1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tóm tắt luận án tiến sĩ đặc trưng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết việt nam về nông thôn từ 1986 đến nay

29 966 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 265 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nông thôn được các tiểu thuyết gia quan tâm sâu sắc, nhiềuchiều hơn với nhịp chuyển động của nó trong hơi thở hiện thực, nhất làtừ những năm 1975 trở đi, tiểu thuyết viết về nông

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-BÙI NHƯ HẢI

ĐẶC TRƯNG PHẢN ÁNH HIỆN THỰC CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM VỀ NÔNG THÔN TỪ 1986 ĐẾN NAY

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Mã số : 62 22 34 01

HÀ NỘI, năm 2013

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học

xã hội Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hồ Thế Hà

- Thư viện quốc gia Việt Nam

- Thư viện Học viện Khoa học xã hội

- Thư viện Viện văn học

Trang 3

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-BÙI NHƯ HẢI

ĐẶC TRƯNG PHẢN ÁNH HIỆN THỰC CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM VỀ NÔNG THÔN TỪ 1986 ĐẾN NAY

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Mã số : 62 22 34 01

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS HỒ THẾ HÀ

HÀ NỘI, năm 2013

Trang 4

Mĩ, hình ảnh làng quê với người nông dân áo lính đã đi vào văn học nhưnhững biểu tượng đẹp trong kí ức hào hùng của dân tộc

1.2 Đại thắng mùa Xuân 1975 đã khép lại cuộc chiến tranh, non sôngliền một dải Đất nước dần chuyển mình từ thời chiến sang thời bình, một kỷnguyên mới mở ra với lắm bộn bề nhưng cũng nhiều khát vọng Chính điều

đó là mảnh đất màu mỡ để văn học sau 1975 vươn mình lớn dậy và tỏa bóngxuống cuộc sống rộng lớn, mênh mông Đặt biệt, luồng gió tư tưởng đổi mới

kể từ sau Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng đã tạo thành cơn luân vũ mãnhliệt tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, tạo nên bầu không khí dân chủ,cởi mở, tiến bộ hơn, trong đó, có văn học - một bức tranh nhiều màu sắc vớikhát vọng vẽ trọn vẹn chân dung tâm hồn con người của thời đại từ nhữngmiền quê Trong sự phát triển mạnh mẽ và toàn diện của nền văn học mới,văn xuôi nông thôn chiếm một vị trí không nhỏ cả về số lượng lẫn chất lượng,góp phần làm nên diện mạo, thành tựu, tác dụng xã hội và tính đặc thù củanền văn học

Tiểu thuyết viết về nông thôn sau 1975, nhất là sau đổi mới vẫntiếp tục “thâm canh” trên mảnh đất đầy tiềm năng này nhưng phươngthức khai thác đã thay đổi Nhiều trang viết ngồn ngộn chất sống từhương đồng rơm rạ của chốn hương quê Việt Nam qua các ngòi bút tàidanh một lần nữa khẳng định sự chiếm lĩnh hiện thực toàn diện trongcảm hứng viết về nông thôn Việt

Trang 5

Đề tài nông thôn được các tiểu thuyết gia quan tâm sâu sắc, nhiềuchiều hơn với nhịp chuyển động của nó trong hơi thở hiện thực, nhất là

từ những năm 1975 trở đi, tiểu thuyết viết về nông thôn đã có sự đổi mớitrong cảm hứng, cấu tứ, thi pháp để tạo nên cách nhìn nhận và tái tạo lạihiện thực một cách đầy đủ, sinh động hơn mà tiểu thuyết về nông thôntrước đó, do nguyên nhân chủ quan và khách quan chưa làm được Từthực tế trên, tiểu thuyết viết về nông thôn dần thu hút được sự quan tâmcủa bạn đọc Đã có một số bài viết hoặc một vài cuốn sách về đề tài này,nhưng tất cả hầu như chỉ mới dừng lại ở phạm vi hẹp, chưa có một côngtrình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và toàn diện về đề tài này Đây

là khoảng trống không nhỏ cần sự góp sức của tất cả những ai quan tâmđến mảng tiểu thuyết viết về nông thôn đương đại

Vì vậy, chọn đề tài Đặc trưng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết Việt

Nam về nông thôn từ 1986 đến nay, chúng tôi mong muốn có một cái nhìn

tương đối hệ thống về toàn bộ tiến trình vận động và phát triển cũng nhưnhững đặc điểm và thành tựu trên bình diện nội dung và hình thức nghệ thuậtcủa tiểu thuyết về đề tài này từ 1986 đến 2012 Qua đó, thấy được quy luậtvận động của tiểu thuyết viết về nông thôn sau chiến tranh cũng như trên conđường giao lưu của văn học dân tộc với văn học thế giới

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là những tiểu thuyết Việt

Nam viết về nông thôn tiêu biểu từ 1986 đến 2012 như: Thời xa vắng,

Chuyện làng Cuội của Lê Lựu, Bến không chồng, Dưới chín tầng trời

của Dương Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Lời nguyền hai trăm năm của Khôi Vũ, Lão Khổ của Tạ Duy Anh, Thủy hỏa đạo tặc, Đồng sau bão của Hoàng Minh Tường, Dòng

sông Mía của Đào Thắng, Ba người khác của Tô Hoài, Ma làng của

Trịnh Thanh Phong, Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách, Giời cao đất

dày của Bùi Thanh Minh, Thần thánh và bươm bướm của Đỗ Minh

Tuấn… Ngoài ra, chúng tôi còn đối sánh với các tiểu thuyết ở giai đoạn

1932 - 1975, 1975 - 1985 như Con đường sáng của Hoàng Đạo, Bước

đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Con trâu

của Nguyễn Văn Bổng, Cái sân gạch của Đào Vũ, Xung đột của Nguyễn Khải, Bão biển của Chu Văn, Buổi sáng, Đất làng của Nguyễn Thị Ngọc

Tú, Ao làng của Ngô Ngọc Bội, Đi bước nữa của Nguyễn Thế Phương,

Cửa sông của Nguyễn Minh Châu, Cù lao Tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn, Mưa mùa hạ của Ma Văn Kháng… Đồng thời, chúng tôi còn tìm hiểu một

số thể loại khác về nông thôn như bút ký, truyện ngắn, để thấy được sự

Trang 6

vận động toàn cảnh của văn xuôi viết về nông thôn trong tiến trình lịch sửvăn học dân tộc

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

Phương pháp nghiên cứu xã hội học văn học; Phương pháp phân tích, so sánh; Phương pháp hệ thống, cấu trúc; phương pháp vận dụng lý thuyết thi pháp học…

4 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

4.1 Luận án góp phần nhận diện chung nhất tiến trình vận động

và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam viết về nông thôn từ 1986 đến

2012, nhằm thấy được sự kế thừa, tiếp nối những thành tựu của giaiđoạn trước 1986 và những vấn đề mà giai đoạn sau tiếp cận và phản ánh.Qua đó, thấy được sự bứt phá của tiểu thuyết về nông thôn giai đoạn nàytrong bước ngoặt chuyển mình của đời sống xã hội và ý thức nghệ thuậtcủa chủ thể sáng tạo

4.2 Giúp bạn đọc có cái nhìn mới mẻ về tiểu thuyết Việt Namviết về nông thôn sau đổi mới trên cả hai phương diện nội dung vàphương thức nghệ thuật giai đoạn trước đó

4.3 Kết quả của luận án có thể dùng để đưa vào chương trìnhgiảng dạy ở bậc THCS, THPT và bậc Đại học, sau Đại học; đồng thờidùng làm tài liệu tham khảo để viết giáo trình Văn học Việt Nam hiệnđại về đề tài nông thôn

4 CẤU TRÚC LUẬN ÁN

Luận án gồm 150 trang chính văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận,Công trình tác giả đã công bố có liên quan đến luận án, Tài liệu thamkhảo và Phụ lục, Phụ chú, phần Nội dung của luận án gồm 4 chương Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam

về nông thôn từ 1986 đến nay

Trang 7

Chương 2: Diện mạo của tiểu thuyết Việt Nam về nông thôn từ

1986 đến nay

Chương 3: Hiện thực và con người trong tiểu thuyết Việt Nam về

nông thôn từ 1986 đến nay

Chương 4: Phương thức biểu hiện của tiểu thuyết Việt Nam vềnông thôn từ 1986 đến nay

NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TIỂU THUYẾT VIỆT NAM VỀ NÔNG THÔN TỪ 1986 ĐẾN NAY

1.1 LUẬN BÀN TOÀN CẢNH

1.1.1 Khẳng định sự đổi mới, lạc quan vào sự hồi sinh

Một số bài viết, công trình nghiên cứu như: Văn xuôi viết về nông

thôn từ nửa sau 80 của Trần Cương, Các nhà tiểu thuyết nông thôn trong

cơ chế thị trường của Hoàng Minh Tường, Về hướng tiếp cận mới đối với hiện thực trong văn xuôi sau 1975 của Tôn Phương Lan, Cảm hứng bi kịch nhân văn trong tiểu thuyết Việt Nam nửa sau thập niên 80 của

Nguyễn Hà, Tìm kiếm những trang viết về nông thôn của Đỗ Kim Cuông, Đề tài nông thôn không bao giờ mòn của Phạm Ngọc Tiến, Luận

án phó Tiến sĩ Ngữ văn Văn xuôi viết về nông thôn trong công cuộc đổi

mới qua một số tác giả tiêu biểu của Lã Duy Lan, Luận án Tiến sĩ Ngữ

văn Văn xuôi viết về nông thôn trong văn học Việt Nam sau 1975 của

Bùi Quang Trường… đã có những nhận định, đánh giá chung: Đề tàinông thôn có lực hút đối với các nhà văn đương đại Văn xuôi và tiểuthuyết về nông thôn sau đổi mới đã thực sự hồi sinh, để lại dấu ấn quamỗi giai đoạn, mỗi tác giả và tác phẩm Do đó, đề tài nông thôn không

hề “bạc màu”, “không bao giờ mòn”, “vẫn chưa đến mức đoản mệnh”…

1.1.2 Quan ngại về dấu hiệu chững lại

Bên cạnh đó, có các bài viết của một số nhà văn, nhà nghiên cứu

như: Đề tài về người nông dân, làm sao cho xứng tầm của Đào Thái Tuấn, Nhà quê, nông thôn: Tự nó và về nó của Mai Anh Tuấn, Nhà văn

với đời sống nông thôn và nông dân ngày nay của Nguyễn Bính Hồng

Cầu, Nhà văn trẻ không mấy mặn mà với đề tài nông thôn của Hải Giám,

Nghệ thuật “quên” đề tài nông thôn ?, Nhà văn trẻ quên quê mình của

Hồ Huy Sơn … đều cho rằng: Văn xuôi và tiểu thuyết về nông thôn hiệntại và tương lai có dấu hiệu chững lại Đặc biệt, trong giới sáng tác trẻcàng trở nên vắng bóng, nhạt nhòa, bởi họ đang hào hứng, chạy đua với

đề tài “hót” (sex, les, gay, ma, kinh dị, trinh thám), còn đề tài nông thônlại “xa lánh” Như vậy, sự băn khoăn, lo lắng của bạn đọc, giới nghiên

Trang 8

cứu cũng như từ chính giới sáng tác về sự giảm sút chất lượng và sốlượng các tác phẩm về nông thôn là có cơ sở, đúng với tình hình hiệnnay Thực tế đó, đã gióng lên hồi chuông cảnh báo cho văn giới và đặt racho họ trách nhiệm khi viết về nông thôn và nông dân

1.2 LUẬN BÀN QUANH MỘT SỐ TIỂU THUYẾT NỔI TRỘI

1.2.1 Nhận định, đánh giá về những thành công

1.2.1.1 Thời xa vắng (1986) có một số bài viết tiêu biểu: Đọc Thời

xa vắng của Lê Lựu của Hoàng Ngọc Hiến Nghĩ về một “Thời xa vắng” chưa xa của Thiếu Mai Lê Lựu - Thời xa vắng của Đinh Quang Tốn Nhu cầu nhận thức lại thực tại qua một Thời xa vắng của Nguyễn Văn Lưu…

1.2.1.2 Bến không chồng và Mảnh đất lắm người nhiều ma có các bài viết như: Bức tranh làng quê và số phận người nông dân qua những

biến thiên lịch sử của Nguyễn Văn Long, Dương Hướng và Bến không chồng của Trung Trung Đỉnh, Cái nhìn của Dương Hướng trong tiểu thuyết Dưới chín tầng trời của Hoàng Ngọc Hiến, Thế giới kỳ ảo trong Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường từ điểm nhìn văn hóa của Lê Nguyên Cẩn…

1.2.1.3 Lão Khổ không có tên ở bất cứ giải thưởng nào, nhưng đã trở thành điểm nóng thu hút của các nhà nghiên cứu như: Việt Hoài với bài Tạ

Duy Anh - lằn ranh giữa thiện ác, Vương Quốc Hùng có bài Tạ Duy Anh, đôi nét tác giả - tác phẩm, Đoàn Ánh Dương có bài Lối viết tiểu thuyết Việt Nam trong bối cảnh hội nhập (Qua trường hợp Tạ Duy Anh)…

1.2.1.4 Dòng sông Mía đạt giải thưởng Hội nhà văn (2002 2004) và giải thưởng văn học viết về Nông nghiệp, nông dân và nông

-thôn lần nhất (3/6/2011) đã có các bài viết đánh giá trực tiếp hoặc có

tính chất nhận định chung như: Dòng sông Mía hay tiếng nấc của sông

Châu Giang? của Trần Mạnh Hảo, Dòng sông Mía - Một không gian tiểu thuyết vừa quen thuộc vừa mới mẻ của Lý Hoài Thu, Từ cuộc thi tiểu thuyết 2002 - 2004 của Hội nhà văn Việt Nam của Phong Lê, Cuộc

tự vượt đáng trân trọng của Hữu Thỉnh…

1.3.1.5 Về Dưới chín tầng trời cũng được một số nhà nghiên cứu đánh giá cao như Hữu Tuân với bài Dưới chín tầng trời – Bức tranh

hiện thực hoành tráng, Bùi Việt Thắng với bài Bi kịch lạc quan trong dưới chín tầng trời, Hoàng Ngọc Hiến với bài Cái nhìn Dương Hướng trong tiểu thuyết Dưới chín tầng trời, Phong Lê với bài Từ Bến không chồng đến Dưới chín tầng trời…

1.2.1.6 Ba người khác vừa mới ra mắt đã gây được tiếng vang lớn

trên diễn đàn văn học trong nước và hải ngoại, được Hội Nhà văn Hà Nội tổ

Trang 9

chức tọa đàm (22/12/2006) Nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu viết bài thamluận, đăng các tạp chí, báo, nguồn internet Trong đó, có các bài viết đáng

chú ý như Tọa đàm về Ba người khác (Nhiều tác giả), Về tiểu thuyết Ba

người khác (Lại Nguyên Ân), Đọc Ba người khác (Trúc Anh)…

Nhìn chung, các bài viết về các tác phẩm trên đã đề cập, đánh giá

về những thành công ở các phương diện đề tài, ngôn ngữ, giọng điệu, kếtcấu, hình tượng nhân vật, điểm nhìn trần thuật, không gian và thời giannghệ thuật… của tác phẩm

1.2.2 Nhận định, đánh giá về những hạn chế

Bên cạnh đó, các tác giả nghiên cứu trên cũng đã chỉ ra một sốhạn chế nhất định về mặt nội dung cũng như phương thức biểu hiện củacác tác phẩm trên như cách nhìn thái quá hoặc bất cập về hiện thực vàcon người, về các chủ đề cải cách ruộng đất và tính dục…

Như vậy, các nhà nghiên cứu mới chỉ ra những nét chấm phá tảnmạn chứ chưa bàn sâu, bàn kĩ, vì vậy nó vẫn còn ẩn số, chứa đựng nhiềuvấn đề mới mẻ, thú vị cần khám phá Chúng tôi kế thừa thành tựu củanhững người đi trước để nghiên cứu toàn diện và đầy đủ hơn, nhằmkhẳng định và chỉ ra một cách có hệ thống những thành tựu của tiểuthuyết viết về nông thôn trên cả hai bình diện nội dung và hình thứcnghệ thuật

Chương 2 DIỆN MẠO CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM

VỀ NÔNG THÔN TỪ 1986 ĐẾN NAY 2.1 NHU CẦU ĐỔI MỚI TƯ DUY NGHỆ THUẬT

2.1.1 Tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết về nông thôn trước 1986

Cách mạng tháng Tám và hiện thực lịch sử của hai cuộc khángchiến chính là chất liệu để tiểu thuyết về nông thôn có bước chuyển biếnquan trọng Từ chỗ bộc lộ khát vọng giải phóng cá nhân, mưu cầu hạnhphúc (Tự lực văn đoàn); miêu tả đời sống người nông dân nghèo trongcảnh bị bóc lột trắng trợn của chế độ phong kiến (Hiện thực phê phán),tiểu thuyết viết về nông thôn đã chuyển sang thời kỳ sáng tác theokhuynh hướng sử thi Đề tài nông thôn nằm trong đề tài kháng chiến, vìthế chủ âm nổi lên là cảm hứng ngợi ca gắn bó với kiểu tư duy sử thi

ngự trị gần như tuyệt đối thời kỳ này (Con trâu và Bếp đỏ lửa của Nguyễn Văn Bổng, Cửa sông của Nguyễn Minh Châu, Bão biển và Đất

mặn của Chu Văn…)

Trang 10

2.1.2 Nhu cầu đổi mới tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết về nông thôn sau 1986

2.1.2.1 Khuynh hướng đổi mới tư duy tiểu thuyết, tiểu thuyết viết

về nông thôn giai đoạn này có những tìm tòi, thể nghiệm trong hình thức

nghệ thuật Về cấu trúc tác phẩm, ngoài xu hướng quay về mô hình tự sự

truyền thống (Thời xa vắng, Giời cao đất dày…), các nhà văn đã sử dụng

những kết cấu mới như kết cấu rubich, kết cấu đảo lộn thời gian, kết cấu

“buông lửng”, kết cấu liên văn bản, “tiểu thuyết lồng tiểu thuyết”… (Giã

biệt bóng tối, Lão Khổ, Thần thánh và bươm bướm…) Ngôn ngữ cũng biến

đổi theo hướng ít mực thước, mĩ lệ, mà đậm đời thường, giàu tính khẩu

ngữ Nhà văn gia tăng tính triết luận, khái quát và cách ứng xử ngôn ngữ

của họ tự do, phóng khoáng hơn (Màu rừng ruộng, Ba người khác, Thời

của thánh thần…) Hiện tượng dồn nén về mặt dung lượng cũng thể hiện sự

đổi mới tư duy tiểu thuyết viết về nông thôn từ sau đổi mới (Lời nguyền hai

trăm năm, Họ vẫn chưa về, Cánh đồng lưu lạc…)

2.1.2.2 Tư duy tiểu thuyết mới cũng góp phần đắc lực cho các nhà

văn viết về nông thôn đi sâu khám phá thế giới bên trong đầy bí ẩn,

thầm kín, nhấn mạnh tới chiều kích tâm linh của người nông dân, tạo nên quan niệm nghệ thuật mới về con người, đặc biệt là con người đời tư

(tiếp cận người nông dân ở góc độ riêng tư) như Chuyện làng Cuội, Bến

không chồng, Giời cao đất dày

2.1.2.3 Tư duy nghệ thuật tiểu thuyết về nông thôn giai đoạn này còn

thể hiện sự nhạy bén trong việc nhận thức tối đa về thực trạng đạo đức suy

thoái, băng hoại nhân cách của người nông dân trong quá trình đô thị hóa nông thôn Các nhà văn truy tìm trong cơ chế thị trường và quá trình hiện

đại hóa nông thôn những nguyên nhân làm cho người nông dân tự đánh mất

đi chất thuần hậu, dẫn đến đạo đức bị băng hoại, tha hóa và biến chất như

thế nào (Ma làng, Lão Khổ, Dòng sông Mía, Dòng chảy đất đai…)

2.2 NHU CẦU NHẬN THỨC VÀ SỰ CHIẾM LĨNH HIỆN THỰC ĐA CHIỀU

2.2.1 Nhu cầu nhận thức mới hiện thực trong tiểu thuyết về nông thôn trước 1986

Nông thôn thời kỳ 1932 - 1945 trong tiểu thuyết viết về nông thônchỉ là bức tranh u tối của những vô lý và bất công, những thủ đoạn bóc lột

tàn nhẫn, trắng trợn, tù đọng (Tắt đèn, Bước đường cùng…) Sau Cách

mạng tháng Tám 1945, vẫn còn đọng lại không ít những mặt tiêu cực, làmcản trở sự phát triển xã hội nông thôn, gây ra nhiều nhức nhối và thảm kịchđối với người nông dân Thời kỳ cải cách ruộng đất (1955-1956), do quanniệm đấu tranh giai cấp một cách máy móc, mối quan hệ giữa nông dân và

Trang 11

địa chủ đã bị đẩy đến hai cực đối lập gay gắt, gây ra hận thù, đổ máu và làm

đảo lộn toàn bộ nền tảng xã hội nông thôn và nông dân (Bếp đỏ lửa, Cái

sân gạch…) Thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp (đầu những năm 1960), chủ

yếu xoay quanh vấn đề ra vào “hợp tác xã”, hiện thực nông thôn được tôhồng, đơn điệu một chiều Thời kỳ chiến tranh chống Mỹ (1964-1975), chủyếu tập trung vào vấn đề “hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn”,

“vừa sản xuất vừa chiến đấu (Bão biển, Đất làng…) Thời kỳ tiền đổi mới

(1975-1985), những vấn nạn trong đời sống xã hội nông thôn như hiệntượng ô dù, nỗi thống khổ của người dân quê do cung cách làm ăn và quản

lý nông thôn theo kiểu cũ trỗi dậy (Cù lao Tràm, Nhìn dưới mặt trời, Hạt

mùa sau ).

Nhìn chung, tiểu thuyết viết về nông thôn trước 1986 có cái nhìnbao quát hiện thực lớn lao Song, phần “máu thịt” thuộc về đời sốngnông thôn vẫn chưa in đậm “không khí, mùi vị, màu sắc và âm thanh”của đời sống nông thôn Việt

2.2.2 Sự chiếm lĩnh hiện thực đa chiều trong tiểu thuyết về nông thôn sau 1986

Nhờ không khí dân chủ hóa trong đời sống sáng tác mà hiện thựcđược phản ánh trong tiểu thuyết về nông thôn giai đoạn này được nhìnnhận và phản ánh toàn diện hơn Hiện thực nhiều chiều được tái tạo, tìmkiếm, suy ngẫm nên đã tạo dựng được những bước đi đáng khích lệtrong việc đổi mới đề tài này thành các chủ đề nóng bỏng, thời sự Hướng ngòi bút vào hiện thực nông thôn, các nhà văn đã đặt ra vàđiều trần toàn bộ những vấn đề nhức nhối đã và đang tồn tại trong xã hộinông thôn Đặc biệt, những góc khuất của hiện thực nông thôn trong quákhứ và hiện tại đang làm bỏng rát tâm hồn người nông dân đã được cácnhà văn soi chiếu trên tinh thần nhân văn như: vấn đề chiến tranh, cảicách ruộng đất, những xung đột phe cánh, tranh chấp âm ỉ, quyết liệt vềdòng họ, chi phái và cả những hủ tục, tập tục cũng được quan tâm ráo

riết (Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Dòng sông Mía,

Bão đồng, Ma làng…)

Việc phản ánh chân thực hiện thực đã mang lại sinh khí mới cho tiểuthuyết viết về nông thôn, thể hiện sâu sắc xu hướng dân chủ hóa trong sángtạo, khắc phục được những hạn chế của giai đoạn trước, làm mới cách nhìn

về hiện thực và con người, giúp người đọc hiểu được diện mạo, tâm hồnngười nông dân trong từng thời kỳ lịch sử đầy biến động

Trang 12

2.3 DIỆN MẠO CỦA TIẾU THUYẾT VỀ NÔNG THÔN TRONG MẠCH NGUỒN TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY

2.3.1 Tiến trình tiểu thuyết về nông thôn trước 1986

2.3.1.1 Tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn từ 1932-1945 chủ yếu

có hai khuynh hướng sáng tác là lãng mạn và hiện thực Nhưng đỉnh cao lại

thuộc về các nhà văn hiện thực (Tắt đèn, Bước đường cùng, Vỡ đê…)

2.3.1.2 Chặng đường 1945-1954, do tính chất đặc thù mà đề tàivăn học kháng chiến và tiểu thuyết viết về nông thôn quyện chặt vàonhau, không xác định đường biên rõ ràng Đề tài nông thôn nằm trong đềtài kháng chiến Đội ngũ sáng tác ở giai đoạn này khá đông đúc, hùnghậu, với nhiều cá tính sáng tạo và bút pháp khác nhau nhưng họ cùngchung lý tưởng, cùng đứng vào hàng ngũ của Đảng, cùng hòa nhập vớicông - nông - binh, vừa cầm bút vừa sẵn sàng đến những vùng mũi nhọn

của cuộc sống nhằm phục vụ mục đích: kháng chiến và kiến quốc (Xung

kích, Con trâu )

2.3.1.3 Hai mươi năm (1954 - 1975), tiểu thuyết viết về nôngthôn đã bắt kịp nhịp đi của thời đại, của dân tộc qua việc hướng ngòi bútvào những vấn đề có tính thời sự như tiền tuyến và hậu phương, cải cáchruộng đất, hàn gắn vết thương chiến tranh, đấu tranh giữa cái cũ và cái

mới, khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội xã hội chủ nghĩa (Cái sân gạch,

Xung đột, Ao làng…).

2.3.1.4 Những năm tiền đổi mới (1975 - 1985), tiểu thuyết viết về

nông thôn đã âm thầm diễn ra cuộc chuyển mình ở chiều sâu trong đời

sống nội tại, với những trăn trở, tìm tòi thầm lặng mà quyết liệt ở những

nhà văn mẫn cảm trước những biến động của thời đại như: Chu Văn, MaVăn Kháng, Nguyễn Thị Ngọc Tú… Bên cạnh, cảm hứng ngợi ca là cảmhứng phê phán, cảm hứng đời tư, cảm quan nhận thức lại hiện thực và có

sự đánh giá, quan sát người nông dân dịch chuyển dần về phía đạo đứcsinh hoạt; là tiếng nói “phản biện”, “lập luận” trong cung cách làm ăn kinh

tế của những người “đi trước thời đại”, đồng thời chỉ ra sự lỗi thời, lạc hậucủa cơ chế bao cấp, những bất cập trong tiêu chí đánh giá người nông dânnặng về ý thức hệ… Những vấn đề nóng bỏng đó được các nhà văn quantâm một cách rốt ráo, phản ánh nông thôn đang chuyển mình, bung phá

cùng nhịp đập toàn dân tộc (Đất mặn, Mưa mùa hạ, Bí thư cấp huyện ).

2.3.2 Diện mạo tiểu thuyết về nông thôn sau 1986

2.3.2.1 Từ khởi động tạo đà (1986 - 1990)

Mốc 1986 dĩ nhiên không phải thời điểm làm thay đổi diện mạocủa tiểu thuyết viết về nông thôn Sự đổi thay đó như một dòng chảy

Trang 13

ngầm từ những năm 80 của thế kỷ XX Tuy nhiên, chặng này vẫn đang

“cựa quậy”, “dò tìm” dấu hiệu đổi mới Sau 1986, nhà văn có điều kiện,thời cơ thuận lợi để thể hiện những trăn trở, suy tư về những vấn đề cốt

lõi của nông thôn một cách trực diện, thấu đáo hơn (Thời xa vắng, Cuốn

gia phả để lại, Pháp trường trắng…) Ký và phóng sự viết về nông thôn

sau nhiều năm vắng bóng đã đồng loạt ra quân như một sự hồi sinh củathể loại, tạo nên “cơn địa chấn” trong lòng bạn đọc Nhìn chung, vănxuôi và tiểu thuyết về nông thôn ở chặng này đã thể hiện được sự mẫncảm, tinh nhạy trước công cuộc đổi mới của nông thôn, bước đầu đánhdấu mốc son trong hành trình tìm về nông thôn, góp phần tạo đà mạnh

mẽ ở chặng sau (Lời nguyền hai trăm năm, Lá non, Ác mộng…)

2.3.2.2 Đến thu hoạch bước đầu (1990 - 2000)

Tiểu thuyết viết về nông thôn xuất hiện không ồ ạt nhưng lại có

được thành tựu nhất định Cùng thời điểm 1990, Mảnh đất lắm người nhiều ma và Bến không chồng ra đời, đánh dấu bước ngoặt lớn cho đề tài

nông thôn Sau giải thưởng Hội nhà văn (1991), một số tác phẩm ra đờiđược bạn đọc đón nhận, giới phê bình văn học quan tâm viết bài tranh

luận như Lão Khổ, Chuyện làng ngày ấy, Thủy hỏa đạo tặc… Tạ Duy

Anh là nhà văn tiêu biểu ở chặng này, nổi lên với phong cách độc đáo,

có nhiều thể nghiệm mạnh bạo trong cách viết, góp phần tạo nên diệnmạo mới cho văn xuôi viết về đề tài nông thôn từ những truyện ngắn tiêu

biểu: Lũ vịt trời, Bước qua lời nguyền, Xưa kia chị đẹp nhất làng… trở

thành hiện tượng, sự kiện văn học mới mẻ

2.3.2.3 Và đi vào bứt phá, hội nhập (2000 - 2012)

Tiểu thuyết viết về nông thôn thực sự bứt phá và đi vào hội nhập cùng

với dòng chảy của văn học đương đại Quy tụ nhiều thế hệ sáng tác, bao gồmnhững cây bút tên tuổi như Lê Lựu, Tô Hoài, Dương Hướng… đã vượt quagiới hạn của tuổi tác, vẫn dẻo dai, cần mẫn, tinh tường, sắc nhạy trên từngtrang văn Những cây bút trẻ như Tạ Duy Anh, Bùi Thanh Minh có sự táobạo, mới mẻ trong sáng tạo, mạnh dạn tìm tòi thử nghiệm, cách tân, chấpnhận mạo hiểm nhằm đem lại sắc diện mới Số lượng tác phẩm ra đời ào ạt,dồi dào và nhiều tác phẩm được giải thưởng giá trị

Trong sự mở rộng về chủ đề, nhiều tác phẩm đã tái hiện bộ mặt

nông thôn ở chiều rộng lẫn bề sâu (Dòng chảy đất đai, Cuồng phong,

Đồng sau bão…) Đặc biệt, với sự xuất hiện hai chủ đề số phận con người

và hạnh phúc cá nhân đã đưa tiểu thuyết về nông thôn đăng quang ở chiềusâu và chiều cao trong phản ánh hiện thực

Những kĩ thuật viết mới của chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại đượccác nhà văn sử dụng như bút pháp nhại, huyền ảo, kỳ ảo, nghịch dị, vô thức,

Trang 14

những kỹ thuật phâm tâm học, dòng ý thức, đa giọng điệu, liên văn văn ;hình tượng và ngôn ngữ được kiến tạo theo nguyên tắc lạ hóa, sự xáo trộn

giữa thực và hư, giữ siêu nhiên, huyền bí và đời thường (Đất trời vần vũ,

Họ vẫn chưa về, Thần thánh và bươm bướm…).

Chương 3 HIỆN THỰC VÀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM VỀ NÔNG THÔN TỪ 1986 ĐẾN NAY 3.1 HIỆN THỰC THỜI CHIẾN, HẬU CHIẾN VÀ CON NGƯỜI GẮN BÓ VỚI ĐẤT ĐAI, XỨ SỞ

3.1.1 Nông thôn thời chiến và hậu chiến - từ góc nhìn lịch đại

3.1.1.1 Hàng ngàn đời nay, người nông dân chỉ biết con trâu, đồng

ruộng, nhưng lạ thay, khi đất nước có chiến tranh, người nông dân ý thức

hướng về dân tộc và cách mạng, đặt bút viết đơn tình nguyện bằng chính

dòng máu của mình mong được nhập ngũ, ra trận, được chiến đấu (Giang

Minh Sài trong Thời xa vắng) Nhiều người không đủ độ tuổi nhập ngũ

cũng tìm mọi cách để vào được hàng ngũ quân đội (Nguyễn Kỳ Công

trong Thời của thánh thần) Anh Quặc (Dưới chín tầng trời) suốt đời lam

lũ, khổ ải cũng sẵn sàng để con lên đường tòng quân Chị Cả Thuần

(Dòng sông Mía), chị Nhân (Bến không chồng) hi sinh cả tuổi thanh xuân

cốt để chồng ra chiến trường Họ là những đại diện tiêu biểu cho tấmlòng sắt son của hàng triệu nông dân Việt Nam trung trinh với cách mạng,

dành cả tấm lòng, máu thịt cho quê hương, đất nước

3.1.1.2 Những năm tháng chiến tranh, những người lính - nông dân

luôn đối diện với đói khổ, cái chết nhưng vẫn nghị lực, can đảm, vẫn dồi

dào tình cảm, thủy chung với cách mạng, với đồng bào miền Nam ruột thịt Thời xa vắng, Bến không chồng, Dòng sông Mía… đều đề cập đến hiện

thực này với nhiều sắc thái khác nhau

3.1.1.3 Sự khốc liệt của chiến tranh khiến người nông dân áo lính

phơi bày bản chất thật nhất của mình Thông (Mảnh đất lắm người nhiều ma), Các (Dòng sông Mía), Thêm (Thời xa vắng)… anh dũng hi

sinh lúc bước vào độ tuổi đẹp nhất Bức (Bóng đêm và mặt trời), Vương (Dưới chín tầng trời), Thành (Bến không chồng)… đã để lại một phần

máu xương nơi chiến trường Nhưng cũng không ít người lính đớn hèn

như Biền, Hân (Bến không chồng), Ngộc (Cuồng Phong), Phệch (Ao bèo

gợn sóng)…

3.1.1.4 Chiến tranh kết thúc, những nông dân áo lính còn sống sót

trở về làng quê mang theo khí thế hồ hởi nhưng khi đối diện cuộc sống

đời thường, họ đã rơi vào bi kịch Mỗi người trở về từ chiến trường có

hoàn cảnh khác nhau nhưng có chung niềm đau không hoàn kết: cuộc

Ngày đăng: 27/08/2014, 11:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w