1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của người dân Việt Nam trong thời kỳ chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường và xây dựng các giải pháp can thiệp

255 829 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 255
Dung lượng 3,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chỉ có một số công trình nghiên cứu về mức độ căng thẳng nghề nghiệp thông quâ nghiên cứu trạng thái chức năng của các hệ tim mạch, thần kinh, và sức khoẻ tâm thần người lao động ở một v

Trang 1

Bộ y tế bộ khoa học và công nghệ

Báo cáo tổng kết

đề tàI nghiên cứu khoa học cấp nhà nước

Mã số KC 10 - 16

Nghiên cứu sức khoẻ tâm thần

của người việt nam trong thời kỳ chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường và xây dựng

các giảI pháp can thiệp

Trang 2

Cơ quan quản lý đề tàI

bệnh viện bạch mai

Thời gian thực hiện : 10/2001 – 4/2005

Kinh phí đ−ợc phê duyệt : 1.500.000.000 đồng

Kinh phí đ−ợc cấp thực tế : 1.500.000.000 đồng

Trang 3

Ban chủ nhiệm đề tài

ThS Đinh Đăng Hoè Thành viên

ThS Nguyễn Hữu Chiến Thành viên

CN Đặng Viết Lương Thành viên

Trang 4

1 Ban lãnh đạo công ty Gang thép Thái Nguyên Ban lãnh đạo, ban y tế, Nhà máy luyện gang, luyện cốc, luyện cán thép Gia Sàng Thái Nguyên

2 Ban giám đốc Nhà máy thủy điện Hòa Bình

6 Trung tâm y tế dự phòng đường sắt, các xí nghiệp đầu máy xe lửa: Hà Nội Sài Gòn, Vinh, Hà Lào

7 Ban giám đốc Bệnh viện tâm thần TW I , TW II, Hà Nội

8 Ban giám đốc bệnh viện chống lao Phạm Ngọc Thạch Bệnh viện lao và các bệnh phổi(K74), viện chống lao Trung Ương

9 Ban giám đốc công ty xuất nhập khẩu thủy sản II, Quảng Ninh, Ban giám đốc công ty xuất nhập khẩu thuỷ sản Minh Phú Cà Mau

10 Ban giám đốc công ty da giày Hà Nội(Hanshoes), sở y tế Đồng Nai, công ty giày TAEKWANG Biên Hòa Đồng Nai

11 Tổng công ty dệt may Việt Nam Bệnh viện dệt may Việt Nam Công ty dệt may minh khai,công ty may Lê Trực, Việt Tiến

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể cán bộ công nhân viên của các ngành, các cơ sở, nơi chúng tôi đến nghiên cứu đã tạo mọi điều kiện, đã hợp tác cùng chúng tôi hoàn thành tốt quá trình nghiên cứu Đã đưa ra được những đề xuất hợp lý, hoàn chỉnh

để bảo vệ và chăm sóc tốt sức khoẻ người lao động nhằm mục tiêu cuối cùng nâng cao năng suất và chất lượng thúc đẩy sự phát triển đáp ứng được nền công nghiệp hoá, hiện

đại hoá đất nước Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các Giáo Sư, Phó giáo sư ,Tiến sĩ, Bác sĩ, các nhà nghiên cứu, nhân viên y tế, các cơ sở cộng tác, đã không tiếc sức mình làm việc cùng chúng tôi tiến hành nghiên cứu thành công đề tài này

Trang 5

• Bảo vệ tại Đại học Y Hà Nội

2 Một luận án tiến sỹ của Th.s Đặng Huy Hoàng – Chuyên ngành Y

tế công cộng:

• Nghiên cứu nguy cơ căng thẳng nghề nghiệp ảnh hưởng tới một

số biểu hiện SKTT của người lao động trong ngành dệt may

5 Hai tài liệu giáo dục sức khoẻ tâm thần:

• Sức khoẻ tâm thần cho nhân viên y tế phục vụ bệnh nhân tâm thần

• Sức khoẻ tâm thần cho công nhân công ty gang thép Thái Nguyên

Trang 6

1.2 Điều kiện lao động và stress nghề nghiệp 13

1.1.3 Các chỉ số đánh giá Stress nghề nghiệp 17

1.1.4 Stress nghề nghiệp và sức khoẻ tâm thần- gánh nặng không xác

1.4.2 Chiến lược SKTT của khu vực Tây Thái bình Dương 26

Chương 2 Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu 27

2.1.4 Tiêu chuẩn chọn đối tượng 28

2.2.3 Nghiên cứu trạng thái chức năng cơ thể 29

2.2.4 Xác định các rối loạn liên quan sức khoẻ tâm thần 30

38

Trang 7

Chương 3 Kết quả nghiên cứu

3.1 Đặc điểm điều kiện môi trường và quá trình lao động của các

3.2 Trạng thái chức năng của người lao động 44

3.2.11 Đánh giá chung về điều kiện lao động và trạng thái chức

năng của người lao động trong các ngành nghề

Trang 8

3.3.9 Chuyên ngành tâm thần 125

4.1 Những yếu tố không thuận lợi/nguy cơ do điều kiện môi trường và

đặc điểm của quá trình lao động

4.2 Mức độ căng thẳng trạng thái chức năng của người lao động 177

4.3.10 Về tình hình nghiện rượu và hút thuốc lá 192

4.4 Hiệu quả bước đầu của việc áp dụng thử nghiệm giải pháp can

thiệp

192

4.4.1 Cách lựa chọn giải pháp can thiệp 192

Trang 9

4.4.2 C¸c triÖu chøng l©m sµng sau can thiÖp 193

Phô lôc

Trang 10

Bảng chữ viết tắt

CBNV Cán bộ nhân viên NT Nội tiết

CBTS Chế biến thuỷ sản PGC Phó giao cảm

CFF Tần số nhấp nháy tới

hạn

RLĐKNT Rối loạn điều khiển nhịp

tim

CKLK Cơ khí luyện kim RLDT Rối loạn dẫn truyền

CNLP Chuyên ngành Lao &

ĐKLĐ Điều kiện lao động TD Theo dõi

ĐTĐ Điện tâm đồ TGPX Thời gian phản xạ

ĐVĐK Đơn vị điều kiện TH Tiêu hoá

Trang 11

Đặt vấn đề

Ngày nay chúng ta đang sống trong thế giới biến đổi nhanh chóng, ở những nơi yên bình nhất trên hành tinh, con người cũng phải đối mặt với thiên tai, với toàn cầu hoá, với phát triển đô thị nhanh chóng, sự huỷ hoại môi trường Trong đó có nhiều yếu tố liên quan đến lao động mà con người phải

đối mặt như công nghệ mới , những kỹ thuật ứng dụng công nghệ thông tin mới, sự đô thị hoá và phát triển kinh tế nhanh chóng, sự lo lắng về tương lai, stress do nguy cơ thất nghiệp, mất an toàn và sự nghèo nàn

Tình trạng trên đã làm cho khoảng 300 – 400 triệu người trên thế giới

đang bị các rối loạn về thần kinh - tâm lý, kể cả các rối loạn hành vi và thực thể Rối loạn tâm thần chiếm 12% gánh nặng bệnh tật trong năm 1998, trong

đó ở các nước phát triển là 23%, ở các nước thu nhập trung bình là 11% [106]

Viện sức khoẻ và an toàn Nghề nghiệp Quốc gia Hoa kỳ báo cáo những rối loạn tâm thần liên quan đến nghề nghiệp ngày càng tăng và là nguyên nhân chính của hiện tượng giảm khả năng lao động ở công nhân ở Canada, một khảo sát trong vòng 15 năm cho thấy khoảng 1/3 số công nhân

có rối loạn lo âu và hơn 60% người dân Canada cho rằng trong quá khứ ít nhất

có một giai đoạn họ từng có biểu hiện rối loạn lo âu liên quan đến việc làm [83] ở châu á, theo nghiên cứu của Tashaki, tỷ lệ công nhân nhật bản vắng mặt dài ngày do rối loạn tâm thần là 21% so với tổng số ngày nghỉ do tất cả các bệnh lý khác [94]

ở nước ta, việc chuyển đổi từ quản lý kinh tế bao cấp sang hạch toán kinh doanh từ năm 1986 đã là những thay đổi rất lớn trong xã hội Điều này không dễ dàng đặc biệt đối với những đối tượng đã bị ảnh hưởng quá sâu nặng của cơ chế xin cho của thời kỳ bao cấp Bên cạnh những mặt tích cực của nền kinh tế thị trường, đã phát sinh những mặt tiêu cực, đôi khi gây trở ngại tưởng chừng khó vượt qua đối với nhiều đối tượng Những khó khăn chồng chất, sự bươn trải trong nền kinh tế mở thị trường, sự thất bại, sự hẫng hụt… đó là những yếu tố gây sang chấn ảnh hưởng đến sức khoẻ, đặc biệt là sức khoẻ tâm

Trang 12

thần của mọi tầng lớp xã hội Trong bối cảnh trên, ngày càng có nhiều nghiên cứu tỷ lệ những người mắc các chứng bệnh lo âu, trầm cảm, và các rối loạn liên quan đến stress, rối loạn giấc ngủ, các triệu chứng chức năng do stress Mặc dù vậy, những nghiên cứu mối liên quan căng thẳng của stress nghề nghiệp và sức khoẻ tâm thần của người lao đông việt nam hầu như chưa được

đề cập đến Chỉ có một số công trình nghiên cứu về mức độ căng thẳng nghề nghiệp thông quâ nghiên cứu trạng thái chức năng của các hệ tim mạch, thần kinh, và sức khoẻ tâm thần người lao động ở một vài ngành nghề với số lượng

đối tượng nghiên cứu chưa nhiều Khi cuộc sống công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước ít nhiều đã làm thay đổi cơ cấu và tính chất của nhiều ngành nghề, người lao động Việt nam phải làm quen và thích nghi với nhiều điều kiện mới khác nhau về môi trường, phương pháp quản lý lao động, đặc điểm của quá trình công nghệ… Đã xuất hiện nhiều yếu tố stress mới

Để bảo vệ sức khoẻ người lao động nói chung, đặc biệt là sức khoẻ tâm thần, việc nghiên cứu stress nghề nghiệp và các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới sức khoẻ tâm thần của người lao động có ý nghĩa thiết thực trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước, đề tài “ nghiên cứu sức khoẻ tâm thần của người việt nam trong thời kỳ chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường và xây dựng giải pháp can thiệp” được thực hiện nhằm:

Mục đích chung:

nghiên cứu xác định các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm thần và xây dựng các giải pháp can thiệp

mục tiêu cụ thể :

1 Đánh giá thực trạng sức khoẻ tâm thần của những người lao động trong 10 ngành nghề lao động đặc biệt

2 Xác định các yếu tố nguy cơ do điều kiện lao động ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm thần

3 Xây dựng các giải pháp can thiệp (can thiệp thử cho hai ngành nghề)

Trang 13

Chương 1 Tổng quan

1.1 Stress và sức khoẻ tâm thần

1.1.1 Khái niệm về stress

Theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG), sức khoẻ tâm thần là " Một cuộc sống thật sự thoải mái, đạt được niềm tin vào giá trị bản thân, vào phẩm giá và giá trị của người khác; có khả năng ứng xử bằng cảm xúc, hành vi hợp lý trước mọi tình huống, khả năng tạo dựng , duy trì và phát triển thoả đáng các mối quan hệ và khả năng tự hàn gắn để duy trì cân bằng sau các sang chấn tâm lý hoặc stress."[108]

Như vậy, theo định nghĩa này, vấn đề cơ bản của sức khoẻ tâm thần là stress; mọi niềm tin, khả năng ứng xử hợp lý, tạo dựng hay duy trì các mối quan hệ hoặc cân bằng sau stress đều là để thích nghi, để chống đỡ để đối phó với stress, để có

được một cuộc sống thoải mái Vậy Stress là gì?

Thuật ngữ "stress" được Robert Mannyng (Anh) sử dụng vào năm 1303 Ban đầu, thuật ngữ này liên quan nhiều đến kỹ thuật với ý nghĩa là sức ép hoặc sức căng vật lý Đến thế kỷ XVII, thuật ngữ "stress" được các lĩnh vực khác sử dụng với ý nghĩa khái quát hơn "sự căng thẳng hay bất lợi" Từ đầu thế kỷ XX, stress

được sử dụng trong các lĩnh vực khác như sinh lý học, tâm lý học (Tom Cox, 1979)

Trong sinh lý học, stress được Cannon Walter (1914) - nhà sinh lý học nổi tiếng của Đại học Harvard, gọi là stress cảm xúc khi chứng minh được rằng, tiêm Adrenaline cho động vật cũng gây ra phản ứng sinh lý (bài tiết hormon tuỷ thượng thận) và hành vi (tấn công hay bỏ chạy) tương tự phản ứng của cơ thể trước những tình huống "gay cấn" [94]

Vào năm 1936, Selye H đã đề cập đến thuật ngữ "stress" trong các công trình nghiên cứu của mình thông qua mô tả hàng loạt phản ứng không đặc hiệu trước những tác nhân hoá học hay vật lý Những phản ứng này có liên quan đến hiện tượng tăng tiết Glucocorticosteroid của vỏ thượng thận

Trong y học, stress được xem như là những phản ứng tâm lý và sinh lý của cá thể trước những tác nhân có hại và luôn có mối liên quan giữa stress với bệnh tật Theo Selye H., stress là phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thẳng Đó là những phản ứng nhằm khôi phục trạng thái cân bằng nội môi, khắc phục được các tình huống bất lợi để đảm bảo duy trì và thích nghi thoả đáng của cơ thể trước những điều kiện sống luôn luôn biến đổi Khi một người mất khả năng thích nghi thì stress có thể phát huy tác dụng và người đó mắc bệnh Vì vậy, Selye H gọi đó là những phản ứng thích nghi Selye đã xác định

được hậu quả y học của stress lên hệ thống miễn dịch, hệ thống dạ dầy, ruột và các tuyến thượng thận Người ta cũng xác định được các quá trình tâm lý và nhận thức tham gia vào các phản ứng stress [88]

Ferreri M coi stress như là đáp ứng trước một yêu cầu Trong các điều kiện thông thường, Stress là một đáp ứng thích nghi bình thường về mặt tâm lý, sinh học và hành vi, stress đặt cơ thể vào một mô hình hài hoà với môi trường xung quanh Trong stress bình thường, sự đáp ứng là thích hợp và giúp cho cơ thể có

Trang 14

được những đáp ứng đúng nhằm tạo ra một cân bằng mới sau khi chịu tác động từ bên ngoài Trong stress bệnh lý, khả năng đáp ứng của cá thể tỏ ra không đầy đủ hay không thích hợp, không thể tạo ra ngay một thế cân bằng mới Vì vậy, rối loạn chức năng ít nhiều trầm trọng, biểu hiện bằng các triệu chứng tâm thần, cơ thể cũng như hành vi, đưa đến những rối loạn tạm thời hay kéo dài [14].

Trong tâm thần học, có thể coi stress là tất cả những sự việc, hoàn cảnh trong các điều kiện sinh hoạt xã hội, trong mối liên quan phức tạp giữa người và người tác động vào tâm thần gây nên những cảm xúc mạnh, phần lớn là tiêu cực như sợ hãi, lo lắng, buồn rầu, tức giận, ghen tuông, thất vọng

Chủ đề stress đã trở thành đối tượng thường gặp trong các câu chuyện hàng ngày Mọi người thường nghe các bạn bè đồng nghiệp, các thành viên trong gia

đình và ngay cả bản thân của mỗi người, nói về những khó khăn phải xoay sở với stress trong cuộc sống hàng ngày

Stress nói chung và stress nghề nghiệp nói riêng rất phổ biến Theo Lyle H Miller (1997), có 43% số người trưởng thành bị ảnh hưởng sức khỏe do stress, 75 - 90,0% số người đến khám nội khoa là những bệnh nhẹ hoặc những phàn nàn liên quan stress Stress gắn liền với 6 nguyên nhân gây tử vong: bệnh tim, ung thư, các bệnh phổi, tai nạn xơ gan và tự sát [78]

1.1.1.1 Các khía cạnh của Stress

Khái niệm chung về stress bao gồm hai khía cạnh

• Tình huống stress chỉ các tác nhân xâm phạm hay kích thích gây ra (stressor),là những tác nhân vật lý, hoá học, tâm lý xã hội, gia đình, nghề nghiệp

• Đáp ứng stress để chỉ trạng thái phản ứng với stress (reaction) là phản ứng sinh

lý và phản ứng tâm lý không đặc hiệu

1.1.1.2 Các loại stress

Các tác giả Miller L.H và Smith A.D đã đưa ra một cách phân loại stress

mà chúng tôi nhận thấy là hợp lý, các tác giả cho rằng: Việc kiềm chế stress có thể

là phức tạp và lẫn lộn bởi vì có các loại stress khác nhau- stress cấp, stress cấp từng

đợt và stress mãn, mỗi loại có những đặc tính, các triệu chứng, thời gian kéo dài,

và các tiếp cận điều trị riêng của mình [78]

Stress cấp

Stress cấp là dạng phổ biến nhất của stress Nó bắt đầu từ những yêu cầu và áp lực của quá khứ, hiện tại và các yêu cầu, áp lực đã được dự đoán trước của tương lai gần Stress cấp với mức độ nhỏ gây xúc động và kích thích, nhưng nếu quá nhiều sẽ gây kiệt sức Những stress ngắn và quá mức có thể dẫn đến các khó chịu

về tâm lý, căng thẳng đầu óc, đau dạ dầy và các triệu chứng khác

Hầu hết mọi người đều nhận ra các triệu chứng stress cấp Đó là những thất bại đã qua trong cuộc đời họ như: tai nạn ô tô, mất một hợp đồng quan trọng, ranh giới giữa cái sống và cái chết mà họ đã vượt qua, những vấn đề của con cái họ ở trường học v.v

Bởi vì xuất hiện ngắn, stress cấp không đủ thời gian để gây tác hại nặng Các triệu chứng phổ biến nhất là:

Trang 15

• Các khó chịu về cảm xúc- một số kết hợp với giận giữ hoặc kích thích,

lo âu và trầm cảm;

• Các vấn đề cơ bắp gồm căng thẳng đầu óc, đau lưng, đau quai hàm, và căng thẳng các cơ này dẫn đến co giật các cơ, gân và các vấn đề dây chằng;

• Các vấn đề dạ dầy, ruột và đại tràng như ợ nóng, tăng tiết dịch vị, đầy hơi, phân lỏng, táo bón,và hội chứng kích thích đại tràng;

• Tăng huyết áp, tăng nhịp tim, ra mồ hôi gan bàn tay, đánh trống ngực, chóng mặt, đau nửa đầu kiểu Migraine, tay và chân lạnh, thở gấp và đau ngực:

• Stress cấp có thể nổi trội lên trong cuộc đời của bất kỳ ai, và ta có thể kiềm chế được stress cấp

Stress cấp từng đợt

Tuy nhiên, có những người bị stress thường xuyên, cuộc sống của họ rối loạn như là họ sống trong xáo trộn và khủng hoảng Họ luôn luôn vội vã nhưng lại luôn luôn bị muộn Họ đảm nhiệm quá nhiều, có qúa nhiều việc để làm cùng một lúc, và họ không thể quản lý được rất nhiều những yêu cầu và áp lực đòi hỏi sự chú

ý của họ Họ dường như không khi nào thoát khỏi stress cấp

Phổ biến ở nhiều người có các phản ứng stress cấp là kích thích ngắn-tạm thời, lo âu và căng thẳng Công việc trở thành nơi gây stress mạnh cho họ Các thầy thuốc tim mạch Meter Friedman và Ray Rosenman đã mô tả loại nhân cách

"type A" thiên hướng bị bệnh tim, tương tự như một trường hợp đặc biệt của stress cấp từng đợt Type A có một xu hướng cạnh tranh quá mức, tấn công, không bình tĩnh, và một cảm giác vội vã, khẩn cấp, luôn luôn thù địch và cảm giác không an toàn Các đặc điểm nhân cách như thế có thể tạo nên từng đợt stress cấp đối với các thể type A Các tác giả này nhận thấy, ở loại nhân cách type A thường phát triển bệnh mạch vành tim hơn là nhân cách type B- một mẫu đối lập về hành vi đối với type A

Một dạng khác của stress cấp từng đợt xuất phát từ lo âu không dứt "Cái bướu lo âu" này nhìn thấy điều bất hạnh ở mọi góc nhà, dự đoán thảm hoạ kinh hoàng trong mọi tình huống Thế giới là nơi đầy nguy hiểm, ân oán, trừng phạt, nơi

mà có gì đó khủng khiếp luôn luôn xẩy ra Những "điều khủng khiếp" này cũng có khuynh hướng nổi trội và căng thẳng, nhưng lo âu và trầm cảm nhiều hơn là giận giữ và thù địch.Triệu chứng của stress cấp từng đợt là các triệu chứng quá kích thích dai dẳng: căng đầu dai dẳng, migraine, tăng huyết áp, đau ngực và đau tim

Stress mãn tính

Trong khi stress cấp có thể gây xúc động và kích thích, stress mãn tính thì không Nó xẩy ra ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác Stress mãn tính huỷ hoại cơ thể, trí não và cuộc sống Đó là stress của sự nghèo khó, của các gia

đình không hoàn chỉnh, của các cuộc hôn nhân bất hạnh hoặc nghề nghiệp, sự nghiệp thất bại Stress mãn tính xuất hiện khi mà con người không bao giờ tìm thấy con đường ra khỏi sự đau khổ Đó là stress của những yêu cầu và áp lực không bao

Trang 16

giờ giảm đi, dường như không bao giờ kết thúc Với tâm trạng vô vọng, cá nhân đó

từ bỏ việc tìm kiếm các cách giải quyết

Stress mãn tính gây tác hại qua tự sát, bạo lực, cơn đau tim, đột quị và có lẽ thậm chí cả ung thư Cuối cùng, con người kiệt sức dần, suy nhược nặng Bởi vì các nguồn lực về thể chất và tâm thần bị cạn kiệt do suy giảm kéo dài, các triệu chứng của stress mãn tính khó điều trị , có thể đòi hỏi điều trị bằng thuốc cũng như liệu pháp tập tính kéo dài kiềm chế stress [78]

1.1.1.3 Phản ứng của cơ thể trước stress

Phản ứng của cơ thể trước stress là sự tổng hoà hai mặt của phản ứng sinh học và phản ứng tâm lý Phản ứng sinh học thông qua con đường thần kinh-thể dịch, ảnh hưởng đến mọi chức năng của cơ thể và gây ra những biến đổi thể chất nhất định (mạch nhanh, vã mồ hôi, run tay chân ) Còn phản ứng tâm lý cá nhân thông qua đáp ứng cảm xúc, nhận thức và ứng xử, biểu hiện như buồn rầu, lo âu, sợ hãi, bồn chồn, tức giận

Phản ứng sinh học của cơ thể trước stress

Hans Selye (1954) đã mô tả những phản ứng sinh học của cơ thể trong "Hội chứng thích nghi tổng quát"(General Adaptation Syndrome) bao gồm ba giai đoạn sau:

- Giai đoạn phản ứng báo động (stage of Alarm Reaction)

Trước cảm xúc mạnh, đột ngột - stress đặt ra một sự báo động trong não, cơ thể biến đổi sinh lý chuẩn bị đối phó với hoàn cảnh mới, chuẩn bị hoạt động phòng

vệ, hệ thống thần kinh tăng cường và tăng chế tiết các hormon làm cho cơ thể ở vào tình trạng hưng phấn, tăng cảm giác, tăng nhịp tim, tăng nhịp thở, đồng tử giãn, dạ dầy như bị thắt chặt lại, hồi hộp, vã mồ hôi, nổi gai ốc, run chân tay, căng thẳng các cơ Về mặt hoá sinh, giai đoạn này có sự tăng tiết nhóm catecholamine

Đáp ứng này (đôi khi gọi là đáp ứng đương đầu hay đáp ứng trốn tránh) là quan trọng bởi vì nó giúp cho chúng ta bảo vệ cơ thể, chống lại các tình huống đe doạ của stress ở nơi làm việc hay ở nhà Một khi stress được loại bỏ thì cơ thể sẽ trở lại bình thường [95]

Các tác giả Rainer Reinschied, Olivier Civelli và Hans Peter Nothacker còn phát hiện được rằng, não có khả năng sản xuất ra một loại protein có thể điều hoà phản ứng của cơ thể đối với stress gọi là Ophanin FQ hay Nociceptin Đó là một loại protein rất nhỏ của não, được tìm thấy ở vùng hạnh nhân và vùng dưới đồi, protein này có tác dụng giúp cho cơ thể thích nghi được với stress tái diễn Các tác giả cũng cho rằng, Ophanin FQ hay Nociceptin có tác dụng chống lại phản ứng

"đương đầu hay trốn tránh" của cơ thể đối với stress, đó là phản ứng có tác dụng kích thích tuyến yên và tuyến thượng thận sản xuất các hormon và tăng hoạt động của vùng não điều khiển các phản ứng báo động và vận động (Rainer R.)

- Giai đoạn đề kháng (Stage of Resistance)

Giai đoạn này xẩy ra sau giai đoạn báo động Các đợt ngắn hoặc không thường xuyên của stress tạo ra các nguy cơ nhỏ Nhưng khi tình huống stress không thể giải quyết được, hoặc do stress tác động trường diễn Cơ thể cố duy trì trạng thái hoạt hoá, thông qua hệ thần kinh trung ương gây kích thích trục dưới

đồi-tuyến yên-vỏ thượng thận, giải phóng nhiều corticosteroid, tăng nồng độ đường

Trang 17

trong máu để cung cấp năng lượng, tăng huyết áp, từ đó tác động lên toàn bộ cơ thể Các biến đổi này nằm trong rối loạn còn bù trừ và có tính chất lâu dài Giai

đoạn này có sự tham gia của toàn bộ cơ thể, trong đó có hệ thần kinh trung ương Nếu stress còn tiếp tục, cơ thể mất bù sẽ dẫn đến giai đoạn kiệt sức

- Giai đoạn kiệt sức (Stage of Exhaustion)

Do stress quá sức chịu đựng hoặc có nhiều stress tác động trường diễn làm cho những biến đổi của cơ thể mất khả năng bù trừ, cơ thể trở nên suy kiệt và mệt mỏi, khả năng điều chỉnh và tự phòng vệ bị suy yếu nghiêm trọng, khả năng thích nghi bị rối loạn và xuất hiện nhiều trạng thái bệnh lý khác nhau về cơ thể và tâm thần [95]

Phản ứng tâm lý trước stress

Trước tác động của stress, nhân cách không hoàn toàn bị động mà có sự nhận thức, tiếp nhận hay chống lại stress Phản ứng của nhân cách trước tác động của stress là phản ứng mang tính cá thể Mỗi cá thể phản ứng theo một cách riêng, phụ thuộc vào nhận thức, hiểu biết, cá tính, tố bẩm của mỗi người Eysenck H và

cs đưa ra 4 dạng phản ứng của nhân cách trước tác động của stress:

- Type A: Khi gặp stress, cá thể thường bùng nổ một cách giận giữ, tăng tiết ACTH dẫn đến tăng tiết cortisol và adrenaline gây giữ nước, tăng huyết áp, xơ vữa

động mạch và bệnh mạch vành

- Type B: Khi gặp stress, cá thể thường thất vọng, các phản ứng thường lặn vào trong, kìm nén những phản ứng cảm xúc dẫn tới giảm niễn dịch, dễ bị nhiễm trùng, thiên hướng bị ung thư

-Type C: Biểu hiện phản ứng trước stress thường là lặng lẽ, buồn rầu Về sinh hoá có giảm canxi máu, giảm các yếu tố vi lượng, thường lão hoá sớm, dễ bị trầm cảm

-Type D: Trước tác động của stress, cá thể thường bình tĩnh, tự tin, tự khẳng

định mình, không có biến đổi đáng kể, khả năng thích nghi cao

1.1.1.4 Mối liên quan giữa stress và nhân cách

Stress là nguyên nhân gây ra nhiều rối loạn bệnh lý Nhưng stress có gây bệnh hay không, còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố:

• Tính chất của stress: Stress gây bệnh thường là những stress mạnh và cấp diễn hoặc không mạnh nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần

• Thành phần gây bệnh của stress là ý nghĩa thông tin cuả stress đối với mỗi cá thể mà không phải là cường độ của stress

• Đáp ứng thích nghi của cá thể: những stress gây xung đột nội tâm làm cho cá nhân không tìm được lối thoát thường dễ gây bệnh Stress tác động vào một cá nhân gây bệnh nhiều hơn khi tác động vào một tập thể để sẻ chia stress

• Tính ổn định của nhân cách: nhân cách thuộc type D , trước tác động của sang chấn, thường khó gây bệnh hơn ở các loại khác, nhân cách type A dễ

bị các bệnh tim mạch [5]

Trang 18

Để có thể hiểu được stress một cách dễ dàng, và biết hành động để chống lại stress, Miller L.H và Smith A.D (Mỹ) nêu ra 6 điều bí mật xung quanh stress, đó là:

• Stress không giống nhau cho mọi người: Stress khác nhau đối với mỗi chúng ta, có vấn đề có thể là stress đối với người này nhưng lại không là stress đối với người khác; mỗi người đáp ứng với stress theo một kiểu riêng của mình

• Stress không phải luôn luôn là xấu đối với chúng ta Nếu stress luôn luôn là xấu thì không có stress sẽ giúp chúng ta sức khoẻ và hạnh phúc Thật ra không phải như vậy, Stress là một điều kiện đối với con người cũng như sức căng đối với dây

đàn violon Căng quá ít thì bản nhạc trở nên buồn chán và ảm đạm; căng quá nhiều thì bản nhạc inh tai nhức óc, hoặc đứt dây Stress có thể là nụ hôn của thần chết hoặc là gia vị của cuộc sống Giải pháp đúng là kiềm chế stress Stress được kiềm chế sẽ giúp chúng ta hạnh phúc và phát triển; stress không được kiềm chế sẽ làm tổn thương hoặc thậm chí giết chúng ta

• Stress có ở mọi nơi, nhưng chúng ta có thể đối phó được với chúng bằng cách hãy lập kế hoạch cho cuộc sống của ta, để mà stress không lấn át được ta Đặt

kế hoạch có hiệu quả là xếp đặt những vấn đề ưu tiên và những vấn đề công việc

đơn giản trước hết, giải quyết chúng và sau đó đi đến những vấn đề khó khăn, phức tạp hơn Khi stress không được kiềm chế, thì khó mà lựa chọn ưu tiên Tất cả các vấn đề của chúng ta dường như cân bằng và stress dường như ở khắp mọi nơi

• Không tồn tại những kỹ thuật giảm stress có hiệu quả toàn cầu Chúng ta

đều khác nhau, cuộc sống của chúng ta khác nhau, các hoàn cảnh stress của chúng ta khác nhau, và phản ứng của chúng ta cũng khác nhau

• Không có triệu chứng không có nghĩa là không có stress Sự thật là, các triệu chứng bị che lấp do các thuốc có thể làm mất đi các tín hiệu mà chúng cần thiết để làm giảm sự căng thẳng của các hệ thống sinh lý và tâm lý của chúng ta

• Không chỉ chú trọng đến các triệu chứng nặng của stress mà cả triệu chứng

"nhẹ" như đau đầu, ợ chua Các triệu chứng nhẹ của stress là dấu hiệu cảnh báo sớm bởi vì khi đó cuộc sống của chúng ta đã vượt khỏi tầm tay của chính mình mà điều cần làm là kiềm chế stress [78]

1.1.1.5 Các rối loạn liên quan stress

Phản ứng stress trở thành bệnh lý khi tình huống gây stress hoặc bất ngờ, hoặc quá dữ dội, hoặc ngược lạị, quen thuộc nhưng lặp lại, vượt quá khả năng đối phó của đối tượng [14]

Tiếp theo giai đoạn báo động và chống đỡ là giai đoạn kiệt sức với khả năng thích nghi bị thất bại và xuất hiện stress bệnh lý

Trong stress bệnh lý, các rối loạn tâm thần , cơ thể và tập tính xuất hiện hoặc cấp diễn và tạm thời hoặc nhẹ hơn và kéo dài

• Stress bệnh lý cấp tính

Các biểu hiện của loại stress này thường gặp trong các tình huống không lường trước, có tính chất dữ dội, bị tấn công, gặp thảm hoạ, hoặc khi đối tượng biết

Trang 19

mình hoặc người thân bị bệnh nặng Trạng thái cấp tính của stress được đặc trưng

bằng sự hưng phấn quá mức về mặt tâm thần và cơ thể như :

- Tăng trương lực cơ biểu thị rõ trên nét mặt căng thẳng, cử chỉ cứng nhắc , kèm theo cảm giác đau do căng thẳng bên trong

- Rối loạn thần kinh thực vật lúc nào cũng gặp như: nhịp tim nhanh,cơn đau trước tim, cao huyết áp, khó thở, ngất xỉu, chóng mặt, ra mồ hôi, nhức đầu, đau nhiều nơi nhất là các cơ bắp

- Phản ứng giác quan quá mức, nhất là tai có cảm giác khó chịu trước những tiếng động thường ngày

- Khó tập trung suy nghĩ kèm theo tư duy bị rối loạn do nhớ lại các tình huống stress, trong khi trí nhớ về các sự kiện vẫn còn tốt

- Thường xuất hiện tính dễ cáu kỉnh trên cơ sở cảm giác bất an có thể đưa đến những rối loạn trong hành vi nhất là trạng thái kích thích nhẹ kèm theo khó khăn trong quan hệ với xung quanh

- Một trạng thái lo âu lan toả kèm theo sợ hãi mơ hồ đôi khi nổi lên hàng đầu trong bệnh cảnh lâm sàng

- Phản ứng stress cấp này kéo dài trong vòng từ vài phút đến vài giờ rồi mờ nhạt

đi

- Một số rối loạn xuất hiện chậm Đối tượng có vẻ như chịu đựng và chống đỡ

được với tình huống sang chấn Giai đoạn chống đỡ tiếp diễn nhưng chỉ tạo ra một cân bằng không bền vững, kéo dài trong vài giờ hay vài ngày Sau đó đột nhiên xuất hiện một phản ứng stress cấp xẩy ra chậm, biểu hiện và tiến triển giống như phản ứng cấp chứng tỏ đối tượng mất khả năng chống đỡ với tình huống stress, đối tượng bị suy sụp và mất bù một cách chậm chạp [14]

• Stress bệnh lý kéo dài

Thường gặp nhất trong các tình huống stress quen thuộc, lặp đi lặp lại, như xung đột , bất toại, phiền nhiễu trong công việc, trong đời sống hàng ngày

Dù cho có nguồn gốc nào, những biểu hiện của stress kéo dài rất đa dạng, thay đổi tuỳ theo nhân cách, cơ thể hay tập tính

Các biểu hiện tâm thần

- Phản ứng quá mức với hoàn cảnh xung quanh là triệu chứng trội nhất, kèm theo tính dễ cáu, cảm giác khó chịu, căng thẳng tâm lý, mệt mỏi trí tuệ, không thể thư giãn

- Rối loạn giấc ngủ thường đi đôi với chứng khó ngủ, hay thức giấc và có cảm giác không thấy hồi phục sức khoẻ sau khi ngủ

Những rối loạn này, tuỳ theo hoàn cảnh, tính chất cũng như mức độ lặp lại của tình huống stress, có thể tiến triển thành :

- Thường xuyên dễ cáu, căng thẳng, bi quan, tập trung vào tình huống stress

- Những biểu hiện lo âu-ám ảnh sợ, lo âu dai dẳng, cơn lo âu ở những nơi có tình huống stress (nơi làm việc hay gia đình)

Trang 20

- Các trạng thái trầm cảm: thường liên quan đến các tình huống stress dai dẳng, hoàn cảnh xung đột hay bất toại dẫn đến cảm giác bế tắc, thiếu tự tin, hình thành hội chứng trầm cảm

- Đánh trống ngực, đau vùng trước tim, tăng huyết áp không ổn định mà trước

đây gọi là “Rối loạn tim tâm căn”

- Bệnh đại tràng chức năng

- Đau bàng quang với nước tiểu trong

Có thể còn các biểu hiiện cơ thể khác có liên quan với trạng thái lo âu và trầm cảm

Các biểu hiện về tập tính

Trong các tình huống stress xuất hiện các tập tính là do rối loạn sự thích nghi mà biểu hiện của nó không phải là triệu chúng tâm thần hay cơ thể thông thường mà là một rối loạn hành vi

Đó là sự thay đổi tính cách, các rối loạn hành vi hoặc là rút lui, né tránh các quan hệ xã hội hoặc là tính dễ cáu gắt, tính dễ xung động, mất kiềm chế dẫn đến khó giao tiếp trong môi trường làm việc hay gia đình Các rối loạn này lúc đầu chỉ gây khó chịu, về sau phát triển gây trở ngại cho nghề nghiệp Các rối loạn hành vi này dẫn đến lạm dụng rượu, sử dụng hoặc nghiện thuốc lá cũng như các chất gây nghiện khác Sử dụng rượu và các chất gây nghiện lúc đầu làm giảm lo âu và trầm cảm nhưng về sau bản thân chúng lại là các chất gây lo âu và đối tượng bắt buộc phải tăng lượng sử dụng và do đó ảnh hưởng tai hại đến mối quan hệ xã hội [14]

• Các rối loạn tâm thần liên quan stress thường gặp trong nghiên cứu

Theo ICD-10 (1992), nguyên nhân của các rối loạn này là sự tổng hoà của các yếu tố: các tác nhân gây stress, các phản ứng đặc biệt của nhân cách, sức đề kháng của cơ thể Các rối loạn liên quan stress chủ yếu được xếp ở chương F4, một

số ở chương F5; trầm cảm được xếp ở F 3

Trong nghiên cứu lâm sàng của chúng tôi, các rối loạn tâm thần liên quan

đến stress nghề nghiệp thường ở các nhóm tương ứng trong ICD-10 sau:

Trang 21

+ Các rối loạn tâm căn (Neurosis)

- F 41- Các rối loạn lo âu khác ( rối loạn lo âu lan toả, rối loạn hỗn hợp lo âu

và trầm cảm)

- F 48.0 -Tâm căn suy nhược

+ Rối loạn giấc ngủ không thực tổn F51 (gồm mất ngủ và ngủ nhiều)

+ Giai đoạn trầm cảm F 32

- Tiêu chuẩn chẩn đoán các RLTT thường gặp trong nghiên cứu(theo ICD-10)

F 51 Rối loạn giấc ngủ không thực tổn

F51.0 Mất ngủ không thực tổn

Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán

Các nét lâm sàng sau là cần thiết để chẩn đoán quyết định:

- Những than phiền khó đi vào giấc ngủ hoặc chất lượng ngủ kém

- Rối loạn giấc ngủ xẩy ra ít nhất 3 lần trong 1 tuần trong thời gian ít nhất 1 tháng

- Có sự bận tâm về mất ngủ và lo lắng quá mức về hậu quả giấc ngủ ban đêm

và ban ngày

- Số lượng và/hoặc là chất lượng giấc ngủ không thoả mãn gây ra đau khổ lớn hoặc gây trở ngại hoạt động xã hội và nghề nghiệp

F51.1 Ngủ nhiều không thực tổn

Các nét lâm sàng sau cần thiết cho một chẩn đoán quyết định:

- Ngủ ban ngày quá mức hoặc các cơn ngủ, không giải thích được bằng số lượng không thích hợp của giấc ngủ, và/hoặc một sự chuyển tiếp kéo dài sang trạng thái tỉnh táo hoàn toàn vào lúc thức giấc ( say ngủ):

- Rối loạn giấc ngủ xẩy ra hàng ngày, trên một tháng hoặc những thời kỳ tái diễn ngắn hơn, gây ra đau buồn rõ rệt hoặc cản trở hoạt động xã hội, nghề nghiệp

- Không có triệu chứng phụ của chứng ngủ rũ (mất trương lực, liệt khi ngủ, ảo giác lúc giở thức giở ngủ) hoặc là bằng chứng lâm sàng của ngừng thở ( ngừng thở ban đêm, tiếng khịt mũi từng cơn điển hình,v.v…);

- Không có bất kỳ trạng thái bệnh thần kinh hoặc nội khoa nào mà trạng thái buồn ngủ ban ngày có thể là triệu chứng

F 48.0 Tâm căn suy nhược

Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán

Chẩn đoán quyết định đòi hỏi những điều sau:

- Hoặc là những phàn nàn dai dẳng và đau khổ về mệt mỏi tăng lên sau một cố gắng trí óc, hoặc là những phàn nàn dai dẳng và đau khổ về suy yếu cơ thể và kiệt sức sau một cố gắng tối thiểu;

- ít nhất có hai trong những nét sau:

Trang 22

Bao gồm : Hội chứng mệt mỏi

F 41.1 Rối loạn lo âu lan toả

Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán

Bệnh nhân phải có các triệu chứng lo âu nguyên phát trong đa số các ngày trong ít nhất nhiều tuần, và thường là nhiều tháng

Các triệu chứng phải gồm các nhân tố sau:

- Sợ hãi (lo lắng về bất hạnh tương lai, cảm giác “dễ cáu”, khó tập trung tư tưởng ,v.v );

- Căng thẳng vận động (bồn chồn, đứng ngồi không yên, đau căng đầu, run rẩy, không có khả năng thư giãn) và

- Hoạt động quá mức thần kinh tự trị (đầu óc trống rỗng, ra mồ hôi, mạch nhanh hoặc thở gấp, khó chịu vùng thượng vị, chóng mặt, khô miệng,v.v…) Bao gồm : bệnh tâm căn lo âu, phản ứng lo âu, trạng thái lo âu

Về cận lâm sàng: để chẩn đoán lo âu, trong nghiên cứu này sử dụng Bậc thang tự

đánh giá lo âu của Zung (Self-Rating Anxiety Scale of Zung)-SAS; (Israel L.) Chẩn đoán lo âu bệnh lý khi điểm Test Zung Z > 50%

F 32 Giai đoạn trầm cảm

Trong các giai đoạn trầm cảm điển hình thuộc 3 loại được mô tả dưới đây: nhẹ (F 32.0), vừa (F 32.1) và nặng (F 32.2 và F 32,3) bệnh nhân thường có khí sắc trầm, mất mọi quan tâm và thích thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động Phổ biến là mệt mỏi rõ rệt chỉ sau một cố gắng nhỏ Những triệu chứng phổ biến là:

- Giảm sút sự tập trung và sự chú ý;

- Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin;

- Những ý tưởng bị tội và không xứng đáng (kể cả ở trong giai đoạn nhẹ);

- Nhìn vào tương lai ảm đạm và bi quan;

- ý tưởng và hành vi tự huỷ hoại hoặc tự sát;

Trang 23

- Rối loạn giấc ngủ;

- ăn ít ngon miệng

Đối với những giai đoạn trầm cảm thuộc 3 mức độ thường cần phải có ít nhất

2 tuần để làm chẩn đoán, nhưng cũng có thể cần thời gian ngắn hơn nếu triệu chứng nặng, bất thường và khởi phát nhanh, bao gồm : những giai đoạn của phản ứng trầm cảm đơn độc, trầm cảm nặng (không có các triệu chứng loạn thần), trầm cảm tâm sinh hoặc trầm cảm phản ứng (F 32.0, F 32.1 hoặc F 32 2)

1.2 Điều kiện lao động và stress nghề nghiệp

1.2.1 Điều kiện lao động

Theo định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế, điều kiện lao động là tập hợp các yếu tố vật lý, hoá học, sinh học, xã hội và văn hoá xung quanh con người nơi làm việc [62] Các yếu tố này được hình thành không chỉ bởi điều kiện địa lý tự nhiên như nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, thời gian ban ngày hay ban đêm , mà phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức quá trình lao động cũng như đặc điểm của bản thân quá trình lao động Nói cách khác, điều kiện lao động được hiểu là tập hợp của rất nhiều yếu

lý và tuân thủ các tiêu chuẩn vệ sinh môi trường, vệ sinh xây dựng, các tiêu chuẩn écgônômi tổ chức nơi làm việc, hoặc thực hiện các giải pháp cải thiện nên những tác động có hại của các yếu tố trên tới sức khoẻ của người lao động có thể hạn chế

được rất nhiều Trong đó có vai trò tích cực của chuyên ngành Sức khoẻ nghề nghiệp

Trang 24

Từ lâu Sức khoẻ nghề nghiệp đã được biết đến như một ngành khoa học

chuyên nghiên cứu về sức khoẻ của người lao động trong mối quan hệ người – máy - môi trường nhằm dự phòng và hạn chế tác hại nghề nghiệp, tăng cường sức khoẻ, chất lượng công việc và cuộc sống Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa điều kiện làm việc - sức khoẻ của người lao động và năng suất, chất lượng của hoạt động lao động Những nghiên cứu này càng nhiều hơn và đa dạng hơn bởi lẽ các yếu tố điều kiện ngày càng phức tạp,

đa dạng do sự phát triển và ứng dụng nhanh chóng các thành tựu của khoa học kỹ thuật tiên tiến và hiện đại Bên cạnh đó là sự hội nhập quốc tế, cũng đồng nghĩa với cạnh tranh gay gắt

Theo Tổ chức Y tế thế giới, hiện có khoảng 30-50% người lao động trên thế giới bị nguy hiểm do tiếp xúc với các yếu tố thể lực, hoá chất, sinh học, hoặc quá tải, hoặc các yếu tố ecgônômi ảnh hưởng đến sức khoẻ và khả năng lao động Trong

số các vấn đề về sức khoẻ nghề nghiệp, người lao động đang phải đối mặt hàng ngày với những thách thức do stress nghề nghiệp và SKTT Xuất phát từ thực tế trên, Tổ chức Y tế thế giới (TC YTTG) đã ban hành “Chiến lược sức khoẻ nghề nghiệp toàn cầu” [104]

Trong cuộc gặp gỡ họp mặt với các chuyên gia bao gồm các nhà chính trị, các nhà kỹ thuật, nhân học xã hội học, các nhà y học tại Tampere, Phần lan, ngày 13/10/1999, Tổng giám đốc Tổ chức y tế thế giới, bà Gro Harlam Brundtland đã đề cập đến viễn cảnh toàn cầu về sức khoẻ tâm thần và cảnh báo rằng vấn đã ở mức

đáng quan tâm Theo Tổng giám đốc, có ba đặc điểm nổi trội trong giai đoạn hiện nay Đó là:

- Thứ nhất, chúng ta đang sống trong thế giới biến đổi nhanh chóng, ở những

góc yên bình nhất trên hành tinh, con người cũng phải đổi mới với những sự kiện ngừng thở do thiên tai, do toàn cầu hoá, do phát triển đô thị nhanh chóng, sự huỷ hoại môi trường Trong đó có nhiều yếu tố liên quan đến lao động mà con người phải đối mặt như công nghệ mới , tốc độ chóng mặt về phát triển thông tin, sự đô thị hoá và phát triển kinh tế nhanh chóng, sự lo lắng về tương lai, stress do nguy cơ thất nghiệp, mất an toàn và sự nghèo nàn

- Thứ hai, đo là sự nghèo nàn Trong khi có hàng triệu người trở nên giầu có thì

vẫn có hơn ba tỷ người, tức chiếm một nửa dân số thế giới đang sống trong nghèo

đói với mức sống dưới 2 đô la/ngày, trong đó hơn 1,3 tỷ người có mức sống dưới 1

đô la/ngày Con số 3 tỷ trên có thể sẽ tới 4 tỷ do tăng dân số hàng năm Đói nghèo là trở ngại lớn nhất để người nghèo có được cuộc sống khỏe mạnh về tâm thần

- Thứ ba, đó là quá trình lão hoá Hiện có trên 600 triệu người trên 60 tuổi

Con số này sẽ là 1020 triệu trong 20 năm tới Đến năm 2020 sẽ có khoảng 70% người già sống ở các nước đang phát triển Tuổi tác là một trong những nguyên nhân làm cho con người thiếu minh mẫn và mắc phải các hội chứng tâm thần

Hậu quả của tình trạng trên đã làm cho khoảng 300 – 400 triệu người trên thế giới đang bị các rối loạn về thần kinh - tâm lý, kể cả các rối loạn hành vi và thực thể

do dư thừa chất Rối loạn Tâm thần chiếm 12% gánh nặng bệnh tật trong năm 1998, trong đó ở các nước phát triển là 23%, ở các nước thu nhập trung bình là 11% [106]

Trang 25

1.2.2 Stress nghề nghiệp

Trong Hội nghị quốc tế lần thứ 4 do Tổ chức y tế thế giới phối hợp với các Trung tâm hợp tác Quốc tế về Y học lao động được tổ chức tại Phần lan ngày 7- 9 tháng 6/1999, các đại biểu đã thảo luận về chủ đề An toàn – Vệ sinh lao động, trong

đó vấn đề stress nghề nghiệp đã được đặc biệt quan tâm Điệu kiện lao động không thuận lợi và stress nghề nghiệp được xem như vấn đề nhân - quả

Stress nghề nghiệp đã được biết đến từ lâu như những phản ứng sinh lý và cảm xúc âm tính xuất hiện khi những yêu cầu của công việc không phù hợp với khả năng về thể lực và tâm thần của người lao động Stress nghề nghiệp có thể làm tổn hại đến sức khoẻ, thậm chí dẫn đến tai nạn [102]

Stress trong lao động được xem như thách thức mang tính toàn cầu đối với sức khoẻ của người lao động Theo định nghĩa về sức khoẻ của Tổ chứ y tế thế giới,

những người bị stress cũng được xem như không khỏe mạnh, không có động cơ, làm việc không hiệu quả và có nguy cơ bị tai nạn cao Cở sở/doanh nghiệp nơi có nhiều người bị stress cũng không thể thành công trong cạnh tranh Theo Tổ chức y tế thế giới [101], có thể chia nguyên nhân của stress trong lao động theo hai nhóm dưới

đây:

Nhóm 1: Nội dung công việc, gồm:

1 Nội dung công việc: đơn điệu, dưới tải thông tin (không được kích thích), làm việc vô nghĩa,

2 Gánh nặng công việc: quá nặng nhọc (quá tải) hoặc quá nhàn rỗi (dưới tải về thể lực), hoặc dưới tải về áp lực thời gian,

3 Thời gian làm việc: chế độ giờ làm việc nghiêm ngặt, kéo dài, không giao tiếp, không theo kế hoạch định trước, chế độ ca kíp không phù hợp

4 Mức độ tham gia và giám sát: thiếu sự tham gia chủ động trong việc ra quyết

định, không có sự kiểm tra giám sát (phương pháp lao động, nhịp độ công việc, thời gian và môi trường lao động)

Nhóm 2: Bối cảnh, gồm:

1 Phát triển nghề nghiệp, trả công: công việc bấp bênh, không được thăng tiến,

đề bạt, công việc mang tính địa vị xã hội thấp, hệ thống đánh giá thực hiện không phù hợp hoặc không "đẹp", hoặc đòi hỏi kỹ năng quá cao hoặc quá thấp,

2 Vai trò trong tổ chức: vai trò không thân thiện, gây va chạm, trách nhiệm vì người khác, luôn phải đối mặt với người khác hoặc các vấn đề của người khác,

3 Quan hệ đồng nghiệp: không thoả đáng, không thiện chí, bắt nạt lẫn nhau, bạo lực, cách ly/cô đơn,

4 Văn hoá trong tổ chức: không giao tiếp, quan hệ với cấp trên không thân thiện, không khoan dung,

5 Quan hệ gia đình - nơi làm việc: xung đột nơi làm việc và cả ở nhà, không

được hỗ trợ về các vấn đề gia đình tại nơi làm việc, về nhà không được sự ủng

hộ của gia đình về công việc

Trang 26

Ngày nay, việc áp dụng nhiều thành tựu khoa học công nghệ trong sản xuất

đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, năng suất và chất lượng của sản phẩm không ngừng được tăng lên Nhưng đồng thời với hiệu quả trên, đặc điểm của nhiều quá trình lao động đang thay đổi nhanh chóng ở khắp mọi nơi trên thế giới, khiến cho nhiều người lao động, đặc biệt là người lao động ở các nước đang phát triển không kịp thích nghi và họ đã bị stress dưới nhiều dạng khác nhau Những nghiên cứu mới nhất đã cho thấy hậu quả xấu của stress nghề nghiệp kéo dài liên tục ảnh hưởng tới tâm lý và sức khoẻ tâm thần, đồng thời ảnh hưởng cả trạng thái thực thể của người lao động như tăng nguy cơ cao huyết áp, các rối loạn và bệnh tim mạch, các rối loạn giấc ngủ v.v Các stress không chỉ ảnh hưởng ở mức độ cá thể mà còn ảnh hưởng lên bầu không khí lao động của toàn nhà máy xí nghiệp Stress đã ảnh hưởng đến chất lượng lao động, đặc biệt là hiệu quả của doanh nghiệp Vì vậy vấn đề quan trọng ngày nay là phải nhận diện được các yếu tố nguy cơ gây stress nghề nghiệp, đánh giá được mức độ tác động xấu của stress nghề nghiệp đến sức khoẻ người lao động

và nghiên cứu tìm kiếm chiến lược dự phòng

Để có được chiến lược này, trước tiên cần phải xác định các yếu tố gây nên gánh nặng quá tải về tâm lý tại nơi làm việc Nhịp điệu công việc nhanh, áp lực từ khách hàng, sự liên tục thay đổi công việc, nguy cơ bị mất việc làm thường được coi

là những yếu tố stress Những công việc có thông tin cao đặc biệt gây nên gánh nặng quá tải về tâm lý và những phản ứng stress khác nhau, cũng như là áp lực do những thay đổi và yêu cầu liên tục để học nhanh một phương pháp lao động mới, hoặc không đáp ứng được công việc và đe doạ thất nghiệp là yếu tố nguy cơ Khái niệm

"quá tải" được biết đến như những yếu tố gánh nặng lao động vượt quá khả năng

chịu đựng về thể lực và trí tuệ của con người Sự tích luỹ của các yếu tố này chính là nguyên nhân dẫn đến stress ở người lao động

Katsuyuki M, Norito K và Noriko A (2000) đã nghiên cứu mối liên quan giữa stress nghề nghiệp và tai nạn lao động ở 139 công nhân thuộc một nhà máy chế tạo, trong số đó có 24 nam và 15 nữ công nhân "cổ xanh" (tức những người làm việc trong các nhà máy đã từng bị tai nạn lao động Kết quả cho thấy những nữ công nhân bị tai nạn có điểm về yêu cầu công việc, chỉ số căng thẳng cao hơn rõ rệt và

điểm về hỗ trợ của đồng nghiệp thấp hơn so với công nhân chưa bị tai nạn Như vậy

có thể nói yêu cầu công việc cao (căng thẳng công việc) và ít hỗ trợ của đồng nghiệp trong công việc có liên quan chặt chẽ tới tai nạn lao động ở nữ công nhân Đối với nam công nhân, sự khác biệt này chưa rõ rệt [66]

Trong nghiên cứu về mệt mỏi trong lao động, Saito K (1999) nhận thấy có trên 40% trong số hơn 600 công nhân văn phòng làm việc trong điều kiện cơ giới hoá cao độ được điều tra hay nghỉ việc vì công việc quá căng thẳng, khoảng 30% do quan hệ với đồng nghiệp không thoải mái, 15% do thay đổi công việc Cũng theo tác giả, công việc trong các ngành công nghiệp hiện đại thường rất đơn giản, lặp lại và

đơn điệu với những tư thế lao động không tự nhiên, chủ yếu chỉ sử dụng một số nhóm cơ nhỏ, gây nên mệt mỏi cơ toàn thân Sự hạn chế vận động, dưới tải thông tin, ức chế hoạt động trí tuệ, môi trường tâm lý không thuận lợi kéo dài và tích luỹ thường là những nguyên nhân làm cho người lao động bị mệt mỏi triền miên, cuối cùng là mắc các chứng bệnh liên quan đến tâm thần [69]

Năm 1999, Cơ quan thống kê Phần lan đã tiến hành nghiên cứu tình hình bệnh tật người lao động Trong đó, bệnh do căng thẳng tâm thần và bị stress là

Trang 27

13%, đứng hàng thứ 2 sau các bệnh hệ thống cơ xương (chiếm 60%), còn các bệnh hô hấp chiếm 10% Vì vậy, Bộ Y tế và Các vấn đề xã hội Phần lan đã đưa ra chiến lược An toàn vệ sinh lao động vào tháng 4/1998, trong đó một trong các mục tiêu, lĩnh vực trọng tâm được lựa chọn là sức khoẻ tâm thần tại nơi làm việc

Trong Chiến lược sức khoẻ nghề nghiệp Thế kỷ XXI của Nhật bản, Sức khoẻ tâm thần và Stress nghề nghiệp được xếp thứ 3 trong 6 ưu tiên cần được tập trung nghiên cứu [64]

1.2.3 Các chỉ số đánh gía stresss nghề nghiệp

Stress nghề nghiệp đang trở thành mối quan tâm lớn không chỉ của các nước phát triển, mà đặc biệt ở các nước đang phát triển Nhiều công trình nghiên cứu đã

đề cập đến các phương pháp đánh giá gánh nặng tâm thần, gánh nặng thể lực hoặc

đánh giá gánh nặng tổng hợp do điều kiện lao động đối với con người Stress nghề nghiệp được nghiên cứu dưới góc độ tâm lý, các rối loạn tâm căn [87, 96, 91]; ảnh hưởng của nghề nghiệp, rượu bia và thuốc lá [67, 93]; stress nghề nghiệp và loại hình thần kinh [60] Stress được nghiên cứu nhiều ở từng ngành nghề cụ thể và có so sánh giữa các quốc gia [54] Vấn đề stress nghề nghiệp và rối loạn cảm xúc, chứng cao huyết áo, bệnh mạch vành [92, 96]; hay hội chứng "Karoshi" (cái chết do làm việc căng thẳng quá mức) ở Nhật bản

Những dấu hiệu biểu hiện sớm của stress nghề nghiệp gồm đau đầu, khó ngủ, khó tập trung chú ý, thay đổi tính khí, khó chịu trong dạ dầy, không hài lòng với công việc, kém nhuệ khí Về thực thể, những steess tâm lý kéo dài làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch Sự tích luỹ stress nghề nghiệp cũng có thể dẫn đến các rối loạn cơ - xương vùng thắt lưng và chi trên

Các nghiên cứu của Ettema J.H (1967) cho thấy khi cơ thể ở trạng thái căng thẳng mệt mỏi, khi phải thực hiện công việc trí tụê thì loạn nhịp xoang - một thành phần chính của sự phân tán nhịp tim sẽ giảm [56]

Theo John D và CS (2003), dao động nhịp tim (Heart Rate Variation - HRV)

là chỉ số biểu hiện gánh nặng động (dynamic load) và gánh nặng tích luỹ Như một chỉ số của gánh nặng động, HRV thay đổi đối với các stress cấp tính Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy, khi có căng thẳng tâm thần, bao gồm phải ra một quyết định phức tạp và phải diễn thuyết trước công chúng, thì HRV giảm HRV cũng giảm khi tăng tuổi đời Điều này thể hiện giảm ảnh hưởng của trương lực phó giao cảm và giảm ảnh hưởng của beta- adrenergic tới điều khiển nhịp tim Ngược lại, hoạt động thể lực đều đặn (làm giảm quá trình phát triển của lão hoá) đã làm tăng HRV, do tăng trương lực phó giao cảm Như vậy, HRV là chỉ số của 2 quá trình: thứ nhất đối với hoạt động thường xuyên, HRV giảm xuống tạm thời trong thời gian ngắn khi có stress cấp tính; và thứ hai, HRV giảm lâu dài ảnh hưởng của trương lực thần kinh phó giao cảm và chịu ảnh hưởng của trương lực thần kinh giao cảm của nhịp tim do đáp ứng không phù hợp [65]

Các nhà nghiên cứu y sinh học Nga đã sử dụng chỉ số HRV như một chỉ số

để đánh giá mức căng thẳng chức năng của cơ thể và của hệ tim mạch , đồng thời

đánh giá khả năng thích nghi với điều kiện sống và lao động trong nhiều nghiên cứu

Baevxki R.M và CS, (1984) đã đưa ra nguyên lý chung của nghiên cứu dao

động nhịp tim và các phương pháp phân tích toán học nhịp tim để đánh giá trạng thái chức năng của cơ thể Theo Baevxki, bộ máy tuần hoàn đặc trưng cho cơ chế

Trang 28

cân bằng nội môi phức tạp Một trong những khâu quan trọng của cơ chế này là đảm bảo sự cân bằng giữa thần kinh giao cảm và phó giao cảm của hệ thần kinh thực vật

Sự giảm trương lực thần kinh phó giao cảm có thể đồng thời với giảm trương lực thần kinh giao cảm và khi đó tần số nhịp tim không đổi Tần số nhịp tim còn chịu

ảnh hưởng các mức điều khiển cao hơn Vì vậy , để xem xét được phản ứng thích nghi của hệ tuần hoàn và của toàn bộ cơ thể đối với điều kiện sống và các yếu tố gây stress, tần số nhịp tim không thể cho thông tin về trạng thái và hoạt động của từng mức điều khiển riêng biệt Quá trình điều khiển biểu hiện ở chức năng phân tán Như vậy, nghiên cứu sự dao động của nhịp tim (độ lệch chuẩn, sự dao động, mức độ thay đổi) sẽ mở ra khả năng nhận biết những thông tin chính xác hơn về khả năng thích nghi tim mạch của cơ thể [110]

Theo Baevxki R.M., phương pháp nghiên cứu sự dao động nhịp tim khá đơn giản, dễ thực hiện và không đòi hỏi máy móc hiện đại nhưng đánh giá được khả năng thích nghi của cơ thể, mức căng thẳng chức năng hệ tim mạch, trạng thái thần kinh thực vật điều khiển nhịp tim Nguyên lý của phương pháp là phân tích thống kê toán học nhịp tim (TKTHNT) của 100 khoảng RR liên tiếp của điện tâm đồ, gồm R-

R trung bình (Xtb), tần số nhịp tim trung bình (TSNT), độ lệch chuẩn (σ), hệ số dao

động (V), Mo và biên độ (AMo) và khoảng dao động của RR tối đa và tối thiểu (∆X) Chỉ số căng thẳng (CSCT) là chỉ số bậc 2 được tính từ các chỉ số trên

Dựa trên kết quả nghiên cứu mối liên quan giữa trạng thái chức năng cơ thể

và các chỉ số TKTHNT trên đám đông dân cư, Baevxki đã phân loại thành 4 mức thích nghi khác nhau của cơ thể như sau:

Mức 1- Thích nghi tốt với điều kiện môi trường xung quanh, cơ thể có khả năng chức năng tốt

đồ Khi chuyển sang mức kém thích nghi (mức 3/4 ), tức là khi giảm khả năng chức năng cơ thể, thì thấy giảm tất cả các chỉ số chính của hệ tim mạch ở tất cả các nhóm tuổi, cả nam và nữ

Các chỉ số TKTHNT như ∆ X, AMo, σ ,V, CSCT đặc trưng cho trạng thái và mối liên quan tương hỗ của hệ thần kinh thực vật (hay còn gọi là điều khiển tự động) như trạng thái cân bằng thực vật, quan hệ hoạt động tương hỗ giữa thần kinh giao cảm và phó giao cảm và mức điều khiển tự động và mức điều khiển trung ương của

hệ thần kinh thực vật AMo, CSCT cao và ∆X, σ ,V thấp biểu hiện điều khiển nhịp tim mức trung ương ở đối tượng có căng thẳng chức năng (hay căng thẳng thích nghi) Ngược lại, AMo, CSCT thấp và ∆ X, σ , V cao đặc trưng điều khiển nhịp tim mức tự động ở đối tượng có trạng thái chức năng tốt hơn (hay thích nghi tốt hơn)

Trang 29

Các chỉ số TKTHNT đã được ứng dụng trong nghiên cứu trạng thái cơ thể trong quá trình lao động khác nhau Kovaleva, 1975 nghiên cứu chức năng hệ tim mạch ở những người lao động trí tuệ (các nhà toán học, cán bộ nghiên cứu khoa học) thấy có sự khác biệt đáng kể có ý nghĩa của các chỉ số nhịp tim (σ, ∆X) Vào giai đoạn phải lao động căng thẳng, chỉ số σ và ∆X giảm rõ rệt cả ở trạng thái tĩnh cũng như trong thời gian lao động ổn định [115]

Palatnhic và cs, 1990 đã dùng các phương pháp đánh giá dao động nhịp tim như chỉ số TKTHNT, huyết áp và thải catecholamin với mục đích dự báo năng lực

và hiệu quả hoạt động nghề nghiệp của những người lái tàu thuỷ Kết quả cho thấy ở những người có hệ thần kinh yếu, lo âu và suy nhược cao, trong điều kiện lao động căng thẳng khắc nghiệt đã có CSCT tăng rất cao, AMo đạt tối đa 100%, giảm khoảng RR trung bình (X trung bình) đồng thời với tăng thải catecholamin và tăng huyết áp [120]

Rukavtxova và cs.(1990) nghiên cứu dự báo năng lực hoạt động nghề nghiệp của điện thoại viên chỉ dẫn dịch vụ cũng thấy mức độ thông tin cao của các chỉ số TKTHNT trong đánh giá khả năng thích nghi (KNTN) nghề nghiệp Kết quả cho thấy ở những người có chỉ số TKTHNT biểu hiện căng thẳng hơn (CSCT cao hơn,

∆X và Mo thấp hơn ) thì ngay từ trước lao động và khi mới bắt đầu công việc đã thấy biểu hiện căng thẳng hệ thống điều khiển nhịp tim như CSCT tăng cao Theo tác giả, biểu hiện trội trương lực thần kinh giao cảm của thần kinh thực vật ngay từ

đầu lao động như vậy chỉ ra sự không thuận lợi điều khiển chức năng tim mạch và là cơ sở trạng thái tiền bệnh lý dẫn tới bệnh lý [121]

ở Việt nam những năm gần đây, phương pháp nghiên cứu dao động nhịp tim bằng các chỉ số TKTHNT bước đầu đã được ứng dụng để đánh giá mức căng thẳng chức năng và căng thẳng hệ tim mạch trong quá trình lao động và trong luyện tập phục hồi chức năng

Phương pháp phân tích TKTHNT đã được áp dụng để nghiên cứu trạng thái chức năng cơ thể của bộ đội tiêu binh Kết quả cho thấy nhóm tiêu binh có khả năng thích nghi kém với nghề nghiệp thì có chỉ số TKTHNT ở trạng thái tĩnh ở mức căng thẳng hơn: CSCT cao hơn ∆X thấp hơn, σ thấp hơn và ở mức quá căng thẳng thích nghi 3/4 Đặc biệt tất cả đối tượng đã bị ngất đổ (xỉu) trong lúc làm nhiệm vụ đều

có chỉ số dao động nhịp tim ở mức quá căng thẳng (mức 3/4 theo phân loại của Baevxki) và có biểu hiện rối loạn điều hoà nhịp tim dạng trội phó giao cảm Nghiên cứu này là cơ sở khoa học để dự báo khả năng thích nghi với lao động cho các đối tượng trên Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy các đối tượng có chỉ số σ ban đầu

<0,04 sec, đã có biến đổi nhịp tim, HA và điện tâm đồ trong quá trình lao động cao hơn so với nhóm có chỉ số TKTHNT ở mức thích nghi tốt hơn ( với σ ≥ 0,04 giây [ 21]

Kết quả nghiên cứu trạng thái chức năng cơ thể của những đối tượng làm công tác mã dịch cho thấy sau lao động, chỉ số dao động nhịp tim σ giảm ở mức quá căng thẳng (mức 3/4 theo phân loại của Baevxki), đặc biệt với thâm niên nghề trên

10 năm, tỷ lệ đối tượng có biểu hiện cao huyết áp và thay đổi sóng điện tim trên

điện tâm đồ cao hơn so với đối tượng có thâm niên dưới 10 năm [13 ]

Như vậy, các nghiên cứu của các tác giả trong nước và nước ngoài cho thấy nghiên cứu dao động nhịp tim dựa trên các chỉ số TKTHNT cho phép đánh giá mức

Trang 30

căng thẳng chức năng của cơ thể và hệ tim mạch do các yếu tố stress trong cuộc sống và trong lao động, đồng thời có thể dự báo khả năng thích nghi nghề nghiệp

Những năm gần đây, các nhà nghiên cứu y sinh học trên thế giới đã sử dụng các chỉ số Tần số nhấp nháy tới hạn của mắt (CFF), Thời gian phản xạ cảm giác vận

động (gồm thính - vận động và thị - vận động) như các chỉ số đánh giá mệt mỏi thần kinh trung ương Chỉ số CFF đánh giá sự linh hoạt của các quá trình thần kinh trong vùng vỏ của hệ phân tích thị giác và chỉ số này giảm là dấu hiệu mệt mỏi thần kinh trung ương[59, 69]

Các kết quả đã chỉ ra có mối tương quan cao giữa CFF và cảm giác mệt mỏi chủ quan Kết quả nghiên cứu ở nữ điện thoại viên làm việc trong điều kiện không hợp lý về chiếu sáng (không đủ sáng, sử dụng đèn neon không triệt pha) thấy chỉ số CFF giảm rõ rệt (Grandjean E., 1986)

Bên cạnh những triệu chứng mệt mỏi chủ quan như cảm thấy ốm yếu, buồn ngủ, nóng nảy, cáu giận, mất hứng thú và giảm hoạt động cơ, các chỉ số khách quan như thời gian phản xạ cảm giác vận động kéo dài thể hiện sự mệt mỏi của hoạt động thần kinh giác quan do gánh nặng lao động liên tục, hoặc do lao động với cường độ lớn Mệt mỏi làm giảm mức nhạy cảm và linh hoạt của các cơ quan cảm giác (giảm CFF), phản ứng của cơ quan cảm giác – vận động bị chậm lại (kéo dài TGPX thính

- vận động và thị - vận động), các chỉ số về phối hợp vận động kém, tăng sai lỗi sản phẩm và tăng căng thẳng thần kinh thực vật, trong đó có tăng TSNT, trội thần kinh giao cảm

Một số nghiên cứu của các tác giả Nga đã dùng các chỉ số thời gian cảm giác vận động (TGPX thính – thị vận động) và chỉ số CFF để phân loại các mức chức năng tâm - sinh lý từ cao đến thấp và đánh giá trạng thái chức năng của hệ TKTƯ Ngoài ra, đánh giá căng thẳng mệt mỏi còn giúp cho tuyển chọn công nhân vào một

số ngành công nghiệp [117]

Các chỉ số thời gian phản xạ thính – thị vân động, tần số nhấp nháy tới hạn của mắt (CFF), khả năng tập trung chú ý đã được Nguyễn Bạch Ngọc và cs (1997), Lương Đặng Viết và cs (2005) sử dụng trong các nghiên cứu đánh giá căng thẳng mệt mỏi hệ TKTƯ trong quá trình lao động ở các đối tượng nghiên cứu [42, 38]

Việt nam đang trong tiến trình chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp và kém hiệu quả sang kinh tế thị trường hiệu quả Cùng với những mặt tích cực của nền kinh tế mới này đối với đất nước, chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức do những mặt trái của quá trình này Theo kinh nghiệm của các nước đi trước, hậu quả này sẽ được hạn chế nếu như chúng ta có các giải pháp can thiệp dự phòng sớm và thích hợp trước khi xuất hiện bệnh lý Trong những năm gần đây, sự chuyển đổi sang cơ chế thị trường ở Việt nam đòi hỏi các ngành nghề phải đổi mới

về trang bị máy móc, cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như phương pháp quản lý và tổ chức lao động, nhằm đảm bảo về số lượng và chất lượng sản phẩm hàng hoá, chất lượng dịch vụ Nhiều công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại, đắt tiền được sử dụng trong sản xuất, đòi hỏi trình độ và năng lực của công nhân cao hơn, vai trò của họ mang

tính quyết định hơn Hơn bao giờ hết, yếu tố con người trong lao động được các nhà

quản lý / sử dụng lao động quan tâm hơn bởi đó chính là yếu tố quyết định cho đầu

ra của mọi hoạt động Theo đó, định mức về thời gian đã trở nên ngặt nghèo hơn, nhịp độ lao động khẩn trương hơn, người lao động ít được nghỉ ngơi và ít có cơ hội thư giãn, giao tiếp hơn… Đồng thời, những căng thẳng tâm lý - xã hội trong quan hệ

Trang 31

gia đình và tại nơi làm việc cũng là áp lực mới gây stress cho người lao động Việt nam

Ngoài ra, hội nhập quốc tế và tự do thương mại đang là những thách thức đặc biệt lớn đối với các nước nghèo đang phát triển, trong đó có Việt nam Sự cạnh tranh gay gắt, những nguy cơ phá sản, đổ vỡ đe dọa các doanh nghiệp đồng nghĩa với sự

sa thải và thất nghiệp đối với người lao động Đó cũng là các yếu tố stress trực tiếp tác động tới sức khoẻ tâm thần của người lao động Như vậy trong xu thế chung của thế giới, người lao động Việt nam trong nhiều ngành nghề cũng đang chịu các stress nghề nghiệp và những hậu quả không mong muốn do stress này

1.2.4 Stress nghề nghiệp và Sức khoẻ tâm thần - gánh nặng không xác định và giấu mặt

Theo Tổ chức y tế thế giới, SKTT được xem như gánh nặng không xác định

và giấu mặt Gánh nặng không xác định bởi nó gây nhiều tổn thất về kinh tế và xã hội đối với gia đình, cộng đồng và đất nước Mặc dù đã quá rõ nhưng gánh nặng này còn chưa được đo đạc một cách có hiệu quả do thiếu các số liệu định lượng và khó khăn trong việc đo và đánh giá [100]

Đối với người bệnh, sự ốm yếu về sức khoẻ tâm thần ảnh hưởng đến chức năng và quá trình suy nghĩ của cá thể, làm giảm vai trò xã hội và năng suất của cộng

đồng Ngoài ra, sự ốm yếu về sức khoẻ tâm thần là một khuyết tật kéo dài trong nhiều năm, gây nên những tốn kém ghê gớm về cảm xúc và kinh tế - xã hội cho những người thân phải chăm sóc, đặc biệt là hệ thống y tế do không thể chăm sóc và

hỗ trợ họ kéo dài trong nhiều năm Các chi phí xã hội và kinh tế bao gồm:

• tổn thất vì chết sớm do tự tử (ở các nước tỷ lệ này thường bằng hoặc thậm chí cao hơn số chết do tai nạn giao thông),

• tổn thất do những người tâm thần này không làm việc tạm thời hay lâu dài,

• tổn thất đối với các thành viên trong gia đình do phải mất thì giờ chăm sóc những người này,

• giảm năng suất lao động của người đang bị bệnh,

• tổn thất do tai nạn của những người bị trục trặc về tâm lý và đặc biệt nguy hiểm ở những người lái tàu, phi công, công nhân,

• phải hỗ trợ do những người bị bệnh tâm thần không thể tự chủ,

• thất nghiệp, xa lánh và tội lỗi ở những người trẻ có các vấn đề từ thuở ấu thơ như trầm cảm, rối loạn hành vi chưa được chú ý giáo dục riêng,

• chậm phát triển trí tuệ ở những trẻ có cha mẹ bị tâm thần,

• gánh nặng tình cảm và giảm chất lượng cuộc sống của các thành viên trong gia đình

Gánh nặng giấu mặt vì nó liên quan tới dấu hiệu bệnh và sự vi phạm quyền con người trong xã hội Ngoài ra, gánh nặng này còn khó định lượng Đây là vấn đề xảy ra ở khắp nơi trên thế giới và cũng như các vấn đề khác, nó còn bị che đậy và giấu diếm Không ít người tự cảm nhận về sự bất thường tâm thần của chính bản thân mình, hoặc người thân trong gia đình, bạn bè nhận thấy điều này, nhưng do tâm

Trang 32

lý, mọi người đều khống muốn xác minh điều đó vì coi đó như một điều xấu hổ không nên nói ra, hoặc là điều sỉ nhục Do đó bệnh ngày càng trầm trọng hơn vì không được điều trị khi còn sớm

Dấu hiệu của bệnh được xác định như biểu hiện xấu hổ, bị ghét bỏ hoặc không được chấp nhận do người đó tự gây nên hoặc do người khác xa lánh họ Sự

xa lánh liên quan với tất cả các dạng rối loạn tâm thần là:

Do có dấu hiệu bệnh lý, những người bị các rối loạn tâm thần thường hay bị:

• thường xuyên bạn bè, người thân hắt hủi dẫn đến cảm giác xa lánh, cô độc

và trầm cảm;

• thường không bình đẳng tham gia trong cuộc sống gia đình, xã hội và lao

động;

• dấu hiệu bệnh không chỉ làm ảnh hưởng đến sự hồi phục của người bệnh,

mà còn hạn chế khả năng tiếp cận với các dịch vụ, đến việc chữa chạy cũng như sự chấp nhận của cộng đồng;

• sự hắt hủi đối với người bệnh còn ảnh hưởng đến gia đình và người chăm sóc, dẫn đến sự cô lập hoặc làm nhục;

• đa số nguyên nhân của bệnh tâm thần có liên quan đến sự hoang tưởng, vô nhận thức, hoặc nhận thức không đúng về bệnh tâm thần trong cộng đồng

1.3 Dự phòng và can thiệp nhằm cải thiện sức khoẻ tâm thần

Năm 2004, Tổ chức Y tế thế giới đã xuất bản ấn phẩm Dự phòng các rối loạn sức khoẻ tâm thần Can thiệp hiệu quả và sự lựa chọn chính sách Cuốn sách thể

hiện quan tâm lớn của tổ chức quốc tế này đối với vấn đề đang là ưu tiên trong lĩnh vực sức khoẻ [105]

Theo TCYTTG, dự phòng về SKTT là hoạt động ưu tiên trong chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Theo Báo cáo sức khoẻ 2001 của TCYTTG, hiện trên thế giới có khoảng 450 triệu người đang bị rối loạn SKTT và hành vi Cứ 4 người có 1 người sẽ phát triển một hoặc nhiều hơn các rối loạn tâm thần hoặc hành vi trong các bệnh trên trong cuộc đời [106] Hiện nay các rối loạn tâm thần hoặc hành vi chiếm khoảng 10% dân số thế giới Một phần năm thanh thiếu niến dưới 18 tuổi bị các vấn

đề về phát triển, cảm xúc hoặc hành vi, 1/8 bị rối loạn tâm thần trong đó trẻ em có hoàn cảnh khó khăn chiếm 1/5 Năm trong số mười nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật trên thế giới là do các điều kiện tâm thần, bao gồm trầm cảm, lạm dụng rượu bia, tâm thần phân liệt Dự báo tới năm 2020 sẽ có tới 15% bệnh tật trên toàn thế giới do nguyên nhân tâm thần kinh [106]

Những ảnh hưởng về kinh tế do rối loạn sức khoẻ tâm thần là rộng khắp, lâu dài và rất lớn Nó gây nên chi phí lớn cho cá nhân, gia đình và cộng đồng ở Mỹ, hàng năm phải chi khoảng 147 tỷ đô la để chữa trị cho các bệnh nhân tâm thần, hơn cả chi phí cho chữa các bệnh ung thư, bệnh đường hô hấp hay AIDS Đối với các nước có thu nhập thấp, chi phí trực tiếp có thể thấp hơn do khả năng và độ bao phủ dịch vụ CSSK tâm thần thấp hơn Thực tế thì những tổn thất kinh tế do bệnh tâm thần khó mà đo lường được hết Ngoài ra, còn nhiều tổn thất khác dưới góc độ chi phí phục vụ của xã hội, nghỉ việc, giảm năng suất lao động, ảnh hưởng đối với gia

Trang 33

đình và những người chăm sóc, mức độ tội phạm và an toàn đối với cộng đồng Đó

là chưa kể đến những cảm giác bị xấu hổ, phân biệt đối xử đối với người bệnh Xuất phát từ thực tế trên, để giảm gánh nặng về sức khỏe, xã hội và kinh tế, các quốc gia cần chú ý nhiều hơn đến công tác dự phòng, tăng cường sức khỏe tâm thần trên cơ sở xây dựng chiến lược, chính sách, pháp lệnh, quyết định và huy động nguồn lực trong toàn hệ thống chăm sóc sức khỏe Tuy nhiên, khó khăn đối với các nhà chuyên môn và các nhà chiến lược là phân biệt ranh giới giữa khái niệm về sức khỏe tâm thần và bệnh tâm thần, giữa dự phòng các rối loạn tâm thần và tăng cường sức khoẻ tâm thần

Theo Tổ chức y tế thế giới, tăng cường sức khoẻ (TCSK) thường được hiểu theo nghĩa tích cực, coi đó là nguồn lực, giá trị và quyền cơ bản của con người cần thiết đối với sự phát triển kinh tế - xã hội TCSK nhằm mục đích gây ảnh hưởng đến các yếu tố quyết định đối với SKTT, cũng như để tăng sức khoẻ tâm thần lành mạnh, giảm sự không công bằng, xây dựng vốn cho xã hội, tạo dựng phúc lợi từ sức khoẻ,

đồng thời làm giảm khoảng cách về hy vọng sống giữa các nước và nhóm người

[103] Tăng cường sức khoẻ là quá trình làm cho mọi người tăng cường kiểm

tra và cải thiện sức khoẻ của chính mình [107]

Cũng theo Tổ chức y tế thế giới, ốm đau về tâm thần là có vấn đề, mắc hội chứng và rối loạn về sức khoẻ tâm thần, bao gồm cả căng thẳng sức khoẻ và các hội chứng liên quan đến tình trạng mệt mỏi tạm thời hoặc dai dẳng Do vậy các giải pháp can thiệp phải nhằm vào làm giảm các yếu tố nguy cơ và tăng cường các yếu tố bảo vệ liên quan

Theo Mrazek, Haggerty và cộng sự (1994), Dự phòng rối loạn SKTT nhằm mục đích làm giảm tỷ lệ mắc phải và tỷ lệ hiện mắc, tỷ lệ tái mắc rối loạn tâm thần, giảm thời gian mắc các hội chứng hoặc giảm yếu tố nguy cơ gây bệnh tâm thần, dự phòng hoặc làm chậm sự tái mắc và giảm ảnh hưởng của bệnh tật đến người bệnh, gia đình và xã hội [105]

Cách tiếp cận trong can thiệp SKTT nằm trong khái niệm y tế công cộng,

được xem như là quá trình động viên các nguồn lực địa phương, tỉnh và quốc gia để giải quyết các vấn đề lớn ảnh hưởng đến cộng đồng Cũng theo Mrazek P.J.,

Haggerty R.J., việc can thiệp đối với các rối loạn tâm thần dựa vào việc phân loại dự phòng mức độ ốm yếu về thể lực và vào sự phân biệt sức khoẻ cộng đồng kinh điển giữa dự phòng cấp 1, cấp 2 và cấp 3 Khái niệm dự phòng tổng hợp, dự phòng có lựa chọn và dự phòng có chỉ định đều thuộc dự phòng cấp 1

Dự phòng tổng hợp là những can thiệp nhằm vào đông đảo quần chúng hoặc toàn bộ cộng đồng chưa được xác định là có nguy cơ tăng Dự phòng có lựa chọn nhằm vào các cá thể hoặc một nhóm nhỏ cộng đồng có nguy cơ bị rối loạn tâm thần cao hơn mức trung bình như các yếu tố nguy cơ về sinh học, tâm lý hoặc xã hội Dự phòng có chỉ định nhằm vào những người có nguy cơ cao được xác định như có những dấu hiệu hoặc triệu chứng tuy ít nhưng có thể phát hiện được báo trước về sự rối loạn tâm thần hoặc các dấu hiệu sinh học cho thấy có khuynh hướng rối loạn tâm

thần nhưng chưa được chẩn đoán có rối loạn vào thời điểm đó

Mô hình chăm sóc SKTT hơn một nửa thế kỷ qua đã thay đổi từ chỗ đưa các bệnh nhân bị rối loạn tâm thần vào sống trong các cơ sở từ thiện sang chăm sóc tại cộng đồng và chỉ đưa vào bệnh viện các trường hợp bị cấp Sự thay đổi này dựa trên

Trang 34

cơ sở tôn trọng nhân quyền của các bệnh nhân và dựa trên việc sử dụng các phương pháp và kỹ thuật can thiệp tiên tiến Trong chăm sóc bệnh nhân bị rối loạn tâm thần, ngoài việc chẩn đoán và điều trị, việc coi bệnh nhân và gia đình là đối tác, tăng cường sự tham gia của chính quyền địa phương, lồng ghép với chăm sóc sức khỏe

ban đầu là các biện pháp can thiệp hiệu quả đã được nhiều nước vận dụng

Bên cạnh việc điều trị kịp thời các bệnh nhân bị rối loạn SKTT, có thể giảm các dấu hiệu bệnh lý sớm bằng cách sau:

• nói chuyện cởi mở về bệnh tâm thần cho cộng đồng;

• cung cấp thông tin chính xác về các trường hợp, tỷ lệ mắc và hiện mắc, quá trình diễn biến của bệnh và ảnh hưởng của bệnh;

• ngăn chặn những hoang tưởng, định hình không đúng vè bệnh tâm thần của nhiều người trong cộng đồng (bị bệnh tâm thần là do ma ám );

• hỗ trợ và cung cấp dịch vụ điều trị để người bệnh có thể tham gia mọi hoạt

ba hướng chiến lược nhằm vào cải thiện điều kiện lao động, gồm:

• Can thiệp vào công việc và kỹ thuật : làm cho công việc phong phú hơn, cải thiện écgônômi, giảm tiếng ồn, giảm bớt gánh nặng công việc,

• Cải thiện việc làm rõ vai trò và quan hệ xã hội: giao tiếp, giải pháp tránh xung đột trong lao động,

• Can thiệp nhằm vào thay đổi cả người lao động lẫn công việc

1.4 Định hướng chiến lược và chính sách về SKTT

1.4.1 Tổ chức y tế thế giới và chiến lược SKTT

Theo Báo cáo y tế thế giới (2001), những rối loạn tâm thần và hành vi chiếm khoảng 12% gánh nặng bệnh tật toàn cầu, vậy mà chi phí cho SKTT ở các nước chỉ chiếm dưới 1% chi phí cho sức khỏe Tương quan giữa gánh nặng bệnh tật và chi phí cho bệnh tật như vậy là chưa hợp lý Ngoài ra có hơn 40% các nước chưa có chiến lược về SKTT và trên 30% các nước chưa có chương trình quốc gia về SKTT Hơn thế nữa, chính sách về rối loạn tâm thần và hành vi ở trẻ em và vị thành niên hầu như chưa có trong quy hoạch của ngành y tế, gây nên gánh nặng đáng kể về kinh tế cho bệnh nhân và gia đình họ, do đó những sự chịu đựng cứ tiếp diễn và khó khăn thì chồng chất thêm [106]

Để giảm bớt gánh nặng do rối loạn SKTT, dưới góc độ sức khoẻ cộng đồng, cần thực hiện các nội dung dưới đây:

• Xây dựng chiến lược cải thiện sức khỏe tâm thần cho cộng đồng;

Trang 35

• Đảm bảo tiếp cận được các dịch vụ y tế phù hợp và hiệu quả về giá cả, bao gồm cả phương diện tăng cường sức khoẻ tâm thần, cả các dịch vụ dự phòng;

• Đảm bảo chăm sóc phù hợp và bảo vệ quyền con người đối với những bệnh nhân bị rối loạn tâm thần nặng đang sống ở những cơ sở từ thiện;

• Đánh giá và quản lý vấn đề SKTT tại cộng đồng, kể cả những đối tượng

dễ bị tổn thương như trẻ em, phụ nữ và người già;

• Tăng cường lối sống lành mạnh và giảm các yếu tố nguy cơ đối với các rối loạn SKTT và hành vi như môi trường gia đình không bền vững, lạm dụng sự thiếu nghỉ ngơi;

• Hỗ trợ cho cuộc sống gia đình ổn định, gắn kết xã hội và phát triển nhân văn;

• Tăng cường các nghiên cứu nguyên nhân của các rối loạn tâm thần và hành vi, phát triển các liệu pháp điều trị hiệu quả, đồng thời giám sát và

2 Dễ tiếp cận với các thuốc tâm thần: Các thuốc tâm thần thiết yếu cần được cung cấp ổn định ở các cấp;

3 Chăm sóc ngay tại cộng đồng: CSSK ngay tại cộng đồng hiệu quả hơn so với chăm sóc tại cơ sở điều trị không chỉ về kinh tế, mà cả đối với người bệnh, giúp cho can thiệp sơm hơn và hạn chế sự dấu bệnh do phải đi điều trị;

4 Giáo dục quần chúng để có hiểu biết đúng về bệnh tâm thần và tiếp cận với thầy thuốc sớm nhằm giảm tỷ lệ rối loạn tâm thần, tăng khả năng điều trị và khả năng phục hồi;

5 Lôi cuốn cộng đồng, gia đình và người dân cùng tham gia xây dựng chính sách, chương trình và cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân;

6 Xây dựng các chính sách, chương trình và pháp lệnh: đây là những bước cần thiết cho hành động được bền vững Những chiến lược, chính sách này cần dựa trên cơ sở hiểu biết và nhận thức của cộng đồng và quyền con người Các nước cần tăng ngân sách cho các chương trình quốc gia về SKTT

7 Phát triển nguồn nhân lực: đa số các nước đang phát triển cần phải tăng về số lượng và cải thiện việc đào tạo số nhân viên y tế, đặc biệt là nhân viên y tế về SKTT để họ có thể đảm đương các chương trình CSSK

8 Phối hợp với các ngành: giáo dục, lao động, phúc lợi và tư pháp, với các tổ chức phi chính phủ trong việc cải thiện sức khoẻ tâm thần cho cộng đồng

Trang 36

9 Giám sát sức khoẻ tâm thần của cộng đồng: bằng cách đưa các chỉ số về SKTT vào hệ thống thông tin và báo cáo, đặc biệt số người bị rối loạn sức khoẻ tâm thần , chất lượng chăm sóc

10 Hỗ trợ các nghiên cứu khoa học: những nghiên cứu về phương diện sinh học

và tâm lý của sức khoẻ tâm thần cần được hỗ trợ nghiên cứu để tăng thêm hiểu biết về bệnh này, trên cơ sở đó sẽ có các can thiệp phù hợp và hiệu quả

1.4.2 Chiến lược SKTT của khu vực Tây Thái bình dương

Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới khu vực Tây thái bình dương trong năm 2000, gánh nặng bệnh tật do bệnh tâm thần chiếm 14,7% trong tổng số những năm sống phải điều chỉnh do bệnh (DALYs) của cả khu vực Cũng như các khu vực khác trên thế giới, trong khu vực này chỉ có một số ít những người có dấu hiệu tâm thần được điều trị do thiếu nguồn lực và cơ sở vật chất, hoặc phân bổ cơ sở điều trị không hợp lý, do nhận thức không đúng đắn của cộng đồng Những nguyên nhân này làm hạn chế khả năng chữa trị kịp thời và phục hồi của các bệnh nhân Xuất phát từ thực tế trên, Tổ chức y tế khu vực Tây thái bình dương đã đưa ra Chiến lược

về SKTT năm 2001, trong đó có các nguyên tắc và hướng dẫn cơ bản đối với các nước trong việc xây dựng chiến lược và chương trình về SKTT riêng cho mỗi nước [102] Mục tiêu chính của chiến lược này là:

1 Giảm gánh nặng về con người, xã hội và kinh tế do các rối loạn tâm thần và thần kinh, bao gồm cả mất khả năng trí tuệ và dư thừa chất,

2 Tăng cường sức khỏe tâm thần

3 Gây sự quan tâm thích hợp về tâm lý trong Chăm sóc sức khỏe và Cải thiện chất lượng cuộc sống

Để đạt được các mục tiêu trên, Tổ chức y tế thế giới khu vực Tây Thái bình dương

đã đề xuất 6 cách tiếp cận sau:

1 Cung cấp thông tin và lời khuyên về SKTT, huy động nguồn lực trong khu vực cho các dịch vụ và tăng cường sức khỏe;

2 Lồng ghép các dịch vụ y tế với chăm sóc sức khỏe nói chung và gắn kết nó với các dịch vụ xã hội và cộng đồng;

3 Động viên các nhà làm chính sách trong các lĩnh vực giáo dục, phúc lợi, nhà

ở, sử dụng lao động hợp lý, ra các quyết sách cải thiện thay vì hứa hẹn về SKTT cho người dân;

4 Thông qua và xem xét lại các chính sách và pháp lệnh liên quan về SKTT;

5 Nâng cao năng lực nghiên cứu trong lĩnh vực liên quan tới các chương trình

về SKTT;

6 Dự phòng ngăn chặn các trường hợp tự tử, một tình trạng khá phổ biến hiện nay

Trang 37

Chương 2

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Chọn ngành:

Chọn 10 nhóm ngành nghề đặc biệt đó là các ngành nghề chịu căng

thẳng và Stress nghề nghiệp

10 nhóm ngành nghề được nghiên cứu gồm:

1 Lái xe: công nhân lái xe buýt

2 Lái tàu hỏa: công nhân lái tàu hoả

3 Vận hành: công nhân vận hành công trình ngầm

4 Kiểm soát không lưu (điều độ hàng không): kiểm soát viên không lưu

5 Dệt may : công nhân dệt may công nghiệp

6 Cơ khí luyện kim: công nhân luyện gang thép

7 Giày da: công nhân sản xuất giày da

8 Chế biến thuỷ sản: công nhân chế biến thủy sản đông lạnh

9 Ngành y: nhân viên y tế chuyên ngành Tâm thần: bác sỹ, y tá phục

vụ bệnh nhân tâm thần

10 Ngành y: nhân viên y tế chuyên ngành Lao & Phổi: bác sỹ, y tá phục vụ bệnh nhân lao

2.1.2 Chọn địa điểm nghiên cứu

27 địa điểm được chọn là các cơ sở bao gồm các xí nghiệp, nhà máy, công ty, viện, bệnh viện thuộc 10 tỉnh, thành phố: Cà Mau, Đồng Nai, Hà Nội,

Hà Tây, Hoà Bình, Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Vĩnh Phú và Yên bái Đây là 27 cơ sở thuộc 10 nhóm ngành nghề trên và đang đóng tại 10 tỉnh thành phố có cơ sở công nghiệp lớn, tập trungnhiều người lao động

Trang 38

N = (1,96)2 * = 833

Như vậy số đối tượng cần nghiên cứu cho mỗi nghề là 833 người, tổng

số cho 10 ngành nghề là 8330 người Tuy nhiên, dự kiến trong quá trình nghiên cứu có đối tượng không trả lời, nên cỡ mẫu nghiên cứu của chúng tôi

đã tiến hành là 9207 làm việc tại 10 ngành nghề Để nghiên cứu sâu stress nghề nghiệp, nghiên cứu trạng thái chức năng cơ thể, chọn ngẫu nhiên trong

số các đối tượng của 10 nghề là 1126 đối tượng

2.1.4 Tiêu chuẩn chọn đối tượng

Là những người công nhân, cán bộ viên chức làm việc trực tiếp trong môi trường nặng nhọc, độc hại

2.1.5 Tiêu chuẩn loại trừ:

Những người không trực tiếp với công việc nặng nhọc, độc hại là những người làm ở các phòng ban gián tiếp (tài vụ, kế toán, tổ chức, hành chính quản lý, bảo vệ không trực tiếp tham gia sản xuất, hoặc không trực tiếp phục vụ bệnh nhân) mặc dù cùng trong nhà máy, xí nghiệp, bệnh viện

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang:

• Cho nội dung nghiên cứu thực trạng sức khoẻ tâm thần,

• Xác định các yếu tố nguy cơ gây stress nghề nghiệp

Nghiên cứu can thệip: áp dụng phương pháp theo dõi dọc trước và sau cho nội dung cant hiệp thử

Thời gian tiến hành nghiên cứu: 2002 -2004

2.2.2 Điều tra phỏng vấn

- Điều tra phỏng vấn tìm hiểu về nghề nghiệp : mức độ nặng nhọc, căng thẳng, độc hại, qui trình công nghệ, chế độ lao động và nghỉ ngơi

- Điều tra stress nghề nghiệp bằng phỏng vấn Stress nghề nghiệp (Occupational Stress Questionnaire) của Viện Y học lao động Hensinki (Finland), 1992 [ 84] Bảng phỏng vấn gồm 48 câu và các đặc đIểm về nhân khẩu – xã hội học, bao gồm cả nghề nghiệp thâm niên, trình độ văn hoá

Bảng phỏng vấn này dùng để đánh giá tự cảm nhận của đối tượng về các yếu tố stress trong lao động như mức chủ động trong công việc, quan hệ xã hội với đồng nghiệp, hỗ trợ của cấp trên, các vấn đề liên quan căng thẳng nặng nhọc của công việc, trạng thái sức khoẻ và mức độ hài lòng với công việc cuộc sống, đồng thời đề xuất thay đổi công việc để có kết quả tốt hơn

Hầu hết các câu hỏi (trừ một số câu M4, E9, E24) đều có 5 phương án trả lời theo mức độ chịu căng thẳng stress của đIều kiện lao động (ĐKLĐ) từ

Trang 39

thấp đến cao Các mức từ 1 đến 3 là không hoặc bị stress rất ít, còn các mức từ

4 đến 5 bị stress khá nhiều và nhiều Khi đánh giá cảm nhận chủ quan của đối tượng nghiên cứu về ĐKLĐ và mối liên quan với trạng tháI sức khoẻ, những

đối tượng trả lời ở mức 4 và 5 là có phàn nàn về ĐKLĐ

Điều tra về sức khoẻ theo Bảng câu hỏi sức khoẻ chung 30 câu ( GHQ) của Hội đồng nghiên cứu mệt mỏi trong lao động, Hội sức khỏe nghề nghiệp Nhật (1971) Bảng phỏng vấn gồm 30 câu nhằm đánh giá cảm nhận chủ quan của các đối tượng nghiên cứu về trạng thái sức khoẻ hiện tại và trong 1 tháng qua Các câu từ 1-10 là triệu chứng mệt mỏi chung, câu 11-20 biểu hiện mệt mỏi tâm thần; câu 21-26 là những biểu hiện thực thể và 27-30 là biểu hiện rối loạn hệ thần kinh thực vật [69]

2.2.3 Nghiên cứu trạng thái chức năng cơ thể:

2.2.3.1 Nghiên cứu đánh giá trạng thái chức năng, mức độ linh hoạt của

hệ Thần kinh trung ương

- Thời gian phản xạ (TGPX) cảm giác – vận động đơn giản bao gồm TGPX thính vận động và TGPX thị vận động Chỉ tiêu thời gian phản xạ thính và thị vận động được đo theo Thường qui Kỹ thuật Y học lao động, Vệ sinh môi trường và Sức khoẻ trường học của Viện YHLĐ - VSMT

- Tần số nhấp nháy tới hạn của mắt - CFF ( Critical Flicker – Fusion Frequency) Chỉ tiêu CFF được đo theo Thường qui Kỹ thuật Y học lao động,

Vệ sinh môi trường và Sức khoẻ trường học của Viện YHLĐ - VSMT

- Đánh giá khả năng bền vững và độ tập trung chú ý bằng chỉ số chú ý Chỉ số chú ý (CSCY) được xác định bằng thử nghiệm Vòng hở Landolt theo Phương pháp nghiên cứu trong Sinh lý lao động của Liên Xô (1974) [112] CSCY

được tính theo công thức sau:

CSCY = Số vòng soát TB/(1 + Số lỗi TB) (lỗi được tính là gạch sai và bỏ sót vòng hở theo qui định)

Các chỉ số TGPX thính vận động, TGPX thị vận động và CFF được phân loại đánh giá theo Thang đánh giá chức năng các chỉ tiêu Tâm sinh lý để tuyển chọn công nhân vào các ngành công nghiệp [117]

Trang 40

2 2.3 2 Đánh giá mức độ căng thẳng chức năng cơ thể, chức năng hệ tim mạch và khả năng thích nghi bằng các chỉ số thống kê toán học nhịp tim (TKTHNT) theo phương pháp của Baevxki, 1984 [110]

- Phương pháp tiến hành: Ghi điện tâm đồ 100 khoảng RR liên tiếp ở trạng

thái tĩnh (nằm), tính các chỉ số TKTHNT để đánh giá mức độ dao động của

100 khoảng RR của nhịp tim:

- ∆X (giây) = RR tối đa - RR tối thiểu

- Mo (giây): Giá trị của khoảng RR gặp nhiều nhất trong 100 RR

- AMo (%): Số lượng khoảng RR có giá trị gặp nhiều nhất (Mo) trong

100 RR

- Giá trị khoảng RR trung bình: X (giây) =

100

RR

- σ (giây) : Độ lệch chuẩn của 100 khoảng RR

- V : Hệ số dao động của 100 khoảng RR =

X

δ

- CSCT : chỉ số căng thẳng (đơn vị điều kiện) =

Mo X

AMo

.

2 ∆

- Chỉ số đánh giá:

• Chỉ số độ lệch chuẩn σ của 100 khoảng RR càng thấp, CSCT càng cao thể hiện tham gia điều khiển nhịp tim ở mức trung ương càng nhiều do căng thẳng chức năng cơ thể và chức năng tim mạch cao, đồng thời thể hiện khả năng thích nghi càng kém

• σ<0,040 giây và CSCT >=200 : mức quá căng thẳng chức năng hệ tim mạch (mức 3/4 theo phân loại của Baevxki, 1984)

2 2.3 3 Đánh giá ĐTĐ : Ghi và đánh giá biến đổi ĐTĐ ở 12 chuyển đạo

thông dụng ở trạng thái tĩnh (nằm)

2 2.3 4 Đo huyết áp ở tư thế ngồi

Đánh giá huyết áp cao theo Tổ chức y tế thế giới khi HA tối đa ≥ 140 mmHg và/hoặc HA tối thiểu ≥ 90 mmHg) HA thấp khi HA tối đa ≤ 90 mmHg và/hoặc HA tối thiểu ≤ 60 mmHg)

2.2.4 Xác định các rối loạn liên quan sức khoẻ tâm thần:

Bao gồm các công cụ:

• Bộ câu hỏi sàng lọc: sử dụng thang đánh giá sức khoẻ chung

• Bộ câu hỏi để phát hiện lo âu

• Bộ câu hỏi để phát hiện trầm cảm

Ngày đăng: 27/08/2014, 12:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Bình An (1992) Sử dụng các test Zung và Beck đánh giá trạng thái cảm xúc của công nhân quốc phòng làm việc trong điều kiện đặc biệt, Kỷ yếu Công trình NCKH, BV.Bạch mai, Tập 2.2. Trần Ngọc Ân (1991)Bệnh thấp khớp, Nhà xuất bản Y học Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh thấp khớp
Tác giả: Trần Ngọc Ân
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà nội
Năm: 1991
4. Tạ Tuyết Bình, Nguyễn Bạch Ngọc, Võ Văn Bản và ctv (1993) B−ớc đầu áp dụng ph−ơng pháp th− giãn luyện tập cho công nhân vận hành hệ thống tự động trong công trình ngầm”, Tạp chí Y học lao động và Vệ sinh môi tr−ờng, ( 6), tr. 28-32.5. Võ Văn Bản (2002)Stress và cách phòng chống. Thực hành điều trị tâm lý, Nhà xuất bản Y học Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học lao động và Vệ sinh môi tr−ờng", ( 6), tr. 28-32. 5. Võ Văn Bản (2002) Stress và cách phòng chống. "Thực hành điều trị tâm lý
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà nội
6. Nguyễn Duy Bảo (1993) Tình hình nhiễm bụi tại nhà máy gạch chịu lửa và nhà máy luyện cán thép Gia Sàng. Tập san YHLĐ và VSMT. số 6. (17 – 20) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm bụi tại nhà máy gạch chịu lửa và nhà máy luyện cán thép Gia Sàng
Tác giả: Nguyễn Duy Bảo
Nhà XB: Tập san YHLĐ và VSMT
Năm: 1993
7. Bộ y tế. Viện giám định y khoa (1998) Điều tra cơ bản về thực trạng sức khỏe công nhân lái tàu hoả, lái xe máy thi công và ô tô vận tải trên 10 tấn”. Báo cáo đề tài khoa học Trung tâm y tế Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra cơ bản về thực trạng sức khỏe công nhân lái tàu hoả, lái xe máy thi công và ô tô vận tải trên 10 tấn
Tác giả: Bộ y tế, Viện giám định y khoa
Nhà XB: Báo cáo đề tài khoa học Trung tâm y tế Giao thông vận tải
Năm: 1998
8. Nguyễn Thế Công, Nguyễn thị Thu, Nguyễn Ngọc Ngà và cs (2003) Thực trạng tác hại nghề nghiệp và giải pháp cải thiện điều kiện lao động, bảo vệ sức khoẻ cho nữ công nhân sản xuất giày. Báo cáo khoa học toàn văn. Hội nghị khoa học quốc tế Y học lao động và Vệ sinh môi trường lần thứ I. Hội nghị khoa học Y học lao động toàn quốc lần thứ V. Hà Nội, ngày 12- 14/11/2003, tr. 183 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng tác hại nghề nghiệp và giải pháp cải thiện điều kiện lao động, bảo vệ sức khoẻ cho nữ công nhân sản xuất giày
Tác giả: Nguyễn Thế Công, Nguyễn thị Thu, Nguyễn Ngọc Ngà, cs
Nhà XB: Báo cáo khoa học toàn văn
Năm: 2003
9. Trần Văn C−ờng và cs (2002) Điều tra dịch tễ học lâm sàng một số bệnh tâm thần th−ờng gặp ở các vùng kinh tế, xã hội khác nhau của nước ta hiện nay, Báo cáo đề tài NCKH cấp Bộ, Ngành tâm thần Việt nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đề tài NCKH cấp Bộ
11. Thái văn Cớn (1998) Đặc điểm điện tim, lưu huyết não và cơ cấu bệnh tật của lái xe bưu chính”, Tạp chí Y học lao động và Vệ sinh môi trường, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học lao động và Vệ sinh môi tr−ờng
10. Nguyễn Hữu Chiến và cs (2001). Đánh giá một số chỉ số về sức khoẻ tâm thần của công nhân lái tàu hoả trong khai thác vận tải đ−ờng sắt và đ−a ra khuyến cáo. Đề tài cấp bộ (trang 47) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2.52. Đánh giá chủ quan của kiểm soát viên không lưu - Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của người dân Việt Nam trong thời kỳ chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường và xây dựng các giải pháp can thiệp
Bảng 3.2.52. Đánh giá chủ quan của kiểm soát viên không lưu (Trang 89)
Bảng 3.2.59. Đánh giá chủ quan về trạng thái sức khoẻ - Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của người dân Việt Nam trong thời kỳ chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường và xây dựng các giải pháp can thiệp
Bảng 3.2.59. Đánh giá chủ quan về trạng thái sức khoẻ (Trang 94)
Bảng 3.2.66. Đánh giá chủ quan về trạng thái sức khoẻ - Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của người dân Việt Nam trong thời kỳ chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường và xây dựng các giải pháp can thiệp
Bảng 3.2.66. Đánh giá chủ quan về trạng thái sức khoẻ (Trang 99)
Hình 3.2.1. Tỷ lệ người lao động trong các ngành nghề có căng thẳng tim - Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của người dân Việt Nam trong thời kỳ chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường và xây dựng các giải pháp can thiệp
Hình 3.2.1. Tỷ lệ người lao động trong các ngành nghề có căng thẳng tim (Trang 105)
Hình 3.3.1. Phân bố các rối loạn tâm thần theo nhóm tuổi - Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của người dân Việt Nam trong thời kỳ chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường và xây dựng các giải pháp can thiệp
Hình 3.3.1. Phân bố các rối loạn tâm thần theo nhóm tuổi (Trang 145)
Hình 3.3.11.2. Phân bố các rối loạn tâm thần theo trình độ văn hoá - Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của người dân Việt Nam trong thời kỳ chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường và xây dựng các giải pháp can thiệp
Hình 3.3.11.2. Phân bố các rối loạn tâm thần theo trình độ văn hoá (Trang 146)
Hình 3.3.11.4. Các bệnh cơ thể ở ng−ời có rối loạn tâm thần - Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của người dân Việt Nam trong thời kỳ chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường và xây dựng các giải pháp can thiệp
Hình 3.3.11.4. Các bệnh cơ thể ở ng−ời có rối loạn tâm thần (Trang 148)
Bảng 3.4.1. Đặc điểm lâm sàng rối loạn giấc ngủ (n=63) - Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của người dân Việt Nam trong thời kỳ chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường và xây dựng các giải pháp can thiệp
Bảng 3.4.1. Đặc điểm lâm sàng rối loạn giấc ngủ (n=63) (Trang 160)
Bảng 3.4.2. Đặc điểm lâm sàng suy nh−ợc (n = 84) - Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của người dân Việt Nam trong thời kỳ chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường và xây dựng các giải pháp can thiệp
Bảng 3.4.2. Đặc điểm lâm sàng suy nh−ợc (n = 84) (Trang 161)
Bảng 3.4.3. Đặc điểm lâm sàng lo âu - Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của người dân Việt Nam trong thời kỳ chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường và xây dựng các giải pháp can thiệp
Bảng 3.4.3. Đặc điểm lâm sàng lo âu (Trang 162)
Bảng 3.4.4. Đặc điểm lâm sàng của trầm cảm - Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của người dân Việt Nam trong thời kỳ chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường và xây dựng các giải pháp can thiệp
Bảng 3.4.4. Đặc điểm lâm sàng của trầm cảm (Trang 163)
Bảng 3.4.6. Đặc điểm lâm sàng suy nh−ợc - Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của người dân Việt Nam trong thời kỳ chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường và xây dựng các giải pháp can thiệp
Bảng 3.4.6. Đặc điểm lâm sàng suy nh−ợc (Trang 166)
Bảng 2. Tỷ lệ các RLTT  ở người lao động theo giới - Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của người dân Việt Nam trong thời kỳ chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường và xây dựng các giải pháp can thiệp
Bảng 2. Tỷ lệ các RLTT ở người lao động theo giới (Trang 233)
Bảng 1. Tổng hợp tỷ lệ bệnh tâm thần của các nhóm - Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của người dân Việt Nam trong thời kỳ chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường và xây dựng các giải pháp can thiệp
Bảng 1. Tổng hợp tỷ lệ bệnh tâm thần của các nhóm (Trang 233)
Bảng 3. Đánh giá sự thuyên giảm các triệu chứng lâm sàng sau can thiệp - Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của người dân Việt Nam trong thời kỳ chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường và xây dựng các giải pháp can thiệp
Bảng 3. Đánh giá sự thuyên giảm các triệu chứng lâm sàng sau can thiệp (Trang 238)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w