Trong Phần 1, chúng tôt muốn nói rằng tăng trưởng nhanh tà một nhu cầu cấp báckt của các mước dang phát triển và diễu này là có thể tực hiện dược nhự có thể thấy rõ qua thực tế của một s
Trang 17153
4 345 lện Nghiên cứu Dự búo vò Chiến lược Khog học vũ Công nghệ
CHƯƠNG TRÌNH PHAN TICH VA LUA CHON CHIEN LUOC CONG NGHIEP HOA GẮN VỚI HIEN DAI HOA TREN CƠ SỞ KHCN TRONG THẬP NIÊN 90
VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO
Đề tài 05
NGHIÊN CỨU TỔNG KẾT CÁC MÔ HÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ TỪ KINH NGHIỆM NHỮNG NƯỚC PHÁT TRIÊN NHANH NHỜ CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ HIẾN ĐẠI
Trang 2LOI NOI DAU
“Béo c edo tổng hợp này gồm có 4 phần
Trong Phần 1, chúng tôt muốn nói rằng tăng trưởng nhanh tà một nhu cầu cấp báckt của
các mước dang phát triển và diễu này là có thể tực hiện dược nhự có thể thấy rõ qua thực tế
của một số nước chảu Á, trước liết là các nước Đông Á; song tăng trưởng nhanh sẽ chỉ có ý
nghĩa nếu nhục nó dị liền với phát triển theo nghĩa phúc lợi của nhân dân được nâng cao về
hoàn cảnh xã hội là tiến bộ Phát triển với nội dung dầy đủ nhất phải là phát triển bên vững
mà nội dung cơ bản là sự phát triển của thế hệ hiện tại không làm thương tốn dến sự phát
triển của các thể lệ tương lai
Trong Phầm II, chúng tôi giới thiệu mô hình Đông Á là mô hình tăng trưởng nhanh và
kéo dài dáng chú ý nhất liện nay Mô hình: này thể liện những nét chưng trong sự phát triển thành công của Nhật Bản và bốn con rồng châu Á và cũng dang dược thể hiện ở một số nước Đông Nam Á và Trung Quốc Trong phần này chúng tôi cũng giới thiệu các kết quả phản tích các nhân tố thành công của mô hình Đông Á và việc khái quát hoá mô hình này thành một
khuôn máu phát triển mới theo các kết quả nghiên cứu của Ngắn hàng Thế giới
Phần III giới thiệu sơ lược về lịch sứ công nghiệp hoá thế giới, trả lời câu hỏi "Công nghiệp hoá là gì?” và đề cập vấn dề cơ bản của công: nghiệp hoá là sự chuyển: dịch: sơ cất: của nền kinit tế Chúng tôi cũng giới thiệt: một quan: diéin mới về chuyển dịc:cơ cấu ¬ quan: diém cấu trúc luận - theo dô chuyển dịch cơ cấu lš ngnyên nhân của tăng trưởng chứ không
phải là kết quả của tích ldỹ vốn và tăng th nhập mỗi đầu người như dược qMaf£ HiỆHt (rong
thuyết tân cổ diển Công nghệ: là một nhân tố dặc biệt quan trọng dối với chuyển dịch: cơ cấu
và để xây dựng chính sách công nghệ quốc gia phục vụ công nghiệp hoá thì cần phải chú ý không cñủ là luồng công nghệ mà còn phát là cơ chế thị trường của công nghệ (cung, cầu và tiên kết cung - cầu) và động thát phát triển công nghệ
Phan 1V dànit dể giới thiệu riêng về hai nước dã nối tiếng là thần kỳ trong phát triển
kinh tế: Nhật Bảmr và Nam-Triềw Tiên ,
Cuối cùng, trong Phần V, chúng tôi dưa ra kết luận chung của Báo cáo và một số kiến nghị về công nghiệp hoá ở nước ta Các kiến nghị này bao gồm 3 nhóm vấn đề Thứ nhất, cần
dặt công nghiệp hoá trong khuôn khổ phát triển chung của dất nước Khuôn mẫu phát triển
mới do Ngân hàng Thế giới dề xuất gồm 4 vấn dề (vốn con người, ổn dink kinh tế vĩ mô, cghÍt
tranh kinlt tế trong nước và liên kết toàn cầu) là cơ sở lý luận căm tham khảo Thứ hai, cần chủ dộng thực liện chuyển dịch cơ cấu, trước hết là dối mớt công nghệ trong nông nghiệp và
Trang 3
công nghiệp hàng tiêu dùng, tiếp đến là tăng phản của các ngành công nghiệp dùng nhiéu
công nghệ trong khu vực chế tạo, trước hết căn coi trọng công nghiệp cơ khí Thứ ba, có một
chính sách công nghệ gắn với công nghiệp hoá trong dó vữa phát triển luông công nghệ: vừa
thực hiện cơ chế thị trường đối với công nghệ dồng thời công nghệ dược la chọn dể áp dưng phải di theo các giai doqạn từ dã trưởng thành dến mới xuất hiện Chuyển giao công nghệ là
hướng chủ yếu của phát triển công nghệ, song muốn có liệu quả phải trên cơ sở năng lực
công nghệ dược tích cực xảy dựng và phát triển,
Cudi cung, chiing tdi xin bay to su biét on Ban Chit nhiém Chương trinh Công nghiệp hoá dã giúp dỡ chúng tôi rất nhiều trong vide thie hién Dé tai ndy cling nhic tat cd cde cong
tác viên của Đề tài đã tích cực hoàn thành các báo cáo riêng và déng gdp nhiéu ¥ kién quy
báu cho việc thực hiện Đề tài
Ngày 10 tháng 3 năm 1994
Chủ nhiệm Đề tài
PANG MONG LAN
Trang 4MUC LUC
Trang
00801710 1 i PHAN I: TANG TRUONG NHANH VA PHAT TRIEN BEN VỮNG t
A Sự cần thiết và có thể của tăng trưởng nhnh à co ccccseeccee 1
1 Khoảng cách giữa các nước phát triển và dang phát triến -«- i
II Sự vươn lên của một số nước Đông Á và Đông Nam Á 4
Phụ lục I: Các khái niệm "tăng trưởng", "phát triển” và "phát triển bền vững" 13
PHAN 1: MO HINH BONG A VA KHUÔN MẪU PHÁT TRIỀN MỚI
ĐỀ NGHỊ CHO CÁC NƯỚC DANG PHAT TRIEN LH 11s e 20
I Những mô hình tăng truGmg ane eecseeeesceescseseeecscescusceessesecessenscecneceeenss 20
II "Vòng phát triển" Đông Á và Đông Nam Á c c c 27 III Những nhân tố tạo thành một mô hình Đông Á 520 2.2 33 {V Kết luận .-s 222112122 221112022111122211222111 2121121112212 cee 20
B Khuôn mẫu phát triển mới của Ngân hàng Thế giới 3Ô [ Khuôn mẫu CŨ sành TH HH TH ng TH 9n nh ng ng TH 2 Họ 30
II Khuôn mẫu mới của Ngân hàng Thế giới ii Ï
HI Kết huận,, HH HT TH nh HH ngưng 34 Phụ lục II: Khái quát về các chính sách công nghiệp của các nước phương Tây 3Ó Phụ lục II: Nghệ thuật cải cách trong xây dựng nên tảng kinh tế vĩ mô
Trang 5PHAN Ht: CONG NGHIEP HOA: CHUYEN DICH CO CAU
II Công nghiệp hoá là gì? HH HH H1 gu reo 47
II Chuyển dịch cơ cấu của nền kinh LẾ cuc HH 49
IV Phát triển công nghệ trong công nghiệp hOÁá «co 52
Phu tục IV: Cách mạng công nghệ và những xu hướng lớn phát triển
công nghệ hiện nay trên thế giỚi c cà HH HH TH KH Tnhh geeee 58
PHAN IV: CÔNG NGHIỆP HOÁ Ở NHẬT BẢN VÀ NAM TRIỀU TIÊN 63
A., — Nhật Dản HH HH TH TT CC ng nh ngư 62
I Quá trình công nghiệp hOá sac c TH nh nh HH mg ro 62
II Những ưu thế của Nhật trong phát triển công nghệ -eccecercer 67
B Nam Triều Tiên Ăn" HH HH HH HH 68
1 Công nghiệp hoá và chính sách khoa học và công nghệ .- 68
II Những hướng lớn phát triển khoa học và công nghệ -ccc-c-x 73
PHẦN V: KẾT LUẬN CHUNG VÀ KIẾN NGIỊỊ s25 cckcccrcetrerrreerree 7?
TÀI LIỆU DẪN CHỨNG .22255cc 221 2221H 2222212222122 2rve 83
ive
Trang 6Phan I:
TĂNG TRƯỞNG NHANH VA PHAT TRIEN BEN VUNG
A SU CAN THIET VA CO THE CUA TANG TRUONG NHANII
I KHOẢNG CÁCH GIUA CAC NUGC PHAT TRIEN VA DANG PHAT TRIEN
Đặc điểm nổi bật nhất của thế giới ngày nay là sự phân chia các nước thành những
nước phát triển và những nước dang phát triển với khoảng cách rất lớn về tổng sản phẩm xã
hội môi đầu người giữa các nước này
Cho đến đầu thập kỷ 70, khoảng cách nói trên, vốn đã rất lớn về giá trị tuyệt đối, lại tăng lên Tình hình sau đó nhìn ‘chung có thay đổi nhờ sự tăng trưởng đáng kể của châu Á, đặc biệt là các nước Đông Á (mà chính đó là dối tượng xem xét chủ yếu của đề tài nghiên cứu này), song đối với nhiều nhóm nước khác lại !ồi tệ hơn
Như trình bày trong Bảng 1, tổng sản phẩm trong nước (GDP) mỗi đầu người của các
nước đang phát triển.so với các nước phát triển OECD, tính theo phần trăm, đã giảm dần
từ 32% nam 1913 xuống 25% năm 1950 rồi 22% năm 1973 và tăng lên 28% nám 1989, sự tăng này là nhờ sự tăng trưởng dáng kể gần dây của châu Á (từ 16% năm 1973 lên 28% nam-
1989, lấy chỉ số so sánh tương tự), trong khi dối với các nhóm nước khác là luôn luôn
giảm, đặc biệt nghiêm trọng đối với các nước châu Phi can Xuhara (11% nam 1950, 8% năm
Nhóm nước 1830 | 1913 | 1950 | 1973 | 1989 Tỉ suất tăng
Trang 7Hinh | gidi thiéu su gia tang của thu nhập mỗi đầu người của nước Mỹ từ nắm 1830 cho đến gần dây và khoảng cách hiện nay vẻ thu nhập mỗi dầu người giữa VIỹ và một sỐ nước đang phát triển Ân tượng của mỗi người chúng ta về khoảng cách dĩ chắc chấn là rất
mạnh mẽ Da¡a là nước cĩ thu nhập mỗi đầu người thấp nhất trong số cúc nước dược chọn
dựa vào trong hình vẽ song khơng phải l3 nước cĩ thu nhập thấp nhất trên thế mới Năm `
1989, thu nhập mỗi đầu người của Dạa là Z60 đơla, của nước thấp nhất (Mơdämbic) là 80 đơla cửa Mỹ là 20.910 đơla, của nước cao nhất (Thụy Š5Ð là 29,880 đơla, của nước cao thứ
Pola cơ đinh 1938
e Be la tng gia Swe! vua (PPP) 4439 Hinh 1: Tha nhập me mỗi dầu người của một số nước chọn lọc so với Mỹ (1830-1988) {i]
Trang 8
Nhìn chung, sư khác nhau vé GDP moi dau người tương ứng với sự khác nhau về các
iu tidu phat triển xã hội Để minh họa ta hãy xét một chỉ số về phát triển con người là tuổi
họ trung bình [Tình 2 giới thiệu sự phát triển của chỉ tiêu này dối với Nhật Hán từ nắm :900 đến năm 1985 và so sánh với một số nước khác vào năm 1985 Tuổi thọ trung bình của những nước có GDP mỗi đầu người rất thấp cũng rất thấp và ngược lại, những nước có
GDP mỗi đầu người cao có tuổi thọ trung bình cao, Nhưng, bền cạnh đó, có những nước
¬hư Xri Lanka hay Trung Quốc, tuy khác xa các nước phát triển về-'GDP mỗi đầu người, là
những nước không kém các nước đó nhiều về tuổi thọ trung bình
Trang 9Các giá trị về tuổi thợ trung bình (năm) năm 1989 của một số nước như sau:
Môdämbic - 49, Sierra Leone - 42 (thấp nhất), Xri Lanka - 71, Trung Quốc - 70, Việt Nam
- 66, Nhật Bản -79 (cao nhất), Thụy 5: -78, Hồng Kông -78, Mỹ -76
ISỰ VƯƠN LÊN CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á VÀ ĐÔNG NAMÁ
Khoảng cách tăng lên giữa các nước phát triển và dang phát triển không phải là một
quy luật tuyệt đối Hay nói một cách khác, sự nghèo nàn và lạc hậu của các nước chậm tiến không hề là một định mệnh Nhật Bản, rồi bốn con rồng châu: Á (bốn nước Đông Á: Nam Triều Tiên, Đài Loan, Xingapo và Hồng Kông), và gần day, cdc nude ASEAN va Trung
Quốc, đã và đang chứng tỏ rằng các nước chậm tiến có thể tiến nhanh, rất nhanh để giảm khoảng cách giữa họ với các nước phát triển, thậm chí có thể duối kịp và vượt cả những
nước tiên tiến nhất
Trong hơn 100 năm qua, kể từ cuộc Cách mạng Minh Trị năm 1868, nước Nhật đã tiến bước trên con đường phát triển kinh tế tập trung vào công nghiệp hóa [2] với tỉ suất tăng trưởng cao Tỉ suất này tính trung bình hàng năm từ Cách mạng Minh Trị đến năm
1900 vào khoảng 3%, vào thời kỳ Chiến tranh Thế giới thứ Ï vọt lên 6%, sau đó giảm xuống 2%, nhưng từ những năm 30 lại tăng lên 5% trong quá trình tầng trưởng nhanh của công nghiệp nặng và công nghiệp hóa chất Tính trung bình hàng năm trong suốt thời gian 1885-
1940, tỉ suất tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản là 3,1%, cao hơn các nước Tây Âu nhưng
hơi thấp so với Mỹ
Sau Chiến tranh: Thế giới thứ II, tỉ suất tăng trưởng kinh tế của Nhật dã tăng đáng kể,
tính trung bình hàng năm trong thời gian 1955 - 1973 là 9,5% Từ những năm 70 trở đi, ˆ ˆ
nền kinh tế của Nhật đã chuyển từ tăng trưởng cao sang tăng trưởng trung bình do tác động
của nhiều nhân tố khác nhau, nhưng về cơ bản chính là thời kỳ tăng trưởng cao của quá trình bắt kịp các nước công nghiệp phát triển đã kết thúc
Tiếp theo thời kỳ trên là thời kỳ tăng trưởng trung bình nhưng so với các nước phát triển
Trong số các nước đang phát triển, Nam Triều Tiên đã sớm nổi bật lên như một "thần
kỳ” do sự phát triển kinh tế đã diễn: ra với tốc độ cao hiếm có và do những kết quả kinh
tế đã đạt được mà người(a khó có.thể.nghĩ được là có được ở một nước đang phát triển vào loại trang bình (diện tích 98#:859- km2—dãm-số năm 1980 hơn 38 triệu người) và cho tới
đầu những năm 60 còn: thuộc vào số những nước nghèo nhất trên thế giới
Tăng trưởng công nghiệp đã là nhân tố động lực của phát triển kinh tế của Nam Triều
Tiên [3] Từ 1962 đến 1979, công nghiệp đã tăng trưởng vớt tỉ suất tăng hàng năm 17%, việc làm trong khu vực công nghiệp chế tạo tăng 10% hàng năm Sự tăng trưởng này dược
kế hoạch hóa với các hướng chiếm lược lớn được Nhà nước xác định
Ngoại thương của Nam Triều Tiên đã tăng trưởng cực kỳ nhanh và đã có vai trò đáng
kể đối với sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp Tính theo giá hiện hành, xuất khẩu
hàng công nghiệp chế tạo thực sự bùng nổ: tỉ suất tăng hàng năm là 50%, nghĩa là đã được nhân lên:1000 lần trong 17 năm
(`) Chủ yếu là các nước” ASEAN-4" bao gdm Thái Lan Malaixia, Indônexia và Philippin Hai nước ASEAN khác không kế ở dây là Xingapo dược dưa vào hàng ngũ bốn con rồng và Hrunáy mới gia nhập ASEAN năm 1984 và là một thành viên nhỏ.
Trang 10Trong thời gian gần đây, đến lượt nước không lô Trung Quốc gây dược sự chú ý của thể giới do sự tăng trưởng kinh tế cực kỳ nhanh, đặc biệt là ở một số tính phía Nam lo thay dối
cơ chế kinh tế, tỉ suất tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trong thời giản (977 - 1985 dạt trung bình 8% hàng năm [4], và của các tỉnh phía Nam trong suốt thập kỷ 80 đạt 109 [5]
Bảng 2 giới thiệu chi tiết hơn về tỉ suất tăng trưởng của bốn con rộng châu Á, các nước
ASEAN-4 va Trung Quốc trong thời gian 1985-1989 [6]
Bảng 2 TỶ suất tăng trưởng thực (%6) của bốn con rồng, ASEAN-4 và Trung Quốc thời
gian 1983-1989 [6]
Hình 3 giới thiệu tỉ suất tăng của GDP (hay GNP) của bốn con rồng, các nước ASEAN-4
không kể Philippin và Trung Quốc, trong đó có ghi thêm các nước OECD để so sánh [7Ị
90% 2 4 6 8 10
“Trung Quéc Nam lriêu Tiên ti Đalsan ESE
Hình 3: Tỉ suất tăng GDPIGNP thực trung bình hàng nấm của một số nước tăng
trưởng nhanh của châu Á thời gian 1971-1980 (ddi trên) và thời gian 1981-1990 (dải dưới) [7]
Trang 11Dé thấy rõ hon su tang trưởng nhanh thực tế dã xảy ra ở một số nước mà trước đó ít người có thể hình dung dược, ta hãy nhớ lại một bản dự báo được dưa ra nám (961 về GDP mỗi đầu người năm 1976 ở một số nước châu Á và thực tế đã xảy ra (xem hình 4)
Hình 4: GDP mỗi dầu người năm 1976 của một số nước chau A
Dải trên: dự báo; dát dưới: thực tế i
Nguồn: Morawetz, Twenty five years of development, 1975 Dan theo [5]:
Sự vượt lên một cách đặc biệt nhanh chóng cửa một số nước Đông Á so với các nước đang phát triển khác không đơn thuần chỉ là sự "đi nhanh” về kinh tế mà, theo đánh giá của D.H Perkins [4], còn dẫm tới việc xóa bở các hình thức cực đoan của sự bất bình đẳng trong thư nhập: Quá trình tăng trưởng do đó đã mang lại lợi ích cho đa số chứ không phải chỉ
một số ít được chọn lọc, có: nghĩa là ở đây "tăng trưởng” quả đã dẫn đến "phát triển" Cũng cần nói thêm rằng, như đ& được: nêu lêm trong [4], sự: vươn lên.của các nước
Đông Á là một sự:kiện có ý nghĩa lịch sử: đã có-gàn 200 triệu người trên thế giốt trở thànir
một bộ phậm của: xã hội công nghiép va bo lai dang sau minh những xã: hột nông nghiệp trong đó người nông dân sống với những hình thức tột cùng của sự nghèo khó vốn là
đặc trưng của:các xã hội nông nghiệp Sự vươn lên này lại càng là nổi bật ở bốn con rồng chau A vi để đạt được sự vươn lên này họ chỉ cần vài chục năm trong khí phải: 150 năm
cuộc cách mạng công'nghiệp được bắt đầu ở Anh mới lan sang phầncòmlại của-châu Âu và
Bác Mỹ
IL KẾT LUẬN
Cñc: nước: chậm tiến đương nhiên muốn "đi nhanh" để vươn tới hàng ngũ các nước
phát triển hoặc ít ra cũng giảm được khoảng cách về thu nhập mỗi đầu người giữa họ và các
Trang 12
-6-nước phát triển Ý muốn này trước dây dã đứng trước sự hoài nghỉ của nhiều nhà ngh¡.a cứu, nhất là trong trường các nước chau A đông dân mà riêng việc chống đối dã là mọi
vấn đề nan giải Thực tế ở một số nước Đông A và Đôn: Nam Á dã cho thây diều ngược lại:
Ý muốn đi nhanh là hoàn toàn hiện thực Những n .n tố nào dã dẫn đến hiện thực dó?
Trước khi trình bày vấn đề này trong Phần lÏ, chúng ++ còn cần phải trả lời một câu hỏi
quan trọng: Liệu đi nhanh có: thật sự mang lại hạnh ohúc cho người dân hay không, hay
cuối cùng cái giá phải:trả cho sự nhanh lại đổ lên đầu những người mà chính họ phải là đối -
tượng của sự đi nhanh: với nội.-dung chân chính của nó? Đi nhanir với nội dung chân chính sẽ
được gọi là "phát triển" và phát triển một cách đúng cắn nhất theo cách hiểu ngay nay phải
là "phát triển bền vững" Mục sau đây sẽ xem xét vấn đề này bất đầu từ sự phân biệt hai
khái niệm cơ bản: "tăng trưởng" và "phát triển"
B POAT TRIEN BEN VUNG
L TANG TRUONG VA PHAT TRIEN
Chúng tôi đã giới thiệu vấn đề này tương đối chỉ tiết trong (8] Ở đây sẽ chỉ nhấc lại một cách tóm tắt những ý cơ bản, những chỉ tiết cần thiết khác giới thiệu trong Phụ lục I Nói một cách khái quát, tăng trưởng” chỉ sự gia tảng về /ượng của những dại lượng chính đặc trưng cho một trạng thái kinh tế đã cho, trước hết là tổng sản phẩm xã hội,
có tính đến mối liên quan với dân số Còn "phát triển" chỉ sự đạt được những đòi hỏi về chất, trước hết là phúc lợi của nhân dân, và với nghĩa rộng hơn, còn bao gồm các đòi hỏi về
chính trị như quyền tự do công dân
Trong số nhiều định nghĩa về “tăng trưởng" và “kinh tế”, ở đây chỉ nêu định nghĩa được đưa ra trong một số công, trình nghiên cứu của Ngân hàng, Thế giới (một số chọn lọc
khác giới thiệu trong Phụ lục D
Trước hết, trong “Báo cáo về phát triển thế giới 1991: Sự thách thức của phát triển" [1], ta có thể tìm thấy định nghĩa sau đây (gạch dưới của chúng tôi):
"Phát triển kinh-tế" được định ngiĩa là sự tăng bền vững về các tiêu chuẩn sống
bao gồm tiê dùng vật chất, giáo dục, súc khỏe và bảo vệ môi trường Phát triển với nghữa- rộrrg: hơn được lưểu là cản bao gồn cả những thuộc tínÌ: quan trọng
và liên quan khác, đặc biệt là sự binh đẳng hơn về cơ hội, và sự tực do về chính
trị (political freedom) và các quyền tự do công dân (civil liberties) Muc tiêu chung của phát triển do đó: là nâng cao các quyền kinh tế, chính trị và công dân của mọi người dân đối với nam cũng như nữ, các nhám dân tộc, các tôn giáo, các chúng tộc, các khu vực: và các quốc gia Mục tiêu này không thay dối nhiều
kể từ dầu những năm 1950 khi mà da số các nước đang phát triển thoát khối
chủ nghĩa thực dân”
Trong "Báo cáo về phát triển thế giới 1992: Phát triển và môi trường" [9], nội dung trên đây được nhấc lại như sau (gach dưới của chúng tôi):
Trang 13
_ "Phát triển" (a nding cao phúc lợi của nhân cân Nâng cao tiên chuẩn song va cát tiến giáo dục, sức khỏe và bình dẳng về cơ hội là tất ca những thành phần cơ.bản của phát triển kinh tế Đảo ddnt các quyền:chính trị và công đâm là một
mục tiêapháttriônrộng: hơn Tầng trưởng kinh tế là một cách cơ bản dể có thể
cá dược phát triển, nhưng trong bám thân, nó là một dại diện rất không toàn vẹn của tiến bộ”
Như vậy, trong định nghĩa trên, các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới đã lưu ý sự khác nhau đồng thời sự lên quan ở một mặt nào đó (cụ thể là về "phương cách") giữa "phát
triển" và "tăng trưởng": ;ăng trưởng chưa phái là phát triển, song tăng tưởng lại là một
cách cơ bản để có được phát triển
Di sau hon vào mối quan hệ giữa "tăng trưởng” và “phát triển”, trong số nhiều tác giả,
chúng tôi muốn dẫn ý kiếm của nhà kinh tế học nổi tiếng người Pháp l'rancois Perroux
(1903-1987) Trong một tác phẩm biên soạn theo yêu cầu của UNESCO [10], ông viết
(gạch dưới của chúng tôi):
"cần chú ý dến sự nguy hiển của tăng trưởng mà không phát triển Sự nguy
Hiểm này tồn tại một cách rõ rệt ở các nước dạng phát triển khi hoạt động kinh
tế được tập trung xung quanh những ngành của các hãng nước ngoài hoặc các công trình công cộng lớn và không có các tác dụng toàn quốc Ngay ở các
nước phát triển, chúng ta thấy rằng, khi tăng trưởng diễn trến, các lợi ich cua phát triển dược phân bố không đều về phương diện dịa lý, vì những vùng tương đối "trống rồng" vẫn còn tồn tại và về phương diện xã hội, vì "những cái túi nghèo nàn” vẫn chưa biến mái
“Nhưng diều nót trên chỉ là những dấu hiệu bề ngoài của tăng trưởng không
phát triển; chúng ta hiểu sâu hơn về ý nghĩœ' của chúng khủ chủng ta xem Xét
các tác dộng trở lại của chúng dối vớt năng lực tiềm tàng nhiều mặt của các
tác nhân có: lIÊH quan
“Còw về phát triển không tăng trưởng thi diều này dược biểu thị một cách ngắn
gor, trong:mét ban téme tắt; bởi khdw-hiéu- hot hot- va d6e hai: dé dat mds thank công nào dô ở châu Âu cách đây vai néim, cu thé la “tang wudng 2ér6" Lập luận dơn giản hóa về chút dễ này có thể tôn tắt ÍL nHHềtt HÌN Satt- HẾN tăng trưởng
dừng lạt mỗi khi dạt tới một mức nào đó thì diều có thể và duoc moug mucin sé
là thay đổi cơ cấu phản phối sản phẩm và thu nhập TTOHG HỘI HƯỚC mà tặng
trưởng tiếp diễr cho tới khí, trong một thời kỳ cụ thể, lên dếu 39%, thì sẽ có thể
cải tiến cơ cấu phản phối sản phẩm/thu nhập chung mà không phải có thêm táng trưởng nữa
“Lập luận trên dây chưa lề dược xem xét kỹ lưỡng
(*) Tác giả mudn ndi dé cong trinh “The Limits to Growth" ndm 1973 của Của lạc bo Koina ivoug dd cde tác gid báo dộng- rằng “ngày lận the” sé dén neu niue sein xuut Cong nghiep cia thé giỏi củ Hếi) Hạc tạng
trưởng và vì vậy, dể khỏi bị di dến cái ngày dd, can phdi thuc hidn "idng trucing zérao”
-Ñ`
Trang 14“Chỉ có phát triển một cách lãng phí và cản dối rất kém mới tương hợp với tăng trưởng zêrô Khẩu liệu trên chỉ là sự phản ánh nổi bối rối của một số nhà
kinttếhọc khí họ dứng trước những dòi hỏi xã hột dâng cao: nó trở thành lôi thời: cũng: nhanh nhục là khí nó xuất hiện Nó dáng dược nhận những lôi ' binh luận- vắn tắt mà chúng tôt dã dưa ra dễ chứng: tở rừng, trong khi tăng trưởng không phát triển là một hiện tượng nhìn thấy, thì phát triển không tăng trưởng chẳng bao giờ có thể hơn được - may mắn thay! - một giả thuyết vụ vơ Phân bố
lại các nguồn lực mà không có kèm theo tăng sản phẩm thì sẽ gảy ra những
hao tổn tích tụ và những hao tổn này sẽ dẫn dến hậu quả là làm giảm tỉ suất
tăng trưởng dã dạt dược”
Như vậy, sau khi đã thấy rõ sự tiến bộ của một quốc gia phải là phát triển với nội dụng đầy đủ bao gồm các mặt kinh tế, xã hội và chính trị, với Francois Perroux, ta lại có thể
khẳng địnr sự không thể không có được của tăng trưởng (đi nhanh) nhầm dạt tới chính các mục tiêu của phát triển
Trong mục sau, chúng tôi sẽ giới thiệu sâu hơn về nội dung của vấn đề "phát triển"
mà những nghiên cứu mới nhất đã dẫn đến sự hình thành khái niệm “phat triển bền vững" được xem như đỉnh cao nhất của tư tưởng phát triển hiện nay
I PHAT TRIEN BEN VUNG
Khái niệm: này: đã xuất hiện một cách rõ rệt lần đầu tiên vào nam 1980 khi IUCN
(International Union for the Conservation of Nature and Natural Resources) dua ra "Chiến
lược bảo toàn thế giới” (WCS) với “mục tiêu tổng thể là đạt được sự phát triển bền vững bằng cách bảo vệ các tài nguyên sống”
Quan diém cia IUCN đã đứng trước sự phê phán của một số tác giả mà tóm tất lại,
theo S.M L.élé trong một tổng quan phân tích về phát triển bền vững [11], "thực tế chỉ đề
cập đến vấn đề bền vững sinh thái chứ không phải phát triển bền vững”
Đáp lạt sự phê phán trên dây, UNEP (United Nations Environment Program) đã cố
gắng làm rõ và dễ hiểu hơn khái niệm “phát triển bền vững" với nội dung bao gồm 5 điểm sau đây: ~ 7 :
1 Giúp đỡ những người rất nghèo vì những người này không có lựa chọn nào khác ngoài việc phá hủy môi trường;
2: Chứa đựng ý tưởng về phát triển tự lực trong khuôn khổ những ràng buộc về
tàt nguyên thiên nhiên; ;
3 Chứa đựng ý tưởng về phát triển có hiệu quả so với chỉ phí nhờ sử dụng các
chuẩn cứ phát triển truyền thống;
4 _ Đề cập những vấn đề lớn về theo dõi sức khỏe, công nghệ thích hợp, tự lực
lương thực, nước sạch và nhà ở cho mọi người;
4 Chứa đựng quan điểm về sự cần thiết của những đề xuất định hướng vào
nhân dân
«Fe
Trang 15Theo L.élé thì cách phát biểu về phái triển bên vững của UNEP còn có nhược diểm là
trộn lẫn mục tiêu với phương tiện, hay nói chính xác hơn, trộn lân các mục tiêu cơ bản với
các phương, tiện hành động; bảo đảm lương thực, nước, sức khỏe tốt và nha G ding là những
mục tiêu cơ bản theo cách hiểu truyền thống của da số mô hình phát triển, song không rõ tự lực, hiện quả theo chỉ phí, tính thích hợp của công nghệ và sự dịnh hướng vào nhân dân có
phải lä các mục tiêu bổ sung thêm hay chỉ: là những đồi hỏi về hành dộng để dạt được các mục tiêu truyền thống
Cuối cùng, phải nói rằng định nghĩa đáng được chú ý nhất về "phát triển bền vững"
14 dinh nghia cla WCED (World Commission on Environment and Development):
"Phát triển bền vững là phát triển dấp ứng các nhu cầu của liện tại mà không làm thương tổn đến khả năng của các thế hệ tương lai dấp ứng các HÌN cầu của
bản thân lọ” ˆ
Điểm rất đặc sắc trong định nghĩa trên là sự quan tâm dến các thế hệ tương lai trong
khi tìm cách đáp ứng các nhu cầu hiện tại
Ngoài ra, định nghĩa trên mới chỉ nêu lên một cách ngắn gọn những mục tiêu cơ bản của "phát triển bền vững" Những mục tiêu trên thực hành “đài dòng” hơn rất nhiều, cụ thể
là bao gồm 9 điểm sau đây (điểm thứ 9 được bổ sung thêm bởi các cơ quan khác khi sử
dụng định nghĩa của WCED):
1) Khơi lại sự tăng trưởng;
2) Thay dối chất lượng clủa tăng trưởng;
3) Đáp ứng các nhủ cầu cốt yếu về việc làm, lương thực, nảng lượng, nước và
vé sinh; :
4) Bảo dám một mức dân số bền vững;
5) Bảo vệ và tăng cường cơ sở tài nguyên;
6) Dink huéng lai cong nghệ và quan lý rủi ro;
7) Hòa trộn môi trường và kinlt tế trong việc ra quyết định;
8) Dinh liướng lạt các quan lệ kinh tế quốc tế;
9) Làm cho phát triển có tính tham gia của nhân dân nhiều hơn
Có thể nói cách phát biểu trên đây là tiêu biểu cho đông ức duy chúnh về phát triển bền
vững Dòng chính đó bao gồm các cơ quan quốc tế về môi trường như UNEP, IUCN và
WWE; cdc co quan về phát triển như Ngân hàng Thế giới, Cơ quan Phát triển Quốc tế của
Mỹ, các cơ quan phát triển quốc tế của Canada và Thụy Điến; các cơ quan nghiên cứu và
truyền bá như Viện Tài nguyên Quốc tế, Viện Quốc tế về Môi trường vũ Phát triển, Viện Theo dõi Thế giới (World Watch Institute); và những tổ chức và nhóm hoạt dộng tích cực
như GTC (Global Tomorrow Coalition)
Kết thúc mục này, chúng tôi nêu vấn tát nhận xét trong công trình dạng dân về những diểm mạnh và điểm yếu của cách hiểu trên dây về “phát triển bền vững”,
Trang 16
-10-Điểm mạnh: Đã vạch ra được những mục tiêu cơ bản - đấp ứng các như cầu hiện tại và
xúc đồi hỏi về bên vững - đồng thời từ các mục tiêu này suy ra một lout cúc mục tiêu hành
lộng xuyên qua hầu hết các đường biên trị thức và chính trị trước dây
Điểm yếu: Có 3 vấn đê: a) Việc đặc trưng hóa vấn đề nghèo và văn đề suy thoái môi rường; b) Việc khái niệm hóa các mục tiểu phát triển, sự bền vững và sự tham gia; c) Chiến
iược được chấp nhận trước sự hiểu biết không đầy đủ và sự bất dịnh
Nói rõ hơn về vấn đề thứ "nhất (vấn đề nghèo và vấn đề suy thoái môi trường): Mới
quan hệ giữa hai vấn đề này được mô tả quá dơn giản, cụ thể là như trong hình 5 Theo tác
giả của công trình phê phán [8], các vấn đề này có những nguyên nhân rất phức tạp và sâu
sa như được mô tả trong sơ đồ của hình 6
Với tơi các | Suy thoại Sông nghệ
Trang 17-li-(fl KET LUAN
Cần phân: biệt sự khác nhau giữa "tăng trưởng” và: "phát triển" Sự phận biệt này
không phải là vấn đề thuật ngữ mà chính là vấn đề sự nhậm thức về sự tiến bộ của một quốc
gia và rộng hơn là sự tiến bộ của nền văn minh thế giới
Điều rất quan trọng là thấy rõ: mối quan hệ giữa "tăng trưởng” và "phát triển": "tăng trưởng" chưa phải đã là "phát triển" nhưng không thể nói "phái triển" mà không có "tăng
trưởng"
"Phát triển" một cách đứng đắn nhất cần phải là "phát triển bền vững Nội dung của
"phát triển bền vững” theo cách hiểu của WCED dang là dòng tư duy chính: hiện nay với sự chấp nhận của nhiều tổ chức có tiếng trên thế giới về phát triển và môi trường
Vấn đề lớn đặt ra hiện nay cho các nước chậm tiến là "đi nhanh”, song "di nhanh" cần
phải dặt trong khuôn khổ "phát triển bền vững” thì mới không, dẫn đến những hậu quả tiêu cực về xã hội và môi trường
Trang 18
-11-Theo
Theo
Phụ lục I
CÁC KHÁI NIỆM "TANG TRƯỞNG", "PHÁT TRIÊN"
VÀ "PHÁT TRIEN BEN VUNG"
“Grand Larousse” Jan xuat ban nam 1987 [12]:
"Tang trưởng: Từ “tăng trưởng” xuất hiện trong (Vv thuyết kink te vao qudny năm 1940 (khdée voi ue "phat wien" va ur “tien bo") Nha kink te hoc S.Kuznets
gan cho su tang trưởng kinh tế điện đại những dặc tinh sau: gia tăng nhanh
dân số, gia tăng, sản xuất và năng suất, những thay đốt về cơ cau (di cu khỏi
nông thôn) và xã hội (đô thị hóa mạnh mể), cách mạng trong giao thông vận tại
và thông tín liên lạc Sự tăng trường này không nh nhau dồi với các nước”,
“Phát triển" Trái với từ “tăng trưởng”, mà nội dụng là nâng cao những dại lượng chính dặc trưng cho một trạng thái kính tế dã cho, từ “phát triển” dội hối
những mặt về chất rất rõ: rệt: phúc lợi của nhân dân vét trên toàn bộ, dược nàng
cao và hoàn cảnh xã hội nhìn chúng là tiến bộ”
"Tiến bộ" Sự tiến triển dều dặn của nhân loại của nên văn minh toi mot muc
tiêu lý tưởng”
“Encyclopédie Francaise nam 1973 { 13]:
"Tầng trưởng kinh tế Tương nự nhực nghĩa về sinh học (mọi sự gia tăng không
thuận nghịch về kích thước của một si: vật hay một bộ phán của nó], rừ tặng trưởng kinh tế đã dược chưa vào trong linh vic kink t& hoc nham got ra mot sic
tiến hóa có thể so sánh vớt sự tiến hóa của các sinh vật Tăng trường là sự gia
tăng sản phẩm ròng của nên kính tế,
Trong quá trình tăng trưởng, các biến số định lượng về số lượng, về trọng lượng,
về thể tích hay về- giá trị thể liện một chiều lướng gia tăng liên tục: khái niệm
do dé tro thanh do được bằng sự tăng của khối lượng sản phẩm thu nhập và tiêu thụ Theo nghĩa này, tăng trưởng là một hiện tượng về lượng; khí dó nó chỉ
có ý nghĩa thuần túy số học lo xự gia tăng nhiing dai lượng: vác (HH: xo vớt giá trị ban dầu của chúng, Như vậy, trên: quan diém kink té, co tdng irudug khi co
aw thay đổi dương về kích thước (thí (ÍM, xự gia tăng CA tÍhH Hhệp quốc giai, song mot sd newet dd gtot han link nghta bang cach cht vet su gia tạng của
thu nhập mỏi đầu Người
Trong bát kế trường lợp nào đúng nhu ban chất, KHÁI nidm nay onan nd sink
how, cb nhiing uve didi
Khai nem tdag tring que thet sat ra bon yo tieng ylang ĐỎ (HỘI sứ Hhớa dèi phic tap ma cat cbt YÊU Khong cht fa sự gta ting orig dite cat inony invert
Trang 19
-13-dới mà còn là xự Điển đổi của các quan lệ siữa các dựt lương, nuhữa là su Điện dỔI Của CáC Cắt (HÚC, Ý LHỢNG VỆ HỘI SW phút triển CHA HHữHg lực ben trong màu thuận lay trái HA, Ý tưng vẻ sự phan jad, 30 la (HIẾN irony edi
phức tạp; cuối cùng là ý tưởng về sự cot trọng những giai doqu vot uép nha
hơn là sự tát diễn Ý tưởng về sự táng trưởng dường njúc bao hàm sự tất yếu chuyển từ một giai doạrt-sang một giai doạn khác: song không hệ có một tất yếu cơ học nào dặt ra cho sự chuyển này Chẳng hạn tạ có thể nhận xét là
nhiều nên kính tế nguyên thủy vấn dừng lại ở giải doạn dầu tiên Ngoài ra
nhiều nền kinh tế vấn sống mà chẳng già di Qua thực tá có thể vạch: ra một sự vận động có phần nào có tính chất kh diễn: một xự tầng trưởng chân, tiếp theo là một si tăng trường nhanh, sau đó là sự cham lai cua tang trường vũ một sự gân nhị trì trệ: Khi đó chỉ có sic thay doi ve fink that hay về hệ thong là
có thể phục hồi dược cơ Chế của tầng trường”,
Tiếp theo, các tác giả của “Encyclopédie Francaise” đã phân tích sự khác nhau giữa một số khái niệm có ý nghĩa gần với “tang trưởng": “mở màng” (expansion), "tiến hóa” (évolution), "tiến bộ” (progrès) và “phát trién” (dévetoppement)
ø “Trước hết là sự khác nhau giữa các (tiến hóa và mở mang, Trong khí tiến hóu chứ những biển dốt dài hạn của một nước hay, tổng quát Hơn, một tập hợp kinh tế và xã hột dã cho, và tặng trưởng là một hiện tượng vác dịnh lon, cụ thể
là một trong các dạng thức khả dĩ của tiến hóa (hai dụng Unie kia lati trẻ
= stagnation và súy thoái = régresaion), thì mở mang chỈ: củ một khía cạnh lay
một giai doạn của tăng trưởng Nói cách: khác, khái niệm này dùng cho giai
doạn ngắn, còn khái niệm tăng trưởng dùng cho giat doan dat Nhu vay la mot quá trình có tính chất trạng huéug (processus conjonctirel), na mang đối tập với suy giam (dépression) va chi la mét thời doạn trong quá trinh TIẾN TIẾN của tăng trưởng Một vài xự phản biết nỉ vậy cho thủy rằng tiến hóa không phái bao giờ cũng thể hiện bằng tăng trưởng và tầng thưởng rất có thể diễn ra theo dạng răng cưa với những điểm mở mạng rất mạnh mể Nhưng thực ra adiững khác nhau đó về từ ngữ CHÍ là Để ngoài: trên THỤC tế, các tử tăng tưởng vớ
mở mang có rhể sử dụng như là nhưng từ đồng ngÌĩua
® Còn vê phản biệt tầng trường với tiến bộ thì sự phản tích kính tế dã nhấn
mạnh sự củn thiết tuyệt đối không dược lấn lộn hai khái niệm này Theo dịnh
nghĩa chặt chế, tăng trưởng là sự gia tầng sản phẩm ròng của nến kinh tế, Tiên
bộ, trái lạt, là sự vượt lên trên của tăng trường và được do bằng sự nàng cao
ức sống, điêu này có nghĩa bình thường là sự gia tầng sảu phát mỗi dâu
người Có nhiều hệ qua edn liên với sự phản Điệt này Trước liệt, có thế có tầng
trưởng mà không có tiền bộ do thi da Uo sadt king hin so cae hon miiv gia wine san pham, hode con la do sự giảm hay sit han che tum thot tiéu ding nha uing sudt tích lấy vốn Ngược lạt, it nhất fa tạm thời, có thể có tiên Bội mà khong
Oy nyt cand, Cexpansten! cou cd the diwh À "dlet Qiển” hd “tac ĐANG
~lde
Trang 20cái gì? Câu hỏi này dưa ta quay trở lại cầu lrới thực sự về lọt ích của Hhững của cái mà tăng trưởng góp phần tạo ra Câu hai này tiếp vào những bản tạm của những người, khi nhận xét về xu hướng của các xã hội công nghiệp liện nay là tạo ra những Hhw cầu cảng ngày công cd tah chat gid to đệ đăng dỡ loạt dộng sản xuất trí nhận trong Khí các dịch vụ công công cót yêu lạt dược báo
dam rất tồi tệ, đã ngườn dấu tranh chong lai qua trink nay Van dé Mii dé la
xét xem tăng trưởng cần phái dược dink hudug nha the nào TÌM dụ nh nên Ki
tế không dược để cho dẫn đất một cách duy nhất chỉ bảng Hững nhu cầu được biểu thị, cũng không tùm cách thịa mẫn THUỐC liệt những dục vọng dược kích thích bằng quảng cdo, su pho trong, sic mot me viv Niue vay sé clu cé tién Bộ chững nào mà một tập hợp có thứ hạng các giá trỆ dược tôn trong sẽ khong dầy dủ nếu chủ là làm cho các cá nhân dược xứ dụng một khối lượng của cdi ngày cảng phong phú (diều này tường Ứng vớt cái Hà ngHời la gọt là sự gia làng mức sống), Hà côn phái nghĩ đến việc ndhự cao về chút cúch xông của các cả
uhan đó, dặc biệt là bằng những hành dộng về các điều kiện lao dộng cua họ,
nghĩa là hướng một bộ phần ngày cảng lớn các: “thành quả” cita mo mang vào các thiết bị tập thể (bệnh viện trường học, dại học, phòng thí nghiệm nghiên cứu, quy hoạch thành phố, cái tiến thông tr“ liên lạc và giao thông vàn tt,
v.V )
® Sự phân biệt thứ ba giữa tầng trưởng và phát triển dường nhự, dốt với nhiều ngưòi, là dáng bản cải nhất, là bởi vì nó có tinh chat nhận tạo Theo một so
người, phát triển là tảng trưởng với sit thay dot trade trony cue can rt
Ngược lại tầng trưởng tương tine voi mot qua trinh CHIẾN ra rON HỢI CAN ttic
dã cho, dược giá dịnh là gần nhĩt không thể thay đối hay không bị thay dối, Sự
đốt lập này rõ ràng là dược cường điệu vì, trong thực tế, tạ không thể lình dụng
ra một quá trình táng trưởng có thể tiếp diễn mù không kéo theo những bien
dối về cấu trúc hoặc không dược dánk đấu từ dâu bang mot der bien ve cut, trúc hoặc bằng sự phá vỡ tình trạng hiện lu Sự phán biệt viữu tổng trường
và phát triển được dê ra chính là dể đốt tập tình hình hiện ndv của các nước công nghiệp hóa với tình hình liên nay của các mide dang phat wien Khi đó
người td đành từ tăng trường cho các quả rink phat triển dược theo duốt ở cde nude céng nghiệp hóa và từ phát triển cho sự tầng TRƯỜNG cua Cúc HƯỚC kém phát triển mà người ta nghĩ rằng nó sẽ không thẺ xảV ra dive neu mot so diều kiện nào đó có từ trước hay dồng thời, không dược đáp ứng, hai tử tặng trưởng và phát triển dường nh có thể sử dụng phẩm nào tự no thay cho từ Kia”
D Goulet [14{, người được xem ta di tiến phòng Gong Tình vực “dạo dực học
- 1ấ-«
Trang 21
"Phát triển vita la mot lot lé civ tham von, vita fa mot viec fain day (TÍNH vụng Thuật ngữ được sử dụng hoặc là dể mô tả hoạc hide inh wader dé chit ra điển
kiện hiện tại hoặc dể cÍự tính một khá nắng lựa chọn — duặc — máng muốn, Cụch
sư dụng mô (tả dược lưu hành rong rdi trong khói lượng dựng gia tầng các Đất
viết chứng nhận sự phát triển, trong cdc bdo cdo thong ké va chink sach duoc
phát ra từ các cơ quan tài trợ nh Ngàn hàng Thể giót và Quả Tiên tệ Quốc tế,
và trong khối lượng tài liệu học thuật đồ xó dang xuat hiện trong vỏ: vố bộ mon khoa học Cách sứ dụng định nưức của thudt agit có trong các công trình phê
phan và biện hộ mà các tác giá của ching otf dang Hit ngon ned dẠHg TH giá
trị dế phê phán sự phát triển nhự dang dược tiến hành liện nay hoac dé bien ho cho mộ( quan diém khác tưởng nÌựt là cao hon ve dae chic hay chink tị Ngoài ra, “phat trién” chit hode ta cde muc dich hade da các phương tiện dễ
thay đối xã hội Phát trién ding thot la mot mo wdc ve mat cuac song tot dep
hơn - một cuộc sông giàu có hơn về vài chất, "hiện dụt" hơn về thể chế, hiệu quả hơn về công nghệ - và mội mạng lướt Hưng phương tiện dễ đựt tôi ỐC mờ
dó Các: phương tiện này dt từ kẻ hoạch hóa kinh tế đến vận dỘNG THYẾH: TRUYỆN,
từ thiết kế xã hội toàn diện đến những cuộc can thiệp mot loai cia cdc nganh với ý dịnh thay đổi các giá trị, các lành ví và các cấu trúc xã hội
Không phải chỉ thuật ngữ phát triển mà cả việc tuực hiện sự phát triển cũng (lây
mẫu thuấn Trong những mô tá chính sách dược xấp xếp con hing ning trong cuộc diễu lành dưới cùng một ngọn cờ phát triển, ta thấy có:
- "Cuộc tấn công vĩ dạt” vào tăng trưởng kinh tế tự dụy trừ
- Aw hóa các thể chế và các thủ tục xã hội;
- Bde bé Au hóa khỉ theo đuối mô linh “nội sinh” vẻ thay đổi;
- Ca tụng "nhỏ là dẹp” dể thực hiện chiến lược dựa trên những dự án
nhỏ do dịa phương kiếm soát
Có lúc cái dược tìm kiểm là sự Âu hóa bắt chước, có lúc đá lạ là phản đồ của nó
- khơi dậy những động lực tiềm ản tồn tại trong các giá trị cổ truyền và có khả năng phục vụ nhự là dộng cơ của những hình thức bán xứ của phát triển Nhiều chủ trương phát triển khác đấu tranh với chủ nghữau vị chúng trong những khuôn mẫu chủ dạo, trong KÌ“ các chủ trương khác coi việc dể cao các nhà ut
tưởng, các nhà kỹ clHÍ”!, hay các nhà chính trí nĩc là những tại họa chính O
dây thành phản chính của sự phát triển dược lay là sự tham dự hày sự kiem tra của nhân dân dối vớt các mục tiêu, phương hướng và nhịp độ của các quá trùnh
thay dối Mặc dầu nhiều nhà lập kế hoạch vẫn còn cho phát triển là bằng với
tăng trưởng kinh tế có liệu qua, song những người khác dữ bác bỏ quan diễm
rút gọn chủ nghĩa này và bênh vực cho sự tiếu lên theo nhieu thi nguyen cud xd
(") “Technocrat” , dd quen gọi chưa thất dáng là “kỹ trì Chúng tôi dễ nghị xiẩa lạt là “kỹ chủ" để có thể su
sGnh vot “dau chi” (democrat) (chit khong phdi la “dân trí”)
Trang 22
dã nhất trí tại hội nghị "Các vấn đề dạo dức và phát triển” tháng Chín 1986 tại Xri Lanca
do Vién Marga tổ chức (gạch dưới của chúng tôi):
" bất kỳ một dimht nghĩa thích hợp nào vẻ phát triển cũng phái bạo gầm nắm thử HgHyền:
một thành phần kinh tế đề cập việc tạo ra vự giàn có và những điển kiến
cao hon về dời sống vật chất dược phản bố một cách công bằng;
một cấu tự xã hội dược do bằng phúc lợi vẻ v tế, giáo dục, nhà ở và công dn vide lam;
một thứ nguyên chính trị bao gồm niuing gid it nhu QUYỀN CON HUƯỜI, sự tự do vẻ chính trị, quyền bảu cứ và một sở hình thức dân chủ
một thứ nguyên văn hóa thừa nhận sự kiện các nên văn hóu cor tinh riéne
và giá trị tự thân là thuộc về nhân dân:
- một thứ nguyên năm dược gọi là khuôn mẫu cuộc sống đầy đủ danh cho những hệ thống ý nghĩa C2, những biểu tưởng và những niềm ti" về Ý nghĩa sản xa của cuộc sống và lịch sử”
Ngoài năm thứ nguyên trên đây, mà viện Mlarga cho rằng đó chính là sự phát triển con người toàn dién, theo Goulet, còn phải thêm một thứ nguyên nữa: sự vững chắc về xinh
thái
Nội dung cơ bản trong bài viết của Goulet là vạch ra những cái được cũng như những cái mất của phát triển Nói cách khác, phát đriển là một con dựo hai lưới Nó mang, lại lợi
ích nhưng cũng sản sinh ra những tổn thất và gây ra những xung đột về giá tị
Những cái dược của phát triển tóm tắt như sau:
a) Nang cao sự giàu có về vật chất, tiều chuẩn sống, múc tiện nghĩ, Liệu dùng và thú vui cho một số lớn con người
b) Tiến bộ công nghệ: Máy móc, thiết bị và các quá trình mọi loại đã giải phóng hàng
triệu con người khỏi những công việc tay chân nắng nhọc,
c) Su chuyên môn hóa về thể chế, thí dụ như ngày ở những nước nhỏ nhất và nghèo nhất ngày nay cũng có những cơ quan thống kê
d) Tang su tu do trong lựa chọn, đặc biệt dối với phụ nữ và trẻ cm Theo nhà xã hỏi
hoe Peter Berger thi két qua chinh của phát triển là làm cho con người dược tự do rong việc
MY ony = rag = v z Det a = „ „ : + - c
(") Theo tac gid, “hé thong ý nghĩa" là những tả lHệu va bieu wong ve tun ytde, Wiel hee va ii re de gti thích, thí dụ dh y¥ uyhia cia su song va cat chet
-
Trang 2317-iựa chon cdi ma ho sé tin tưởng, những giá trị mà họ sẽ chấp nhận, và cái cách mà theo do
¢) Sự phụ thuộc lẫn nhau trên thế giới ngày càng nhiều hơm
D Mức khoan dung cao chưa từng có dối với sự khác nhau về tôn giáo, luật lê, phong tục, ý thức hệ, ăn mặc, khẩu vị và ngay cả phong cách cá nhân,
Những cái mất của phát triển gồm có:
a) Tinh nang động của lòng ham muốn bị phá vỡ, diều này giữ tất cả các xã hội trong trạng thái cân bằng về văn hóa Để giữ được sự gấn kết xã hội giữa các thành viên trong các cộng đồng văn hóa, các ham muốn cá nhân phải dược cất giảm và các khát vọng đã đạt được phải phụ thuộc vào những đồi hỏi của cái tốt chung và vào sự đắp ứng các nhu cầu cho tất cả mọi người
b) Sự phụ thuộc theo chiều dọc giữa các quốc gia gia tăng Ngay những nước tương dối giàu như Mêhicô, Draxin, v.v cũng bị phụ thuộc ngày càng nhiều do nợ năn,
c) Sự vô tổ chức và sự không nhất định về vai trò của các thành viên trong xã hội gia táng Trước đây mỗi người đều biết được vị trí của mình trong xã hội Ngày nay, vi trí đó không được ấn định chỉ một lần và cho tất cả mọi người cũng như cho những "diễn viên” đặc biệt trong xã hội ,
đ) Phá hủy hoặc làm phai nhạt những nền văn hóa Đặc biệt bị ảnh hưởng là những nền văn hóa du cư hay bán di trú theo mùa Làm tản mác những hệ thống ý nghĩa của nhiều
cộng đồng văn hóa
Những xưng đột về giá tr có thể là:
- Có ý nghĩa nhất là phát triển đã gây ra những xung đội về giá trị trong vấn đề ý nghĩa của cuộc sống tốt lành Phải chăng khả năng về cuộc sống tốt lành được bảo đảm bằng luật pháp và thể chế bao gồm sự bình đẳng về cơ hội hay sự bình dẳng về kết quả? Ở nhiều
nước phát triển, lập luận cổ xưa này không bao giờ được giải quyết!
- Mâu thuẫn thứ hai năm ở chính nền tảng của cái gọi là xã hội đúng din Cong ly nằm ở giới có thẩm quyền được thừa kế, ở những cuộc thăm dò công luận, hay ở một cộng
đồng xã hội nào đó? v.v
- Loại xung đột thứ ba là chuẩn cứ về thái độ đối với thiên nhiên Thiên nhiên chỉ đơn giản là nguyên liệu để con người khai thác hay đó là cái nơi để con người sinh sống, di
lại, tạo lập hạnh phúc mà những nhịp điệu và quy luật của nó cần phải dược tôn trọng?
Kết luận, tác giả cho rằng chúng ta cần phải khôn ngoan để làm cho các khoa học của chúng ta phù hợp với nhau Sự hiểu biết tạo ra một nhãn quan rộng lớn hơn về các mục đích của cuộc sống con người và về các nỗ lực của con người dể hướng dẫn việc xây dựng
những khuôn mẫu của phát triển
Dưới đây là đoạn cuối của công trình nghiên cứu đang nói:
“Thế giới cần phải có nhiều cuộc nhảy múa thần thành, nhiều sự khôn ngoan từ
những xã hội không phát triển trong cuộc đốt thoại sáng tạo và phê phán và xây dựng với những cái hợp lý về khoa học, công nghệ chính trị và quan lý dây
- 18+
Trang 24sức mạnh của các xã hột "phát triển”, Chí có qua những cuốc dối thoại mg vậy, chúng ta, những con người, mới có thể sản sink ra dược sự khôn ngoạn làm cho các khoa học của chúng tạ phù hợp vot nhauw và chúng ta có thể ngừng
lại không hành xử nhự “những người khống lồ một mát”, Cau này là của nhà
tho Laurens Van Der Post nói về những người cháu Âu đến châu Phí nhí là
những người khống lồ một mất có khoa học mà không có sự khôn ngoaH Thomas Merton, khi bình luận Van Der Post, giải thích rằng người khống lồ
một mắt phá vỡ mất những nền văn nưnh cổ xưa, những nên vấn hóa Hày có sự
khôn ngoan mà không có khoa học Ông nói thêm rắng chính “sự khôn ngoan dã
vượt lên và hợp nhất mở ra cánh cửa dể di vào một cuộc sống trong đó con người riêng lẻ không bị mất vào trong vũ.trụ và trong xã hội mà dược tìm thấy
Trang 2519-Phan II:
MO HINH DONG A VA KHUON MAU PHAT TRIEN MOI
ĐỀ NGHỊ CHO CAC NUGC DANG PHAT TRIEN
A MO HINH DONG A
1 NHUNG MO HINH TANG TRUONG
Trong một tài liệu năm 1987 [15], chúng tôi đã có dịp lưu ý rằng, trừ trường hợp Nhật Bản và Hunggari, và cũng rất hãn hữu đối với hai nước này, các nhà nghiên cứu rất hạn chế dùng khái niệm "mô hình”; thay vào đó, người ta thường nói đến “kinh nghiệm" hay, cao hơn,
"bài học” của nước này, nước kia Thực tế đã diễn ra ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa
Đông Âu trước đây đã cho thấy chúng ta cần phải dé dặt nhiều hơn khi sử dụng từ "mô hình”
để bàn đến con đường đi của các quốc gia, và nếu như chúng ta còn cần phải dùng đến từ "mô hình" để chỉ một nhóm nước nào đó có chung những đặc tính mà chúng ta muốn vận dụng,
chúng ta cần phải hiểu từ này theo một cách mềm dẻo hơn
Nói đến tăng trưởng nhanh, không ai có thể quên rằng Liên Xô trước đây, với quá trình
công nghiệp hoá được hoàn thành về cơ bản như đã đặt ra sau hai kế hoạch 5 năm lần thứ nhất
và thứ hai (1928-1932 và 1933 - 1937), đã tỏ ra là một mô hình đầy sức hấp dẫn đối với các
nhà lãnh đạo ở nhiều nước vừa giành được độc lập muốn nhanh chóng biến đổi nền kinh tế
nông nghiệp lạc hậu của đất nước thành một nền công nghiệp hiện đại
Đánh giá đường lối công nghiệp hoá của Liên Xô trong thời kỳ nói trên, M.S Goócbachốp [16] đã phát biểu như sau (gạch dưới của chúng tôi): "Đó là con đường duy nhất
có thể thực hiện được trong tình hình hồi đó, dù rằng đó là một con dường hết sức khó khăn
cho đất nước và nhân dân Công nghiệp hoá bằng một đợt nước rút đã đưa đất nước lên một
trình độ mớt về chất" Trong phát biểu của Goócbachốp, chúng ta thấy rõ sự khẳng định về
“tăng trưởng cực nhanh" đi kèm theo những "khó khăn hết sức" trong "phát triển"
Các thành tựu kinh tế to lớn của Liên Xô đã gây ảo tưởng cho nhiều nước trong đó có hai nước khổng lồ Ấn Độ và Trung Quốc về một mô hình tăng trưởng nhanh dựa trên kinh tế
tự cung tự cấp và kế hoạch hoá tập trung [4|
(MOI SO thành tựa chính: từ một nước chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, dã trở thànH: Hước Có sản luong cong nghiệp hàng dầu châu Âu và ding tht hai trên thế giới; mức tầng nâng suat: 1933:12,99%:, 1934:16.9%, 1933: 19.4®; 1936:25.4%; hinh thành nhiều ngành công nghiệp hoàn toàn mới: ó tô, máy bay, máy kéo, V.V
- 20
Trang 26-Một mô hình tăng trưởng khác được các nước Míỹ Latinh theo duối rất lâu là “cong nghiệp hoá bằng thay thế nhập khẩu" Theo Perkins {4| thì mô hình này có nguồn gốc từ
truyền thống chính trị và tri thức của các nước đó cũng như nhận thức của họ về thế giới bên
ngoài Ông cũng nhận xét rằng "mô hình Liên Xô” và "mô hình Mỹ Latinh” là tương tự vì cả hai đều cho rằng chỉ có thể tăng trưởng nhanh bằng cách hạn chế tới mức thấp nhất các mối quan hệ của mình với các hệ thống kinh tế của Mỹ và châu Au Theo J.E Mahon, Jr., [18] thi
cần phải kể đến một nguyên nhân là những cản trở về cơ cấu, do đó là về chính trị, mà các nước đang phát triển có thu nhập trung bình gặp phải khi họ muốn xuất khẩu các sản phẩm
công nghiệp chế tạo mà công lao động thấp (ngoài cách giải thích thông dụng nhấn mạnh sự
yếu kém về chính sách của nhà nước, sự yếu kém này làm mạnh thêm các bộ máy quan liêu
và việc bảo hộ các nhà công nghiệp và các nghiệp đoàn)
Mô hình tăng trưởng nhanh nổi tiếng nhất hiện nay và đang thu hút sự chú ý của nhiều nước trên thế giới là mô hình được hình dung từ thực tế phát triển kinh tế của Nhật Bản và các nước sau Nhật Bản đã có những phát triển tương tự: Nam Triều Tiên, Đài Loan, Xingapo và
Hồng Kông Mô hình này được một số tác giả gọi là "mô hình Đông Á" Đối với bốn nước
sau, người ta thường nói "Bốn con rồng châu Á" hay "các nước công nghiệp mới châu Á" (NIC châu Á) để phân biệt với "các nước công nghiệp mới châu Mỹ Latinh" (NIC Mỹ Latinh) như Achentina, Braxin, Mêhicô, v.v Mô hình này hiện đang được thể hiện trên thực tế ở một
số nước Đông Nam Á như Thái Lan, Malaixia và Inđônêxia và, ở chừng mực nào đó, ở Trung Quốc, hay chính xác hơn, ở một số tỉnh phía Nam của Trung Quốc (điều sau này còn phải có thêm thời gian trước khi có thể nói về nó một cách mạnh dạn hơn)
Khi nói về "mô hình Mỹ Latinh”, người ta nhấn mạnh đặc điểm của nó là "công nghiệp hoá bằng thay- thế nhập khẩu" Một cách tương phản, khi nói về "mô hình Đông A", ngudi ta
nhấn mạnh "công nghiệp hoá bằng khuyến khích xuất khẩu" (xem [17]) Cách gọi này phù hợp với Perkins [4] khi ông nhận xét rằng, đối với các nước Đông Á, tốc độ tăng nhanh giá trị
hàng xuất khẩu luôn luôn là một đặc điểm và ở chừng mực nhất định chính là nguyên nhân
đưa đến sự tăng trưởng nhanh của các nước này (các số liệu trong thời 1971-1980 va 1981 -
1990 giới thiệu trên hình 7, [7}) Trong một mục sau, chúng ta sẽ tìm hiểu bản chất của mô hình Đông Á qua phân tích hệ thống các nhân tố đã dẫn đến sự thành công của mô hình này,
từ đó sẽ thấy đúng hơn vai trò của xuất khẩu đối với sự tăng trưởng nhanh của các nước Đông
Á Cồn xét về biểu hiện bên ngoài thì có thể nói rằng đặc trưng của mô hình Đông Á là tăng
trưởng nhanh và diễn ra nói chung liên tục trong một thời gian đài, tỈ suất tăng trưởng trung
bình hàng năm đạt khoảng 7% hay hơn, có nghĩa là rổng sản phẩm xã hội nhân lên 2 lần chỉ sau 10 năm hay ít hơn”)
(9) Các tỉnh phía Nam Trung Quốc dại tÍ suất tầng 10% hàng nâm (rong suới thập kỷ 80, có ngHĨa tong sda
phẩm x4 hội tảng 2 lan sau hon 6 nam
-3
Trang 27Hình 7: Ti sudt tdng trung bình hàng nám hàng xuất khẩu của một số nước Đông Á
và Đông Nam Á (dưa thêm OECD dé so sánh) Dai trên: thời gian 1971 - 1980, dải dưới:
1981 - 1990 (Dân theo [7])
IL “VÒNG PHÁT TRIỀN" ĐÔNG A VA DONG NAM A
Ở trên chúng tôi đã đưa ra một số số liệu minh hoa sự phát triển của các nước Đông A
va Đông Nam Á trong mấy chục năm vừa qua Chúng tôi sẽ không di sâu hơn nữa vào khối các số liệu có rất nhiều này mà chuyển sang một vài nét vẻ triển vọng phát triển của các nước
này trong thời gian tới
'
Theo J - R Chaponniére trong mot cOng trình vừa công bố năm 1993 [5] thì có thể nói
về triển vọng phát triển của cdc nude Dong A va Dong Nam A cho tới năm 2020 nhw saut” :
Nhat Ban: Trt khi gap một thảm hoa lớn, nước này vẫn có nhiều khả năng là một nền kinh tế hùng mạnh nhất GNP của Nhật năm 2000 sẽ bằng 70% GP của Mỹ và năm 2020 sẽ bằng Mỹ: Ta nhớ lại rằng cách đây 40 năm, GNP của Nhật chỉ bằng 1/20 GNP của Mỹ
Nam Triéu Tiên: Triển vọng phát triển kinh tế là tốt và sẽ còn tốt hơn nhờ khả năng
mở ra những biên giới mới do tăng cường quan hệ với Trung Quốc và thống nhất với Bác Triều Tiên Trong 5 năm tới, đầu tư tích luỹ của Nam Triều Tiên vào Trung Quốc có thể tăng
LO Tan va thương mại với Trung Quốc có thể lên đến 20 tỉ đô la
Xingapo: Mức sống sẽ bằng mức sống của Hà Lan vào nãm 2010 và sẽ đuổi kịp mức sống của Mỹ vào năm 2030
Malaixia: S& dudi kip cic nudc công nghiệp vào năm 2020
Thái Lan: Sẽ phát triển ít nhất cũng nhanh bằng Malaixia
t® Chúng tôi sẽ không dề cập Việt Nam trong Dé tai nav
Trang 28
-23.-Tnrdônexiz: Có kha nang tir nay dén nam 2000 tang gấp dôi ƠNP mỗi dầu người và một khi dã đứng vững trong hàng ngũ các nước có thu nhập trung bình, nhờ có vừa tài nguyên
thiên nhiên phong phú vừa thị trường lớn, sẽ tiếp tục tiến lên nhanh chóng
Trung Quốc: Triển vọng dài hạn là đầy hứa hẹn Tăng trưởng sẽ diễn ra trong cơ cấu 3
nền kinh tế đan vào nhau hoàn thành cái được gọi là "Đại Trung Hoa”: Trung Quốc, Hồng
Kông, Đài Loan (Riêng về Đài Loan, kế hoạch 1991 - 1996 dự kiến tỉ suất tăng trưởng là
7%)\*>
Theo T Watanabe [6] thì sự đi lên của các nước Đông Á và Đông Nam Á là một xu hướng không gì có thể cản được Sự di lên này diễn ra theo quy luật "vòng phát triển" (cercle
vertueux) mà điểm khởi đầu là Nhạt Bản Do tăng giá trị đồng yên, nền kinh tế Nhật Bản đã
thực hiện được sự tăng trưởng dựa trên sự tăng như cầu trong nước, sự tăng này dẫn đến sự
tang mạnh nhập khẩu từ các nước trong khu vực; ngoài ra, sự tăng giá trị đồng yên còn dẫn
đến việc các xí nghiệp Nhật Bản tăng mạnh đầu tư ở các nước trbng khu vực và như vậy làm
tăng năng lực sản xuất của các nước này Bốn con rồng châu Á là những nước sẽ nhanh chóng
đáp ứng sự tăng trưởng đó của Nhật Bản bằng cách tăng mạnh xuất khẩu sang Nhật (và Mỹ),
sự tăng trưởng này sẽ dẫn đến việc các nước này xem lại giá trị đồng tiền của mình và việc tăng tiền công lao động, kết quả sẽ là sự tăng nhu cầu trong nước và tăng đầu tư ở nước ngoài Các nước trong khu vực, trước hết là các nước ASEAN, đến lượt họ, sẽ đấp ứng sự tăng trưởng của bốn con rồng giống như bốn con rồng này dáp ứng sự tăng trưởng của Nhật Ban, nghĩa là sẽ tăng mạnh xuất khẩu sang bốn con rồng và sẽ được tiếp nhận đầu tư của bốn con rồng một cách mạnh mẽ và thuận lợi Các nước trong khu vực, trong đó có Trung Quốc, có nhiều khả năng cũng sẽ bị cuốn vào cái "vòng phát triển" đáng mong muốn này
Nhiều công trình nghiên cứu khác, trong số đó đáng chú ý là một số tổng quan gần đây trên tạp chí "The Economist”" [19, 20, 21], đã đưa ra một bức tranh rất lạc quan về viễn cảnh của khu vực Đông Á và Đông Nam Á Điều này nói lên rằng nhiều nhân tố tạo thành mô hình Đông Á sẽ còn tiếp tục phát huy tác dụng và đáng được xem xét kỹ lưỡng để lựa chọn đưa vào trong các chiến lược phát triển quốc gia và hình thành một khuôn mẫu phát triển mới thích
hợp cho các nước đang phát triển
II NHỮNG NHÂN TỐ TẠO THÀNH MÔ HÌNH ĐÔNG Á
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về sự thành công phát triển kinh tế của Nhật Bản
và bốn con rồng châu Á Số lượng các công trình nghiên cứu về những con rồng châu Á thế
hệ thứ hai (Malaixia, Thái Lan, Inđônêxia) cũng dang tâng lên Dưới dây, dé cho đơn giản,
chúng tôi sẽ sử dụng chủ yếu là các công trình của Derkins [4|, Cowley [7], Chaponnière
[3.5], Mahon [17] va W.E James, S Naya va G.M Meier [22], qua các công trình này
chúng ta cũng được biết về nhiêu công trình khác trước đó
“Trước hết, theo Perkins, chúng ta hãy xét vai trò của các đầu vào của sản xuất, chủ yếu
là vốn và lao động, đối với tăng trưởng kinh tế Xét các số liệu cụ thể và so sánh với các nước
khác, ta có thể thấy ngay là ở các nước Đông Á, vai trò của các đầu vào này không có gì là
đặc biệt, nguồn của tăng trưởng là ở hiệu suất sử dụng các dầu vào của sản xuất Jong cái gì
°ì vột dự báo khác [18] dã n¿u lên 3 “cái không thể có” trong tương lại của Trung Quốc: không thể là một
nước công nghiệp mới, không thể là mội chế dộ cộng sản, không thể chuyển sang chế dộ dân chủ
Trang 29
-23-_ jan dén higu suất Cao trong sử dụng các diều vào này? Củt dó chink ih von com aguat cat ict
nà các nude Dong ¿\ đã có được nhữ sự cái ng piáo, dục và cúc hình thức khúc vẻ cũng vò ạ¡ nang của người dân nhằm phục vụ phát tí riên kính tế “qua nhiều thế hệ, đặc biệt là sự coi wong giáo dục phổ thông, Ỏ đây tạ có thể nói đến một nguyên nhân vậu xa hơn là vai trò của
dao Khổng vốn coi trọng giáo dục mà di sản của nó vẫn còn tồn tại ở các nước Đông Ava
pong Nam A ngày nay'*
Sự hình thành vốn con người với chất lượng cao của một quốc: gia không thể chỉ phụ thuộc vào giáo dục trong nhà trường, Một phần không nhỏ của giáo dục cần thiết cho phát triển kinh tế ngày nay là học tập thông qua kinh nghiêm thực tế trong quản lý tín dụng và thương mại Khá lâu trước thế kỷ XX, Đông Á đã có những thành phố với dân số hàng triệu người Điều dó có nghĩa là từ lâu Đông Á đã có những con người có những hiểu biết và kinh nghiệm về duy trì một mạng lưới cung ứng hàng hóa phức tạp và rộng lớn
Vấn đề thứ hai được Perkins bàn đến là sự ổn dinh về chính trị Như đã nói, đặc trưng của mô hình Đông A là tăng trưởng nhanh đồng thời kéo dài lõ răng là tăng
Trang 30-24-trưởng kinh tế kéo dài sẽ khó có thể có được nếu như các nhà đầu tư phải hoạt đông trong một môi trường thiếu ổn định và bất định Điểm qua lịch sử khu vực Đông Nam A trong
một thời gian dài, Perkins đã di đến kết luận : Các giat đoạn tảng trưởng kinh tế nhanh
trong khu vực đều trùng hợp với các chính phủ được ổn dinh trong một thời gian dài và biết
dành ưu tiên cao cho việc tạo ra một bầu không khí thuận lợi cho đầu tư vào phát triển Ông cũng nói thêm rằng điều đó không có nghĩa là tất cả những gì mà các nước phảt: làm đề đạt được tăng trưởng kinh tế chỉ là đưa ra các chế độ chính trị ổn định và gắn bó vớt tăng trưởng kinh tế, Và sự ổn định về chính trị với một chính phủ độc lập có chủ quyền là nhân tố trước đó các nước Đông Á chưa có được cho nên khi có được một chính phủ như vậy, nguồn lực con người phong phú của khu vực này đã được phát huy và tăng trưởng đã di liền theo đó
Vấn đề thứ ba là vấn đề hệ thống kinh tế và chính sdch kinh té Nam Triều Tiên là
thí dụ rất rõ rệt về một hệ thống kinh tế trong đố chính phủ có vai trò tích cực không chỉ trong việc cung cấp cơ sở hạ tầng mà còn là đưa ra sự hướng dẫn cho khu vực tư nhận thông qua các biện pháp khuyến khích và trừng phạt cụ thể Các hệ thống kinh tế của Nhật
Bản và Đài Loan cũng có những nét tương tự như vậy Mọi người đều biết vai trò của Bộ
Ngoại thương và Công nghiệp (MITI) của Nhật Bản trong việc hướng dẫn các ngành cong
nghiệp của nước này
Sự hướng dẫn của chính phủ trong các hệ thống kinh tế nói trên không phải bao giờ cũng đúng, thậm chí có khi phạm sai lầm nghiêm trọng, song không hề dẫn tới sự giảm tăng năng suất
Trong chính sách kinh tế của Nhật Bản và bốn con rồng châu Á đều nổi bật lên một điều mà hầu hết các nhà nghiên cứu đều thừa nhận là một nguyên nhân quan trọng dẫn: đến sự thành công kinh tế của họ : Đó là chính sách "mở cửa” mà từ đó đã xuất hiện đời
hỏi phải luôn luôn nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, và như vậy cần
phải thực hiện tăng năng suất, nhập công nghệ tiên tiến và vượt qua những khan hiếm tạm
thời về vật tư cần thiết dựa trên dự trữ ngoại tệ thu được qua xuất khẩu
Một số nhà nghiên cứu đã nói đến vai trò của cải cách lãi suất tiết kiêm ở Nam Triều Tiên trong thành công kinh tế của họ song điều này gần đây đã được chứng tỏ là không quan
trọng như người ta đã nghĩ trước đây
Khá nhiều nhà nghiên cứu đã nói đến vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với
thành công kinh tế của các nước Đông Á Theo Perkins, điều này tuy có thể tìm thấy trong
trường hợp Hồng Kông và Xingapo nhưng khó có thể chứng minh được đối với Nhật Bản,
Nam Triều Tiên và Đài Loan Nhật Bản là nước đặc biệt thù nghịch với mọi hình thức đầu
tư trực tiếp nước ngoài và chỉ gần đây mới chịu mở cửa thị trường vốn của họ để khỏi bị các nước khác trả đũa Còn ở Nam Triều Tiên và Đài Loan thì phần áp đảo trong sở hữu và kiểm soát các xí nghiệp nằm trong tay người bản xứ trong khi luôn luôn khuyến khích các hình thức đầu tư vốn khác của nước ngoài
Riêng đối với Nam Triều Tiên và Đài Loan, ta còn phải nói tới vai trò của viên trợ Mỹ
Đó là một khoản tiên rất lớn, tới trung bình 100 triệu đôla hàng năm đối với Đài Loan vào
(*)Đế tham khảo, chúng tói dựa thêm Phụ lục II giới thiệu khái quát về các chú: sách cóng nghiệp của các nước phương Tay
Trang 31
-258-‘img nam 50, va con tum hon, toi tring Đình 270 triệu dòla hàng năm đối với Nam Triều
:ẻn vào những năm sau Chiến tranh Triệu Tiên cho đến những nắm 60 và còn HIẾP tục -ang thập Kỷ tiếp theo tuy thấp hơn,
Cuối cùng, theo sự phân tích cou Perkins, dor vit ca Nhat Bản cũng như Nam Triệu
“itn và Đài Loạn, một nguồn gốc khác của tầng trưởng nhành là cải cách ruộng đất được
;¿n hành vào cuối những năm 4Ô dầu những năm 5Ô Kết qủa của chính sách này là cả ba ước đó đã bước vào thời kỳ sau Chiến tranh Thế giới II với một sự công bằng chưa từng
„j về thu nhập Nhìn chung, so với các nước dang phát triển khác, các nước Đông Á vàg shimg nam 50 đã tiến gần hơn tơi chỗ tạo cho mọi người dân có cơ hội ngàng nhau trong việc tham dự vào sự thành công của kinh tế Lợi ích của tầng trường ở các nước nay dược phân chia khá đồng đều và điều này trở thành một nhân tố tích cực trong ổn định chính
trị và từ đó làm cho tăng trưởng kinh tế được tiếp tục
Hiện nay, tại Nhật Bản, Nam Triều Tiên và Đài Loạn, 2022 dân số tầng lớp trên chỉ chiếm 40-45% thu nhập quốc gia và về bình quân theo đầu người bằng + lần so với 40 dân số tìng
;ứp dưới; trong khi đó, để so sánh, lấy thí dụ Braxin và Miehicô, 20% dân số tầng lớp trên chiếm tới 60Ø thu nhập quốc gia và về bình quân đầu người bằng L2 Tần 40% dân số tầng lớp dưới Hình 9 giới thiệu thêm một chỉ tiết về vấn đề này lấy từ [7]
Mud a6 balrbink citing ve Lhe hap
Hinh 9 » Mite dé bat binh ddng về thụ nhập trong méi trong quan voi mic tng
GDP môi dầu người ở một số nước trong thời gian 1965-1989, Mite dé hat bình dẳng
duoc dánh giá bảng số lần thụ nhập của 20% số người giàu nhất so với 205 số người nghèo nhất Số lần này thấp có nghĩa bất binh dang it
- 26
Trang 32-Nói tóm lại, theo đúng nguyên ván trong công trình của Í*erkins,
“Mọi lý lẽ cho tới nay dều chỉ ra rằng sự tăng trưởng nhanh của các nước Đông
Á có thể giải thích dược trước hết bằng nguồn lực con người phong phú và những thời kỳ dài có các chính phiến dink va ting hộ tăng trưởng Có rất nhiều hệ thống và chính sách kinh (tế tạo diều kiện cho tăng trưởng với tỈ suất cao,song chỉ có một số ít nhân tố là có tính chất chung cho tất cả hoặc hầu hết
các nước phát triển nhanh nhất Tất cả các nước này dều theo duổi chính sách kinh tế mở của và nhấn mạnh xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp Phần lớn
dâu có một cơ sở xổ hội trong dó sự bất bìmlht dẳng dược giảm mạnh và có rất ít các vấn đề nang tính giai cấp cũng nÌưứ dân tộc cán trở mọi người dân có cơ hội
ngang nhau trong làm ăn kùuh tế Không một nước phát triển nhanh nào thực
hiện chế dộ kế hoạch hóa tập trung XHCN, tuy ba trong số các nước nay cho
phép chính phủ có một vai trò tích cực trong đầu tứ và dinh hướng cho khu vực
trong nước nhỏ bé chỉ có thể tăng trưởng nếu họ bán được sản phẩm ở ngoài nước Các con
rồng châu Á đã rất thành công trong việc thâm nhập các thị trường nước ngoài đến mức
là ngày nay xuất khẩu hàng hóa của họ đã gấp đôi xuất khẩu của tất cả các nước Trung Mỹ
và Mỹ Latinh mặc dầu các nước này có dân số lớn hơn 6 lần và nằm ngay bên cửa một thị
trường lớn nhất thế giới
Thứ hai là sẽ không có tăng trưởng nhanh nếu không có sự cam kết dối với thị trường
và quyền sở hữu tư nhân
Thứ ba là thị trường không phải là hoàn toàn tự do Trừ ở Hồng Kông, thị trường các nước đều chịu sự hướng dẫn của nhà nước qua các công cụ được xây dựng bởi một “bộ tổng tham mưu kinh tế” gồm các quan chức ưu tú Có rất nhiều cơ quan tư vấn nằm giữa giới quan chức và giới kinh doanh để giúp sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai giới này Ở Nam Triều Tiên
có rất nhiều điều luật đến mức không ai biết chắc là bao nhiêu, trong số đó có một số đã
đạt được kết qủa hướng dẫn thị trường, một số khác thì thất bại, nhưng dáng chú ý là chính
phủ Nam Triều Tiên và chính phủ các con rồng khác đã rất thận trọng để định giá cả cho đúng sao cho người sản xuất luôn luôn có thể nói rằng hàng hóa của họ có thể cạnh tranh được trên thế giới
Thứ tư là thu nhập được phân phối tương đối bình đẳng và thuế thì tương dối thấp khiến
người lao động ham muốn làm việc Ở Nam Triều Tiên, thí dụ như tại hãng Samsung, vơng của chủ tịch hãng chỉ lớn hơn lương của công nhân trong dây chuyền sản xuất có 9 + (Ở một hãng tương tự của Mỹ, sự chênh lệch là 100 lần) Cái cảm giác là mọi người cùng
tên một con thuyền là một trong những nhân tố làm cho chính phủ các con rồng vin
Trang 33
oy tục tồn tại mặc đầu họ chuyên chế dã lầu rồi, NÓ da lao ra cho cue cain phú cái quyền
dụng các biện pháp mà người dàn không thích vào những lúc xay ra Khủng hoàng kính tế -¡ xuất tăng trưởng xuống dưới Š% mỗi năm theo tiêu chuẩn của Đông À)
Thứ nấm và có lẽ là bài học quan trọng nhất là việc đâu tư vào piio dục Nguồn ưu thế
ø sánh lớn nhất của các con rông châu A chính là những người lao dộng dược dào tạo tốt
Các tác giả khác như Chaponntère [5] va James e af [22] di dưa ra một số nguyên
thân về sự phát triển của các nước Đông Á và nói chung châu Á giống như trong các công
‘rinh cha Perkins và Cowley nhưng nhấn mạnh vai trò của nông nghiệp trong giai doạn đầu nhát triển kinh tế của các nước này Cải cách ruộng dất đã tạo diều kiện cho nông nghiệp nhát triển nhưng ngoài ra còn phải có những chính sách khác nữa như chính sách gií sản
nhẩm nông nghiệp và việc đầu tư cho phát triển công nghệ và kết cấu hạ tìng nông thôn:
Các số liệu cho thấy các nước Đông Á dạt năng suất ngũ cốc cao hơn nhiều so với các nước
xhác ở châu Á (xem hình 10)
Trang 34
-28-Chaponniére [5] va Domenach [18] con dua ra mot dánh gid đặc biệt về nguyên
,hàn thành công của Nam Triều T¡: và Đài Loạn: Những nước này bị “buộc” phải thành công trước sự de dọa của cộng sẵn! Theo cách nói của Domenach, dó là "những sản phẩm của chiến tranh lạnh" ! Ngoài ra r0g còn nhận xéL rằng Ở cúc con rông châu Á đã hình thành “một thứ ý thức hệ kết hựp chế dộ qu:ên uy với chủ nghĩa tự do trong chính trị và kinh tế”
IV.KẾT LUẬN
Mô hình Đông Á rõ ràng là mô hình hấp dẫn nhất hiện nay về tăng trường nhanh và
kéo dài Nó không chỉ là một mô hình tăng trưởng mà còn là một mô hình phát triển với
các hậu qủa tốt về xã hội
Nhân tố quan trọng nhất trong mô hình Đông Á là vốn con người phong phú Cái vốn
đó là kết qủa của một nền giáo dục được nhà nước quan tâm chăm sóc và trên cơ sở một truyền thống văn hóa lâu đời coi trọng việc "trồng người" Ngoài việc học tập trong nhà trường, việc học hỏi kinh nghiệm trong hoạt động thực tế còn là một nguồn quan trọng khác tạo thành vốn con người có chất lượng cao Sự phát triển của các nước Đông Á từ
trước thế kỷ XX đã tạo ra những điều kiện và từ đó những con người ngày nay rất nhạy
cam với cách làm ăn hiện đại
Một nhân tố quan trọng khác là sự ủng hộ của nhà nước đối với tầng trưởng kinh tế cùng với việc áp dụng những chính sách kinh tế thích hợp Nhà nước cam kết giữ các nguyên tắc của kinh tế thị trường và quyền sở hữu tư nhân đồng thời hu ñ'z dẫn thị trường
bằng các biện pháp thúc đẩy hay hạn chế Chính sách kinh tế có tính chất cơ bản là "mở
cửa" trong đó nhấn mạnh việc xuất khẩu sản phẩm công nghiệp và thu hút vốn và công
nghệ nước ngoài
Một nhân tố cũng quan trcn k 2ng kém là bào đảm sự ổn dịnh về chính trị với nghĩa
sự ổn định này tạo điều kiện + :4 lợi cho các hoạt động đầu tư của nước ngoài cũng như trong nước trong một thời gian dài
Một nhân tố khác là làm cho người dân có cơ hội ngang nhau trong việc tham dự vào các thành công kinh tế và giảm các bất bình đẳng xã hội Điều này góp phần quan trọng
vào tạo ổn định chính trị và duy trì tăng trưởng kinh tế
Cải cách ruộng đất được đánh giá là một biện pháp quan trọng tạo ra nhân tố "giảm bất bình đẳng xã hội" song cũng cần xem nó cùng với các biên pháp khác trong một vấn đề rộng hơn là phát triển nông nghiệp, vấn đề này là đặc biệt quan trong trong giai đầu của phát triển kinh tế
Cuối cùng, cũng cần nói rằng viện trợ của Mỹ đối với Nam Triều Tiên và Đài Loan đã
có vai trò rất quan trọng trong ổn định đời sống và phục hồi kinh tế trong giai đoạn ngay sau khủng hoảng chính trị và chiến tranh và do đó đã góp phần rất dáng kể vào tăng trưởng nhanh của các nước này
Trang 35
-29-B KHUON MAU PHÁT TRIỀN MỚI CỦA NGÂN HÀNG THẾ GIỚI
IL KHUÔN MẪU CŨ
Từ thực tế phát triển kinh tế của Nhật Ban va cic nước ngày nay dược gọi là bốn con
rong chau A, chúng ta đã rút ra những nhân tố dẫn đến sự thành công của các nước này,
từ đó đi đến một mô hình tăng trưởng nhanh và kéo dài - mô hình Đông A Đi xa hơn, bằng
cách khái quát hóa mô hình đó, chúng ta hy vọng sẽ thu được một mô hình cớ tính nhổ biến
cao hơn có thể áp dụng cho nhiều nước dang phát triển hơn Thực tế, trong nhiều năm nay, qua các "Báo cáo phát triển thế giới" hàng năm của Ngân hàng Thế giới, chúng ta có thể
nhận thấy mỗi ngày một rõ nét hơn những yếu tố cơ bản của một mô hình như vậy và, vừa
mới dây, trong "Báo cáo phát triển thế giới 1991 : Sự thích thức của phát triển"[L|, lần đâu tiên mô hình này đã được trình bày một cách đầy dủ với các thành phần cơ ban của nó Trong Phu lục l, chúng tôi đã nói đến những ý đồ tìm kiếm một khuôn mẫu mới của phát triển Khác với những ý đồ đó mà chúng ta có thể thấy là rất "lý tưởng", mô hình của Ngân hàng Thế giới, mà từ nay trở đi sẽ được nói đến như là một "khuôn mẫu phát triển mới”, là rất
"thực tế", và chính đó là ý định của Ngân hàng Thế giới, một cơ quan phát triển rất thực tế
Trước khi tìm hiểu về khuôn mẫu phát triển mới này, chúng ta hãy nhớ lại rằng sau
Chiến tranh Thế giới IÍ, các nhà lãnh đạo của các nước vừa giành được độc lập, trong mối
bận tâm về phát triển kinh tế, đã tập trung vào mục tiêu hàng đâu là làm thế nào thật nhanh
chóng biến đổi nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu của đất nước thành một nền công nghiệp hiện đại Họ đã đi theo một con đường phát triển - một khuôn mẫu - bao gồm 4 vấn đề chủ yếu sau đây:
- Tăng nhanh vốn vật chất bằng cách tăng tiết kiệm và đầu tư
- Thay thế nhập khẩu để thực hiện phát triển (Liên kết toàn cầu có thể làm phát triển- mất ổn định)
- Nhà nước phải chỉ đạo qúa trình phát triển (Thị trường không phải là chỗ dựa của phát triển trong các giai đoạn đầu)
- Nông nghiệp được coi là nguồn cung cấp đầu vào cho công nghiệp (Do đó phải chịu thua thiệt do những điều kiện dễ dãi về giá cả dành cho công rrghiệp)
Việc áp dụng khuôn mẫu trên đã không mang lại kết qủa như chờ đợi trong khi một số
nước Đông Á đi theo con đường khác đã thu được những thành tựu to lớn, và bất đầu từ
những năm 80, người ta đã phải có những thay đổi như sau:
- Từ chỗ cho rằng thiếu vốn vật chất, nhất là kết cấu hạ tầng, là một cản trở cơ bản đối
với phát triển, đã chuyển sang nhấn mạnh vào vai trò của vốn con người
- Từ chỗ coi trọng thay thế.nhập khẩu, có khi đến mức thành kiến với nhập khẩu (do muốn tự túc về lương thực), đã chuyển sang khẳng định tầm quan trọng to lớn của ngoại
thương và việc tự do hóa thương mại
- Đã thấy rõ thị trường là cách thức hay nhất mà loài người đã biết được để tổ chức
việc sản xuất và phân phối sản phẩm và dịch vụ
- Đã thấy được những hậu qủa tai hại của chính sách coi nhẹ nông nghiệp
30
Trang 36-WLXHUON MAU MOL CUA NGAN HANG THE GIOI
Sự phân tích vừa trình bày ở mục tước da dựa các nhà nghiên cứu di dến xảy dựng
¬hững khuôn mẫu mới về phát triển, trong số đó có ghuòn máu do Ngân hàng Thể giớt dưa
ra mà về thực chất chính là một sự khái quát hóa mô hình Đông A Khudn mắu mới này
ao gồm 4 thành phần sau dây: /
- Diu tu vao con người (tăng cường giáo dục, sức khóc và diều khiển dân số)
- Thúc dầy canh tranh và đầu tư vào kết cấu hạ tầng để làm cho thị trường trong nước
hoạt động tốt
- Dam bao kinh tế vĩ mô ổn định (tránh thiếu hụt ngân sách qúa lớn và lạm phát cao)
- Äfđ cửa với nội dung chính là tự do hóa thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài
liên kết toàn cầu)
Các thành phần trên lại từng dôi một có quan hệ qua lại với nhau, thí dụ như kinh tế Vĩ
mỏ nếu ổn định sẽ chống được những sốc bên ngoài thỉnh thoảng có thể xuất hiện do thực
hiện liên kết toàn câu; hoặc, ngược lại, liên kết toàn cầu tạo điều kiện để với tới vốn bên
ngoài, có vốn này sẽ dễ duy trì ổn định kinh tế vĩ mô hơn trước những sốc trong nước; v.V Hình II giới thiệu tóm tắt khuôn mẫu phát triển mới của Ngân hàng Thế giới cùng với các quan hệ qua lại chủ yếu giữa các thành phần dó ,
Trang 37-31-L Dau tr vio con người
Những thu hồi về kinh tế từ đầu tư nhà nước cũng như tư nhân vào con người thường rất cao Song thị trường ở các nước đang phát triển nói chung không có được những con
người được bảo đảm một cách thích hợp về giáo dục, sức khỏe, dinh dưỡng và kế hoạch:hóa
gia đình
Dân số tăng nhanh là một vấn đề lớn ở các nước đang phát triến, song tỉ suất tăng dân
số có thể chậm lại nếu trình độ giáo dục và thu nhập của người dân tăng lên và họ dĩ chuyển về thành phố Ở nhiều nước đang phát triển cần phải tăng hơn nữa đâu tư cho-giáo
dục, y tế và kế hoạch hóa gia đình cùng với việc làm tăng thu nhập để giảm bớt tỉ suất đẻ
và làm chậm nhịp độ tăng dân số Các chương trình kế hoạch hóa gia đình có hiệu qủa
dã làm cho người dân thấy được cái giá mà các cá nhân cũng như xã hội phải trả cho tỉ suất
đẻ cao, khuyến khích các cặp cợ chồng giảm bớt số con cái trong gia đình, và giúp đỡ họ
có được các phương tiện ngừa thai Những chương trình như vậy đã tác động tốt nhất ở những nước có các chính sách về nâng cao trình độ giáo dục cho phụ nữ và giúp họ có nhiều
cơ hội hơn được làm việc trong các ngành hiện đại
Ngoài việc tăng đầu tư cho con người về lượng, các chính phủ còn cần phải nâng cao
chất lượng của đầu tư Đã rất hay xảy ra tình trạng là có đầu tư vốn nhưng lại thiếu bảo đảm chi tiêu thường kỳ nên kết qủa là đầu tư chỉ được sử dụng rất kém và lãng phí Các khoản chỉ tiêu lại thường không dược nhằm vào dúng dối tượng và bị rò ri nhiều Cần giản những khoản trợ cấp lớn chơ giáo dục cấp cao và chi nhiều hơn cho giáo dục cấp một là chỗ mà từ
đó thu hồi tương đối cao hơn Tương tự như vậy, cần chuyển mạnh đầu tự từ những hệ thống y tế đất tiền sang những hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu
Cần phải thận trọng hơn để bảo đảm rằng các chỉ tiêu của nhà nước đúng là dến những
đối tượng được đặt ra Khu vực tư nhân có thể tham gia một cách có hiệu qủa hơn vào việc đầu tư vào con người (thí dụ như về giáo dục ở Kênya, Philippin và Dimbaué; về y
tế ở BRuanda và Dambia)
2 Thúc đẩy cụnh tranh kinh tế
Canh tranh trong nước và với nước ngoài sẽ thúc đẩy mạnh mẽ việc đổi mới, áp dụng
công nghệ và sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu qủa Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Xingapo, Mỹ và những nền kinh tế thành công nhất ở châu Âu đã đạt được ưu thế cạnh tranh
toàn cầu là bởi vì họ đã rất nghiêm ngặt trong việc coi trọng cạnh tranh Trái lại, những hệ
thống cấp giấy phép hoạt.động công nghiệp, những hạn chế về gia nhập và xin thôi, những
đạo luật không thích hợp về phá sản và việc làm, những quyền tư hữu không thích hợp và sự kiểm soát giá cả - tất cả những cái này làm yếu di các lực cạnh tranh - đã hạn chế rất nhiều việc thay đổi công nghệ và tăng nắng suất
Muốn cho kinh tế trong nước phút triển có hiệu qủa thì nhà nước cân phải bào đầm được các yêu cầu sau đây với chất lượng cao: khung quy chế cho cạnh tranh, các quyền
sở hữu và pháp lý được xác định một cách rõ ràng và được bảo vệ một cách có ý thức Nhà nước cũng cần phải có những đầu tư cho kết cấu hạ tầng như tưới Liêu, dường nhánh là những
Trang 38
-32-việc mang lai thu hồi đáng kể Ðâù tư cho nghiên cứu và triển khai trong nông nghiệp +
phải được chú trọng, loại đầu tư này có thẻ có thụ hồi rất cao
Chính sách trong nước cần phải thế nào dể dat cde nhà doanh nghiệp trước những
thông tin hàm chứa trong giá cả và sau đó trang bị cho họ (bằng cách dâu tư vào kết cầu hạ
tầng và thể chế) để họ đáp ứng thông tin đó Mà công trình nghiên cứu chỉ tiết của Ngân hàng Thế giới về các dự án đầu tư ở các nước dang phát triển dã kháng dịnh rầng các dồn
bẩy của thị trường thực tế là hoạt động Tï suất thu hồi từ các dự án trong khu vực nhà nước và tư nhân được thực hiện trong điều kiện các chính sách ít làm biến dạng, giá cả là cao - hơn so với trong điều kiện các chính sách dẫn đến biến dạng giá cả nhiều hơn Người ta cũng thấy rõ các hệ qủa tích cực của việc xây dựng thể chế và đầu tư vào kết cấu hạ tầng đối với
thu hồi từ các dự án Điều này một Tần nữa kháng định rằng các chính sách thích hợp và đầu
tư (kể cả tài trợ từ bên ngoài) là bố sung cho nhau
3 Liên kết toàn cầu
Khi các luồng quốc tế về hàng hóa, dịch vụ, vốn, lao động và công nghệ phát triển
nhanh thì nhịp độ phát triển kinh tế cũng sẽ nhanh Mở cửa cho thương mại, đầu tư và ý
tưởng có vai trò quyết định trong công việc khuyến khích các nhà sản xuất trong nước cất giảm chỉ phí nhờ sử dụng công nghệ mới để triển khai những sản phẩm mới và tốt hơn Một
mức độ bảo hộ cao cho công nghiệp trong nước, trái lại, đã làm cho nhiều nước bị chậm
trễ trong phát triển kinh tế trong một số thập kỷ
[uồng công nghệ quốc tế có nhiều dạng khác nhau: đầu tư của nước ngoài, giáo dục ở nước ngoài, trợ giúp kỹ thuật, cấp giấy phép về các qúa trình đã đăng ký bằng sáng chế, chuyển giao kiến thức qua các luồng lao động và việc tiếp xúc với thị trường hàng hóa nước ngoài Ngoài ra, công nghệ còn hàm chứa trong vốn, thiết bị và các sản phẩm trung
gian được nhập khẩu Các chính sách khuyến khích phát triển các luồng đó bao: gồm việc -
mở cửa rộng rãi hơn cho đầu tư và buôn bán hàng hóa và dịch vụ Những hàng rào phi thuế quan cần được bãi bỏ đần dần và thuế quan cần được giảm mạnh
Các chính phủ cũng cần giữ một vai trò tích cực hơn, Để thu được nhiều kết qủa nhất trong chuyển giao công nghệ thì cần phải có giáo dục và đào tạo tại chỗ một cách thích hợp Ở Nhật Bản và Nam Triêu Tiên, các cơ quan chính phủ và các hiệp hội công nghiệp
đã có thể hợp tác với nhau để thu thập và phổ biến thông tin vẻ công nghệ và giúp đỡ phát triển công tác kiểm tra chất lượng phục vụ xuất khâu
Các chính phủ ở các nước phát triển phải có trách nhiệm - nếu không phải là đối với các nước đang phát triển thì cũng là đối với dân của họ - bảo đảm cho các nhà xuất khẩu ở các nước đang phát triển tiếp cận các thị trường của họ Nếu không có được sự tiếp cận đó thì
cải cách ở các nước đang phát triển có thể là vô ích Trong một số thập kỷ, các nước phát
triển đã giảm thuế quan của họ; nhưng đến những năm 8Ó, họ lại liên tục tăng các hàng rào phi thuế quan Trong thời gian tử 1966 đến 1986, phần nhập khẩu của các nước OECD bị ảnh hưởng bởi các biện pháp phí thuế quan đã tăng hai lần Năm 1986, hơn 20% nhập
khẩu từ các nước đang phát triển đã phải chịu các biện pháp "cứng rắn " Tự do hóa thương
mại trong nội bộ khu vực (thí dụ như giữa Mỹ và Canada) là có lợi Nhưng ta vẫn chưa
biết là các khối khu vực sẽ ủng hộ hay ngăn cản mục tiêu về một hệ thống thương mai toàn câu mở hơn nữa hay không Dù thế nào di chăng nữa thì một sự cam kết mới về GATT
Trang 39
-33-và một thiện ý cao hơn nữa của tất cả các nước về tiến hành cải cách thương mại don
phương cũng sẽ là một điều rất dược mong muốn
4 Nén ting kính tế vĩ mỏ
Nền tảng kinh tế vĩ mô là một trong những sản phẩm nhà nước quan trọng nhất mà các chính phủ cần phải tạo ra Kinh nghiêm cho thấy rằng khi chỉ tiêu của chính phủ gia tăng
qúa nhiều thì kết qủa thường là thâm hụt lớn, vay mượn qúa mức hay sự nảy sinh các vấn đề
về tài chính mà hệ qủa ngay sau đó là lạm phát, đồng tiền bị mất giá liên miên và khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu bị giảm sút Vay mượn qúa mức cũng có thể dẫn đến các vấn đề về nợ trong nước và nợ nước ngoài và việc rút bỏ đầu tư của tư nhân Lấy lại lòng tin của khu vực tư nhân hiện đang là một mật cơ bản trong nỗ lực tạo ra một sự tăng trưởng mới
và phát triển công ăn việc làm ở nhiều nước đang phát triển đã trải qua một qúa trình mất
ổn định kinh tế vĩ mô
Sự mất ổn định về tiền tệ và tài chính đôi khi một phần là do các biến cố bên ngoài hoặc các sốc trong nước như chiến tranh hay thiên tai Nhưng các chính phủ có thể có các lựa chọn của mình khi ứng phó với những áp lực như vậy
Chính phủ có thể duy trì một chính sách tài chính thân trọng bằng cách bám sát việc phân công các nhiệm vụ kinh tế giữa chính phủ và khu vực tư nhân Bằng cách đánh giá lại các ưu tiên trong chỉ tiêu, thực hiện cải cách thuế, cải cách khu vực tiền tệ, tư nhân hóa các
xí nghiệp nhà nước và thu tiền để bù lại chi phí đối với một số dịch vụ công cộng, các chính phủ sẽ có thể đáp ứng được các mục tiêu về hiệu qủa kinh tế vi mô đồng thời các mục tiêu về ổn định kinh tế vĩ mô
Các nước đang phát triển cũng bị ảnh hưởng bởi các chính sách kinh tế vĩ mô của các nước phát triển, đặc biệt khi các chính sách này nhằm vào việc giảm cung cấp tiết kiệm
toàn cầu và tăng lãi suất thực Cung cấp một cách thích hợp vốn bên ngoài (chuyển
nhượng hay không chuyển nhượng) cũng là một yêu cầu cơ bản và như vậy cần phải có những nỗ lực mạnh mẽ của Ngân hàng Thế giới và các cơ quan đa phương khác cũng như các nguồn song phương Cần phải đảo ngược lại tình trạng các nguồn tư nhân tình nguyện giảm cho các nước đang phát triển vay mượn Khủng hoảng nợ vẫn còn là một trở ngại đối với tăng trưởng Để khắc phục tình trạng này cần phải thực hiện những chương trình điều chỉnh toàn diện và quay trở lại việc bảo đảm đều đặn giá trị của tiền gửi ngân hàng và một
loạt các biện pháp khác :
II KẾT LUẬN
Cách trình bày của chúng tôi từ mô hình Đông Á đến khuôn mẫu phát triển của Ngân
hàng Thế giới đã hàm ý rằng khuôn mẫu này là đáng chú ý nhất đối với các nước đang phát triển Từ khuôn mẫu này chúng ta thấy rõ các ưu tiên trong hành động của các nước
đang phát triển là :
- Đầu tư vào con người Các chính phủ cần phải chí tiêu nhiều hơn và chỉ tiêu mỘt cách có hiệu qủa hơn cho giáo dục cấp một, chăm sóc sức khỏe ban đầu, dinh dưỡng và kế
(*) Trong Phụ lục LIL, chúng tôi giới thiệu chỉ tiết về “Nghệ thuật cải cách ” là một vấn dề căn nghiên cứu
khi bàn dến việc xảy dựng nền tảng kinh tế vĩ mô
Trang 40
-34-hoạch hóa gia đình, Để làm dược việc này thì cần phải có sự chuyển dịch trong các thứ tự
ưu tiên của chỉ tiêu; nâng cao hiệu qủa và dịnh hướng tốt hơn các mục tiêu của chỉ tiêu,
và trong một số trường hợp, huy động nguồn lực nhiều hơn
- Cải tiến bầu không khí của các xí nghiệp Các chính phủ cần tham gia ít hơn trong định giá các sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp, giảm quy chế hóa các hạn chế về gia
nhập và rút lui, và thay vào đó là bảo đảm một kết cấu hạ tầng và những thể chế thích hợp
- Mở cửa các nền kinh tế cho thương mại và đầu tư quốc tế Điều này đặt ra yêu cầu
giảm hơn nữa các hạn chế phi thuế quan dối với thương mại và đầu tư, giảm mạnh thuế quan, và rời bỏ một cách quyết định những hình thức kiểm soát tùy tiện chủ quan
- Có một chính sách kinh tế vĩ mô dúng đắn Chính sách kinh tế vĩ mô cần bảo dam
là các thiếu hụt tài chính được giữ ở mức thấp và km phát được kiềm chế Những dòn bầy thích hợp dựa trên thị trường áp dụng cho tiết kiệm và đầu tư cần phải có một vai trò cơ bản nếu như ta muốn rằng các nguồn lực trong nước cần phải giữ một vai trò cốt tử trong
sự phát trển của khu vực tiền tệ
Đo có ảnh hưởng đến các nước đang phát triển, các nước phát triển cần phải có trách
nhiệm đối với sự phát triển của các nước đó như rút bỏ những hạn chế về thương mại và cải
cách chính sách kinh tế vĩ mô Các cơ quan viên trợ và cho vay nước ngoài cũng cần phải
có những hành động thích hợp đối với các nước đang phát triển như gia tăng hỗ trợ tài chính,
hỗ trợ cải cách chính sách và khuyến khích tăng trưởng bền vững