Theo quan điểm của các chuyên gia quân sự nước ngoài, chất độc quân sự có những đặc điểm chủ yếu là: có độc tính cao, có khả năng xâm nhập vào cơ thể qua nhiều đường hô hấp, da, tiêu hóa
Trang 1Bộ quốc phòng học viện quân y
Báo cáo tổng kết Đề tài nhánh kc.10-13.03
Nghiên cứu xây dựng biện pháp xử lý nhiễm độc hàng loạt do các chất độc
quân sự, khủng bố và sự cố
Chủ nhiệm ĐTN: PGS TS Nguyễn Liễu
thuộc đề tài cấp nhà nước M∙ số kc 10.13
“ xác định nguyên nhân, xây dựng biện pháp dự phòng
Trang 2Đặt vấn đề
Trong đại chiến thế giới lần thứ nhất, lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh, quân Đức đã tập kích hóa học với quy mô lớn vào quân đội Anh- Pháp ở mặt trận phía tây nước Đức bằng 180 tấn Clo, đã làm cho 15.000 người bị nhiễm độc, trong đó 5000 người bị chết tại trận Chỉ tính trong năm 1918 đã có tới 1,3 triệu người bị thương nặng do vũ khi hóa học Trước nguy cơ đó, năm 1925 công ước Quốc tế đã ra đời cấm các nước sản xuất, tàng trữ vũ khí hóa học Tuy nhiên, từ
đó đến nay nhiều loại chất độc hóa học có khả năng hủy diệt lớn hơn được các nước, đặc biệt là Mỹ vẫn nghiên cứu sản xuất Đó thực sự là mối nguy cơ lớn đe dọa nhân loại
Vũ khi hóa học là một trong các loại vũ khí sát thương lớn, có khả năng giết người hàng loạt bằng chất độc, hoặc làm mất sức chiến đấu tạm thời, hoặc gây trở ngại cho hành động tác chiến và phòng thủ của đối phương Vũ khí hóa học có hai thành phần chính: chất độc hóa học và phương tiện sử dụng chất độc hóa học, trong đó chất độc hóa học là yếu tố sát thương chính
Theo quan điểm sử dụng vũ khi hóa học của Mỹ thì:
- Vũ khí hóa học được sử dụng trong chiến tranh thông thường cũng như chiến tranh dưới điều kiện hạt nhân
- Vũ khí hóa học được sử dụng trong chiến tranh lớn cũng như trong chiến tranh cục bộ
- Vũ khí hóa học được sử dụng trong mọi hình thức chiến đấu vào mục
đích chiến thuật, chiến dịch và cả chiến lược như làm tê liệt cơ sở hậu phương, phá hoại kinh tế của đối phương
Những chất được chọn sử dụng vào mục đích quân sự gọi là chất độc quân
sự Như vậy, chất độc quân sự là thành phần cơ bản của vũ khí hóa học dùng trong chiến tranh, ngoài ra cũng có thể sử dụng chúng vào mục đích khác tùy thuộc vào người sử dụng
Theo quan điểm của các chuyên gia quân sự nước ngoài, chất độc quân sự
có những đặc điểm chủ yếu là: có độc tính cao, có khả năng xâm nhập vào cơ thể qua nhiều đường (hô hấp, da, tiêu hóa), có thể gây nhiễm độc hàng loạt, dễ sản xuất, giá thành hạ và có thể sử dụng dưới nhiều hình thức như: nhồi vào bom,
đạn, lựu đạn, hoặc bình phun đồng thời có thể gây ô nhiễm ngoại cảnh trong một thời gian nhất định
Các chất độc quân sự được sử dụng trong chiến tranh do những đặc điểm vượt trội của chúng so với các chất độc thông thường, nên chúng đều có thể được dùng vào mục đích khủng bố hoặc đầu độc
Ví dụ: chất độc Sarin được giáo phái Aum sử dụng tại ga tàu điện ngầm ở Nhật Bản (năm 1995) làm năm ngàn người bị nhiễm độc và mười hai người chết
Trang 3Những chất độc có độc tính cao thường được sử dụng không những vào mục đích quân sự mà còn sử dụng vào mục đích khác gây rối loạn chính trị, xã hội, kinh tế, đầu độc cá nhân hoặc tập thể mang tính chất khủng bố
Hiện nay, những cuộc chiến tranh cục bộ hoặc khu vực vẫn thường xuyên xẩy ra trên thế giới ở nơi này hoặc nơi khác như cuộc chiến tranh ở Nam Tư, Afganistan; Irắc
Nhiều nước, đứng đầu là Mỹ vẫn không ngừng nghiên cứu và sản xuất các loại chất độc quân sự có sức hủy diệt lớn hơn Nhiều loại chất độc được trang bị chính thức hoặc dự bị cho quân đội làm vũ khí hóa học sử dụng trong chiến tranh Bên cạnh đó, chủ nghĩa khủng bố đang ngày càng lan rộng, phạm vi hoạt
động không còn giới hạn ở từng khu vực mà lan rộng khắp thế giới Bởi vậy nguy cơ đe dọa nhân loại bởi các chất độc hóa học là một thực tế hiện hữu mà gần đây nhất là việc sử dụng hơi độc Sarin tại ga tàu điện ngầm ở Tokyo Nhật Bản
Chính vì vậy việc nghiên cứu xây dựng các biện pháp xử trí nhiễm độc hàng loạt do các chất độc quân sự, khủng bố và sự cố là tất yếu, cấp bách và mang tính thời sự nóng hổi
* Than hoạt tính:
Trong y học, than hoạt tính được sử dụng khá phổ biến trong một số bệnh
lý khác nhau: ngộ độc cấp qua đường tiêu hoá, ỉa chảy kéo dài, nhiễm khuẩn nhiễm độc thức ăn Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy rằng: than hoạt tính có khả năng hấp phụ, cố định một số hoá- chất độc và nhiều hoá dược sử dụng trong lâm sàng Trong điều trị ngộ độc cấp qua đường tiêu hoá, thì sử dụng than hoạt tính là một biện pháp can thiệp cần thiết nhằm làm giảm và chậm sự hấp thu chất
độc vào máu Phân viện phòng chống vũ khí NBC đã sản xuất được một loại than hoạt tính (dạng bột và dạng huyền phù) với giá thành hạ và nguyên liệu hoàn toàn ở trong nước Trước lúc có thể đưa loại than hoạt tính này vào ứng dụng trong thực tế, việc đánh giá khả năng hấp phụ và độc tính của sản phẩm này là hết cần thiết có tính nguyên tắc Khi loại sản phẩm này đạt chất lượng, chúng ta
sẽ có thêm một loại thuốc để sử dụng rất có hiệu quả trong cấp cứu nhiễm độc qua đường tiêu hoá
Từ những vấn đề nên trên, đề tài đặt ra 2 mục tiêu sau đây:
- Xây dựng phác đồ xử trí cấp cứu nhiễm độc cấp các chất độc quân sự, khủng bố
- Đánh giá độc tính và khả năng hấp phụ của than hoạt tính do Phân viện phòng chống vũ khí NBC sản xuất
Trang 4Chương một
Tổng quan tài liệu
1.1- Một số khái niệm về vũ khí hóa học và chất độc quân sự
Trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nước Đức được coi là thủ phủ "hóa
học" của Châu âu và thế giới, là nước đã chế tạo và tàng trữ nhiều loại vũ khí hóa
học Ngày 22- 4-1915, tại chiến trường ở triền sông Iprơ quân Đức đã sử dụng vũ khí hóa học (chất độc clo) tập kết vào quân đội Pháp Chỉ trong một ngày đã làm
bị thương 15 ngàn người, trong đó 5 ngàn người tử vong [17],[30] Trong thời gian từ 1914 đến 1918 tổng cộng các nước đã sản xuất được 150 ngàn tấn chất
độc hóa học, trong đó Đức chiếm 45,5%, Pháp 24,6%, Anh 17,2%, các nước khác 12,8% [14] Do khả năng hủy diệt lớn của vũ khí hóa học, nên năm 1925 đã
có công ước Quốc tế cấm các nước sản xuất, tàng trữ và sử dụng loại vũ khí này Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều nước đế quốc và một số nước khác vẫn bí mật nghiên cứu, sản xuất và trang bị vũ khí hóa học cho quân đội để có thể sử dụng trong chiến tranh Hiện nay cùng với sự phát triển của vũ khí hạt nhân, vũ khí hóa học vẫn không ngừng được hoàn thiện và nâng cao Nhiều loại chất độc mới có
độc tính cao, rất cao hoặc những loại có tác dụng đặc biệt được nghiên cứu và sản xuất như: chất độc thần kinh loại V, chất độc tâm thần, chất độc hủy diệt cây cối
và phá hoại mùa màng Năm 1987, Mỹ đã quyết định sản xuất với quy mô lớn
vũ khí hóa học hai thành phần Trong chiến tranh ở Việt Nam (từ 1961-1971) đế quốc Mỹ đã sử dụng vũ khí hóa học với một khối lượng khổng lồ chất độc màu
da cam (2,4.D và 2,4,5.T), chất độc kích thích trên quy mô rộng lớn đã làm hơn 2 triệu người bị nhiễm độc, đến nay đã có nhiều chết vì các loại chất độc này
Theo quan điểm của Mỹ, vũ khí hóa học được sử dụng trong chiến tranh thông thường cũng như trong chiến tranh hạt nhân, chiến tranh có quy mô lớn cũng như quy mô nhỏ, trong các hình thức chiến đấu với mục đích chiến thuật, chiến dịch hoặc chiến lược Chính vì vậy, vũ khí hóa học cho đến nay vẫn còn là mối nguy cơ đe dọa nhân loại, mặc dù năm 1991 đã có công ước mới về cấm sản xuất, tàng trữ vũ khí hóa học và được cả thế giới hoan nghênh
Trang 5tồn tại trong một thời gian nhất định; có thể sử dụng vào các mục đích chiến thuật khác nhau; vào các loại chiến tranh với quy mô khác nhau; có thể sử dụng
để hủy diệt môi trường sống, phá hoại phương tiện của đối phương
* Chất độc quân sự:
- Chất độc quân sự là những chất độc hóa học có những đặc tính nhất định
được chọn để sử dụng vào mục đích quân sự Chất độc quân sự là yếu tố sát thương chính của vũ khí hóa học [17], [18]
- Đặc điểm của chất độc quân sự [7], [12], [14], [16]
+ Có độc tính cao (chỉ với một liều nhỏ cũng gây ra được tình trạng nhiễm độc)
+ Có thể xâm nhập vào cơ thể qua nhiều đường
+ Tồn tại bền vững ở ngoại cảnh trong một thời gian nhất định
+ Chịu đựng được nhiệt độ cao khi vũ khí nổ mà không bị thay đổi đặc tính
+ Có thể sử dụng đầu độc nguồn nước, lương thực, thực phẩm
+ Có thể sản xuất hàng loạt bằng phương pháp công nghiệp, giá thành tương đối rẻ, bảo quản và tàng trữ tương đối thuận lợi
- Phân loại chất độc quân sự [30], [31]
Có những cách phân loại khác nhau tùy thuộc vào mục đích:ví dụ: phân loại theo tác dụng chính, theo thời gian tồn tại ở ngoại cảnh (khu vực sử dụng), theo mục đích chiến thuật, theo tác dụng sinh lý
Phân loại theo y học (theo tác dụng sinh lý) nhằm mục đích phục vụ cho công tác chuẩn đoán, cấp cứu và điều trị được các nhà y học quan tâm Theo phân loại này, chất độc hóa học gồm có mấy nhóm chính sau:
+ Chất độc thần kinh: Tabun, sarin, soman, Vx
+ Chất độc loét nát: yperit, yperit- nitơ, lewisit
+ Chất độc gây ngạt: phosgen, diphosgen
+ Chất độc toàn thân: đại diện là: acid cyanhydric (HCN)
+ Chất độc tâm thần: đại diện: BZ
+ Chất độc kích thích: đại diện: CS
Ngoài ra một số hợp chất như: 2,4.D; 2,4,5.T, chất đầu độc cũng được quan tâm
1.2- Chất độc khủng bố
Hiện nay vấn đề khủng bố không chỉ còn giới hạn ở một quốc gia, một khu vực, mà lan rộng khắp thế giới Các lực lượng khủng bố cũng vì thế không chỉ là một nhóm người, một tôn giáo mà đã trở thành những tổ chức khủng bố ngày càng lan tỏa, ở nhiều nước trên thế giới và có xu thế liên kết với nhau Mục tiêu khủng bố không dừng lại ở việc sát hại những đối tượng cụ thể là con người, đối với các cơ sở kinh tế, đời sống văn hóa đều có thể là đích chọn của lực lượng khủng bố Chủ nghĩa khủng bố đã trở thành một thách thức đối với tất cả các
Trang 6quốc gia trên thế giới Những tổn thất về người và kinh tế do lực lượng khủng bố gây ra ngày càng to lớn Điển hình nhất là vụ 11-9- 2002 tại nước Mỹ đã làm trên
3000 người chết và trở thành nỗi kinh hoàng của nhân loại đầu thế kỷ XXI Với mục tiêu cụ thể khác nhau, lực lượng khủng bố sử dụng những phương tiện khác nhau từ thô sơ đến phức tạp làm vũ khí để thực hiện khủng bố, trong đó chất độc quân sự được bọn khủng bố đặc biệt quan tâm Gần đây nhất là việc sử dụng chất
độc thần kinh (Sarin) tại ga tàu điện ngầm ở Nhật Bản năm 1995 làm năm ngàn người bị nhiễm độc và mười hai người tử vong
Chất độc khủng bố là những hợp chất hóa học có nguồn gốc khác nhau: có thể từ phương pháp tổng hợp hóa học, chiết suất từ thực vật hoặc động vật được
sử dụng vào mục đích khủng bố
Tùy theo mục đích mà bọn khủng bố lựa chọn những chất độc rất khác nhau Tuy nhiên tất các chất độc quân sự ( do có độc tính cao, có khả năng gây sát thương hàng loạt) đều là mục tiêu muốn chiếm giữ của các lực lượng khủng
bố Một số thủ lĩnh của bọn khủng bố nói rằng: "chúng tôi sẽ thực hiện trừng phạt với sự trợ giúp của vũ khí hóa học"
1.4- Than hoạt tính
Than hoạt tính (Activated charcoal), được tạo ra bởi sự nhiệt phân của nhiều hợp chất hữu cơ Sau khi các bon được tạo ra, phải có quá trình làm sạch (loại bỏ các tạp chất) hơi nước Quá trình kích hoạt này sẽ tạo ra nhiều lỗ bên trong các hạt các bon, do đó làm tăng diện tích bề mặt tới 1000-3500m2/gam Như vậy sẽ nhân khả năng bám hút (hấp phụ) lên hệ số 2-3
* Đặc điểm của than hoạt tính
- Than hoạt tính là bột màu đen, không tan trong nước, không mùi, không
vị
- Do có nhiều lỗ nhỏ ở bên trong, nên than hoạt có diện tích bề mặt lớn,
ước tính 1000-3500m2/gam
- Có khả năng hấp phụ không đặc hiệu đối với các loại hóa hoá chất, chất
độc, độc tố vi khuẩn, vi rút và các chất chuyển hóa của cơ thể thải ra trong ống tiêu hóa khi than hoạt được sử dụng bằng đường tiêu hóa Tuy nhiên một số chất như: cyanua, cồn, một số kim loại (sắt, lithi) thì khả năng hấp phụ của than hoạt
bị hạn chế rất nhiều
* Sử dụng than hoạt:
Than hoạt được sử dụng tương đối rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau
- Trong y học, than hoạt thường được sử dụng làm chất hấp phụ đối với các trường hợp nhiễm độc cấp tính các hoá chất, chất độc, thuốc điều trị nhiễm khuẩn- nhiễm độc ăn uống [29], [44], [47], [61]
Trong cấp cứu nhiễm độc đường tiêu hóa, than hoạt cần được sử dụng sớm mới có hiệu quả Tuy nhiên sau khi hấp phụ các độc chất, cần phải loại bỏ than
Trang 7hoạt khỏi ống tiêu hóa, để hạn chế sự xâm nhập trở lại của các chất độc đã uống vào Giải quyết vấn đề này, nhiều tác giả cho rằng:sau khi bơm hoặc uống than hoạt, nên sử dụng thuốc tẩy muối như: natrisulfat hoặc magnesiesulfat với liều 20-30 gam để loại bỏ than hoạt (đã hấp phụ chất độc ) ra khỏi ống tiêu hóa [73], [76]
Cũng có những biện pháp khác để đạt được mục đích này bằng cách uống hoặc bơm hỗn hợp than hoạt với sorbitol (loại thuốc đã được điều chế sẵn dùng
để cấp cứu nhiễm độc) Cách này rất tiện lợi cho công tác cấp cứu trong thực hành lâm sàng [67], [85]
và 0,5g/kg thể trọng đối với trẻ em
- Cách sử dụng:
+ Nên uống từ từ để tránh phản xạ nôn gây nguy hiểm cho đường hô hấp + Những người bị tiêu chảy hoặc táo bón, thì phải theo dõi những rối loạn sau khi dùng than hoạt
- Chống chỉ định dùng than hoạt : không dùng trong các trường hợp sau: + Đối với những chất ăn mòn
Than hoạt tính được sử dụng trong y học, trước khi dùng cho người đều
được kiểm định chặt chẽ, đảm bảo không có độc tính, không hấp phụ vào cơ thể Ngoài quy trình làm sạch như: khử tạp chất, loại bỏ kim loại, còn phải được thực nghiệm trên động vật và người Liều lượng thử nghiệm bắt đầu thường từ 0,5g/kg thể trọng và tăng lên tới 1g/kg, 1,5g/kg và 2g/kg [71], [73] Những thông số theo dõi trên người và động vật là: những biểu hiện về lâm sàng (trên hệ thần kinh, hệ tiêu hóa, hệ tiết niệu, hô hấp ) Vì than hoạt không tồn lưu lâu trong ống tiêu hóa và sử dụng chỉ trong một thời gian ngắn nên thường chỉ đánh giá độc tính cấp là đủ [100], [103] Khi than hoạt không dùng vào mục đích trên, người ta không đánh giá độc tính của nó [100] Con đường đưa than hoạt vào cơ thể để
đánh giá độc tính duy nhất chỉ bằng đường tiêu hóa
- Đánh giá khả năng hấp phụ của than hoạt
Trang 8Có hai cách cơ bản để đánh giá hấp phụ của than hoạt: hấp phụ trên invitro
và invivo
- Trên invitro: bằng cách cho than hoạt tính vào trong dung dịch chứa một loại hoá chất nào đó đã được xác định sẵn Sau khi cho than hoạt tích vào dung dịch trên, khuấy đều, để một thời gian nhất định, sau đó định lượng lại nồng độ hoá chất của dung dịch Hiệu số của nồng độ hoá chất ban đầu và nồng độ hoá chất ấy sau khi cho than hoạt tính vào chính là lượng hoá chất mà than hoạt tính
đã hấp phụ [29], [44]
- Trên động vật và trên người tình nguyện:
Cho động vật hoặc người uống một loại hoá chất nào đó (không độc), sau
đó uống than hoạt, so sánh với nhóm chứng chỉ uống cùng loại hoá chất cùng liều lượng nhưng không uống than hoạt tính Định lượng hoá chất được hấp thu vào máu theo thời gian Sự khác nhau giữa nồng độ hoá chất ở 2 nhóm sẽ cho phép đánh giá khả năng hấp phụ của than hoạt tính Đây là phương pháp rất cơ bản [29]
* Than hoạt tính y học TY- 01
Than hoạt tính y học do Phân viện phòng chống vũ khí NBC sản xuất là loại có chỉ tiêu kỹ thuật sau:
- Dạng bột: bột mịn, màu đen
- Cỡ hạt: ≤ 0,080mm
- Độ ẩm: ≤ 3%
- Độ pH (dung dịch nước 1%): 8,5-9,0
- Độ hấp phụ Benzen trong dòng khí: 700mg/gam than hoạt tính
- Độ hấp phụ metylen xanh trong dung dịch nước 0,15%: 250mg/gam than hoạt
- Thông số cấu trúc xốp:
+ Bề mặt riêng: 850m2/gam
+ Thể tích lỗ nhỏ: 0,48cm3/gam
+ Thể tích lỗ trung: 0,31cm3/gam
Trang 9Chương hai
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1- Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
2.1.1- Nghiên cứu xây dựng phác đồ cấp cứu:
2.1.1.1-Các tài liệu trong nước và thế giới: có nội dung đề cập đến phương
pháp xử trí cấp cứu và điều trị nhiễm độc cấp các nhóm chất độc quân sự, chất
độc khủng bố chủ yếu (chất độc thần kinh, chất độc loét nát, chất độc toàn thân (HCN), chất độc gây ngạt ( Phosgen), chất độc kích thích ( CS), chất độc tâm thần ( BZ), chất độc Asen để viết tổng quan tài liệu về phương pháp cấp cứu và
điều trị các chất độc
2.1.1.2- Động vật thực nghiệm
* Chất độc thần kinh:
- Để xác định độc tính: chuột nhắt trắng 240 con, thỏ 132 con
- Để quan sát triệu chứng nhiễm độc: chột cống trắng 10 con, thỏ 30 con
- Để đánh giá hiệu quả điều trị một số thuốc chống độc: thỏ 60 con
- Để quan sát triệu chứng nhiễm độc: thỏ 24 con
- Để đánh giá hiệu quả điều trị của một số thuốc chống độc: thỏ 150 con
* Chất độc kích thích CS
- Để đánh giá độc tính: chuột cống trắng 96 con
- Để quan sát triệu chứng nhiễm độc: thỏ 12 con
- Để đánh giá hiệu quả điều trị thuốc chống khói: thỏ 35 con
Tất cả các động vật trên do ban cung ứng động vật Học viện quân y cấp
2.1.1.3-Các chất độc sử dụng để gây độc và thuốc điều trị
- Các chất độc: Sarin, Yperit, Lewisit, HCN, KCN, NaCN, CS do bộ môn
Độc học và Phóng xạ Học viện Quân y cấp
- Các thuốc: Atropin, 2-PAM, Na2S2O3 (Natrithiosulfat), Xanh methylen, Amylnitrit, Natrinitrit, Diazepam, thuốc chống khói do khoa dược Học viện quân y đảm bảo
Trang 102.1.2-Đánh giá độc tính và khả năng hấp phụ của than hoạt tính
* Để đánh giá độc tính cấp của than hoạt tính:
- Động vật: thỏ 60 con
- Người tình nguyện: 65
* Để đánh giá khả năng hấp phụ của than hoạt
- Động vật: thỏ 60 con
* Hoá chất và thuốc sử dụng
- Than hoạt tính: Dạng bột và dạng huyền phù do phân viện phòng chống
vũ khí ABC cung cấp
- Thuốc: Thyroxin Sodium viên 0,1 mg của hãng Organon Mỹ
2.2.1.2-Thực nghiệm trên động vật: Tiến hành gây nhiễm độc thực nghiệm để xác
định độc tính, triệu chứng nhiễm độc một số chất độc đã lựa chọn và thăm dò hiệu quả chống độc của một số antidot và thuốc khác Phần thực nghiệm được thực hiện tại Labo của bộ môn Độc học và Phóng xạ Học viện Quân y Cụ thể như sau:
* Xác định độc tính một số chất độc (LD50, LC50) Theo phương pháp của Kerber
- Chất độc thần kinh (Sarin): Xác định LD50, LC50 của Sarin đối với chuột cống trắng và thỏ
- Chất độc toàn thân (HCN, KCN, NaCN)
+ Xác định độc tính (LC50) của HCN đối với chuột nhắt, chuột cống và thỏ qua đường hô hấp
+ Xác định độc tính (LD50) của KCN qua đường tiêu hoá đối với chuột nhắt, NaCN đối với chuột cống trắng
- Chất độc kích thích CS: Xác định độc tính (LD50) của CS đối với chuột cống trắng qua đường tiêu hoá
* Gây độc để khảo sát triệu chứng nhiễm độc:
- Chất độc thần kinh (Sarin):
+ Gây độc qua đường hô hấp: Thực hiện trên 10 chuột cống trắng
Trang 11+ Cách tiến hành: đặt 0,25 ml sarin vào bình hút ẩm có thể tích 5 lít, để bay hơi hoàn toàn (trong vòng 30-60 phút), đưa chuột vào bình đã có hơi sarin,
đánh dấu thời gian và quan sát các triệu chứng nhiễm độc
+ Gây nhiễm độc sarin qua đường tiêm bắp thịt đối với 30 thỏ liều 1,2 mg/kg thể trọng
- Chất độc HCN: Gây nhiễm độc cấp HCN qua đường hô hấp đối với thỏ, chuột cống trắng, chuột nhắt với liều ≥ 2LD50 (để gây độc mức độ nặng)
* Đánh giá hiệu quả điều trị của một số thuốc chống độc đặc hiệu
- Chất độc sarin: 90 thỏ gây nhiễm độc với liều 1,2mg/kg thể trọng, số thỏ
được chia thành 3 nhóm, mỗi nhóm 30 con:
+ Nhóm 1: 30 thỏ nhiễm độc không sử dụng thuốc
+ Nhóm 2: 30 thỏ nhiễm độc được điều trị bằng atropin + 2-PAM
+ Nhóm 3: 30 thỏ nhiễm độc được điều trị bằng atropin + 2-PAM + diazepam
So sánh hiệu quả điều trị giữa các phác đồ
- Chất độc Cyanua (NaCN):
+ 150 thỏ được gây nhiễm độc cấp qua đường tiêu hoá với liều từ 1 - 15
LD50 (được trình bày phân nhóm kỹ hơn trong phần kết quả)
+ Phác đồ điều trị: Sử dụng 1 thuốc đặc hiệu và kết hợp 2 thuốc đặc hiệu theo cách sau đây
Phác đồ 1 thuốc: amylnitrit, natrinitrit, xanh methylen
Phác đồ kết hợp 2 thuốc: amylnitrit + Na2S2O3
Na2S2O3 + natrinitrit
So sánh hiệu quả điều trị giữa các phác đồ
2.2.1.3- Viết phác đồ xử trí cấp cứu và điều trị:
Trên cơ sở các tư liệu thu thập được thể hiện qua phần tổng quan về cấp cứu và điều trị nhiễm độc, được minh chứng thêm trên thực nghiệm, từ đó xây dựng các phác đồ xử trí cấp cứu nhiệm độc cấp các chất độc quân sự, khủng bố
đã lựa chọn
2.2.2- Đánh giá độc tính và khả năng hấp phụ của than hoạt tính
2.2.2.1- Trên động vật:
Trang 12* Nghiên cứu khả năng hấp phụ của than hoạt tín h(được thực hiện tại labo Sinh
- Hoá chất nghiên cứu
+ Than hoạt tính dạng bột và dạng huyền phù do Phân viện phòng chống
vũ khí NBC sản xuất Gồm hai loại dạng bột đóng gói 100g và dạng huyền phù
+ Nhóm 2: thỏ sau khi uống thyroxine liều 10mcg/kg cơ thể sau 5 phút, cho uống tiếp than hoạt tính liều 0,6g/kg than hoạt tính dạng bột cho nhóm 2a và dạng huyền phù cho nhóm 2b
+ Nhóm 3: thỏ uống thyroxine liều 10mcg/kg cơ thể sau 5 phút cho uống tiếp than hoạt tính liều 1g/kg than hoạt tính dạng bột cho nhóm 3a và dạng huyền phù cho nhóm 3b
Cả 2 nhóm 2 và định lượng FrT4 ở các thời điểm tương tự như nhóm 1 Phương pháp định lượng FrT4: định lượng bằng kỹ thuật miễn dịch hoá phát quang tự động hoàn toàn theo nguyên lý cạnh tranh trực tiếp Kháng nguyên
là FrT4 trong bệnh phẩm sẽ cạnh tranh với kháng nguyên là thyroxine (T4) có gắn chất đánh dấu AE (acridinium ester) trong dung dịch phản ứng để được gắn với một số lượng hạn chế kháng thể đơn dòng kháng T4 của thỏ có gắn hạt nhiễm
từ dùng cho pha rắn Nếu có nhiều kháng nguyên trong bệnh phẩm sẽ có ít chất
đánh dấu AE gắn với kháng thể có gắn hạt nhiễm từ, và ngược lại Do vậy nồng
Trang 13độ kháng nguyên trong bệnh phẩm tỷ lệ nghịch với lượng ánh sáng phát ra từ chất đánh dấu AE
* Nghiên cứu độc tính cấp của than hoạt tính(thực hiện tại labo Sinh lý bệnh Học
viện Quân y)
- Trên động vật:
Thỏ trưởng thành 60 con, khỏe mạnh, trọng lượng từ 2-2,5kg Thỏ được nuôi ổn định 3 ngày trước thí nghiệm và được chia thành 4 nhóm, mỗi nhóm 15 con:
Nhóm 1: uống than hoạt tính dạng bột liều 0,6g/kg cân nặng cơ thể
Nhóm 2: uống than hoạt tính dạng bột liều 1g/kg cân nặng cơ thể
Nhóm 3: uống than hoạt tính dạng huyền phù liều 1g/kg cân nặng cơ thể Nhóm 4: uống than hoạt tính dạng huyền phù liều 1,2g/kg cân nặng cơ thể Cả bốn nhóm động vật đều được lấy máu xét nghiệm trước khi thí nghiệm, sau uống than hoạt tính 24 giờ, 48 giờ, 96 giờ và sau 7 ngày để đánh giá biến đổi
về chức năng gan thận và máu ngoại vi
- Phương pháp nghiên cứu
+ Theo dõi toàn thân: động vật trước và trong quá trình thí nghiệm được theo dõi tình trạng toàn thân: ăn uống, hoạt động, sống, chết
+ Phương pháp xác định các chỉ số huyết học: các chỉ số về hồng cầu, bạch cầu được xác định dựa trên trở kháng các tế bào máu đi qua ống mao quản
+ Định lượng hoạt độ enzym: SGOT, SGPT huyết thanh đô theo phương pháp động học, bước sóng 340nm, nhiệt độ 370C, đơn vị U/l
+ Đinh lượng ure và creatinin máu theo phương pháp động học
- Xác định các chỉ số tế bào máu ngoại vi, định lượng hoạt độ men SGOT
và SGPT, định lượng ure, creatinin ở các thời điểm trước lúc uống than hoạt, sau uống than hoạt 24 và 48 giờ
2.3- Phương pháp xử lý số liệu:
Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê sử dụng trong y học, thực hiện trên chương trình EPINFO.6.0
Trang 14Chương 3
Kết quả nghiên cứu
3.1- Kết quả nghiên cứu xây dựng phác đồ xử trí cấp cứu và điều trị
3.1.1-Kết quả thu thập tài liệu
* Tổng số tài liệu tham khảo có nội dung về phương pháp xử trí cấp cứu và điều trị nhiễm độc cấp đối với 9 loại chất độc được lựa chọn là 126: Trong đó
-Tài liệu tiếng Việt: 30
-Tài liệu tiếng nước ngoài: 96
Trên cơ sở các tài liệu thu thập được, đã tiến hành viết tổng quan tài liệu về phương pháp xử trí cấp cứu nhiễm độc cấp các chất độc đã lựa chọn Phần tổng
quan dài 91 trang, với tài liệu tham khảo kèm theo (xem bảng 3.1)
Bảng 3.1- Giới thiệu khái quát về phần tổng quan đã viết(gọi là phụ lục 1)
Tên bài viết tổng quan Số trang Số tài liệu tham khảo
Trang 15Bảng 3.2- Bảng tổng kết liều độc LD 50 của sarin
Đ xâm nhập
Động vật
Dưới da mg/kg
Tiêm bắp mg/kg
Tiêm tĩnh mạch mg/kg
Chuột nhắt 0,42 0,476
Chuột cống 0,151 0,164 0,063
Nhận xét: LD50 đối với chuột nhắt trắng tiêm dưới da và bắp thịt tương
đương nhau LD50 đối với chuột cống tiêm dưới da và bắp thịt xấp xĩ , nhưng cao
hơn đường tĩnh mạch LD50 đối với thỏ khác nhau đối với các đường đưa thuốc
vào cơ thể khá rõ
Bảng 3.3- Tần xuất các triệu chứng nhiễm độc sarin liều 1,2 mg/kg thể trọng
qua đường tiêm bắp trên thỏ (n =30)
9 Rung cơ sau khi chết 30/30 100%
Nhận xét: các triệu chứng nhiễm độc xuất hiện ở 100% động vật bị nhiễm độc
với các triệu chứng khá điển hình.(giống ở người)
Bảng 3.4- Thứ tự xuất hiện các triệu chứng nhiễm độc Sarin liều 1,2mg/kg thể
trọng trên thỏ (n=20)
Trang 16Động vật nhiễm độc
Nhóm triệu
chứng nhiễm độc
Thời điểm xuất hiện
Các biểu hiện hành vi trên
động vật
Số l−ợng
%
Rối loạn tâm thần Tới 2-3' Lo lắng, sợ hãi, hung hãn 19/20 95
Rối loạn ngoại
tháp
Tới 2-3' Rung giật, rung cơ, co giật
kiểu giật rung và múa giật
17/20 85
Ngạt Tới 6-9' Tím tái rất rõ, rối loạn hô
hấp thở ngáp cá, đớp không khí
20/20 100
Nhận xét: Triệu chứng rối loạn tâm thần xuất hiện sớm nhất, triệu chứng ngạt
xuất hiện muộn hơn
Bảng 3.5- Hiệu quả điều trị của một số thuốc đối với thỏ nhiễm độc Sarin liều
1,2 mg/kg thể trọng (tiến hành cấp cứu khi thỏ đã bắt đầu co giật)
l−ợng Sống Chết
Tỷ lệ sống So với
lô 1
So giữa các lô
1 Nhiễm độc Sarin 30 0 30 0
2 Sarin + Atropin+ 2PAM 30 6 24 20 <0,01
3 Sarin + Atropin+ 2PAM
Thỏ nghiên cứu ở các lô 3,4,5,6 đ−ợc làm hô hấp nhân tạo và thở oxy
Nhận xét: tất cả các phác đồ điều trị trên đều có tác dụng, trong đó phác
đồ 4, 5, 6 có hiệu quả hơn cả (cứu đ−ợc 80-86,6% thỏ nhiễm độc)
Trang 17*Chất độc loét nát Yperit
Ghi chú: P1- so sánh giữa nhóm NĐ nhẹ với nhóm đối chứng sinh học
P2- so sánh giữa nhóm NĐ nhẹ với nhóm đối chứng nhẹ
P3- so sánh giữa nhóm NĐ nhẹ với nhóm đối chứng vừa
(P1, P2, P3- đ−ợc dùng cho tất cả các bảng ở mục 3.1)
(n= 10) P
2 < 0,001 < 0,001
⎯X±SD 28,84± 1,36 46,17± 1,45 NĐ mức độ nặng
(n= 10) P
3 < 0,001 < 0,001
Nhận xét: Mức độ nhiễm độc càng nặng thì thời gian mọc tổ chức hạt và
liền sẹo càng kéo dài với P<0,001
Bảng 3.8-Tỷ lệ chuột nhắt trắng sống sót ở các nhóm nhiễm độc mức độ nhẹ
đ−ợc điều trị
Trang 18NA +VM1
20
P 6 > 0,05 P 6 > 0,05 P 6 > 0,05
Ghi chú: P4: So sánh giữa nhóm NĐ không điều trị với nhóm ĐCSH
P5:So sánh giữa nhóm điều trị bằng natri thiosunfat đơn thuần với nhóm
không điều trị
P6: So sánh giữa nhóm điều trị bằng natri thiosunfat kết hợp với VM1
với nhóm chỉ điều trị.bằng natri thiosunfat đơn thuần
(P4, P5, P6- đ−ợc dùng cho tất cả các bảng ở mục 3.2)
Nhận xét: Giữa các nhóm đ−ợc điều trị và không đ−ợc điều trị, tỷ lệ động
vật sống sót không khác biệt rõ rệt với P>0,05
Bảng 3.9- Tỷ lệ chuột nhắt trắng sống sót ở các nhóm nhiễm độc mức độ vừa
NA +VM1
20
P 6 > 0,05 P 6 > 0,05 P 6 > 0,05
Nhận xét: Giữa các nhóm đ−ợc điều trị và không điều trị, tỷ lệ sống sót
không có sự khác biệt rõ rệt với P> 0,05
Trang 19So sánh giữa nhóm nhiễm độc có tiêm natri thiosunfat kết hợp với bôi
VM1với nhóm không tiêm natri thiosunfat đơn thuần là không có ý nghĩa thống
động vật
Ghi chú: P1: So sánh giữa nhóm nhiễm độc không điều trị với nhóm đối
chứng sinh học (ghi chú này dùng cho tất cả các bảng trong phần kết quả)
Nhận xét: ở mức độ nhiễm độc nhẹ thì tỷ lệ sống sót giữa nhóm không
điều trị và có điều trị khác nhau không có ý nghã thống kê với P>0,05
Trang 20Bảng 3.12-Tỷ lệ chuột nhắt trắng sống sót ở các nhóm nhiễm độc mức độ vừa 3.1- Kết
quả nghiên cứu xây dựng phác đồ xử trí cấp cứu và điều trị
3.1.1-Kết quả thu thập tài liệu
* Tổng số tài liệu tham khảo có nội dung về phương pháp xử trí cấp cứu và điều trị nhiễm độc cấp đối với 9 loại chất độc được lựa chọn là 126: Trong đó
-Tài liệu tiếng Việt: 30
-Tài liệu tiếng nước ngoài: 96
Trên cơ sở các tài liệu thu thập được, đã tiến hành viết tổng quan tài liệu về phương pháp xử trí cấp cứu nhiễm độc cấp các chất độc đã lựa chọn Phần tổng
quan dài 91 trang, với tài liệu tham khảo kèm theo (xem bảng 3.1)
Bảng 3.1- Giới thiệu khái quát về phần tổng quan đã viết(gọi là phụ lục 1)
Tên bài viết tổng quan Số trang Số tài liệu tham khảo
Trang 21Đ xâm nhập
Động vật
Dưới da mg/kg
Tiêm bắp mg/kg
Tiêm tĩnh mạch mg/kg
Chuột nhắt 0,42 0,476
Chuột cống 0,151 0,164 0,063
Nhận xét: LD50 đối với chuột nhắt trắng tiêm dưới da và bắp thịt tương
đương nhau LD50 đối với chuột cống tiêm dưới da và bắp thịt xấp xĩ , nhưng cao
hơn đường tĩnh mạch LD50 đối với thỏ khác nhau đối với các đường đưa thuốc
vào cơ thể khá rõ
Bảng 3.3- Tần xuất các triệu chứng nhiễm độc sarin liều 1,2 mg/kg thể trọng
qua đường tiêm bắp trên thỏ (n =30)
9 Rung cơ sau khi chết 30/30 100%
Nhận xét: các triệu chứng nhiễm độc xuất hiện ở 100% động vật bị nhiễm độc
với các triệu chứng khá điển hình.(giống ở người)
Bảng 3.4- Thứ tự xuất hiện các triệu chứng nhiễm độc Sarin liều 1,2mg/kg thể
trọng trên thỏ (n=20)
Trang 22Động vật nhiễm độc
Nhóm triệu
chứng nhiễm độc
Thời điểm xuất hiện
Các biểu hiện hành vi trên
động vật
Số l−ợng
%
Rối loạn tâm thần Tới 2-3' Lo lắng, sợ hãi, hung hãn 19/20 95
Rối loạn ngoại
tháp
Tới 2-3' Rung giật, rung cơ, co giật
kiểu giật rung và múa giật
17/20 85
Ngạt Tới 6-9' Tím tái rất rõ, rối loạn hô
hấp thở ngáp cá, đớp không khí
20/20 100
Nhận xét: Triệu chứng rối loạn tâm thần xuất hiện sớm nhất, triệu chứng ngạt
xuất hiện muộn hơn
Bảng 3.5- Hiệu quả điều trị của một số thuốc đối với thỏ nhiễm độc Sarin liều
1,2 mg/kg thể trọng (tiến hành cấp cứu khi thỏ đã bắt đầu co giật)
l−ợng Sống Chết
Tỷ lệ sống So với
lô 1
So giữa các lô
1 Nhiễm độc Sarin 30 0 30 0
2 Sarin + Atropin+ 2PAM 30 6 24 20 <0,01
3 Sarin + Atropin+ 2PAM
Thỏ nghiên cứu ở các lô 3,4,5,6 đ−ợc làm hô hấp nhân tạo và thở oxy
Nhận xét: tất cả các phác đồ điều trị trên đều có tác dụng, trong đó phác
đồ 4, 5, 6 có hiệu quả hơn cả (cứu đ−ợc 80-86,6% thỏ nhiễm độc)
Trang 23*Chất độc loét nát Yperit
Ghi chú: P1- so sánh giữa nhóm NĐ nhẹ với nhóm đối chứng sinh học
P2- so sánh giữa nhóm NĐ nhẹ với nhóm đối chứng nhẹ
P3- so sánh giữa nhóm NĐ nhẹ với nhóm đối chứng vừa
(P1, P2, P3- đ−ợc dùng cho tất cả các bảng ở mục 3.1)
(n= 10) P
2 < 0,001 < 0,001
⎯X±SD 28,84± 1,36 46,17± 1,45 NĐ mức độ nặng
(n= 10) P
3 < 0,001 < 0,001
Nhận xét: Mức độ nhiễm độc càng nặng thì thời gian mọc tổ chức hạt và
liền sẹo càng kéo dài với P<0,001
Bảng 3.8-Tỷ lệ chuột nhắt trắng sống sót ở các nhóm nhiễm độc mức độ nhẹ
đ−ợc điều trị
Trang 24NA +VM1
20
P 6 > 0,05 P 6 > 0,05 P 6 > 0,05
Ghi chú: P4: So sánh giữa nhóm NĐ không điều trị với nhóm ĐCSH
P5:So sánh giữa nhóm điều trị bằng natri thiosunfat đơn thuần với nhóm
không điều trị
P6: So sánh giữa nhóm điều trị bằng natri thiosunfat kết hợp với VM1
với nhóm chỉ điều trị.bằng natri thiosunfat đơn thuần
(P4, P5, P6- đ−ợc dùng cho tất cả các bảng ở mục 3.2)
Nhận xét: Giữa các nhóm đ−ợc điều trị và không đ−ợc điều trị, tỷ lệ động
vật sống sót không khác biệt rõ rệt với P>0,05
Bảng 3.9- Tỷ lệ chuột nhắt trắng sống sót ở các nhóm nhiễm độc mức độ vừa
NA +VM1
20
P 6 > 0,05 P 6 > 0,05 P 6 > 0,05
Nhận xét: Giữa các nhóm đ−ợc điều trị và không điều trị, tỷ lệ sống sót
không có sự khác biệt rõ rệt với P> 0,05
Bảng 3.10- Tỷ lệ chuột nhắt trắng sống sót ở các nhóm nhiễm độc mức độ
nặng đ−ợc điều trị
Trang 25So sánh giữa nhóm nhiễm độc có tiêm natri thiosunfat kết hợp với bôi
VM1với nhóm không tiêm natri thiosunfat đơn thuần là không có ý nghĩa thống
động vật
ĐCSH 10 10 100 10 100 10 100
14 70 12 60 12 60 NĐ không điều trị 20
so sánh nhóm điều trị bằng unithiol với nhóm điều trị bằng unithiol+CLCL
Trang 26Nhận xét: Tỷ lệ sống sót của chuột nhiễm độc mức độ vừa ở nhóm đ−ợc
điều trị và không điều trị khác biệt có ý nghĩa P<0,001 Giữa 2 nhóm điều trị
khác nhau không có ý nghĩa thống kê với P>0,05
động vật
so sánh nhóm điều trị bằng unithiol với nhóm điều trị bằng unithiol+CLCL
Nhận xét: Tỷ lệ sống sót của chuột nhiễm độc mức độ nặng ở nhóm đ−ợc
điều trị và không điều trị khác biệt có ý nghĩa P<0,001 Giữa 2 nhóm điều trị
khác nhau không có ý nghĩa thống kê với P> 0,05
* Chất độc toàn thân (HCN, KCN, NaCN))
Bảng 3.14 - Kết quả thử nghiệm LD 50 , LC 50 của HCN đối với động vật
Đ xâm nhập
Động vật
Hô hấp ppm/l
Tiêu hoá
mg/kg
Qua da lành mg/kg
Trang 27Hình ảnh nhiễm độc có thể chia thành 4 giai đoạn:
1 Xuất hiện các triệu chứng nhiễm độc ban đầu:
Thỏ, chuột có biểu hiện bị kích thích, tăng vận động, ngửi, có vẻ như tìm kiếm, cách mũi phập phồng, cổ dướn cao, vươn người ra phía trước Da và niêm mạc dần đỏ hồng, đồng tử dãn dần
2 Giai đoạn ngạt: hô của động vật bị rối loạn nghiêm trọng
Động vật thở gấp biểu hiện thông qua hiện tượng dướn cao cổ, vươn người, cách mũi phập phồng liên tục, thỏ kêu rít Nhịp thở lúc đó nhanh, không đều có lúc đứt quãng và cuối giai đoạn này nhịp thở thưa dần Da và niêm mạc hồng hào, tĩnh mạch đầy, nổi, căng đỏ Mắt lồi, đồng tử giãn
3 Giai đoạn co giật: Co giật xẩy ra đột ngột và theo từng cơn,
nhịp thở nhanh, nông và bị rối loạn sau đó chậm dần Mạch chậm, loạn nhịp.Da và niêm mạc hồng hào Mắt lồi, đồng tử giãn
4 Giai đoạn liệt: hô hấp chậm, nông, loạn nhịp Thỏ, chuột có
thể bị ngừng thở đột ngột và chết do ngừng thở Tim vẫn có thể còn đạp trong vài phút Trong giai đoạn hấp hối da và niêm mạc
có thể mất màu hồng tươi
Nhận xét: Thể chớp nhoáng động vật chết rất nhanh, thể nhiễm độc nặng
(thể chậm) triệu chứng nhiễm độc diễn biến theo các giai đoạn thương đối rõ rệt: kích thích, khó thở, co giật và liệt
Bảng 3.16-Tác dụng của thuốc chống độc đặc hiệu natri nitrit (NaNO 2 )với chất độc toàn thân NaCN trên thỏ
NaNO 2 với nhiễm độc NaCN qua đường tiêu hoá
Số lượng động vật Lô thí
nghiệm
Số lượng thỏ
NaCN mg/kg
So với liều LD 50
Đ.Chứng 06 11 Không 0 6 2 LD 50
Lô 1 06 16 Có 6 0 3LD 50
Trang 28nghiệm
Số lượng thỏ
NaCN mg/kg
Xanh metylen
So với liều LD 50
Đ.Chứng 06 11 Không 0 6 2 LD50Lô 1 06 5,4 Có 6 0 1 LD50Lô 2 06 8 Có 6 0 1,5LD50Lô 3 06 11 Có 6 0 2 LD50Lô 4 06 16 Có 2 4 3 LD50
Nhận xét: Sử dụng xanh methylen đơn độc có thể cứu sống được thỏ
nhiễm độc với liều từ 2- 4LD50
Bảng 3.18- Tác dụng của thuốc chống đặc hiệu Amyl nitrit với chất độc toàn thân NaCN trên thỏ
Amyl nitrit với nhiễm độc NaCN qua đường tiêu hoá
Số lượng động vật Lô thí
nghiệm
Số lượng thỏ
NaCN mg/kg
Amyl nitrit
So với liều LD 50
Đ.Chứng 06 11 Không 0 6 2 LD50Lô 1 06 16 Có 6 0 3 LD50Lô 2 06 27 Có 6 0 5 LD50Lô 3 06 38 Có 4 2 7 LD50Lô 4 06 43 Có 3 3 8 LD50
Nhận xét: Sử dụng amyl nitrit đơn độc có thể cứu sống được thỏ nhiễm
Trang 29Số lượng động vật Lô thí
nghiệm
Số lượng thỏ
NaCN mg/kg
Amyl nitrit
Sống Chết
So với liều LD 50
Đ.Chứng 06 11 Không 0 6 2 LD50Lô 1 06 22 Có 6 0 4 LD50Lô 2 06 27 Có 6 0 6 LD50Lô 3 06 38 Có 4 2 8 LD50Lô 4 06 43 Có 3 3 10 LD50Lô 5 06 65 Có 1 5 12 LD50
Nhận xét: Phác đồ phối hợp trên có thể cứu được thỏ nhiễm độc với liều từ
nghiệm
Số lượng thỏ
NaCN mg/kg
Amyl nitrit
So với liều LD 50
Đ.Chứng 06 11 Không 0 6 2 LD50Lô 1 06 27 Có 6 0 5 LD50Lô 2 06 38 Có 6 0 7 LD50Lô 3 06 49 Có 6 0 9 LD50Lô 4 06 70 Có 3 4 13 LD50Lô 5 06 81 Có 1 5 15 LD50
Nhận xét: Phác đồ phối hợp trên có thể cứu được thỏ nhiễm độc với liều từ
5-13 LD50
* Chất độc gây kích thích
Bảng 3.21- Triêu chứng nhiễm độc CS của thỏ qua đường hô hấp ở nồng độ 0,15 mg/m 3
Trang 30Thời gian
(phút)
Triệu chứng nhiễm độc
quay phải- trái, cách mũi phập phồng), sợ hãi, vận động tăng
1
Các triệu chứng kích thích tăng lên Thỏ chạy nhảy lung tung trong buồng đánh độc, chẩy nước mắt, bắt đầu tiết nước dãi, chân cào thành buồng tìm lối thoát
5
Các hoạt động kích thích tăng mạnh Nước mắt chảy nhiều, nước dãi chảy thành dòng Thỏ dướn cổ để thở, kêu rít Cào cấu thành buồng tìm lối thoát
10
Thỏ nằm bệt trên sàn buồng đánh độc Mắt nhắm nghiền, nước mắt, nước rãi chảy nhiều Lông bết thành đám Thở dốc
Nhận xét: Các triệu chứng nhiễm độc xuất hiện rất sớm với các triệu
Tăng kích thích (quay đảo đầu phải,
trái, tăng vận động chạy nhảy lung
tung)
6 1
Sợ hãi, chạy nhảy, chân cào thành
buồng tìm lối thoát
Trang 31Nhận xét: Thuốc chống khói làm giảm rõ rệt các triệu chứng kích thích
trên mắt, đường hô hấp và tâm thần kinh
Bảng 3.23- Bảng đánh giá hiệu quả của thuốc điều trị với liều CS 6 mg/m 3
Mất các triệu chứng sau (phút)khi Triệu chứng nhiễm độc
Nhận xét:Thuốc chống khói làm giảm rõ rệt các triệu chứng kích thích
trên mắt, đường hô hấp và tâm thần kinh
3.1.3- Phác đồ xử trí cấp cứu và điều trị nhiễm độc cấp tính các chất độc quân
Ký hiệu: GB Soman: 1.2.2 Trmethylpropylmethylphosphonofluoridat
Ký hiệu: GD VX: Phosphorylthiocholin
Ký hiệu: VX, VS, VM
1- Đặc tính, dạng và phương tiện sử dụng, đường gây nhiễm độc chính
- Đặc tính: là chất lỏng, không màu (tabun, VX), vàng nâu (Sarin), nâu đen
(Soman), mùi hoa quả (tabun), thơm nhẹ (Sarin), không mùi (Soman, VX), có
tính bền vững trong môi trường, độc tính rất cao
Trang 32- Dạng sử dụng: giọt lỏng, aerosol, hơi
- Phương tiện sử dụng: đạn pháo, mìn, bom, tên lửa
- Đường gây nhiễm độc chính: da, hô hấp, tiêu hoá
2- Chẩn đoán: dựa vào
* Xác định chất độc thần kinh:
- Triệu chứng lâm sàng:
+ Đồng tử co và đau nhức hố mắt
+ Tăng tiết: nước bọt mồ hôi, nước mắt
+ Co thắt, tăng tiết phế quản: khó thở kiểu hen
+ Rung máy cơ, co giật cơ cục bộ hoặc toàn thân
Co thắt và tăng tiết phế quản gây khó thở kiểu hen
Đau bụng, đi lỏng ( tăng tiết, tăng nhu động dạ dày, ruột)
Trang 33+ Hôn mê
+ Suy hô hấp, trụy tim mạch
+ Hoạt tính enzym cholinesteraza hồng cầu giảm (còn < 10%)
3- Cấp cứu , điều trị:
* Nguyên tắc:
- Ngăn chặn sự tiếp tục xâm nhập của chất độc và loại bỏ nó ra khỏi cơ thể
- Sử dụng thuốc chống độc đặc hiệu và thuốc dự phòng
- Điều trị triệu chứng, dự phòng biến chứng
* Các biện pháp cụ thể:
- Trong khu vực nhiễm độc (tuyến trước bệnh viện):
+ Tiêu độc da, niêm mạc khi bị chất độc rơi vào bằng dung dịch:
Nabica 2% (đối với da, mắt) hoặc:
Thuốc tím 1-2%, nước xà phòng (đối với da), hoặc bằng nước sạch + Tiêm dưới da ống thuốc có chứa 2mg atropin (ở túi thuốc cá nhân) + Gây nôn bằng cơ học (ngoáy họng) khi chất độc vào đường tiêu hoá + Đeo mặt nạ, mặc quần áo phòng độc, hoặc sử dụng phương tiện ứng dụng thay thế để bảo vệ đường hô hấp, da (như khẩu trang, khăn mặt, tấm nilon )
+ Nếu ngừng hô hấp: hô hấp nhân tạo
+ Nhanh chóng ra khỏi vùng nhiễm độc (tự ra hoặc đưa ra)
- Ngoài khu vực nhiễm độc (tuyến bệnh viện):
+ Cởi bỏ mặt nạ, quần áo phòng độc, trang bị mang trên người
+ Xử lý vệ sinh toàn bộ: cởi bỏ quần áo tắm rửa kỹ bằng xà phòng
+ Súc họng, miệng, rửa mắt bằng dung dịch nabica 2% hoặc nước sạch + Gây nôn, rửa dạ dày, uống 50 gam than hoạt tính khi chất độc vào
đường tiêu hoá
+ Nhanh chóng sử dụng thuốc đặc hiệu: atropin, pralidoxim (2-PAM)
Liều lượng 24 giờ đầu
Chưa có biểu hiện
-24giờ đầu 8-10mg
- 24giờ: 1 gam
- Atropin: 2-4 mg tiêm tĩnh - Giờ đầu: 25-30mg
Trang 34Trung bình
mạch hoặc bắp thịt, cứ 15-30' tiêm nhắc lại liều 2mg (dưới da) Duy trì liều nhiễm độc atropin nhẹ 24- 48 giờ
- 2PAM: 1-2g tiêm tĩnh mạch hoặc bắp thịt, nhắc lại sau 1 giờ và 8 giờ
- 2PAM: 1-2g tiêm tĩnh mạch hoặc bắp thịt, nhắc lại sau 1 giờ và 8 giờ liều 1-2 g
- Giờ đầu: 30-50mg
- 24giờ: 90-150mg
- Giờ đầu: 1-2g
- 24 giờ: 4 -6g (có thể hơn)
+ Chống phù nề não:
Magnesiesulfat 35% ì 10ml tiêm tĩnh mạch
Truyền manitol 20% liều từ 3-5ml/kg thể trọng, glucoza ưu trương 20-30%
Trang 35Thuốc lợi tiểu: lasix 20mg ì 2- 4 ống tiêm tĩnh mạch, có thể tiêm nhắc lại 2-3 lần trong ngày kết hợp với bổ sung kali
+ Chống toan hoá huyết thanh: truyền dung dịch nabica 4,2% ì 150ml có thể nhắc lại
100-+ Cân bằng điện giải: bằng dịch thể và bổ sung đủ kali khi dùng thuốc lợi tiểu
+ Phòng chống bội nhiễm: sử dụng kháng sinh phối hợp và liều cao trong trường hợp nhiễm độc nặng và đặc biệt có đặt nội khí quản (khí dung hàng ngày bằng gentamycin)
+ Chăm sóc hộ lý tốt: chế độ ăn lỏng, nhiều đạm, giàu vitamin B,C
Trang 36chất độc loét nát yperit
Tên khoa học:Diclodiethylsulfua
Ký hiệu:H, HD
1- Đặc tính, dạng và phương tiện sử dụng, đường gây nhiễm độc chính
- Đặc tính: dịch lỏng, màu vàng nâu, mùi tỏi, bền vững ở trong môi trường,
độc tính cao
- Dạng sử dụng: giọt lỏng, aerosol, hơi
- Phương tiện sử dụng: đạn pháo, mìn, bom, tên lửa, bình phun
- Đường gây nhiễm độc chính: da, hô hấp
2- Chẩn đoán: dựa vào:
2.1- Triệu chứng lâm sàng:
- Tại chỗ:
+ Tổn thương da (là căn cứ chính để chẩn đoán)
Chất độc rơi vào da không gây đau rát
Thời kỳ tiềm tàng (không có triệu chứng): 3-24 giờ
Sau đó xuất hiện tổn thương da với tại chỗ điển hình với các giai
đoạn: xung huyết, nốt phỏng nhỏ (như chuỗi hạt cườm viền quanh của vết ban
đỏ) , nốt phỏng lớn, hoại tử và liền sẹo (sẹo lồi lõm với nhiều sắc tố)
+ Các tổn thương tại chỗ khác:
Tổn thương mắt: kích thích đau rát, chói mắt, viêm kết mạc
Tổn thương cơ quan hô hấp: viêm- hoại tử, có thể phù phổi cấp Tổn thương tiêu hoá: kích thích- hoại tử ống tiêu hoá với nhiều triệu chứng đa dạng
- Triệu chứng toàn thân: xuất hiện khi nhiễm độc vừa và nặng
+ Nặng: Nạn nhân ở trạng thái ức chế, sốt cao, huyết áp hạ Trường hợp rất nặng sẽ xuất hiện: co giật với đặc điểm: bắt đầu rung giật cơ nhai, cổ và đầu sau đó xuống ngực, bụng và chi
+ Đặc biệt có rối loạn rõ rệt về máu và cơ quan tạo máu: giảm số lượng bạch cầu trong đó chủ yếu bạch cầu hạt ở máu ngoại vi là dấu hiệu khá đặc trưng của nhiễm độc yperit
2.2- Xét nghiệm máu:
- 1 - 2 ngày đầu: tăng bạch cầu (chủ yếu là bạch cầu hạt)
- Những ngày tiếp theo: bạch cầu giảm nặng, hồng cầu, tiểu cầu đều giảm
2.3- Kết quả phát hiện nhanh chất độc tại hiện trường (bằng hộp trinh độc)
Chẩn đoán phân biệt với chất độc lewisit:
Trang 37- Tại chỗ: khi chất độc lewisit rơi vào sẽ đau rát mạnh, xung huyết đỏ rực, nốt phỏng lớn xuất hiện ngay (giai đoạn tiềm tàng rất ngắn hoặc không có )
- Toàn thân: triệu chứng toàn thân xuất hiện nhanh rầm rộ
- Xét nghiệm máu: không có rối loạn về máu và cơ quan tạo máu
3- Cấp cứu điều trị
3.1- Nguyên tắc:
- Ngăn chặn sự tiếp tục xâm nhập của chất độc và loại bỏ nó ra khỏi cơ thể
- Điều trị toàn diện các tổn thương tại chỗ và toàn thân, dự phòng biến
chứng
3.2- Biện pháp cụ thể:
* Trong khu vực nhiễm độc: (tuyến trước bệnh viện)
- Nhanh chóng tiêu độc da khi chất độc rơi vào (chú ý vùng da hở) bằng các dung dịch: Cloramin 3-5%, hoặc thuốc tím 5%
- Khi chất độc bám trên quần áo:
+ Cắt bỏ chỗ quần áo có dính bám chất độc
+ Tiêu độc phần da dưới chỗ quần áo đã cắt bỏ (lúc đầu lau khô, sau lau
ướt bằng dung dịch tiêu độc) Trường hợp quần áo bị nhiễm quá nhiều chất độc thì cởi bỏ quần áo ngoài và tiêu độc da như trên
- Kịp thời sử dụng các phương tiện bảo vệ da và cơ quan hô hấp: đeo mặt nạ, mặc quần áo phòng độc hoặc phương tiện ứng dụng thay thế (như: khẩu trang, khăn, tấm nilon )
- Ra khỏi vùng nhiễm độc (tự ra hoặc người khác đa ra)
* Ngoài khu vực nhiễm độc: (tuyến bệnh viện)
- Cởi bỏ mặt nạ, quần áo, trang bị đã bị ô nhiễm chất độc
- Rửa mắt, súc miệng, họng bằng nước sạch hoặc dung dịch cloramin 0,25%
- Xử lý vệ sinh toàn bộ: thay quần áo, tắm rửa kỹ bằng xà phòng
- Khi nghi ngờ có chất độc qua đường tiêu hoá: gây nôn, uống than hoạt tính, uống 20-30 gam magnesiesulfat và nhiều nước
- Xử trí các tổn thương tại chỗ:
+ Đối với mắt: rửa mắt nhiều lần bằng nước sạch, nhỏ dung dịch cloramin 0,25% Nếu đau nhiều nhỏ dicain
+ Đối với da:
Đắp gạc có tẩm dung dịch cloramin2% hoặc rivannol hoặc thuốc tím 1% lên vùng da bị tổn thương rồi băng lại (giai đoạn đầu)
Trang 38Giai đoạn sau: cắt lọc hoại tử, rửa sạch vết thương bằng dung dịch becberin hoặc thuốc tím 4‰, sau đó có thể sử dụng kem malusin để phủ vùng tổn thương
Khi tổ chức hạt đã mọc, sạch hoại tử thì vá da (nếu diện tổn thương rộng)
+ Đối với cơ quan hô hấp:
Hút đờm, rãi
.Thuốc dịu ho long đờm: uống terpin-codein, mucomyst, mucosolvan Thuốc giãn phế quản: theophylin hoặc salbutamol
Khí dung bằng gentamycin hàng ngày
Đe dọa phù phổi cấp: tiêm tĩnh mạch solumedron 80-160 mg hoặc depersolon kết hợp với thở oxy và thuốc lợi tiểu
Hô hấp nhân tạo, thở máy (nếu ngừng thở)
+ Đối với cơ quan tiêu hoá:
.Thuốc chống co thắt: uống nospa hoặc tiêm atropin hoặc spasmaverin
Khi buồn nôn, nôn: uống hoặc tiêm primperan Uống thuốc bảo vệ niêm mạc: pepsane, phosphalugen, bismusth
+ Giảm đau: có thể tiêm promedol, dolacgan (khi đau nhiều), uống hoặc tiêm paracetamol kết hợp với an thần (khi đau vừa)
+ Tiêm tĩnh mạch dung dịch natrithiosulfat 30% ì 10-15ml, tiêm nhắc lại sau 1, 3, 5 giờ
+ Truyền đạm, máu tươi, bổ sung nguồn vitamin C, B, E
+ Sử dụng thuốc chống gốc tự do là cần thiết: uống selen hoặc belaf
+ Sử dụng kháng sinh liều cao, phối hợp hoặc loại có phổ kháng khuẩn rộng như cephatosporin
+ Sử dụng một số thuốc có khả năng làm tăng bạch cầu: leuco- 4, các cytokine (khi bạch cầu giảm nhiều)
Trang 39+ Chăm sóc hộ lý: chống loét, chế độ ăn giàu đạm, vitamin, kết hợp với
lý liệu và phục hồi chức năng
chất độc loét nát lewisit
Tên khoa học:Diclodivinylarsinclorua
Ký hiệu: L
1- Đặc tính, dạng và phương tiện sử dụng, đường gây nhiễm độc chính:
- Đặc tính: dịch lỏng, nâu đen, mùi hắc, bền vững ở trong môi trường
- Dạng sử dụng: giọt lỏng, aerosol, hơi
- Phương tiện sử dụng: đạn pháo, mìn, bom, tên lửa, bình phun
- Đường gây nhiễm độc chính: da, hô hấp
2- Chẩn đoán: dựa vào
2.1- Triệu chứng lâm sàng:
Lewisit cũng là chất độc gây loét da và niêm mạc điển hình giống như yperit, nhưng có những đặc điểm khác biệt sau đây giúp người ta định loại được chất độc này:
* Tại chỗ:
- Nơi tiếp với chất độc đau rát mạnh
- Thời kỳ tiềm rất ngắn hoặc không có
- Vùng da tiếp xúc với chất độc: xung huyết, đỏ rực và nhô cao lên, nốt phỏng lớn xuất hiện ngay, không có nốt phỏng nhỏ Nốt phỏng lớn chứa dịch màu hồng và có các đám xuất huyết ở vùng kế cận Tổn thương loét, hoại tử rộng nhưng chóng lành
- Sẹo ít để lại sắc tố
* Toàn thân:
Triệu chứng nhiễm độc toàn thân xuất hiện nhanh, mạnh, rầm rộ (trụy tim mạch, xuất huyết, phù phổi ), không có rối loạn về máu và cơ quan tạo máu
2.2-Kết quả xét nghiệm nhanh chất độc tại hiện trường (bằng hộp trinh độc)
3- Cấp cứu, điều trị:
3.1- Nguyên tắc:
- Ngăn chặn sự tiếp tục xâm nhập của chất độc và loại bỏ nó ra khỏi cơ thể
- Sử dụng thuốc chống độc đặc hiệu
- Điều trị triệu chứng, dự phòng biến chứng
3.2- Biện pháp cụ thể:
* Trong khu vực nhiễm độc: (tuyến trước bệnh viện)
Trang 40- Nhanh chóng tiêu độc da khi chất độc rơi vào (chú ý vùng da hở) bằng dung dịch cloramin 3-5% hoặc thuốc tím 5%
- Khi chất độc bám lên quần áo: cắt bỏ chỗ quần áo có dính bám chất độc , tiêu độc phần da dưới chỗ quần áo đã cắt bỏ (lúc đầu lau khô, sau lau ướt bằng dung dịch tiêu độc).Trường hợp quần áo bị nhiễm quá nhiều chất độc thì cởi bỏ quần áo ngoài và tiêu độc da như trên
- Kịp thời sử dụng các phương tiện bảo vệ da và cơ quan hô hấp:đeo mặt nạ, mặc quần áo phòng độc hoặc phương tiện ứng dụng thay thế (khẩu trang, khăn, tấm nilon)
- Ra khỏi vùng nhiễm độc (tự ra hoặc người khác đa ra)
* Ngoài khu vực nhiễm độc: (tuyến bệnh viện)
- Cởi bỏ mặt nạ, quần áo và trang bị đã ô nhiễm chất độc
- Rửa mặt, súc miệng, họng bằng nước sạch, dung dịch cloramin 0,25%
- Xử lý vệ sinh toàn bộ: cởi bỏ quần áo, tắm kỹ bằng xà phòng
- Nếu nghi ngờ có chất độc qua đường tiêu hoá: gây nôn, uống 50g than
hoạt tính, 20-30 gam magnesiesulfat và nhiều nước
- Nhanh chóng sử dụng thuốc chống đặc hiệu 1 trong 2 thuốc sau đây:
+BAL (Dimercaptopropanol) dung dịch dầu
Liều đầu tiên: 3-5mg/kg thể trọng tiêm bắp thịt sâu, sau đó cứ 4-6giờ tiêm nhắc lại nửa liều ban đầu
Từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 5 : liều thuốc bằng 1/2 ngày đầu
+DMPS ( Dimercaptopropanolsulfonat) còn gọi là urithiol dung dịch 5%
Liều đầu tiên: 5mg/kg thể trọng tiêm dưới da hoặc tĩnh mạch chậm Sau đó cứ 4-6 giờ tiêm nhắc lại liều 3 mg
Từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 5 : liều thuốc bằng 1/2 ngày đầu
Lưu ý: Khi dùng BAL chú ý tổn thương thận Trong trường hợp có tổn thương
thận rõ thì liều thuốc phải giảm đi một nửa
- Xử trí các tổn thương tại chỗ:
+ Đối với mắt: rửa nhiều lần bằng nước sạch, nhỏ dung dịch cloramin 0,25%, nếu đau rát quá nhiều có thể nhỏ dicain 1%, bơm rửa, nhỏ kháng sinh hàng ngày Có thể dùng mỡ BAL để tra mắt
+ Đối với da:
Đắp gạc có tẩm dung dịch cloramin 2% hoặc rivanol, hoặc thuốc
tím 4% lên vùng da tổn thương rồi băng lại (giai đoạn đầu)