1988, giá trị của đồng USD giảm một nửa, từ 254 yên còn 127 yên) làm cho phí tổn sản xuất tại Nhật Bản tăng vọt, các công ty Nhật phải đối phó bằng việc đẩy mạnh đầu tư nước ngoài. Thứ ba, các NIEs bắt đầu chuyển từ nhập khẩu tư bản và công nghệ sang xuất khẩu các nguồn lực sản xuất này. Ba yếu tố đó đã làm cho tư bản, công nghệ và tri thức quản lý kinh doanh di chuyển nhộn nhịp trong vùng Đông Á và do đó đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá tại vùng này. 2.3. Thời kỳ 1996 2003. Trung Quốc đã đạt được thành quả tương đương với giai đoạn phát triển thần kỳ của Nhật Bản trong giai đoạn 1950 73. Nhật Bản tiếp tục giai đoạn suy thoái kéo dài từ năm 1992. Các nước khác bị suy thoái nặng trong năm 1998 vì cuộc khủng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN

ĐỀ TÀI : KINH NGHIỆM ĐIỀU HÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH Ở

CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI: NHẬT BẢN, CÁC NƯỚC ĐÔNG Á MÔN HỌC : TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG VÀ SỰ PHÁT TRIỂN

(1) Lê Thu Hương (2) Nguyễn Thị Phương Thảo (1981) (3) Lê Mỹ Hạnh

(4) Lê Thị Ngọc (5) Vũ Thị Huyền Trang

Hà Nội, tháng 6 năm 2011

Trang 2

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CÁC NƯỚC ĐÔNG Á

1 Sơ lược về điều kiện tự nhiên và lịch sử phát triển các nước Đông Á

Đông Á hay Á Đông là một khu vực của châu Á có thể được định nghĩa theocác thuật ngữ địa lý hay văn hóa Về mặt địa lý, chiếm khoảng 11.640.000 km² hay15% diện tích của châu Á Về mặt văn hóa, bao gồm các cộng đồng ảnh hưởng nhiềucủa nền văn minh Trung Hoa, thể hiện rõ nét trong các ảnh hưởng lịch sử từ cổ vănTrung Quốc (chữ Nho truyền thống), Khổng giáo và Tân Khổng giáo, Phật giáo Đạithừa, Lão giáo Tổ hợp này của ngôn ngữ, quan niệm chính trị và tôn giáo bao trùm lêntrên sự phân chia địa lý của Đông Á

Theo quan điểm chính thống hiện nay, khu vực Đông Á gồm các quốc gia dướiđây: Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Trung Hoa dân quốc (tức Đài Loan), Hong Kong,Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippines

2 Lịch sử phát triển kinh tế của các nước Đông Á

Sau thế chiến thứ 2, các nước Đông Á đều trở lại cùng một vạch xuất phát từmức thu nhập và phát triển thấp Thế nhưng chưa đầy 20 năm sau, tức là từ những năm

1960, các nước Đông Á đã trải qua một giai đoạn phát triển vượt bậc chưa từng cótrong lịch sử Ngày nay, những quốc gia Đông Á đều tự hào vì có Chính phủ năngđộng, hiệu quả, quyền năng và xã hội tiên tiến Họ đã hoặc đang nhanh chóng xâydựng được một nền giáo dục và y tế đẳng cấp thế giới cho người dân của mình Từcuối thập niên 1950, các nước Đông Á nối tiếp nhau phát triển mạnh với đặc trưng làcông nghiệp hoá tiến hành sâu rộng khắp khu vực

2.1 Thời kỳ 1950 – 1973

Nhật Bản là nước có tốc độ phát triển vượt bậc, với GDP bình quân đầu ngườităng mỗi năm 8%, như vậy mức sống thực tế của người Nhật Bản cứ 8-9 năm lại tănggấp đôi Trong khi đó Trung Quốc thuộc vào nhóm phát triển thấp nhất, với mức tăngGDP bình quân đầu người chỉ trên dưới 2%, như vậy các nước này cần tới 35 năm đểtăng gấp đôi mức sống của dân chúng

Trong thời kỳ này, trừ Trung Quốc các nền kinh tế còn lại đạt một thành quảđáng kể, đặc biệt là các nước và lãnh thổ mà vào năm 1979 OECD gọi là các nướccông nghiệp hóa mới (NICs) và sau này gọi là các nền kinh tế công nghiệp hoá mới(NIEs) như Hàn Quốc và Đài Loan, v.v Từ khoảng đầu thập niên 1960, nhiều nướcĐông Á đã tiến hành chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu và sang thập niên

1970, các NIEs chuyển sang chiến lược hướng về xuất khẩu và bắt đầu cạnh tranh vớiNhật Bản trong những ngành công nghiệp có hàm lượng lao động cao

Từ giữa thập niên 1960, tỷ trọng công nghiệp trong GDP của Nhật Bản đã đạtđỉnh cao 35% và dừng lại ở đó trong một thời gian khá dài, trong lúc đó Hàn Quốcđuổi theo Nhật Bản với tốc độ rất nhanh Từ cuối thập niên 1970, làn sóng công

Trang 3

nghiệp châu Á bắt đầu lan sang Trung Quốc.

2 2 Thời kỳ 1973 – 1996

Sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp vàchuyển dịch trong nội bộ bộ môn công nghiệp từ những ngành có hàm lượng lao độngcao sang các ngành sử dụng nhiều tư bản và công nghệ đã đưa nền kinh tế các nướcchâu Á phát triển với tốc độ cao hơn giai đoạn trước Trong giai đoạn này, GDP bìnhquân đầu người tại các nước Đông Á đã tăng vọt so với giai đoạn trước (Đài Loan giữmức rất cao của giai đoạn trước) Đặc biệt từ giữa thập niên 1980, làn sóng côngnghiệp châu Á bước sang giai đoạn mới có sự thay đổi lớn về chất, với tốc độ cao củacông nghiệp hoá tại Trung Quốc và ASEAN và sự chuyển dịch cơ cấu công nghiệp ởcác nước diễn ra nhanh chóng Nhật Bản dần dần chuyển sang thời đại sau côngnghiệp nhưng vẫn duy trì sức cạnh tranh trong lĩnh vực này nhờ chủ động chuyển dịch

cơ cấu công nghiệp sang các ngành có hàm lượng công nghệ, tri thức cao như xe hơi

và các sản phẩm điện tử cao cấp, các loại máy móc kết hợp nhiều ngành công nghệkhác nhau Nhiều cơ sở sản xuất các sản phẩm đồ điện gia dụng như TV, tủ lạnh, máygiặt, và các bộ phận, linh kiện xe hơi, điện tử chuyển nhanh từ Nhật Bản sang cácnước châu Á khác Các NIEs như Hàn Quốc, Đài Loan, cũng chuyển dịch cơ cấu côngnghiệp từ các ngành sử dụng nhiều lao động sang các ngành có hàm lượng cao về tưbản và công nghệ

Bối cảnh của sự biến đổi về chất trong làn sóng công nghiệp Đông Á từ giữathập niên 1980 là gì? Có thể nêu ra ba điểm:

Thứ nhất, có sự thay đổi trong thái độ của các nước ASEAN và Trung Quốc vềhoạt động của các công ty đa quốc gia Trước đây, đặc biệt là trong giai đoạn trước

1975, các nước này lo ngại các công ty đa quốc gia chi phối kinh tế nên họ đã ngăncản hoặc hạn chế hoạt động của các công ty đó Quan điểm này đã thay đổi từ thậpniên 1980, tạo điều kiện cho tư bản, công nghệ và tri thức quản lý kinh doanh dichuyển nhanh tại các nước tiên tiến mà chủ yếu là Nhật Bản

Thứ hai, đồng tiền yên của Nhật Bản tăng giá nhanh trong thời gian rất ngắn(chỉ 3 năm từ 1985 đến 1988, giá trị của đồng USD giảm một nửa, từ 254 yên còn 127yên) làm cho phí tổn sản xuất tại Nhật Bản tăng vọt, các công ty Nhật phải đối phóbằng việc đẩy mạnh đầu tư nước ngoài

Thứ ba, các NIEs bắt đầu chuyển từ nhập khẩu tư bản và công nghệ sang xuấtkhẩu các nguồn lực sản xuất này Ba yếu tố đó đã làm cho tư bản, công nghệ và trithức quản lý kinh doanh di chuyển nhộn nhịp trong vùng Đông Á và do đó đẩy mạnhquá trình công nghiệp hoá tại vùng này

2.3 Thời kỳ 1996 - 2003.

Trung Quốc đã đạt được thành quả tương đương với giai đoạn phát triển thầnkỳ của Nhật Bản trong giai đoạn 1950 - 73 Nhật Bản tiếp tục giai đoạn suy thoái kéo

Trang 4

dài từ năm 1992 Các nước khác bị suy thoái nặng trong năm 1998 vì cuộc khủnghoảng tài chính năm 1997 nhưng hồi phục dần từ năm 1999 Nhìn chung, ngoài TrungQuốc, các nước Đông Á từ cuối thập niên 1990 có mức tăng GDP đầu người trungbình là 3-4%

2.4 Thời kỳ 2003-nay

Đông Á đã hồi phục từ khủng hoảng kinh tế và tài chính Chủ yếu nhờ vàoTrung Quốc, nhà cung cấp hàng hóa cho khu vực, xuất khẩu và việc làm đã gần nhưquay trở lại mức trước khi khủng hoảng Dẫn đầu trong nền kinh tế toàn cầu, tăngtrưởng GDP thực trong khu vực Đông Á đang phát triển sẵn sàng tăng lên 8,7% trongnăm 2010 sau khi bị chậm lại từ 8,5% trong năm 2008 xuống 7,0% năm 2009

Với chính sách kìm chế giá cả, cơ quan quản lý tiền tệ bắt đầu loại bỏ các hỗ trợ

về chính sách đặc biệt và các kích thích tài chính, tuy nhiên vì đầu tư tư nhân vẫn chưatrở thành động lực tăng trưởng và người nghèo vẫn ảnh hưởng bởi khủng hoảng Cácnước Đông Á đã chuyển sang tăng trưởng dựa vào khu vực tư nhân trong ngắn hạn làtrung tâm Đông Á đã nổi lên mạnh hơn từ cuộc khủng hoảng toàn cầu và dự báo sựtăng trưởng nhanh sẽ còn có thể tiếp tục tăng trong những năm tới, ngay cả khi nềnkinh tế toàn cầu suy yếu

Tuy nhiên, trở lại tốc độ tăng trưởng dựa vào khu vực tư nhân trong ngắn hạntrước cuộc khủng hoảng sẽ yêu cầu các quốc gia tiếp tục chương trình cải cách trunghạn Mỗi quốc gia Đông Á đã lựa chọn con đường riêng cho mình, cụ thể: đối vớiTrung Quốc, tái cân bằng nền kinh tế được nhấn mạnh trong kế hoạch 5 năm lần thứ

11 bằng việc tạo vai trò lớn hơn cho khu vực dịch vụ và tiêu dùng cá nhân, rời xa tăngtrưởng do xuất khẩu và đầu tư lớn, và khuyến khích ổn định môi trường Còn đối vớicác nước có thu nhập trung bình, ưu tiên là đầu tư thêm vào vốn vật chất và nhân lực

để tăng chuỗi giá trị trong sản xuất và xuất khẩu Các nước có thu nhập thấp cần độtphá vào lĩnh vực sản xuất và trở thành một phần của mạng lưới sản xuất khu vực vàtoàn cầu Các nước xuất khẩu hàng hóa sẽ cần phải tăng cường các quy tắc và khuônkhổ tài chính để chuyển doanh thu không ổn định từ bên ngoài thành tăng trưởng bềnvững dài lâu Và, cuối cùng nhưng không kém quan trọng, các quốc gia Thái BìnhDương sẽ cần phải hội nhập sâu hơn với thị trường rộng lớn gần nhất của họ

Trang 5

CHƯƠNG II CÁC CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH CỦA CHÍNH PHỦ CÁC NƯỚC ĐÔNG Á

1 Thiết lập thị trường và định chế tài chính

Sự tăng trưởng trở lại của các nước Đông Á đã và đang diễn ra với một tốc độnhanh chóng đáng ngạc nhiên và cũng rất đáng hoan nghênh Chính phủ đã kịp thời sửdụng các gói kích thích mạnh và kịp thời về tài chính và tiền tệ, mà dẫn đầu là TrungQuốc và Hàn Quốc, đã chặn đứng được đà suy giảm và lấy lại được sự tăng trưởngtrở lại khi có sự giảm sút mạnh mẽ của các mặt hàng xuất khẩu và sản xuất côngnghiệp, tỷ lệ sa thải công nhân trên đà tăng cao và các nguồn vốn chảy ra ngoài làmgiảm giá trị tài sản và tiền tệ

1.1 Tài chính Trung Quốc những năm cải cách và mở cửa

Công cuộc cải cách và mở cửa nền kinh tế Trung Quốc đã được Hội nghị Trungương 3 Khóa XI của Đảng cộng sản Trung Quốc (12/1978) quyết định Đây là cuộc cảicách lớn, toàn diện về kinh tế, từ tư duy lý luận đến hoạt động thực tiễn, từ quan hệ sởhữu tài sản tới cơ chế quản lý kinh tế, từ việc điều hành nền sản xuất tới phân phối thunhập Mô hình thể chế kinh tế - tài chính mới mà Trung quốc đã lựa chọn có thể kháiquát một số nội dung chính như sau:

- Thừa nhận sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu: tư hữu, sở hữu tập thể, cônghữu, trong đó sở hữu công cộng là nền tảng

- Xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó Nhà nước giữ vai trò địnhhướng, điều hành nền kinh tế thị trường chủ yếu bằng kế hoạch gián tiếp và các biệnpháp điều chỉnh vĩ mô, giải tán công xã, thực hiện "khoán hộ gia đình" trong nôngnghiệp và thực hiện "khoán kinh tế" trong các doanh nghiệp công nghiệp Nhà nước,thực hiện chương trình hiện đại hoá khu vực kinh tế Nhà nước và cổ phần các DNNN

- Hình thành và phát triển một cách đồng bộ các thị trường: thị trường tư liệu sảnxuất, thị trường hàng tiêu dùng, thị trường tài chính - tiền tệ, thị trường chứng khoán

- Thực hiện phân phối theo lao động, đồng thời cho phép và khuyến khích phânphối lợi ích từ việc tham gia vốn, kỹ thuật và các yếu tố sản xuất khác Cho phép vàkhuyến khích một bộ phận người, một số vùng giàu lên trước bằng con đường laođộng chân chính và kinh doanh hợp pháp

- Cải cách hệ thống tài chính - tiền tệ, tự do hoá thương mại, mở cửa nền kinh tế

- tài chính ra thế giới bên ngoài, hoà nhập vào thị trường quốc tế nhằm tiếp nhận đầu

tư và kỹ thuật của nước ngoài Đồng thời, đẩy nhanh tốc độ cải cách chế độ bảo hiểmhưu trí, bảo hiểm chờ việc, chế độ chữa bệnh bằng kinh phí của Nhà nước, chế độ nhà

ở của cán bộ công nhân viên

Mô hình thể chế kinh tế - tài chính này đã được hình thành dần qua quá trình

Trang 6

nghiên cứu thí điểm ở một số địa phương, rút kinh nghiệm rồi mở rộng ra áp dụngtrong cả nước, và đã được khẳng định qua các kỳ đại hội Đảng cộng sản Trung quốc

1.2 Thị trường tài chính Hàn Quốc.

Trong những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, thị trường tài chính HànQuốc đã tương đối phát triển

Thị trường tiền tệ gồm các thị trường cho vay qua đêm, thị trường thương phiếu(CP), thị trường mua bán lại RPs, thị trường chứng chỉ tiền gửi (CD), thị trường tínphiếu Cover Bills và thị trường trái phiếu ổn định tiền tệ (MSBs) Thị trường vốn gồmcác thị trường về trái phiếu, cổ phiếu Thị trường trái phiếu gồm trái phiếu chính phủ,trái phiếu đặc biệt (phát hành theo luật đặc biệt), trái phiếu công ty và trái khoán tàichính Thị trường tài chính phát sinh gồm thị trường quyền chọn/ tương lai KOSPI 200,thị trường quyền chọn/ tương lai Đôla Mỹ, thị trường tương lai lãi suất chứng chỉ tiềngửi, thị trường tương lai Trái phiếu kho bạc Hàn Quốc và thị trường quyền chọn vốn cổphần Trong đó, mục tiêu chính sách tiền tệ Hàn quốc là ổn định giá cả, tăng trưởng kinh

tế, tạo việc làm và ổn định tài chính, trong đó mục tiêu ổn định giá cả là quan trọng nhất.Trên cơ sở tham vấn với Chính phủ, Ngân hàng TW Hàn Quốc xác định mục tiêu lạmphát hàng năm, xây dựng và thực hiện kế hoạch hành động của Chính sách tiền tệ để đạtmục tiêu lạm phát đề ra Các công cụ chính sách tiền tệ bao gồm chính sách cho vaychiết khấu, chính sách dự trữ bắt buộc và nghiệp vụ thị trường mở

Ủy ban chính sách tiền tệ Hàn Quốc là cơ quan đưa ra các quyết định hàngtháng về các vấn đề liên quan đến chính sách tiền tệ Ủy ban bao gồm 7 thành viên làThống đốc và Phó Thống đốc NHTW và 5 thành viên được chỉ định khác từ Bộ tàichính và kinh tế, Ủy ban giám sát tài chính, Phòng thương mại và công nghiệp và Liênđoàn ngân hàng Các thông tin về Chính sách tiền tệ được công bố hàng tháng thôngqua họp báo của Ủy ban tiền tệ Báo cáo chính sách tiền tệ lên Quốc hội được thựchiện 2 lần trong năm thường vào tháng 3 và tháng 9

Hàn Quốc đã trải qua cuộc khủng hoảng tài chính vào năm 1997 Chương trìnhtái cơ cấu nền kinh tế đã giúp cho đất nước này tiếp tục phát triển và phòng tránh tốttrước tác động xấu của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay

Trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, Hàn Quốc dã nhanh chóng cónhững phản ứng chính sách trong sáu lĩnh vực gồm: tái cơ cấu ngay lập tức khu vực tàichính và doanh nghiệp; củng cố hệ thống giám sát tài chính; đơn giản thủ tục phá sản;nâng cao trình độ quản trị doanh nghiệp; điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô và tăngcường mạng lưới an sinh xã hội; tham gia tích cực vào tiến trình xây dựng cấu trúc tàichính quốc tế

2 Các chính sách kiểm soát thị trường của Chính phủ.

2.1 Các chính sách của Trung Quốc.

Trang 7

a.Chính sách kinh tế nông thôn

Do xuất phát từ một nước nông nghiệp, tuyệt đại bộ phận người lao động sốngdựa vào nông nghiệp nên khâu đột phá quan trọng nhất trong cải cách kinh tế ở Trungquốc là cải cách kinh tế ở nông thôn Ngay trong năm 1978, Trung quốc đã quyết địnhxoá bỏ chế độ phân phối bình quân ở nông thôn, thực hiện nguyên tắc "làm hết nănglực, phân phối theo lao động", tăng cường quản lý định mức, trả thù lao cho người laođộng căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động Từ năm 1980, Trung quốc bắt đầuthí điểm khoán sản lượng đến hộ và khoán toàn bộ đến hộ gia đình nông dân Tuynhiên, chỉ đến năm 1982 thì các biện pháp này mới chính thức được thực hiện trêntoàn quốc Đến cuối năm 1984 đã có 98,2% số thôn; 96,3% số hộ và 98,6% đất canhtác trong cả nước thực hiện phương pháp khoán sản lượng đến hộ hoặc khoán toàn bộđến hộ Việc giải phóng năng lực sản xuất cho hàng trăm triệu hộ nông dân đã manglại bước nhảy vọt trong kinh tế nông thôn Trung quốc với tỷ lệ tăng trưởng bình quâncủa giá trị tổng sản lượng nông nghiệp là 11,5%/năm trong giai đoạn 1980 - 1985, caogấp 3,5 lần tốc độ bình quân đạt được trong giai đoạn 1953 - 1980

b Chính sách giá cả

Cải cách quan trọng thứ hai là cải cách về giá Trước những năm 80, Nhà nướcquy định giá những sản phẩm quan trọng nhất theo kế hoạch, rất ít khi điều chỉnh giásản phẩm và sử dụng rộng rãi các biện pháp trợ giá, bù lỗ chi phí sản xuất Sự ổn địnhtương đối về giá cả thị trường mang tính giả tạo trong một thời kỳ dài làm cho khoảngcách giữa giá trị và giá cả ngày càng lớn, ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và tiêu dùng

xã hội Cải cách giá cả được bắt đầu thực hiện từ năm 1979 bằng việc cân nâng giámua một bộ phận nông sản phục vụ cho chủ trương cải cách cơ chế kinh tế nông thôn.Trên thực tế, ở Trung quốc giai đoạn từ 1979 đã tồn tại 3 loại giá: 1) Giá quy định chonhững sản phẩm thiết yếu thuộc về kế hoạch pháp lệnh thấp hơn các giá khác; 2) Giáhướng dẫn cho những sản phẩm thuộc kế hoạch hướng dẫn; 3) Giá cả thị trường chonhững sản phẩm được tự do lưu thông Công cuộc cải cách giá cả ở Trung quốc vẫnđang được tiếp tục thực hiện theo hướng thị trường hoá Đến năm 1994 đã có khoảng75% vật tư hàng hoá do thị trường định giá Giá nông phẩm hầu như hoàn toàn do thịtrường quyết định, hàng tiêu dùng do Nhà nước định giá chỉ chiếm khoảng 10% tổngdoanh thu

c Chính sách tài chính đối với DNNN

Cải cách tài chính doanh nghiệp là một bộ phận rất quan trọng trong cải cáchkinh tế - tài chính, vì Trung Quốc coi doanh nghiệp là cơ sở của nền kinh tế, trong đóDNNN có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Ngay từ năm 1978 từ QSDĐ đãchuyển từ chế độ Nhà nước giao kế hoạch và thu mua toàn bộ sản phẩm của Xí nghiệpsang chế độ Nhà nước giao kế hoạch pháp lệnh và kế hoạch hướng dẫn, các doanhnghiệp vận dùng các đòn bẩy kinh tế và quy luật giá trị để thực hiện kế hoạch; từ chỗNhà nước cung cấp toàn bộ vật tư, nguyên nhiên vật liệu tới chỗ Nhà nước chỉ cung

Trang 8

cấp một số nguyên vật liệu, còn Xí nghiệp tự tìm kiếm là chủ yếu Nhằm 1984, đã thựchiện các chế độ thuế với doanh nghiệp thay cho chế độ thu lợi nhuận, giúp cho các Xínghiệp có quyền chủ động chi phối lợi nhuận của mình và Nhà nước có được nguồnthu tài chính ổn định Từ năm 1987, Trung Quốc xúc tiến cải cách mạnh mẽ các Xínghiệp quốc doanh theo chế độ bao thầu với việc giao quyền tự chủ nhiều hơn cho các

Xí nghiệp, thực hiện thí điểm việc xây dựng doanh nghiệp cổ phần, đa dạng hoá sởhữu, Công ty hoá, cho thuê, khoán, bán và tự nhân hoá với doanh nghiệp quy mô nhỏ Trung quốc đã tiến hành một bước khá dài và độc đáo trong việc chuyển DNNN thànhCông ty cổ phần Hiện nay đã có hàng ngàn Công ty cổ phần được hình thành từDNNN Trung quốc dự định chỉ giữ lại khoảng 1000 Xí nghiệp quốc hữu lớn, sẽ thựchiện cổ phần hoá, đóng cửa, sáp nhập hoặc cho phá sản các doanh nghiệp bị lỗ triềnmiên với 300.000 Xí nghiệp vừa và nhỏ Cách cổ phần hoá ở Trung quốc cũng khácvới các nước Trung quốc thu hút thêm vốn để hình thành Công ty cổ phần chứ khôngbán các tài sản Nhà nước Đồng thời, Nhà nước đã xây dựng các thị trường chứngkhoán, tạo điều kiện cho việc mua bán cổ phiếu được dễ dàng, hỗ trợ cổ phần hoá màNhà nước lại thu được thuế Trung quốc đã ban hành Luật Công ty để hỗ trợ cho việcCông ty hoá các DNNN, nhằm chuyển các DNNN có điều kiện sang hoạt động theonguyên tắc của Công ty tư nhân trong đó được 3 loại Công ty vẫn có thể áp dụng choDNNN là: Công ty 100% sở hữu Nhà nước, Công ty TNHH, Công ty cổ phẩn hữu hạn.Điều đó giúp Nhà nước vẫn giữ nguyên sở hữu và chi phối ở các Công ty này, đồngthời định rõ trách nhiệm và quyền hạn của trong quản lý và kinh doanh doanh nghiệp.Giữa Nhà nước và doanh nghiệp không còn quan hệ phụ thuộc như trước, Nhà nướcchịu trách nhiệm hữu hạn trong doanh nghiệp như một chủ góp vốn Bên cạnh việc cổphần hoá, khoán, cho thuê và bán cho tư nhân trong và ngoài nước, Trung quốc cũngrất chú trọng tới việc xây dựng các tập đoàn doanh nghiệp hiện đại, coi khu vực này làchủ đạo, là động lực để đổi mới công nghệ, thiết bị, tập trung vốn, nghiên cứu khoahọc, xuất khẩu và đầu tư ra nước ngoài

d.Chính sách ngân sách

Thực hiện mục tiêu chấn hưng nền tài chính quốc gia, chính sách ngân sáchquốc gia được thực hiện một cách nhất quán và linh hoạt theo hướng kiềm chế quy môthâm hụt của ngân sách quốc gia Mức thâm hụt ngân sách đã giảm từ 5,1% GDP trongnăm 1979 xuống còn 1,2% GDP trong năm 1981, và trong quá trình cải cách kinh tếchỉ dao động trong khoảng 1,4 - 2,2% GDP Trong quá trình cải cách, trợ cấp của Nhànước cho các DNNN để đầu tư vào tài sản cố định đã bị cắt giảm phần lớn và đượcchuyển thành các khoản vay ngân hàng Từ năm 1994, Chính phủ đã chấm dứt tìnhtrạng vay tiền ngân sách, thay vào đó sử dụng phương pháp phát hành trái phiếu cácloại Theo Luật Ngân sách quốc gia có hiệu lực thi hành từ 1/1/1995, hệ thống ngânsách của Trung quốc được chia thành 5 cấp theo kết cấu cấp chính quyền Ngân sáchcủa từng cấp sau khi được phê chuẩn không được phép sửa đổi, điều chỉnh Ngân sáchcủa các cấp chính quyền địa phương phải thực hiện nguyên tắc lường thu để chi, cân

Trang 9

đối thu - chi, không được để bội chi ngân sách Các cấp chính quyền không được phépphát hành trái phiếu, không được phép chiếm dụng hoặc giữ lại vốn của ngân sách cấptrên, đồng thời có nhiệm vụ thu nộp ngân sách cấp trên kịp thời, đầy đủ Một việc làmchưa từng có trong thực tiễn kinh tế thế giới là Chính phủ cắt giảm tỷ lệ nguồn thu thế

từ 30% GDP năm 1979 xuống còn 10,3% GDP năm 1996 Tuy nhiên, Việc giảm cácnguồn thu không làm mất cân đối kinh tế vĩ mô, do các khoản chi NSNN được cắtgiảm với tốc độ nhanh hơn, từ mức 36,4% GDP năm 1979 xuống 11,5% năm 1996.Xét về cơ cấu chi thì các khoản chi của Chính phủ Trung ương giảm mạnh từ20,7%GDP năm 1979 xuống còn 3,8% năm 1996; chi tiêu của chính quyền địaphương giảm với tốc độ ít hơn từ 15,7% GDP xuống còn 8,3% GDP Điều này cũngthể hiện sự phân cấp quản lý ngày càng nhiều cho các cấp chính quyền địa phương Để

có thể giảm chi tiêu của NSNN phải nói tới vai trò của tài chính trong việc thực hiệnchính sách lao động và xã hội Chỉ trong 2 năm đầu cải cách, số người làm việc trongkhu vực Nhà nước đã giảm từ 94,9% xuống còn 26,6% và đến năm 1995 chỉ còn18,9% lực lượng lao động Đến năm 1998 đã giảm được hơn 4 triệu người trong bộmáy quản lý hành chính các cấp Dòng lao động này được chuyển dịch sang khu vực

tư nhân nhằm tăng cường năng lực sản xuất và phục vụ cho xã hội

- Thực hiện thuế trị giá gia tăng theo chuẩn mực thống nhất, áp dụng chung cho

cả doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, cả ở khâu sản xuất và lưu thông hàng hoá,mức thuế suất thông thường là 17%; thấp nhất là 13%; hàng xuất khẩu có thuế suất0%; đối với người nộp thuế có quy mô nhỏ áp dụng thuế tiêu dùng (gồm cả thuế tiêudùng đặc biệt trước đây) với một số ít các mặt hàng như thuốc lá, dầu thành phẩm,rượu, hàng trang sức ; tiếp tục thu thuế doanh thu với các loại dịch vụ, chuyểnnhượng tài sản vô hình và bất động sản

- Gộp các loại thuế thu nhập của các thành phần kinh tế trong nước thành chế

độ thuế thu nhập thống nhất với thuế suất 33% Tiếp tục thực hiện thuế thu nhập đốivới các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

- Gộp các loại thuế điều tiết thu nhập cá nhân, thuế thu nhập các hộ côngthương cá thể ở thành thị và nông thôn, thuế thu nhập cá nhân đối với người nước

Trang 10

ngoài thành thuế thu nhập cá nhân thống nhất, thuế suất 5 - 45%

- Mở rộng phạm vi thu thuế tài nguyên, khai thác triệt để các mặt hàng khoángsản, xoá bỏ một số loại thuế, đồng thời giao quyền cho địa phương được thu hoặc xoá

bỏ một số loại thuế

Sau cải cách, từ 37 loại thuế cũ đã giảm xuống còn 23 loại thuế Chính sáchthuế năm 1994 đã góp phần làm cho việc đóng góp thuế công bằng hơn, quản lý thuếtheo đúng pháp luật, tạo môi trường thuận lợi về thuế để các doanh nghiệp có thể cạnhtranh bình đẳng Tuy nhiên, chính sách thuế 1994 vẫn còn một số tồn tại : có sự chênhlệch khá lớn giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài; giữa cácvùng, các địa phương trong nước, giữa các loại hình doanh nghiệp ở các ngành nghề;thuế suất tổng thể của thuế quan quá cao, việc giảm hoặc miễn thuế qúa nhiều

g Chính sách tiền tệ - tín dụng

Hệ thống tiền tệ - tín dụng Trung Quốc trước cải cách 1979 là một hệ thống tậptrung cao độ đặt dưới sự quản lý điều hành của ngân hàng nhân dân Trung Quốc(PBOC) Trong hệ thống ngân hàng Trung Quốc còn có ngân hàng Trung Quốc (BOC)

và ngân hàng xây dựng Trung Quốc (PCBC0) nhưng quyền hạn và phạm vi kinhdoanh của hai ngân hàng này rất hạn chế và chịu sự kiểm soát chặt chẽ của PBOC Với

cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành như vậy, hệ thống những Trung Quốc kém năngđộng và hiệu quả hoạt động thấp, không có tính chất kinh doanh và phụ thuộc vào chế

độ bao cấp của Nhà nước Thậm chí, trong khoảng thời gian hơn 40 năm từ 1949 đến

1992, hệ thống ngân hàng Trung Quốc đã áp dụng cơ chế lãi suất cứng nhắc, số lầnđiều chỉnh rất ít, tạo ra tình trạng bất hợp lý như lãi suất thấp, số ngạch, bậc lãi suất ít làm cho lãi suất không phát huy được vai trò đòn bẩy kinh tế vốn có của nó

Bắt đầu từ năm 1979, trong phạm vi cải cách hệ thống tài chính, Trung Quốc đãkhôi phục và xây dựng 3 ngân hàng chuyên doanh là Ngân hàng Nông nghiệp, Ngânhàng Công thương và Ngân hàng Kiến thiết, đồng thời, cấu trúc lại Ngân hàng Nhândân Trung Quốc thành một NHTƯ thực thụ Sau đó, Trung quốc tiếp tục xây dựngthêm một số ngân hàng thương mại và một số cơ cấu tài chính phi ngân hàng khác nhưCông ty bảo hiểm, Hợp tác xã tín dụng nông thôn, thành thị, Công ty đầu tư tín thác,Công ty tài chính, Công ty chứng khoán làm giảm đi tình trạng chỉ có ngân hàng độcquyền trong hệ thống tài chính, tạo ra khả năng lựa chọn cho các Xí nghiệp trong việctìm kiếm nguồn tài chính và thúc đẩy sự cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính Nguồnvốn của các tổ chức tài chính phi ngân hàng gia tăng nhanh chóng từ 5% tổng nguồnvốn của Trung Quốc năm 1985 lên 20% năm 1991 Trung Quốc đã thực hiện dần từngbước doanh nghiệp hoá ngân hàng chuyên doanh và các tổ chức tài chính, làm chochúng dần trở thành các chủ thể kinh tế thực thụ, có quyền tự chủ kinh doanh, tự cânđối vốn, tự chịu lỗ lãi Đồng thời, để mở rộng và tăng cường khả năng cạnh tranh của

hệ thống tài chính, Trung Quốc đã dần mở cửa thị trường tài chính tiền tệ, cho phépcác tổ chức tài chính tiền tệ nước ngoài được hoạt động trên thị trường Trung Quốc

Trang 11

2.2 Các chính sách về tài chính của Hàn Quốc sau các cuộc khủng hoảng.

Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, Hàn Quốc cũng kịp thời điều chỉnhcác chính sách kinh tế vĩ mô: Ban hành các chính sách khuyến khích kinh tế táo bạo,nới lỏng chính sách tiền tệ và thực hiện chính sách tài chính mở rộng Đồng thời, HànQuốc cũng thực hiện cải cách khu vực ngân hàng, có chiến lược cải cách khu vực tàichính Trong đó, Hàn Quốc xem cải tổ hệ thống tổ chức là bước đi đầu tiên trong việc

cơ cấu tài chính, trong đó có việc thiết lập hệ thống thanh tra hợp nhất, củng cố chứcnăng bảo hiểm tiền gửi, tổ chức lại công ty tài chính tài sản Có KAMCO đóng vai tròquan trọng trong việc mua các khoản nợ xấu (NPLs) của các ngân hàng có vấn đề.Chiến lược cơ cấu bao gồm việc đánh giá tính lành mạnh của các định chế tài chínhtrên cơ sở các tỷ lệ của BIS ( Ngân hàng thanh toán quốc tế) Thực hiện cơ cấu ngânhàng giai đoạn I từ 6/1998 đến tháng 12/1999, bao gồm việc đóng cửa những định chếtài chính không có khả năng phát triển, bơm tiền với điều kiện chặt chẽ cho các địnhchế tài chính có khả năng phát triển Cơ cấu ngân hàng giai đoạn II từ 2/2000 đến6/2002 theo hướng khuyến khích cạnh tranh quốc tế và lấy lại lòng tin của thị trường

Bên cạnh đó, Nhà nước cũng thực hiện các hỗ trợ cho cơ cấu tài chính Cụ thểnhư, sau khủng hoảng các ngân hàng không có khả năng tự huy động vốn, do vậyChính phủ nhanh chóng tái cấp vốn cho các ngân hàng gặp khó khăn nhằm hỗ trợ tíndụng để các ngân hàng này ổn định hoạt động (chủ yếu là các ngân hàng quốc doanh)

Hỗ trợ vốn giải quyết nợ xấu thông qua các công ty quản lý tài sản Có như KAMCO

và KDIC (công ty bảo hiểm tiền gửi) KAMCO mua các khoản nợ xấu của các địnhchế tài chính theo giá thị trường chỉ bằng một phần giá trị trong sổ sách kế toán Việcmua này không thanh toán bằng tiền mặt mà bằng chính trái phiếu do công ty pháthành, nhằm giảm thiểu việc ghi bằng tiền mặt KDIC chi trả tiền đóng góp vốn khôngphải bằng tiền mặt mà bằng trái phiếu Chính phủ đứng ra bảo lãnh cho các trái phiếu

do các công ty này phát hành và thanh toán lãi Trái phiếu được phát hành với các kỳhạn khác nhau

Cùng với đó, Hàn Quốc cũng thực hiện một số biện pháp nhằm tránh rủi ro nhưgiảm số lượng cán bộ và chi nhánh (giảm 40%), cổ đông và quản lý cùng chia sẻ thua

lỗ, giảm vốn, thay quản lý và tố cáo tội phạm

Trong thời gian vừa qua, các chính sách tài chính của Hàn Quốc đã và đangđược thực thi theo hai mục tiêu là hạn chế tác động của khủng hoảng và tập trung ổnđịnh thị trường ngoại hối, thị trường tài chính Đặc biệt đối với thị trường ngoại hối,Hàn Quốc đang thực thi chính sách kiểm soát chặt chẽ, nhằm hạn chế sự ra – vào, đảochiều mạnh mẽ của dòng vốn ngoại và hạn chế các khoản vay nước ngoài ngắn hạn,hạn chế vay vốn ngân hàng bằng ngoại tệ, thắt chặt tỷ lệ thanh khoản ngoại tệ đối vớingân hàng trong nước Đi liền với đó, Chính phủ cũng thiết lập một số công cụ tàichính như các quỹ tái cấp vốn ngân hàng, quỹ bình ổn tài chính, quỹ tái cơ cấu doanhnghiệp Cũng vấn đề này, hiện tại Hàn Quốc đang tập trung giám sát thanh khoản

Trang 12

ngoại tệ, cắt giảm lãi suất ngân hàng, sử dụng công cụ tài chính để có thể can thiệp vàokhả năng thanh khoản của các tổ chức tài chính, tăng cường sức mạnh của các ngânhàng và hỗ trợ tài chính để các doanh nghiệp vừa và nhỏ phục hồi sản xuất

2.3 Chính sách tài chính của một số nước Đông Á khác.

Ngoài Trung Quốc và Hàn Quốc, nền kinh tế Đông Á còn bao gồm các nướcnhư: Nhật Bản, Hồng Kông, Singapore, Đài Loan, Malaisia, Indonesia và Thái Lan.Các chính sách tài chính mà Chính phủ các nước Đông Á chủ yếu gồm ba loại: thiếtlập thị trường và định chế tài chính; kiểm soát chúng; và ban thưởng (trợ giá hay cấptín dụng hoặc ngoại hối, thường với các điều kiện ưu đãi) cho các công ty, tập đoàn,hay ngành công nghiệp tiến hành các hoạt động ưu tiên hay hoạt động một cách mẫumực Các nền kinh tế Đông Á có mức tiết kiệm quốc gia cao, đạt được chủ yếu bằngcác hành động tư nguyện, và họ có khả năng đầu tư lượng tiết kiệm của mình theocách để thu được lợi nhuận cao Các can thiệp của chính phủ tại thị trường tài chính đểđẩy mạnh tiết kiệm và phân bổ hiệu quả vốn đầu tư là nguyên nhân trọng yếu củanhững thành công này Năm trong số những can thiệp quan trọng được phân tích ởđây: đẩy mạnh tiết kiệm, kiểm soát các ngân hàng để tăng cường khả năng thanh toán,thiết lập các định chế và thị trường tài chính, thực hiện kiềm chế tài chính, và can thiệptrực tiếp tới phân bổ tín dụng

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH

VÀ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG CỦA CÁC NƯỚC ĐÔNG Á

1 Thị trường tài chính và hệ thống ngân hàng Nhật Bản

Các yếu tố chính của hệ thống tài chính của Nhật Bản là nhiều giống như những người khác nước công nghiệp: thương mại ngân hàng hệ thống, mà chấp nhận tiền gửi , mở rộng các khoản vay cho các doanh nghiệp , và bị xử lý trong ngoại hối ;

chuyên ngành chính phủ sở hữu tổ chức tài chính, tài trợ cho lĩnh vực khác nhau

của nền kinh tế trong nước ; chứng khoán các công ty, trong đó cung cấp dịch vụ môi giới, chứng khoán ký tên ở dưới doanh nghiệp và chính phủ, và xử lý tại các thị trường chứng khoán; thị trường vốn , trong đó cung cấp phương tiện để tài trợ cho

khoản nợ công và tư nhân và bán còn lại sở hữu doanh nghiệp và thị trường tiền tệ, mà

các ngân hàng được cung cấp một nguồn thanh khoản và cung cấp cho Ngân hàng Nhật Bản với một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ

1.1 Các ngân hàng:

Hệ thống ngân hàng truyền thống của Nhật Bản đã được phân đoạn thành cácthành phần xác định rõ ràng trong cuối những năm 1980: Ngân hàng thương mại(mười ba lớn và 64 nhỏ hơn khu vực ngân hàng), dài hạn tín dụng ngân hàng (bảy), tintưởng ngân hàng (bảy), lẫn nhau vay và các ngân hàng tiết kiệm ( 69), và các tổ chức

Trang 13

tài chính chuyên ngành khác nhau Trong những năm 1980, một nhóm phát triểnnhanh chóng của các hoạt động phi ngân hàng - chẳng hạn như cho vay tiêu dùng, thẻtín dụng , cho thuê , và bất động sản tổ chức - đã bắt đầu thực hiện một số chức năngtruyền thống của các ngân hàng, chẳng hạn như phát hành các khoản vay.

Trong hệ thống tài chính đầu sau chiến tranh, các ngân hàng thành phố cungcấp khoản vay ngắn hạn để các tập đoàn lớn trong nước trong khi khu vực ngân hàngtiền gửi và cho vay đã mở rộng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Không tham gianhiều trong kinh doanh quốc tế Trong những năm 1950 và 1960, một ngân hàngchuyên ngành, Ngân hàng Tokyo , đã chăm sóc của hầu hết các chính phủ nước ngoàitrao đổi nhu cầu và chức năng như đại diện ngân hàng nước ngoài của quốc gia Dàihạn ngân hàng tín dụng được dự định để bổ sung hơn là cạnh tranh với các ngân hàngthương mại Thẩm quyền cấp giấy nợ hơn là nhận tiền gửi thông thường, họ chuyên vềdài hạn cho vay đối với chínhKaisha, hay tập đoàn Ngân hàng Trust đã ủy quyền đểtiến hành các ngân hàng bán lẻ và sự tin tưởng và thường được kết hợp công việc củacác ngân hàng tín dụng thương mại và dài hạn Các ngân hàng tin tưởng không chỉquản lý danh mục đầu tư mà còn gây quỹ thông qua việc bán chứng chỉ tin cậy thươnglượng khoản vay Mutual cho vay và tiết kiệm ngân hàng, các hiệp hội tín dụng, hợptác xã tín dụng, tín dụng và các hiệp hội lao động tiền gửi cá nhân được thu thập từngười gửi tiền nói chung Những khoản tiền gửi sau đó được cho vay để hợp tác xãthành viên và cho các ngân hàng thành phố thiếu thanh khoản, thông qua thị trườngtiền tệ liên ngân hàng hoặc được gửi đến ngân hàng trung ương hợp tác xã, mà lần lượtvay vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và các tập đoàn Hơn 8.000 nông nghiệp, lâmnghiệp, ngư nghiệp và hợp tác xã thực hiện nhiều chức năng tương tự cho các hợp tác

xã Nhiều người trong số các quỹ của họ đã được chuyển đến ngân hàng trung ươngcủa mình, các Ngân hàng Norinchukin , được ngân hàng lớn nhất thế giới về tiền gửitrong nước

Năm 1990, năm ngân hàng lớn nhất thế giới, được đo bằng tổng tài sản, đãđược các ngân hàng Nhật Bản Những ngân hàng này đã mở chi nhánh ở nước ngoài,mua lại ngân hàng nước ngoài hiện có, và trở thành hoạt động mới, chẳng hạn như vấn

đề bảo lãnh phát hành trái phiếu Euro-yen Các nhà đầu tư cũng tăng hoạt động ở nướcngoài, đặc biệt là tham gia ở Mỹ trái phiếu Kho bạc thị trường (trong đó tới 25 đến30% của mỗi vấn đề mới đã được mua bởi các nhà đầu tư Nhật Bản vào cuối nhữngnăm 1980)

Tính đến tháng 3 năm 1989, năm ngân hàng thành phố lớn nhất Nhật Bản (theothứ tự khối lượng tổng số vốn) được Dai-Ichi Kangyo Ngân hàng , Ngân hàngSumitomo , Fuji Bank , Ngân hàng Mitsubishi , và Ngân hàng SANWA

1.2 Các tổ chức Chính phủ

Một nhóm các tổ chức chính phủ tài chính song song khu vực ngân hàng tưnhân Việc Nhật Bản Ngân hàng Xuất nhập khẩu , các Ngân hàng Phát triển Nhật

Trang 14

Bản , và một số tập đoàn tài chính, chẳng hạn như Tổng công ty cho vay nhà ở , thúcđẩy sự tăng trưởng của lĩnh vực chuyên ngành của nền kinh tế trong nước Các tổ chứcnày bắt nguồn tài trợ của họ từ tiền gửi được thu thập bởi các khoản tiết kiệm bưuđiện hệ thống và nộp cho Quỹ Ủy thác Văn phòng Các hệ thống tiết kiệm bưu điện,thông qua cơ quan bưu điện 24.000, chấp nhận kinh phí bằng nhiều hình thức, baogồm cả tiền tiết kiệm, niên kim, và bảo hiểm Các bưu cục cung cấp các mức lãi suấtcao nhất cho tài khoản tiết kiệm thường xuyên (8% đối với tiền gửi thời gian năm1990) và miễn thuế tiết kiệm cho đến khi năm 1988, qua đó thu thập và các tài khoảntiền gửi nhiều hơn bất kỳ tổ chức khác trên thế giới.

Việc Ngân hàng Xuất nhập khẩu Nhật Bản (Exim Bank) là tổ chức chính phủduy nhất với một tập trung quốc tế Ngân hàng Exim cung cấp tài chính cho thươngmại giữa Nhật Bản và các nước đang phát triển, thực hiện chức năng xuất nhập khẩucác ngân hàng được điều hành bởi các chính phủ ở các nước khác (trong đó có Mỹ),mặc dù sự tham gia của nó là có thể lớn hơn

1.3 Chứng khoán

Thị trường chứng khoán Nhật Bản tăng khối lượng của họ về các giao dịchnhanh chóng trong thời gian cuối những năm 1980, các công ty chứng khoán nhanhchóng mở rộng Có ba loại của các công ty chứng khoán tại Nhật Bản, lần đầu tiên baogồm các "Big Four" chứng khoán nhà (trong số sáu công ty lớn nhất như vậy trên thếgiới): Nomura , Daiwa , Nikko và Yamaichi The Big Four đã đóng một vai trò quantrọng trong các giao dịch tài chính quốc tế và là thành viên của chứng khoán NewYork Nomura là lớn nhất thế giới duy nhất công ty chứng khoán; vốn ròng của nó,vượt quá 10 tỷ USD vào năm 1986, vượt quá của Merrill Lynch , Salomon Brothers ,

và Shearson Lehman kết hợp Trong năm 1986, Nomura Nhật Bản đầu tiên trở thànhthành viên của sàn chứng khoán London Nomura và Daiwa đã được các đại lý chính

ở Mỹ trái phiếu kho bạc thị trường Cấp thứ hai của các công ty chứng khoán có tencác công ty cỡ trung bình Các tầng thứ ba bao gồm tất cả các công ty chứng khoánnhỏ đăng ký ở Nhật Bản Nhiều trong số các công ty nhỏ hơn đã được các chi nhánhcủa Big Four, trong khi một số đã được liên kết với ngân hàng Năm 1986, 83 trongnhững công ty nhỏ hơn là thành viên của Chứng khoán và Giao dịch chứng khoánTokyo Nhật Bản của công ty chứng khoán xuất phát phần lớn thu nhập của họ từ phímôi giới, công bằng và kinh doanh trái phiếu, bảo lãnh phát hành , và xử lý Các dịch

vụ khác bao gồm sự quản lý của tin tưởng Trong cuối những năm 1980, một số công

ty chứng khoán nước ngoài, bao gồm cả Salomon Brothers và Merrill Lynch, đã trởthành người chơi trong thế giới tài chính Nhật Bản

Công ty bảo hiểm Nhật Bản đã trở thành nhà lãnh đạo quan trọng trong tàichính quốc tế trong những năm 1980 Hơn 90% dân số thuộc sở hữu bảo hiểm cuộcsống và số tiền tổ chức cho mỗi người được ít nhất 50% lớn hơn tại Hoa Kỳ Nhiềucông ty bảo hiểm Nhật Bản được sử dụng như các loại xe tiết kiệm Công ty bảo hiểm

Trang 15

tài sản đã tăng trưởng với tốc độ hơn 20% mỗi năm trong cuối những năm 1980, đạtgần US $ 694.000.000.000 trong năm 1988 Các công ty bảo hiểm cuộc sống dichuyển rất nhiều vào đầu tư nước ngoài như bãi bỏ quy định cho phép họ làm như vậy

và như nguồn lực của họ tăng lên thông qua sự lây lan của các quỹ hưu trí tài trợ hoàntoàn Những tài sản này cho phép các công ty để trở thành người chơi chính trong thịtrường tiền tệ quốc tế Nippon Công ty Bảo hiểm nhân thọ , công ty bảo hiểm lớn nhấtthế giới, đã được báo cáo là lớn nhất một người nắm giữ trái phiếu kho bạc Mỹ trongnăm 1989

1.4 Giao dịch chứng khoán

Chứng khoán và Giao dịch chứng khoán Tokyo đã trở thành lớn nhất thế giớivào năm 1988, về mặt giá trị thị trường kết hợp của cổ phiếu và vốn, trong khi giaodịch chứng khoán Osaka xếp thứ ba sau khi những người của Tokyo và NewYork Mặc dù có tám trường chứng khoán tại Nhật Bản, chứng khoán giao dịch chứngkhoán Tokyo và đại diện 83% tổng vốn chủ sở hữu của quốc gia vào năm 1988 Trong

số 1.848 công ty trong nước giao dịch công khai tại Nhật Bản vào cuối năm 1986,khoảng 80% đã được niêm yết trên Chứng khoán và Giao dịch chứng khoán Tokyo

Hai sự phát triển cuối những năm 1980 đã giúp trong việc mở rộng nhanhchóng của Sở Giao dịch Chứng khoán và chứng khoán Tokyo Việc đầu tiên là một sựthay đổi trong hoạt động tài chính của công ty Theo truyền thống các công ty lớnđược tài trợ thông qua vay vốn ngân hàng hơn là thị trường vốn, nhưng trong cuốinhững năm 1980 họ bắt đầu dựa nhiều hơn vào nguồn tài chính trực tiếp Sự phát triểnthứ hai đến vào năm 1986 khi trao đổi Tokyo cho phép các công ty môi giới khôngphải người Nhật trở thành thành viên lần đầu tiên Đến năm 1988 việc trao đổi đãsixteen thành viên nước ngoài Chứng khoán và Giao dịch chứng khoán Tokyo đã có

124 công ty thành viên vào năm 1990 Năm 1990, năm loại chứng khoán được giaodịch trên sàn giao dịch Tokyo: cổ phiếu, trái phiếu, tín thác đầu tư, quyền, và đảm bảomột mình

Nhật Bản giao dịch cổ phiếu của thị trường bùng nổ vào những năm 1980, vớikhối lượng giao dịch tăng lên và giá cổ phiếu tăng nhanh chóng.Các giao dịch đượcghi lại bằng các chỉ số Nikkei 225 bình quân cổ phiếu, biên soạn bởi các Nihon KeizaiShimbun (Nhật Bản Kinh tế hàng ngày), tăng từ 6.850 trong tháng mười năm 1982 lêngần 39.000 vào đầu năm 1990 Trong thời gian một tháng sáu năm 1986, tổng khốilượng thương mại trên sàn giao dịch Tokyo tăng 250% với các biến động tự nhiêntrong các chỉ số Nikkei Sau khi sự sụt giảm của chứng khoán New York trong thángMười năm 1987, trung bình Tokyo giảm 15%, nhưng có một sự phục hồi mạnh vàođầu năm 1988 Đây là chiều cao của bong bóng giá tài sản Nhật Bản , bị sụp đổ trongnăm 1990, và được theo sau là thập kỷ mất

1.5 Thực trạng thị trường tài chính:

Ngày đăng: 27/08/2014, 14:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w