1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát đánh giá điều kiện nuôi trồng nấm trên địa bàn hai huyện Tuyên Hóa và Minh Hóa

28 512 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 892,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chưa có một mô hình tổ chức sản xuất nấm các loại ở quy mô hàng hoá và khép kín từ khâu nuôi trồng- chế biến- tiêu thụ.. Từ đó xây dựng kế hoạch và đề ra các giải pháp để thực hiện dự án

Trang 1

Viện di truyền nông nghiệp

Trung tâm công nghệ sinh học thực vật

-

Báo cáo kết quả

về khảo sát đánh giá điều kiện nuôi trồng nấm trên địa bàn hai huyện tuyên hoá và minh hoá

Thuộc dự án giảm nghèo khu vực Miền Trung

Trang 2

Viện di truyền nông nghiệp

Trung tâm công nghệ sinh học thực vật

-

Báo cáo kết quả

về khảo sát đánh giá điều kiện nuôi trồng nấm trên địa bàn hai huyện tuyên hoá và minh hoá

Thuộc dự án giảm nghèo khu vực Miền Trung

Trang 3

mục lục

Trang

Phần II Tình hình phát triển nghề nuôi trồng nấm 3

1 Tình hình sản xuất nấm ở ngoài nước

2 Tình hình sản xuất nấm ở trong nước

3

4 phần III Đánh giá thực trạng về tình hình sản xuất nấm các loại ở 2 huyện

Minh Hoá và Tuyên Hoá

7

I Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội và tiềm năng phát triển nghề nuôi trồng nấm ở 2 huyện

II Thực trạng khảo sát về tình hình trồng nấm tại 2 huyện

1 Thực tế khảo sát, đánh giá điều kiện ở các xã

2 Đánh giá thực tế tình hình nuôi trồng nấm ở các hộ

7

10

10

11 phần iv Các giải pháp thực hiện mô hình sản xuất nấm 12

Trang 4

Giới thiệu chung

1 Thời gian khảo sát: Trong thời gian 20 ngày kể từ ngày 20/9 đến ngày 10/10

năm 2006

2 Đoàn khảo sát gồm:

- Kỹ sư Đinh Xuân Linh Giám đốc Trung tâm Công nghệ sinh học thực vật

- Kỹ sư Lê Hồng Vinh Trung tâm Công nghệ sinh học thực vật

- Kỹ sư Lê Đăng Thái Cán bộ DAGN khu vực miền Trung tỉnh Quảng Bình

- Cùng một số cán bộ dự án của 2 huyện Tuyên Hoá và Minh Hoá

3 Địa bàn khảo sát:

- Huyện Tuyên Hoá bao gồm 10 xã: Tiến Hoá, Đức Hoá, Văn Hoá, Nam Hoá, Thạch Hoá, Sơn Hoá, Thị trấn Đồng Lê, Lê Hoá, Thuận Hoá và Lâm Hoá

- Huyện Minh Hoá bao gồm 9 xã: Xuân Hoá, Yên Hoá, Quy Hoá, thị trấn Quy

Đạt, Minh Hoá, Hoá Sơn, Hồng Hoá, Hoá Phúc

Trong đó có xã Văn Hoá và Hoá Sơn không khảo sát được do ảnh hưởng bảo số 5 và số 6 đường bị ngập nước và rất trơn không thể đến được Tuy không

đến được nhưng được sự giúp đỡ của cán bộ dự án huyện và tỉnh đoàn chúng tôi

đã nắm được một số thông tin cơ bản cần thiết

4 Phương pháp khảo sát:

- Phỏng vấn lãnh đạo các xã về tình hình nuôi trồng nấm và điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội

- Khảo sát và phỏng vấn một số hộ đang nuôi trồng nấm ở các xã

- Đánh giá điều kiện nguyên nhiên vật liệu, lao động, con người và các điều kiện khác về định hướng phát triển sản xuất nấm

- Khảo sát đánh giá trị trường tiêu thụ nấm

5 Mục tiêu khảo sát:

- Đánh giá điều kiện tự nhiên khí hậu, vùng nguyên liệu, con người lao động, thu nhập đầu người của các xã nằm ở 2 huyện

- Đánh giá tình hình nuôi trồng nấm hiện tại của địa phương

- Đánh giá những điều kiện thuận lợi khó khăn trong nghề phát triển nuôi trồng nấm Từ đó đề ra các giải pháp cụ thể để xây dựng mô hình sản xuất nấm

- Tìm hiểu thị trường tiêu thụ nấm trên địa bàn 2 huyện và Thành phố Đồng Hới

Trang 5

là một nghề mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực nhằm xoá đói giảm nghèo cho các hộ nông dân, điển hình là ở các tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Hà Tĩnh, Hà Tây, Hà Nội, Hải Dương, Vĩnh Phúc,… Đã có hàng ngàn hộ nông dân nuôi trồng nấm ở quy mô trang trại

Quảng Bình nói chung, Tuyên Hoá, Minh Hoá nói riêng nghề nấm đã và

đang hình thành, nhiều hộ dân còn mang tính tự phát, tự học hỏi lẫn nhau Người nông dân đã biết một số loại nấm truyền thống như: nấm mộc nhĩ, nấm sò Việc chế biến sản xuất và tiêu thụ còn bỏ ngỏ Chưa có một mô hình tổ chức sản xuất nấm các loại ở quy mô hàng hoá và khép kín từ khâu nuôi trồng- chế biến- tiêu thụ Từ đó nhân rộng ra các vùng xung quanh nhằm tận thu phế thải nông nghiệp, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập và xoá đói giảm nghèo cho người nông dân Chính vì vậy để phát triển nghề nuôi trồng nấm, Ban Quản lý dự án giảm nghèo tỉnh Quảng Bình phối hợp với Trung tâm Công nghệ sinh học thực vật khảo sát đánh giá về thực trạng nhu cầu sản xuất nấm ở hai huyện Tuyên Hoá

và Minh Hoá Từ đó xây dựng kế hoạch và đề ra các giải pháp để thực hiện dự án

đưa nghề nấm vào sản xuất tại 2 huyện tạo thành mô hình sản xuất khép kín từ khâu nuôi trồng- chế biến – tiêu thụ sản phẩm Nhằm nâng cao đời sống cho nông dân, cải thiện môi trường sống, tập quán để phát triển kinh tế xã hội, góp phần xoá đói, giảm nghèo tăng thu nhập cho các hộ nông dân

Trang 6

Phần II:

tình hình phát triển nghề nuôi trồng nấm

1 Tình hình sản xuất nấm ở ngoài nước

Năm 1990, tổng sản lượng nấm ăn toàn thế giới là 3.763.000 tấn, trong đó nấm mỡ 1.424.000 tấn, nấm hương 393.000 tấn Năm 1994, tổng sản lượng nấm thế giới lên 4.909.000 tấn, trong đó nấm mỡ 1.846.000 tấn (37.6%), nấm hương 826.200 tấn (16,8%), nấm rơm 798.800 tấn (6,1%), nấm kim vàng 229.800 tấn (4,7%), mộc nhĩ trắng 156.200 tấn (3,2%), nấm chân cơ 54.800 tấn (1,1 %), nấm trơn 27.000 tấn (0,6%), nấm hoa cây xám 14.200 tấn (0,3%), các loài nấm ăn khác 238.800 tấn (4,8%)

So sánh năm 1994/1990 thì nấm mỡ, nấm hương, nấm rơm, nấm kim vàng, nấm hoa cây xám đều tăng mạnh Các nước sản xuất nấm chủ yếu năm

1994 là: Trung Quốc 2.850.000 tấn (trong đó Đài Loan 71.800 tấn ), chiếm 53,79% tổng sản lượng, Hoa Kỳ 393.400 tấn (7,61%), Nhật Bản 360.100 tấn (7,34%), Pháp 185.000 tấn, Hà Lan 88.500 tấn, ý 71.000 tấn, Canada 46.000, Anh 28.500 tấn, Indonesia 118.800 tấn, Hàn Quốc 92.000 tấn Sản lượng nấm của các nước chủ yếu là nấm mỡ, còn nấm hương thì do Trung Quốc, Nhật Bản

và Hàn Quốc sản xuất là chính

Hiện tại Trung Quốc là nước sản xuất nhiều nấm nhất thế giới Năm 1995, sản lượng của Trung Quốc là 3.000.000 tấn, chiếm 60% tổng sản lượng thế giới, riêng Phúc Kiến 800.000 tấn, chiếm 26,67% cả nước, 6,4% toàn thế giới

Thập kỷ 80 của thế kỷ 20, tổng khối lượng nấm ăn giao dịch trên thị trường thế giới là 300.000 đến 350.000 tấn Bình quân mỗi người dân Âu Mỹ tiêu dùng 2-3Kg, người Nhật và người Đức tiêu thụ 4kg; tính bình quân lượng tiêu thu nấm ăn theo đầu người toàn thế giới tăng trưởng 3,5% Thị trường châu

Âu chủ yếu là nấm mỡ, giá ổn định ở 4mác/kg Gần đây, nhu cầu nấm mỡ giảm

đi nhưng nấm rơm đã chiếm lĩnh thị trường với mức trên 10% Hàng ngày ở thị trường Niu-ooc, bình quân tiêu thụ 2-3 tấn nấm rơm, nấm hương tươi, mộc nhĩ tươi, đứng hàng thứ hai sau rau Mỗi năm, Phúc Kiến xuất sang Mỹ 23.000- 26.000 tấn nấm mỡ đóng hộp Hồng Kông là nơi tập trung chuyển nấm hương khô cho toàn cầu, năm 1995 tới 10.643 tấn, chủ yếu là nấm hoa (một loại nấm

Trang 7

hương), nấm rơm tươi 3.000- 4.200 tấn Nhật Bản là một trong số nước sản xuất

và tiêu thụ nấm lớn trên thế giới; năm 1994 nhập khẩu 7.804 tấn nấm hương khô

và hàng năm tiêu thụ 25.000- 30.000 tấn nấm mỡ, phần lớn nhập của Trung Quốc Phúc Kiến hàng năm bán sang Nhật 11.000- 13.000 tấn nấm mỡ đóng hộp, trị giá 15.000.000 USD

2 Tình hình sản xuất nấm trong nước

Tổng sản lượng các loại nấm ăn và nấm dược liệu của Việt Nam hiện nay

đạt trên 100.000tấn/năm Kim ngạch xuất khẩu khoảng 40 triệu USD/năm Chúng ta đang nuôi trồng 6 loại nấm phổ biến ở các địa phương:

- Nấm rơm trồng tập trung ở các tỉnh miền tây Nam Bộ (Đồng tháp, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cần Thơ ) chiếm 90% sản lượng nấm rơm cả nước

- Mộc nhĩ trồng tập trung ở các tỉnh miền Đông Nam bộ (Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước ) chiếm 70% sản lượng mộc nhĩ trong nước

- Nấm mỡ, nấm sò, nấm hương chủ yếu trồng ở các tỉnh miền Bắc, sản lượng mỗi năm đạt khoảng 10.000 tấn

- Nấm dược liệu: linh chi, vân chi, đầu khỉ mới được nuôi trồng ở một số tỉnh, thành phố (Thành phố Hà Nội, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Tp Hồ Chí Minh, Đà Lạt ) sản lượng mỗi năm đạt khoảng 100 tấn

- Một số loại nấm khác như: trân châu, kim châm đang nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm , sản lượng chưa đáng kể

Việc nuôi trồng các loại nấm ăn và nấm dược liệu nói chung hiện nay rất phù hợp với người nông dân Việt Nam bởi vì :

1 Nguyên liệu trồng nấm rất sẵn có như: rơm rạ, mùn cưa, thân cây gỗ,

thân lõi ngô, bông phế loại ở các nhà máy dệt, bã mía ở các nhà máy đường ước tính cả nước có khoảng 40 triệu tấn nguyên liệu nói trên, chỉ cần sử dụng khoảng 10-15% số nguyên liệu này đem nuôi trồng nấm đã tạo ra trên 1 triệu tấn nấm/năm và hàng 100 ngàn tấn phân hữu cơ/năm

2 Trong những năm gần đây nhiều đơn vị nghiên cứu ở các viện, trường,

trung tâm đã chọn tạo được một số loại giống nấm ăn, nấm dược liệu có khả năng thích ứng với điều kiện môi trường ở Việt Nam, cho năng suất khá Các tiến bộ kỹ thuật về nuôi trồng , chăm sóc, bảo quản, chế biến nấm ngày càng

được hoàn thiện Kinh nghiệm sản xuất nấm của người nông dân được nâng cao

Trang 8

Năng suất trung bình các loại nấm ăn đang nuôi trồng hiện nay cao gấp 1,5-2 lần so với 10 năm về trước

3 Vốn đầu tư để trồng nấm so với các ngành sản xuất khác không lớn vì

đầu vào chủ yếu là công lao động nông nghiệp (chiếm khoảng 30-40% giá thành

1 đơn vị sản phẩm) trong khi đó Việt Nam đang dư thừa hàng triệu lao động ở các vùng nông thôn Nếu tính trung bình để giải quyết việc làm cho 1 người lao

động chuyên trồng nấm ở nông thôn hiện nay có mức thu nhập 700.000đ/tháng Đối với nghề trồng nấm bước đầu cần được trang bị kỹ thuật cơ bản và một ít vốn đầu tư ban đầu khoảng 7 đến 15 triệu đồng và khoảng 100 m2diện tích đất để làm lán trại Nếu so với các ngành công nghiệp khác phải xây dựng nhà máy, xí nghiệp, chúng ta phải đầu tư trên 100 triệu đồng/1 người công nhân mới có việc làm

500.000đ-4 Thị trường tiêu thụ các loại nấm ăn và nấm dược liệu ngày càng mở

rộng Giá bán nấm tươi ở các tỉnh, thành phố lớn như: Hà Nội, Hải phòng, Quảng Ninh cao gấp 2-3 lần giá thành sản xuất (Nấm mỡ: 20.000đ/kg, nấm sò: 10.000đ/kg, nấm rơm: 25.000đ/ kg) Riêng thành phố Hà Nội trung bình mỗi ngày tiêu thụ khoảng 40 tấn nấm tươi các loại Nhu cầu ăn nấm của nhân dân trong nước ngày càng tăng do nhiều người đã hiểu được giá trị dinh dưỡng và làm thuốc của nấm Trong tình hình giá cả các loại thực phẩm thông dụng hiện nay như thịt, cá, rau có biến động tăng vọt về giá và đặc biệt là nạn dịch cúm gà thì nấm ăn là nguồn thực phẩm càng được người tiêu dùng chú trọng Thị trường xuất khẩu nấm mỡ, nấm rơm, muối, sấy khô, đóng hộp của Việt Nam ra nước ngoài, có thể nói: chúng ta chưa đáp ứng đủ Nếu chúng ta sản xuất được 1 triệu tấn nấm mỡ, nấm rơm để chế biến xuất khẩu/năm thì riêng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đã đạt trên 1 tỷ USD/năm, mang lại nguồn thu lớn cho đất nước

mà không phải bỏ 1 đồng ngoại tệ nào để nhập khẩu nguyên liệu, thiết bị như các ngành sản xuất, xuất khẩu khác

5 Phát triển nghề sản xuất nấm ăn - nấm dược liệu còn có ý nghĩa góp

phần giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường , môi sinh Phần lớn lượng rơm rạ sau khi thu hoạch lúa ở một số địa phương đều bị đốt bỏ ngoài đồng ruộng hoặc ném xuống kênh rạch, sông ngòi gây tắc nghẽn dòng chảy Đây là nguồn tài nguyên rất lớn nhưng chưa được sử dụng, nếu đem trồng nấm không những tạo

Trang 9

ra loại sản phẩm có giá trị cao mà phế liệu sau khi thu hoạch nấm chuyển sang làm phân bón hữu cơ tạo thêm độ phì cho đất Trong thực tế, nhiều cơ sở trồng nấm hiện nay sử dụng phế loại sau thu hoạch nấm làm phân bón cho lúa, rau

đã tăng năng suất cao hơn từ 15-20% so với tập quán canh tác cũ Một số nước

trên thế giới như Hà Lan, Đài Loan đã chế biến và xuất khẩu loại “phân hữu cơ

từ b∙ nấm” sang nước khác

Tóm lại, hiệu quả kinh tế và xã hội nghề sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu ở Việt Nam là rất rõ, đặc biệt có ý nghĩa đối với nhiều vùng nông nghiệp, nông thôn hiện nay đang thiếu việc làm và thu nhập thấp

Trang 10

1.1 Vị trí địa lý: Tuyên Hoá và Minh Hoá là 2 huyện nằm ở phía Tây của

tỉnh Quảng Bình có địa hình miền núi phức tạp, phía Tây giáp Lào, phía Bắc giáp

Hà Tĩnh, nằm trong thung lũng của dãy Trường Sơn có địa hình phức tạp Tình hình phát triển kinh tế xã hội còn khó khăn Hộ nghèo còn chiếm từ 50 - 70%

Mang nặng về sản xuất tự cung tự cấp Chưa tạo ra được hàng hoá có giá trị kinh tế

1.2 Điều kiện khí hậu thuỷ văn: Có khí hậu 2 mùa rõ rệt, mùa khô và

mùa mưa Nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 270C, độ ẩm không khí cao 80- 82% Lượng mưa phân phối không đồng đều theo thời gian và không gian Có khí hậu nóng ẩm thích hợp cho các loại nấm rơm, mộc nhĩ, nấm sò, Linh chi phát triển Khí hậu mùa đông lạnh, nhiệt độ xuống thấp từ 12- 200C phù hợp cho nấm mỡ và các loại nấm chịu nhiệt độ lạnh khác phát triển

1.3 Điều kiện tự nhiên:

Huyện Tuyên Hoá có tổng diện tích tự nhiên là 114.141ha trong đó diện tích trồng lúa và màu là: 1.656,91 ha

Huyện Minh Hoá có tổng diện tích tự nhiên là: 141.941ha trong đó diện tích đất trồng lúa và màu là: 1.618,99 ha

Năng suất lúa bình quân từ 40- 50 tạ/ha mỗi vụ Mỗi năm trồng lúa 2 vụ Lượng rơm rạ sau thu hoạch có khoảng hàng ngàn tấn, nông dân có thói quen bỏ ngoài đồng hoặc đốt gây ô nhiễm môi trường Đây là nguồn nguyên liệu rất tốt

đề nuôi trồng nấm và từ nguồn bã nấm sau thu hoạch được làm phân bón, bón lại cho đồng ruộng tăng năng suất cây trồng

1.4 Điều kiện kinh tế xã hội: Tuyên Hoá và Minh Hoá nằm trên tuyến

quốc lộ 12 và dọc theo quốc lộ Hồ Chí Minh và đường Xuyên á Diện tích tự nhiên rộng, dân số huyện Tuyên Hoá có 16.948 hộ và Minh Hoá có 8.927 hộ phân bố thưa thớt Hai huyện thuần nông, tổng sản lượng lương thực khoảng

Trang 11

100.000 tấn/ năm Trong đó có gần xấp xỉ 80.000 tấn lúa và tương đương có khoảng 80.000 tấn rơm rạ Lao động nhàn rỗi khá lớn, có thể tính tương đương với mức 35- 40% lao động thất nghiệp hàng năm Ngày công lao động thấp, bình quân thu nhập đầu người chưa đến 200.000đ/ tháng

1.5 Điều kiện về tiếp nhận công nghệ nuôi trồng nấm:

- Tuyên Hoá và Minh Hoá có dân số tập trung ở khu vực nông thôn, với nguồn lao động nông nghiệp dồi dào, người dân cần cù chịu khó, muốn tiếp thu các công nghệ khoa học ứng dụng vào nông nghiệp nông thôn để nhằm phát triển kinh tế hộ gia đình, xoá đói giảm nghèo Với công nghệ nuôi trồng nấm ăn và nấm dược liệu rất phù hợp với sự tiếp nhận của người dân Tận dụng được nguồn nguyên liệu phế thải nông nghiệp như mạt cưa cao su, gỗ tạp, rơm rạ,…, tranh thủ lao động nhàn rỗi Phù hợp với mọi đối tượng tầng lớp trong nhân dân có khả năng mở rộng sản xuất và tạo ra khối lượng hàng hoá có giá trị kinh tế góp phần làm thay đổi phong tục tập quán theo lối sản xuất nhỏ tự cung tự cấp

- Nghề nuôi trồng nấm nhìn chung không phức tạp, một người nông dân bình thường có thể tiếp thu được quy trình kỹ thuật trong một thời gian ngắn Vốn đầu tư ban đầu cho việc nuôi trồng nấm tương đối ít so với vốn đầu tư các ngành nghề khác nhưng mang lại hiệu quả kinh tế cao Trong điều kiện cụ thể của từng gia đình với diện tích nhỏ hay lớn đều có thể nuôi trồng nấm được Từ đó góp phần tạo nên công ăn việc làm tăng thu nhập, cải thiện chất lượng bữa ăn hàng ngày, tăng cường sức khoẻ và là nguồn thu nhập đáng kể trong tình hình sản xuất nông nghiệp hiện nay

1.6 Điều kiện thị trường tiêu thụ nấm:

- Thị trường tiêu thụ nấm trong nước và trên thế giới tăng mạnh và ngày càng tăng do sự phát triển kinh tế chung của xã hội và dân số Hiệp hội nấm thế giới

đã đưa chỉ số bình quân lượng tiêu thụ nấm ăn cho một người trong 1 năm để

đánh giá sự phát triển kinh tế của một quốc gia

Hiện nay đời sống kinh tế của Việt Nam đã được cải thiện hơn nhiều so với những năm trước đây Trình độ dân trí ngày càng được nâng cao, việc tìm kiếm các loại thực phẩm sạch đã và đang là vấn đề thời sự trong đời sống nhân dân Nấm ăn là một đối tượng có đầy đủ các yếu tố và tiêu chuẩn của thực phẩm

Trang 12

sạch Nhu cầu tiêu dùng nấm trong nước tăng nhanh không chỉ ở các thành phố

mà ngay cả ở vùng nông thôn Năm 2002, riêng Hà Nội tiêu thụ khoảng 500 tấn nấm tươi Hiện nay giá thành 1kg nấm thương phẩm khoảng 5.000- 6.000đ/kg Giá bán lẻ trung bình là 12.000đ/kg Nếu sản xuất nhiều, giá bán lẻ khoảng 8.000đ/kg thì chắc chắn lượng tiêu thụ nội địa ngày càng nhiều hơn Ước tính riêng Việt Nam trong 10 năm tới sẽ tiêu thụ được vài trăm ngàn tấn nấm/ năm

Trên thế giới nhiều nước như Mỹ, Nhật Bản, Italia, Đài Loan, Trung Quốc

đã và đang nhập khẩu nấm muối nguyên liệu, nấm đóng hộp, nấm khô của Việt Nam Hiện nay do sản xuất nhỏ lẻ, chưa có tổ chức nên chúng ta chưa đáp ứng

được đủ nhu cầu xuất khẩu nấm Năm 1997 Nhật ký nhập từ Việt Nam 500 tấn nấm mỡ hộp nhưng ta chỉ đáp ứng được 8 tấn Nếu Việt Nam tổ chức sản xuất

được khoảng vài trăm ngàn tấn nấm rơm, nấm mỡ mỗi năm để xuất khẩu mới có thể đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới Số lượng nấm phải nhiều, chất lượng chế biến tốt, giá cả hợp lý là những yếu tố quan trọng nhất để tham gia vào thị trường nấm quốc tế Xu hướng phát triển nấm hiện nay sẽ chuyển dịch đến những nước nghèo Những nước kinh tế giàu sẽ giảm mức sản xuất trong nước vì giá thành cao mà phải tăng cường nhập khẩu từ nước ngoài Vì vậy thị trường nấm trong nước và thế giới là vô cùng thuận lợi cho phát triển ngành sản xuất nấm

- Thị trường nấm tại 2 huyện và thành phố Đồng Hới

Thị trấn Quy Đạt và Đồng Lê hiện chưa có loại nấm nào được trao đổi trên thị trấn Thỉnh thoảng chỉ có một số ít nấm sò tươi và mộc nhĩ khô được bán trên thị trường của 2 chợ thuộc thị trấn Các loại nấm khác hầu như không có

Thành phố Đồng Hới cũng rất ít nấm tươi bầy bán ở các chợ Trong khi đó người tiêu dùng muốn sử dụng nấm cũng rất khó có nhu cầu Như vậy thị trường nấm tươi hiện còn bỏ ngỏ ở các Thành phố, thị trấn và vùng tập trung đông dân cư ở tỉnh Quảng Bình

Trang 13

II Thực trạng khảo sát về tình hình trồng nấm tại 2 huyện:

1 Thực tế khảo sát, đánh giá điều kiện ở các xã:

Hộ đã sản xuất nấm

1 Tiến Hoá- Tuyên Hoá

Trang 14

2 Đánh giá thực tế về tình hình nuôi trồng nấm ở các hộ:

- Trong thời gian qua dự án ATLT đã triển khai một số mô hình nuôi trồng nấm

ở huyện Tuyên Hoá gồm một số xã: Xã Tiến Hoá 2 hộ, xã Lê Hoá 12 hộ, thị trấn

Đồng Lê 02 hộ, xã Sơn Hoá 01 hộ, xã Nam Hoá: 03 hộ

Huyện Minh Hoá: Xã Xuân Hoá: 02 hộ, thị trấn Quy đạt: 05 hộ, xã Yên Hoá: 03 hộ

- Phỏng vấn một số hộ đã sản xuất nấm trước đây và hiện nay vẫn còn duy trì

được mô hình sản xuất nấm gồm:

+ Ông Đinh Xuân Sinh: Tiểu khu 2, thị trấn Quy Đạt

+ Ông Cao Minh Hồng: Tiểu khu 4, thị trấn Quy Đạt

+ Ông Đinh Ngọc Khuê: Thôn Cây Da, xã Xuân Hoá

+ Ông Cao Ngọc Thưởng: Thôn Quy Hợp 2, xã Xuân Hoá

- Qua tìm hiểu thực tế ở các hộ nuôi trồng nấm họ đều khẳng định sản xuất nấm

có lãi và có thu nhập, nếu được sản xuất đều theo mùa vụ thì có thể cải thiện

được sự phát triển kinh tế hộ gia đình, bình quân một năm thu lợi được từ 4- 5 triệu đồng từ sản xuất nấm

- Nhưng để duy trì được nghề nuôi trồng nấm hiện tại còn gặp một số khó khăn:

+ Không có cán bộ hướng dẫn và tư vấn kỹ thuật

+ Nguồn cung cấp giống nấm

+ Hướng dẫn chế biến và tiêu thụ nấm

+ Tư vấn kỹ thuật, tổ chức sản xuất nấm hàng hoá

+ Hậu dự án chưa bền vững không mở rộng được mô hình

+ Định hướng phát triển kinh tế từ nghề nuôi trồng nấm của chính quyền

địa phương chưa được quan tâm

+ Đầu tư về kỹ thuật nuôi trồng và chế biến nấm còn hạn chế

- Trong những khó khăn trên thường gặp về khâu kỹ thuật, tổ chức sản xuất, nguồn giống nấm và thị trường tiêu thụ chưa được quan tâm

- Vì vậy để giải quyết những khó khăn trên vừa đảm bảo tính bền vững và hiệu quả của mô hình Ban quản lý dự án GNKVMT cần phối hợp với cơ quan chuyển giao công nghệ giải quyết đồng bộ từ khâu tổ chức sản xuất chuyển giao công nghệ kỹ thuật nuôi trồng đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm nấm để bà con yên tâm sản xuất

Ngày đăng: 27/08/2014, 11:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm