Nhưng với các đặc điểm, đặc thù của ngânhàng thương mại có thể kết luận hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ- tíndụng của ngân hàng gặp phải nguy cơ rủi ro cao hơn cả.. 3 Các nguy
Trang 1
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
nay trong hệ thống các ngân hàng thương mại trên thế giới và những ứng phó của ngân hàng trung ương đối với vấn đề này
Sinh viên thực hiện Mã sinh viên STT
Trang 2MỤC LỤC
A, MỞ ĐẦU 3
1) L Í DO CHỌN ĐỀ TÀI : 3
2) M ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU : 3
3) P HƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU : 3
4) Đ ỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU : 3
B, PHẦN NỘI DUNG: 4
C HƯƠNG 1) : N HỮNG BẤT ỔN THƯỜNG GẶP HIỆN NAY TRONG HỆ THỐNG CÁC NHTM CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 4
I Rủi ro tín dụng (nợ xấu): 4
1) Khái niệm 4
2) Các hình thức của rủi ro tín dụng: 5
3) Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 5
4) Một số ngân hàng thương mại thế giới và rủi ro tín dụng: 8
II Rủi ro lãi suất: 10
1) Khái niệm: 10
2) Nguyên nhân dẫn đến rủi ro lãi suất: 10
3) Ảnh hưởng của rủi ro lãi suất đến hoạt động ngân hàng: 11
4) Một số ngân hàng thế giới và rủi ro lãi suất: 11
III Rủi ro thanh khoản: 13
1) Khái niệm : 13
2) Một số nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản: 14
3) Nhìn lại nguyên nhân rủi ro thanh khoản tại một số nước trên thế giới: 14 IV Rủi ro tỷ giá hối đoái: 16
1) Khái niệm : 16
2) Nguyên nhân dẫn đến phát sinh rủi ro ngoại hối đối với một ngân hàng: 16 3) Ví dụ về rủi ro tỷ giá hối đoái: 16
V Rủi ro sở hữu chéo: 17
1) Khái quát về sở hữu chéo 17
VI Rủi ro nguồn vốn: 20
1) Khái niệm: 20
2) Phân loại 20
VII Rủi ro đạo đức : 21
1) Khái quát : 21
2) Ví dụ về rủi ro đạo đức: 22
VIII Một số rủi ro khác: 23
1) Rủi ro thuần túy: 23
2) Rủi ro hệ thống: 23
3) Rủi ro pháp lý: 23
C HƯƠNG 2) : N HỮNG ỨNG PHÓ CỦA NHTW CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI ĐỐI VỚI NHỮNG BẤT ỔN THƯỜNG GẶP HIỆN NAY TRONG HỆ THỐNG CÁC NHTM CÁC
NƯỚC NÀY 24
Trang 3I Giới thiệu chung về NHTW 24
1) Khái niệm chung về NHTW 24
2) Các chức năng của NHTW trong nền kinh tế hiện đại 24
II Ứng phó của NHTW đối với những bất ổn thường gặp hiện nay trong hệ thống các NHTM của các nước trên thế giới 25
1) Biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng của NHTW 26
2) Biện pháp ứng phó của NHTW đối với rủi ro thanh khoản của NHTM 30
3) Ứng phó của NHTW về rủi ro tỉ giá hối đoái của NHTM 31
4) Ứng phó của NHTW về rủi ro lãi suất của NHTM 33
5) Ứng phó của NHTW đối với rủi ro nguồn vốn của NHTM 34
6) Ứng phó của NHTW về rủi ro sở hữu chéo của NHTM 34
7) Ứng phó của NHTW đối với rủi ro thuần túy 35
8) Ứng phó của NHTW đối với rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM 36
III Tổng kết về vai trò của NHTW trong việc giúp các NHTM giải quyết rủi ro 36 C HƯƠNG 3) : N HỮNG BẤT ỔN THƯỜNG GẶP HIỆN NAY TRONG HỆ THỐNG CÁC NHTM Ở V IỆT N AM VÀ NHỮNG ỨNG PHÓ CỦA NHTW V IỆT N AM 37
I Rủi ro tín dụng (Nợ xấu) 37
1) Thực trạng nợ xấu ở Việt Nam: 37
2) Một số nguyên nhân khiến nợ xấu tăng nhanh: 40
3) Ứng phó của NHTW ở Việt Nam: 40
4) Bài học kinh nghiệm cho các NHTM ở Việt Nam: 42
II Rủi ro thanh khoản 42
1) Thực trạng rủi ro thanh khoản ở Việt Nam: 43
2) Một số ví dụ điển hình: 43
3) Giải pháp ứng phó của NHTW Việt Nam: 44
4) Bài học kinh nghiệm cho các NHTM Việt Nam 44
III Rủi ro lãi suất 45
1) Thực trạng rủi ro lãi suất ở Việt Nam 46
2) Một số ví dụ điển hình: 46
3) Giải pháp ứng phó của NHTW Việt Nam 46
4) Bài học kinh nghiệm cho các NHTM ở Việt Nam 46
C, KẾT LUẬN: 48
Tài liệu tham khảo: 49
Trang 4A, Mở đầu
1) Lí do chọn đề tài:
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường mở, hệ thống các ngân hàng thương mạitrên khắp thế giới phát triển mạnh mẽ và đa dạng Sự phát triển của các ngânhang thương mại có tác động rất lớn đến nền kinh tế các nước đó cũng như trênkhắp thế giới
Bên cạnh những thuận lợi có được, các Ngân hàng thương mại (NHTM) cũnggặp không ít các bất ổn khó giải quyết.Nhưng nhờ có sự can thiệp của ngânhàng Trung ương(NHTW), hệ tống ngân hàng các nước trên khắp thế giới đãdần ổn định và phát triển, thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu Nhưvậy hiện nay hệ thống các NHTM cũng như NHTW đóng vai trò hết sức quantrọng và cần thiết đối với sự phát triển kinh tế khu vực cũng như toàn cầu.Trong quá trình tìm hiểu nhận thấy tính thiết thực và quan trọng của việc phân tíchbất ổn thường gặp của hệ thống các ngân hàng thương mại trên thế giới và cáchứng phó của ngân hàng trung ương nên nhóm chúng em quyết định chọn đề tài 1
Tên đề tài: “Hãy phân tích những bất ổn thường gặp hiện nay trong hệ thống cácngân hàng thương mại trên thế giới và những ứng phó của ngân hàng trung ươngđối với vấn đề này”
2) Mục đích nghiên cứu:
Nhằm thống kê, chỉ ra những bất ổn hiện nay trong hệ thống các NHTM cũngnhư các ứng phó của NHTW trước những bất ổn đó Từ đó giúp mọi người cócái nhìn tổng quan hơn về NHTM và NHTW
Làm rõ nguyên nhân gây ra rủi ro và đánh giá rủi ro hoạt động trong các ngânhàng thương mại trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng
Chỉ ra một số hoạt động quản trị rủi ro có hiệu quả
3) Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thu thập thông tin:
o Nghiên cứu tài liệu
o Phi thực nghiệm
Phương pháp ngiên cứu tài liệu
Phương pháp quan sát
Phương pháp thực nghiệm
Phương pháp phân tích và hệ thống hóa
4) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: bất ổn thường gặp trong hệ thống NHTM và cách ứngphó của NHTW trên thế giới
Phạm vi nghiên cứu:
o Phạm vi không gian: Trên thế giới
o Phạm vi thời gian: Từ năm 2000-2013
Trang 5B, Phần nội dung:
Chương 1) : Những bất ổn thường gặp hiện nay trong hệ thống các
NHTM của các nước trên thế giới.
Không một loại hình doanh nghiệp nào mà không phải đối đầu với nguy cơ rủi rotrong quá trình hoạt động kinh doanh Nhưng với các đặc điểm, đặc thù của ngânhàng thương mại có thể kết luận hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ- tíndụng của ngân hàng gặp phải nguy cơ rủi ro cao hơn cả Người ta có thể khái quátcác loại rủi ro ( vấn đề bất ổn) của các ngân hàng thương mại như sau:
I Rủi ro tín dụng (nợ xấu):
1) Khái niệm
Đó là loại rủi ro khi người vay không trả được nợ ngân hàng Đây là loại rủi ro lớnnhất, thường xuyên xảy ra và gây thiệt hại nhiều nhất cho ngân hàng thương mại.Hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại là hoạt động tín dụng đầu tư Thôngthường đối với các ngân hàng trên thế giới nó mang lại 2/3 phần thu nhập, còn ởViệt Nam là 90% thu nhập của ngân hàng thương mại Tuy mang lại nhiều thu nhậpnhưng trong lĩnh vực này nếu gặp rủi ro thì hậu quả sẽ rất lớn, nhiều khi dẫn đến sựphá sản của một ngân hàng “Các khoản tiền cho vay có xác suất vỡ nợ cao hơn cáctài sản khác nên các ngân hàng thu được lợi tức cao nhất nhờ vào các món cho vay”.Bất cứ một rủi ro nào của người đi vay đều có thể đưa đến rủi ro tín dụng cho ngânhàng Tín dụng ngân hàng tham gia vào toàn bộ quá trình sản xuất lưu thông hànghóa, ngay cả những hoạt động phi sản xuất cũng không thể thiếu sự hỗ trợ của tíndụng ngân hàng Chính vì tín dụng ngân hàng tham gia vào mọi doanh nghiệp, mọingành, mọi lĩnh vực của nền kinh tế, mà mỗi ngành mỗi lĩnh vực kinh doanh lại cótính đặc thù, có sự phức tạp riêng, có những rủi ro riêng nên rủi ro tín dụng của ngânhàng mang tính tổng hợp và khả năng suất hiện là lớn hơn các ngành khác
2) Các hình thức của rủi ro tín dụng:
Trang 6Rủi ro tín dụng có thể xảy ra ở 4 trương hợp đối với nợ lãi và nợ gốc Đó là việckhông thu được lãi đúng hạn hoặc không thu đủ lãi, không thu được vốn đúng hạnhoặc không thu đủ vốn Tùy trường hợp mà ngân hàng hạch toán vào các khoản mụctheo dõi khác nhau như lãi treo hoặc nợ quá hạn Khi không thu được lãi đúnghạn ,nguy cơ rủi ro đang ở mức thấp và chỉ đưa vào mục lãi treo phát sinh N ếungân hàng không thể thu đủ lãi thì sẽ có khoản mục lãi treo đóng băng, trừ nhữngtrường hợp ngân hàng miễn giảm lãi đó cho doanh ngiệp Còn khi không thu đượcvốn đúng hạn, ngân hàng sẽ có khoản nợ quá hạn phát sinh Tuy nhiên, khoản nàyvẫn chưa thể coi là khoản mất mát hoàn toàn của ngân hàng vì có thể vì lý do nào đódoanh nghiệp chậm trả nợ gốc và sẽ trả sau hạn cam kết trong hợp đồng Nếu nhưkhoản này ngân hàng không thể thu hồi được (do doanh nghiệp bị phá sản chẳnghạn) thì lúc này ngân hàng coi như gặp rủi ro tín dụng ở mức độ cao vì đã phát sinhkhoản nợ không có khả năng thu hồi, trừ những trường hợp đặc biệt, doanh nghiệpvay vốn hội tụ đủ các điều kiện theo quy định về xoá nợ thì ngân hàng có thể xemxét để xoá nợ cho doanh nghiệp Rủi ro tín dụng tồn tại dưới nhiều hình thức, cáchình thức đó luôn chuyển biến cho nhau, mà mức độ cuối cùng là nợ không có khảnăng thu hồi Khi nghiên cứu về rủi ro tín dụng người ta thường chú trọng vào cácnguy cơ xảy ra rủi ro như lãi treo và đặc biệt là nợ phát sinh, còn lãi treo đóng băng
và nợ quá hạn không có khả năng thu hồi được coi là các tình huống rủi ro thực sựnên thường được xem xét để giải quyết hậu quả và rút ra bài học
3) Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
3.1) Nguyên nhân từ phía khách hàng
Trong nền kinh tế thị trường ,hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thườngxuyên phải đương đầu với cạnh tranh và chịu sự chi phối rất lớn của quy luật cungcầu ,giá cả thị trường nên cũng phải thường xuyên đối mặt với rủi ro từ nhiều phía
kể cả các rủi ro thuần tuý như thiên tai ,trộm cắp có khi do giá cả thay đổi ,khảnăng quản lý kém ,sự thay đổi cơ chế chính sách của nhà nước dẫn đến thiệt hại
Trang 7cho doanh nghiệp làm cho kinh doanh gặp khó khăn thua lỗ,thậm chí phá sản Đồngthời hoặt động kinh doanh của các doanh nghiệp cũng không thể thoát ly khỏi mốiquan hệ với ngân hàng Chính vì vậy rủi ro của ngân hàng thương mại là cộnghưởng rủi ro của các doanh nghiệp
Nếu đứng trên góc độ tư cách đạo đức của người đi vay <khách hàng> thì nguyênnhân dẫn đến rủi ro tín dụng từ phía khách hàng có thể chia làm hai trường hợplớn Khách hàng gian lận hoặc khách hàng không gian lận
3.2) Khách hàng gian lận, cố ý lừa ngân hàng
Điều này được thể hiện qua việc gian lận về số liệu,giấy tờ ,quyền sở hữu tàisản Doanh nghiệp có thể nộp báo cáo tài chính không chính xác,cố ý đưa ra số liệusai sự thật ,phản ánh không đúng thực trạng sản xuất kinh doanh và tình hình tàichính của đơn vị.Những món cho vay trên cơ sở nnhững thông tin giả như vậy dễđưa đến rủi ro cho ngân hàng Bên cạnh đó lợi dụng khe hở về giấy tờ sở hữu tài sản,doanh nghiệp có thể đem thế chấp một tài sản ở nhiều ngân hàng khác nhau.Khikhông thu được nợ,các ngân hàng thương mại phát mãi tài sản thì mới biết bị lừa
Ngoài ra, khách hàng có thể gian lận ngân hàng thể hiện qua việc sử dụng vốn vaykhông đúng mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh, không đúng phương án đãnêu nên không trả được nợ đúng hạn hoặc không trả được nợ Doanh nghiệp có thểvay vốn ngắn hạn nhưng lại dùng để mua sắm tài sản cố định và bất động sản Việcgiá nhà đất đột ngột giảm xuống làm doanh nghiệp kinh doanh nhà đất bị thua lỗnặng không thể trả được nợ ngân hàng Ngân hàng có phát mại tài sản thế chấp đinữa cũng không đủ khoản cho vay vì tài sản thế chấp cũng là nhà đất nên cũng giảmgiá trị.Việc khách hàng gian lận gây ra rủi ro cho ngân hàng còn thể hiện qua nhữnghoạt động của người đi vay có tư cách kém như cố tình không trả nợ ngân hàng hoặclừa đảo ngân hàng rồi bỏ trốn
3.4) Nguyên nhân từ phía ngân hàng
Trang 8- Do thông tin tín dụng không đầy đủ Ngân hàng có một cái nhìn không toàn diện
về bản thân khách hàng cũng như tình hình tài chính của họ Điều đó dẫn đến sự sailệch trong việc đánh giá hiệu quả của các khoản vay, cho vay quá khả năng chi trảcủa khách hàng
- Trình độ chuyên môn của cán bộ ngân hàng nói chung và của cán bộ tín dụng nóiriêng còn hạn chế
Hiện nay nhiều cán bộ tín dụng ngân hàng thiếu năng lực xử lý các thông tin tíndụng để bảo vệ và giám sát khoản vay Cán bộ tín dụng không có khả năng phântích thẩm định dự án; kiến thức thị trường, kiến thức xã hội cũng bị hạn chế nênnhều khi cho vay mà không đánh giá được liệu dự án hay phương án đó có khả thikhông
- Ngân hàng quá trú trọng về lợi tức, đặt mong muốn về lợi tức cao hơn các khoảncho vay lành mạnh, do vậy rủi ro của khoản vay càng cao
- Sự cạnh tranh không lành mạnh với các ngân hàng khác để mong muốn có tỷ trọngcho vay nhiều hơn Cạnh tranh không lành mạnh ở đây có thể hiểu rằng ngân hàng
đã bỏ qua một số bước kiểm định các khoản cho vay, hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng,đáp ứng nhu cầu của khách hàng nhằm lôi kéo khách hàng
- Hoạt động kiểm tra, kiểm soát chưa được tiến hành thường xuyên Nhân viên tíndụng không nắm bắt được tình hình tín dụng của khách hàng cũng như môi trườngtín dụng của nền kinh tế Do vậy, hoạt động sai sót, không nắm bắt kịp thời cáckhoản cho vay có vấn đề
3.5) Nguyên nhân từ môi trường kinh doanh
a) Môi trường kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ đóng vai tròquyết định đối với hoạt động của nền kinh tế quốc dân nói chung và lĩnh vực kinhdoanh tiền tệ, tín dụng của các ngân hàng thương mại nói riêng
Chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ bao gồm các chính sách về kinh tế, tài chínhtiền tệ, kinh tế đối ngoại Chỉ cần chính phủ thay đổi một trong các chính sáchtrên, lập tức sẽ có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp và người chịu tác động trực tiếp là các ngân hàng thương mại và hoạt độngkinh doanh của ngân hàng khác nhau luôn gắn bó mật thiết với hoạt động của cácdoanh nghiệp Chính vì vậy nếu chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ đúng đằnphù hợp với thực tiễn thì nó sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tạođiều kiện cho các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, nhưng ngược lại cũng sẽ kìmhãm sự phát triển sản xuất kinh doanh làm cho các doanh nghiệp gặp khó khăn thậmchí thua lỗ, phá sản
Trang 9b) Môi trường pháp lý:
Trong hoạt động kinh doanh, song song với hoạt động mang tính kĩ thuật nghiệp vụ
và các hoạt động mang tính pháp lý như kí kết hợp đồng kinh tế, đầu tư tài chính tíndụng Tính pháp lý thể hiện ở các hoạt động kinh doanh luôn tiến hành dựa trêncác quy định pháp luật, hay ní cách khác bị giới hạn trong khuôn khổ pháp luật.Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các yếu tố pháp lý là điều kiện đảm bảo chohoạt động kinh doanh, đặc biệt là các hoạt động tín dụng của các ngân hàng thươngmại Nhưng cũng chính vì vậy, nếu môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh thiếu đồng
bộ cũng sẽ gây khó khăn, bất lợi cho cả doanh nghiệp và ngân hàng
Môi trường kinh tế, môi trường pháp lý tạo nên môi trường kinh doanh của cácdoanh nghiệp đồng thời tạo nên môi trường cho vay của các ngân hàng thương mại.Môi trường cho vay có ảnh hưởng, tác động tích cực hay tiêu cực đến hoạt động tíndụng, nó sẽ góp phần làm hạn chế hoặc tăng thêm rủi ro trong các hoạt động tíndụng của các ngân hàng thương mại
c) Nguyên nhân từ môi trường xã hội:
Những biến động lớn về kinh tế chính trị trên thế giới luôn có ảnh hưởng tới côngviệc kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như của các ngân hàng Ngày nay, cùngvới sự mở rộng giao lưu kinh tế, văn hoá, chính trị giữa các nước đời sống kinh tếthế giới cũng có nhiều biến đổi Muốn phát triển kinh tế một cách toàn diện cần thựchiện mở cửa nền kinh tế để tiếp thu những thành tựu khoa học kĩ thuật hiệi đại củanhững nước phát triển, trao đổi, xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ với nước ngoài,đầu tư hoặc vay tiền của nước ngoài Tất cảc các hoạt động đó tạo nên mối quan hệkinh tế đối ngoại của mối quốc gia Những thay đổi về chính trị rết có thể dẫn đến
sự biíen động cán cân thương mại quốc tế, tỷ giá hối đoái giá các đồng tiền làm biếnđộng thị trường trong nước như giá cả nguyên vật liệu, hàng hoá, dịch vụ, mức lãisuất thị trường, mức cầu tiền tệ trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinhdoanh của các doanh nghiệp và người chịu tác động là các ngân hàng thương mại
4) Một số ngân hàng thương mại thế giới và rủi ro tín dụng:
4.1) Ngân hàng Lehman Brothers:
15/9 vừa qua đánh dấu tròn 5 năm ngân hàng Lehman Brothers sụp đổ, cũng là sự
mở đầu cho trận sóng thần tài chính thế giới lớn nhất gần một thế kỷ qua Kể từ đó,nhiều biện pháp đã được đưa ra nhằm khắc phục hậu quả Các nước cũng ra sức tìmkiếm mô hình kinh tế bền vững nhằm tránh một cơn sóng thần mới trong tương lai.Nhưng cho đến nay, nỗ lực đó vẫn chỉ là giải pháp ngắn hạn, và dường người ta vẫnchưa rút ra được bài học nào từ lịch sử.Nguyên nhân chính dẫn tới sự ra đi của Lehman Brothers 5 năm trước là sự liều lĩnhcủa chính họ cũng như các ngân hàng đầu tư khác khi theo đuổi lợi nhuận bằng cách
Trang 10khai thác công cụ tài chính mới, bất chấp mọi rủi ro Các định chế tài chính, dẫn đầu
là LB, còn tham gia nhiệt tình vào thị trường cho vay cầm cố bất động sản đangbùng nổ, do cơ chế lãi suất thấp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED)
Các ngân hàng cho vay mà không quan tâm tới khả năng chi trả của khách Sau đó,những bất ổn từ hoạt động cho vay dưới chuẩn khiến giá nhà sụt giảm mạnh, thịtrường nhà đất đóng băng Cuộc khủng hoảng từ đó lan từ thị trường bất động sảnsang thị trường tín dụng và cuối cùng dẫn đến khủng hoảng tài chính tại Mỹ và trànsang nhiều nước châu Âu
4.2) Cùng với khủng hoảng nợ công khu vực đồng euro (eurozone), nợ công trong
hệ thống ngân hàng châu Âu tăng mạnh những tháng cuối năm 2012:
Theo một khảo sát của hãng kiểm toán PricewaterhouseCoopers (PwC), kể từ khủnghoảng tài chính năm 2008, nợ xấu của ngân hàng châu Âu tăng gấp đôi Tổng nợ xấu trong hệ thống ngân hàng châu Âu hiện là 1,05 nghìn tỷ euro (1,85 nghìn tỷ USD), tăng 10% so với cuối năm 2011
Trong đó, tình trạng nợ xấu đặc biệt tồi tệ ở các nước eurozone vốn bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi bong bóng bất động sản và khủng hoảng nợ khu vực Chỉ tính riêng Hy Lạp, nợ xấu ngân hàng tăng gần 50% so với năm ngoái lên 40 tỷ euro, Tây Ban Nha tăng 23% lên 136 tỷ euro, Italia tăng 37% lên 107 tỷ euro
Đức, Anh và Pháp là các nước hiếm hoi mà nợ xấu ngân hàng không tăng kể từ năm2010
Do các nhà đầu tư không sẵn sàng tái cấp vốn và các chính phủ không thể bơm thêmtiền nên các ngân hàng chỉ còn cách bán tài sản và giảm quy mô hoạt động để bù đắp nợ xấu
4.3) Nợ xấu” không phải là vấn đề mới trên thế giới, nhưng hiện Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn do thiếu kinh nghiệm xử lý Hai cường quốc kinh tế Hoa Kỳ, Trung Quốc đã từng “gánh” khoản nợ xấu cao ngất ngưởng Hệ thống tài chính ngân hàng rơi vào tình trạng báo động cao nhất và rất nhiều ngân hàng đã phải
“trả giá”.
Cho “vay dưới chuẩn”: Lòng tham giống nhau Theo ngân hàng Phát triển Châu Á –ADB, năm 2003, Trung Quốc có bốn ngân hàng Thương mại (NHTM) quốc doanhlớn nhất với tổng tài sản khoảng 15.200 tỷ nhân dân tệ (NDT), chiếm khoảng 55%tổng tài sản của hệ thống tài chính
Các “đại gia” làng tài chính đã cho vay tới 90% dư nợ của các công ty nhà nước và
tỏ ra khá thoải mái trong các khoản vay đầu tư bất động sản, chứng khoán
Điều này không mấy khác so với tình trạng cho “vay dưới chuẩn” (vay với mức độrủi ro cao) của các ngân hàng ở Hoa Kỳ giai đoạn trước khủng hoảng kinh tế tàichính 2008
Trang 11Việc các ngân hàng Trung Quốc phải gánh nhiều khoản vay khó đòi xuất phát từ các
xí nghiệp quốc doanh liên tục làm ăn cthua lỗ Có tới 70% xí nghiệp quốc hữu trongtình trạng thâm vốn nặng, và đến 98% xí nghiệp phải sống vật vờ nhờ các khoản vayngân hàng
Trong khi đó, Hoa Kỳ năm 2007 phải gánh con số dư nợ là 1.300 tỷ (trong khi năm
2001 là 160 tỷ USD) Hậu quả là hàng loạt ngân hàng lão làng như Bear Stearns,Lehman Brothers, Washington Mutual… tuyên bố phá sản
Tính cạnh tranh trong thị trường tài chính và tham vọng kiếm lợi từ việc cho vay thếchấp khiến nhiều ngân hàng mờ mắt và không dự đoán trước các rủi ro có thể xảyra
Việc “chạy đua cho vay” bởi miếng mồi ngon đang nóng từ thị trường chứng khoán
và bất động sản đã vô tình dẫn các NHTM vào thế khó mang khi “bong bóng” nhàđất, chứng khoán vỡ tung do được “bơm tiền” quá mức
Khi thị trường tài chính ngân hàng sụp đổ, cả thực tế và lý thuyết vĩ mô đều chứngminh, hiệu ứng Domino sẽ xảy ra nhanh chóng trên các thị trường tín dụng, chứngkhoán, bất động sản, thương mại
* Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, đặc biệt giai đoạn từ cuối 2007 đến đầu năm 2013, hàng loạt ngân hàng trên thế giới công bố thua lỗ về kết quả hoạt động kinh doanh, mất khả năng thanh toán, nợ xấu vượt mức cho phép dẫn đến tình trạng các hàng loạt các ngân hàng bị mua lại và phá sản.
II Rủi ro lãi suất:
1) Khái niệm:
Rủi ro lãi suất là rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất trên thị trường hoặccủa những yếu tố có liên quan đến lãi suất, dẫn đến tổn thất về mặt tài sản hoặc làmgiảm thu nhập của ngân hàng
2) Nguyên nhân dẫn đến rủi ro lãi suất:
+ Khi xuất hiện sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản Có và tài sản Nợ.
▪ Trường hợp 1: Kỳ hạn của tài sản có lớn hơn kỳ hạn của tài sản nợ: Ngân hàng huy
động vốn ngắn hạn để cho vay, đầu tư dài hạn Rủi ro sẽ trở thành hiện thực nếu lãisuất huy động trong những năm tiếp theo tăng lên, trong khi lãi suất cho vay và đầu
tư dài hạn không đổi
▪ Trường hợp 2: Kỳ hạn của tài sản có nhỏ hơn kỳ hạn của tài sản nợ: Ngân hàng
huy động vốn có kỳ hạn dài để cho vay, đầu tư kỳ ngắn hạn Rủi ro sẽ trở thành sự
Trang 12thật nếu lãi suất huy động trong những năm tiếp theo không đổi, trong khi lãi suấtcho vay và đầu tư giảm xuống.
+ Do các ngân hàng áp dụng các loại lãi suất khác nhau trong quá trình huy động
vốn và cho vay:
▪ Trường hợp 1: Ngân hàng huy động vốn với lãi suất cố định để cho vay, đầu tư với
lãi suất biến đổi Khi lãi suất giảm, rủi ro lãi suất sẽ thực hiện vì chi phí lãi khôngđổi trong khi thu nhập lại giảm, do đó lợi nhuận của ngân hàng giảm
▪ Trường hợp 2: Ngân hàng huy động vốn với lãi suất biến đổi để cho vay, đầu tư
với lãi suất cố định Khi lãi suất tăng, rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện vì chi phí lãi tăngtheo lãi suất thị trường, trong khi thu nhập lãi không đổi, do đó lợi nhuận của ngânhàng giảm
+ Do không có sự phù hợp về khối lượng giữa nguồn huy động với việc sử dụng
nguồn vốn đó để cho vay
+ Do không có sự phù hợp về thời hạn giữa nguồn vốn huy động được với việc sử
dụng nguồn vốn đó để cho vay
+ Do tỷ lệ lạm phát dự kiến không phù hợp với tỷ lệ lạm phát thực tế, dẫn đến vốn
của ngân hàng không được bảo toàn sau khi cho vay
+ Ngoài ra, khi lãi suất trên thị trường thay đổi, ngân hàng còn có thể gặp rủi ro
giảm giá trị tài sản
3) Ảnh hưởng của rủi ro lãi suất đến hoạt động ngân hàng:
Từ những nguyên nhân dẫn đến rủi ro lãi suất nêu trên, có thể thấy những ảnhhưởng của rủi ro lãi suất đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng như sau:
Rủi ro lãi suất làm tăng chi phí nguồn vốn của ngân hàng
Rủi ro lãi suất làm giảm thu nhập từ tài sản của ngân hàng
Rủi ro lãi suất làm giảm giá trị thị trường của tài sản Có và vốn chủ sở hữu củangân hàng
4) Một số ngân hàng thế giới và rủi ro lãi suất:
4.1) Rủi ro của các ngân hàng Trung Quốc
Người ta lo ngại rằng các ngân hàng Trung Quốc thiếu các kỹ năng quản trị rủi rocần thiết trong 1 môi trường kinh doanh mới.Con đường tiến tới cải cách tài chính ởTrung Quốc đang trở nên gập ghềnh hơn bao giờ hết.Tuần trước, tại hội nghị thượngđỉnh ở Singapore, lãnh đạo các ngân hàng cho biết bước tiếp theo trên lộ trình cải
Trang 13cách tài chính ở Trung Quốc là tự do hóa lãi suất – điều có thể xảy ra trong 18 thángtới và chắc chắn điều này sẽ khiến cho giới ngân hàng cũng như các khách hàngphải đau đầu.Tuy nhiên đây là một bước đi hợp logic Với việc tự do hóa lãi suất,nhà chức trách Trung Quốc hy vọng sẽ ngăn chặn được sự phát triển của hệ thốngngân hàng ngầm – chủ yếu nhờ vào việc nhiều người có tiền dư thừa muốn có lãisuất cao hơn trong khi người đi vay không thể tiếp cận các khoản vay có lãi suấtthấp giả tạo sẵn sàng trả thêm các khoản phí không chính thức để có thể có tiền.Tự
do hóa lãi suất cũng là một tiền đề cần thiết để xóa bỏ các kiểm soát về dòng vốn.Chừng nào lãi suất còn bị giữ ở mức thấp giả tạo cũng như các công cụ đầu tư cònthiếu hụt ở Trung Quốc, các quỹ đầu tư còn có động lực để rời bỏ thị trừng này vàtìm kiếm lợi nhuận cao hơn ở các thị trường nước ngoài.Trước đó, Trung Quốc đã
bỏ sàn lãi suất cho vay, khuyến khích các doanh nghiệp nhà nước được vay với lãisuất thấp hơn Với bước đi tiếp theo này, lãi suất trần sẽ được dỡ bỏ và người gửitiền sẽ được quyền yêu cầu các ngân hàng trả lãi cao hơn và khiến cho các ngânhàng khát tiền hơn Mặc dù các ngân hàng đã được cảnh báo trước về điều này,người ta vẫn quan ngại rằng liệu các ngân hàng đã trang bị đủ các kỹ năng quản trịrủi ro cần thiết cho một “thế giới mới” này hay chưa Ngân hàng tại các thị trườngphát triển hơn đã không cưỡng lại nổi xu thế đi vay ngắn hạn để cho vay dài hạnnhằm làm tăng tỷ lệ lợi nhuận và đã gánh chịu các hậu quả nghiêm trọng
4.2) Cái giá của tự do hóa lãi suất
Các ngân hàng nhóm 2 (các ngân hàng đứng sau nhóm 4 ngân hàng nhà nước vàBank of Communications cũng như Citic Bank) sẽ phải đối mặt với thách thức thực
sự Các ngân hàng quốc tế và khu vực cũng đã cắt giảm tín dụng đối với các ngânhàng này do sợ rằng mình không được bảo đảm an toàn bởi mạng an toàn nhà nước.Trong khi đó, cổ đông lớn của các ngân hàng nhà nước lớn cũng quan ngại rằng sẽ
bị yêu cầu tiếp nhận các ngân hàng yếu kém hơn như trường hợp của Nhật Bản.Mộthậu quả khác của việc tự do hóa lãi suất sẽ là chi phí cho vay tăng cao đối với hầuhết người đi vay Về dài hạn, điều này là có lợi vì khi chi phí vay vố nđắt hơn, vốn
sẽ được phân bổ cẩn thận hơn.Tuy nhiên không may cho Trung Quốc là việc tăng lãisuất lần này đến đúng lúc mà tình trạng tài chính của các công ty Trung Quốc đangxấu đi Theo phân tích của hang Forensic Asia thì rất nhiều công ty – trong đó có cảcác công ty niêm yết đang phải oằn mình gánh các khoản nợ do dòng tiền hoạt độngsuy giảm trong khi các khoản phải thu cũng ngày một tăng lên Vấn đề nợ chồngchéo giữa các công ty đang có nguy cơ xuất hiện trở lại.Bản thân các ngân hàngcũng đã chuẩn bị đối phó với vấn đề nợ xấu Tính tới thời điểm hiện tại, tỷ lệ nợ xấu(đã dự phòng rủi ro) là 1% Tuy nhiên, tỷ lệ 1% này khó mà phản ánh hết tình hìnhthực tế Nhưng có các nhóm lợi ích quyền lực khác, ở vị trí cao hơn các ngân hàng
và phải chịu trách nhiệm cho vấn đề này Nguồn thu chủ yếu của Bộ Tài chính là từcác khoản thuế của ngân hàng và bất kỳ sự xóa nợ nào sẽ làm giảm nguồn thu thuế.Central Huijin thuộc Tổng Công ty đầu tư Trung Quốc – tổ chức nắm giữ cổ phầncủa Chính phủ trong các ngân hàng – cần có cổ tức mà các ngân hàng chi trả
III Rủi ro thanh khoản:
Trang 141) Khái niệm :
Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi ngân hàng không có khả năng cung ứng đầy
đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng vớichi phí cao Nói cách khác, đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàngthiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặckhông thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán
Rủi ro thanh khoản phát sinh khi những người gửi tiền đồng thời có nhu cầu rút tiềngửi ở ngân hàng ngay lập tức Trong những trường hợp như vậy, thì ngân hàng phải
đi vay bổ sung nguồn vốn thanh toán hoặc phải bán tài sản có của mình để đáp ứngnhu cầu rút tiền của người gửi tiền Trong cơ cấu tài sản có thì thì tiền mặt có độthanh khoản cao nhất, do đó trước hết ngân hàng sử dụng tiền mặt để đáp ứng nhucầu rút tiền của khách hàng.Bởi vì tiền mặt tại quỹ không mang lại thu nhập lãi suất,cho nên trong những trường hợp bình thường ngân hàng chỉ duy trì một lượng tiềnmặt ở mức độ tối ưu để có thể đáp ứng các nhu cầu rút tiền thường xuyên của ngườigửi tiền mà không gây ảnh hưởng đến độ thanh khoản của ngân hàng Ngân hàng cóthể làm được điều này, bởi vì qua kinh nghiệm công tác ngân quỹ hằng ngày ngânhàng có thể dự tính chính xác nhu cầu rút tiền gửi hằng ngày và trong trường hợpthiếu hụt tiền mặt tạm thời thì ngân hàng chỉ cần đi vay bổ sung một cách thôngthường trên thị trường tài chính lien ngân hàng Tuy nhiên, trong một số trường hợpđặc biệt ngân hàng có thể phải đối mặt với rủi ro thanh khoản, ví dụ như trongtrường hợp dân chũng mất long tin vào ngân hàng, hoặc nhu cầu rút tiền có tính chấtthời vụ mà ngân hàng không dự tính trước được đòi hỏi ngân hàng phải chi trả tứcthời một khoản tiền lớn hơn mức bình thường Trong bối cảnh đó, hầu hết các ngânhàng đều đang phải đối phó với trường hợp tương tự , thì chi phí để huy động vốn
bổ sung tăng lên một cách đáng kể do lượng vốn cung ứng trên thị trường giảm Hậuquả là ngân hàng phải bán 1 số tài sản có độ thanh khoản thấp để đáp ứng nhu cầurút tiền của người gửi Điều này khiến cho ngân hàng gặp phải rủi ro thanh khoảnnghiêm trọng và ngân hàng buộc phải bán thốc, bán tháo tức thời ngay cả số tài sảnkhó chuyển nhượng với giá rẻ mạt vì ngân hàng không có thời gian để tìm ngườimua cũng như điều kiện thương lượng về giá cả Do bán khẩn cấp 1 số tài sản vớigiá thấp khiến cho khả năng thanh toán cuối cùng của ngân hàng bị đe dọa Trong sốtài sản có độ thanh khoản thấp bao gồm các khoản tín dụng cấp cho các công ty nhỏ.Trong trường hợp rủi ro thanh khoản càng ngày càng nghiêm trọng , nếu tất cảnhững người gửi trên đồng loạt yêu cầu ngân hàng chi trả toàn bộ tiền gửi cho họ thìdẫn đến ngân hàng chỉ đang từ chỗ phải đối phó với rủi ro thanh khoản đến chỗ phảiđối mặt với rủi ro phá sản
2) Một số nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản:
+ Ngân hàng vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn từ các cá nhân và
định chế tài chính khác nhau, sau đó, chuyển hóa chúng thành những tài sản đầu tưdài hạn.Do đó, đã xảy ra tình trạng mất cân xứng giữa ngày đáo hạn của các khoản
sử dụng vốn và ngày đáo hạn của các nguồn vốn huy động , mà thường gặp nhất là
Trang 15dòng tiền thu hồi từ các tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng tiền phải chi ra để chi trả tiềngửi đến hạn.
+ Do ngân hàng nhạy cảm với sự thay đổi của lãi suất đầu tư, nhất là các khoản tiền
gửi Khi lãi suất đầu tư tăng, một số người gửi tiền rút vốn của họ ra khỏi ngân hàng
để đầu tư vào nơi có tỉ suất lợi nhuận cao hơn , còn các khách hàng vay tiền sẽ tíchcực tiếp cận các khoản tín dụng vì có lãi suất thấp hơn Như vậy, sự thay đổi lãisuất ảnh hưởng đến cả khách hàng gửi tiền và vay tiền, kế đó tác động đến tình trạngthanh khoản của ngân hàng Hơn nữa, xu hướng về sự thay đổi của lãi suất còn ảnhhưởn đến giá trị thị trường của các tài sản, mà ngân hàng có thể đem bán để tăngthem nguồn cung cấp thanh khoản, và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí vay mượntrên thị trường tiền tệ
+ Do ngân hàng có chiến lược quản trị thanh khoản không phù hợp và kém hiệu quả
: các chứng khoán ngân hàng đang sở hữu có tính thanh khoản thấp, dự trữ của ngânhàng không đủ chi cho nhu cầu chi trả
+ Ngoài ra trong một số trường hợp ngân hàng gặp phải các rủi ro như bị tội phạm
công nghệ tấn cống, … làm cho người cho vay thấy thiếu an toàn về số tiền củamình và đồng loạt đến rút tiền khỏi ngân hàng cũng gây ra rủi ro thanh khoản ởngân hàng đó
3) Nhìn lại nguyên nhân rủi ro thanh khoản tại một số nước trên thế giới:
3.1) Rủi ro thanh khoản ở Anh- Thảm hoạ Northern Rock Bank.
Bước ngoặt dẫn tới kết cục buồn của Northern Rock đến vào năm 2006 khi ngân hàng này mở rộng hoạt động sang lĩnh vực cho vay thế chấp bằng bất động sản vớiđối tác là Lehman Brothers Khủng hoảng thị trường nhà đất và tín dụng đã đẩy cả hai gã khổng lồ tới bờ vực phá sản
- Năm 2007, Northern Rock đưa ra dự báo lợi nhuận trước thuế sẽ giảm so với dự kiến ban đầu
- Báo Anh đưa ra nhiều thông tin giật gân: Northern Rock đang khan hiếm tiền mặt, Northern Rock đang gánh hậu quả do cho vay thế chấp tràn lan,…
- Trong 3 ngày 14,15 và17/9/2007khoảng 3tỷ Bảng Anh đã được rút ra
- Do được Ngân hàng Anh (BOE) hỗ trợ nên Northern Rock không thiếu tiền mặt song số người rút tiền vẫn chưa giảm
- NHTW Anh đã phải ra tay cứu giúp bằng cách “bơm” một lượng tiền mặt không nhỏ cho Northern Rock
- Chính phủ Anh có thể sẽ mua lại Northern Rock để rồi sẽ có phương án xủ lý thích hợp khi tình hình trở lại bình thường
Nguyên nhân: Khủng hoảng tín dụng cho vay thế chấp nhà với đối tượng thu nhập thấp, tìm hiểu nguyên nhân thì cho thấy khi cho vay thế chấp bằng nhà đất, ngân hàng Northern Rock đã cho vay nhiều gấp 125% giá trị nhà đất của người vay đưa
Trang 16đi cầm cố, bất chấp những lời cảnh báo về sự không ổn định của nền kinh tế cũng như các dự báo về giá bất động sản tụt dốc, việc cho vay thế chấp sai lầm nói trên
đã khiến cho tài sản bong bóng xà phòng của ngân hàng Northern Rock tồn tại trong một thời gian dài và liên tục được thổi căng phồng lên ; Công tác PR của Northern Rock Bank quá yếu; Thiếu kinh nghiệm trong việc xử lý khủng hoảng;
Sự “thổi phồng” thông tin của báo giới,…
3.2) Rủi ro thanh khoản ở các NHTM Nga năm 2004.
Vào tháng 7/2004, các ngân hàng của Nga đứng trước nguy cơ rủi ro thanh khoản
- Ngày 9/7/2004: Một đại gia trong ngành Ngân hàng Nga- Guta bank- thông báotạm khóa các tài khoản tiền gửi trên toàn quốc do chi trả trong tháng 6 vượt 10 tỷrúp (tương đương 345 triệu USD) Ngân hàng đã đóng cửa 76 chi nhánh và ngừnghoạt động hơn 400 máy ATM Ngày 10/7/2004: Ngay sau khi Guta khóa các tàikhoản tiền gửi, người dân đổ xô đi rút tiền ở ngân hàng khác để đề phòng rơi vàohoàn cảnh tương tự Ngày 16/7/2004: Các Ngân hàng Nga đã từ chối cung cấp tíndụng cho nhau, lãi suất tiền gửi tăng song khách hàng vẫn ồ ạt xếp hàng rồng rắnbên ngoài các tòa nhà ngân hàng để chờ đến lượt rút tiền Ngày 17/7/2004: Ngânhàng Alfa, đại gia thứ 4 trong ngành tài chính Quyết định áp dụng biện pháp cấpbách là phạt 10% số tiền nếu khách hàng rút trước thời hạn Cùng lúc, báo chí tríchlời một cơ quan quản lý tài chính Nga tuyên bố 10 ngân hàng nữa có thể sẽ bịđóng cửa trong nay mai Tuy nhiên, một số phương tiện thông tin đại chúng lại tiết
lộ họ có trong tay danh sách đen 27 ngân hàng đang bên bờ vực phá sản Ngày18/7/2004: Thống đốc NH trung ương Sergei Ignatiev và tổng thống Putin tuyên
bố không hề có danh sách đen và khủng hoảng như vậy nhất thời là do tâm lý ÔngSergei Ignatiev Quyết định giảm các tỷ lệ dự trữ tiền mặt của các ngân hàng từ 7%xuống 3,5% nhằm tăng khả năng thanh khoản, đồng thời áp dụng hàng loạt biệnpháp cứu Guta Ngày 20/7/2004: Nhiều ngân hàng đã sụp đổ, người gửi tiền trànđến các nhà băng để rút tiền vì lo ngại cuộc khủng hoảng tài chính năm 1998 táidiễn và họ sẽ mất những khoản tiền tiết kiệm dành dụm cả đời Phản ứng củachính phủ trong giai đoạn này là lên kế hoạch để Vneshtorgbank của nhà nướcmua lại Ngân hàng Guta Ngày 27/7/2004: Phó chủ tịch Ủy ban tài chính DumaPavel Medvedv tuyên bố trong tuần, các ngân hàng sẽ thoát khỏi tình trạng tồi tệ
Vậy nguyên nhân của tình trạng mất khả năng thanh khoản của các ngân hàng Nga
là do đâu? Theo các chuyên gia, khủng hoảng rất dễ xảy ra bởi Nga hiện có quánhiều ngân hàng, trong đó phần lớn là tổ chức tài chính nhỏ tồn tại bằng các hoạtđộng bất hợp pháp; Các ngân hàng có vốn sở hữu quá nhỏ bé, 90% ngân hàng ởđây có số vốn dưới 10 triệu USD; Ngoài biện pháp giảm tỷ lệ dự trữ tiền mặt các
cơ quan quản lý tài chính của Nga chưa đưa ra được biện pháp có hiệu quả nào đểgiải quyết vấn đề
3.3) Một số vấn đề về tội phạm công nghệ:
a) Nga thiệt hại hơn 600 triệu USD do tội phạm mạng
Trang 17Trong năm 2012, tội phạm mạng đã gây thiệt hại 615 triệu USD cho người dân Nga Đây là số liệu do công ty Group-IB, hoạt động trong lĩnh vực ngăn chặn và điều tra tội phạm mạng và các vụ lừa đảo sử dụng công nghệ cao, công bố ngày 10/9.
Theo Group-IB, trong năm ngoái, hệ thống ngân hàng điện tử của Nga đã chịu tổn thất 446 triệu USD
Ngoài ra, việc bọn tội phạm đánh cắp và sử dụng dữ liệu cá nhân của chủ tài khoản gây thiệt hại 57 triệu USD, việc lấy cắp tiền qua mạng gây thiệt hại 23 triệu USD, trong khi dịch vụ "rửa" tiền từ các khoản thu nhập bất hợp pháp
"ngốn" mất 89 triệu USD
Theo kết quả điều tra năm 2012 của Group-IB cũng như việc theo dõi hoạt động của tội phạm mạng, trên lãnh thổ Nga có 12 nhóm tội phạm có tổ chức, trong đó 8nhóm chuyên lấy cắp tiền từ tài khoản ngân hàng của các pháp nhân, và 4 nhóm thực hiện hành động phạm tội tương tự đối với các thể nhân
Tính trung bình mỗi ngày xảy ra 44 vụ lấy cắp tiền từ các hệ thống dịch vụ ngân
hàng điện tử tại Nga
IV Rủi ro tỷ giá hối đoái:
1) Khái niệm :
Rủi ro tỉ giá hối đoái là rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay ngoại tệ hoặc quátrình kinh doanh ngoại tệ khi tỉ giá biến động theo chiều hướng bất lợi cho kháchhàng
2) Nguyên nhân dẫn đến phát sinh rủi ro ngoại hối đối với một ngân hàng:
+ Rủi ro hối đoái trong kinh doanh ngoại tệ, gồm 2 hoạt động sau:
Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng hoặc cho chính ngân hàng, nhằm cân bằngtrạng thái ngoại hội để phòng ngừa rủi ro tỉ giá
Mua và bán ngoại tệ nhằm mục đích đầu cơ kiếm lãi khi tỉ giá biến động
+ Sự không cân xứng giữa tài sản có và tài sản nợ đối với từng loại ngoại tệ Haynói cách khác là việc các ngân hàng đầu tư vào tài sản có và huy động vốn bằngngoại tệ Giả sử, khi một ngân hàng Việt Nam cấp tín dụng bằng USD cho kháchhàng của mình Khi đồng USD giảm giá so với VND, thì gốc và lãi của khoản vaybằng USD thu về sẽ bị giảm khi quy thành VND
3) Ví dụ về rủi ro tỷ giá hối đoái:
Chẳng hạn, hiện nay Ngân hàng Dự Trữ Liên Bang Mỹ đã hạ lãi suất xuống mứcthấp nhất chỉ còn 1,25%/năm Đây là cơ hội hiếm có cho các doanh nghiệp ViệtNam có thể vay vốn ngoại tệ với chi phí rẽ Tuy nhiên, nếu vay USD trong thời giantương đối dài với số lượng lớn, doanh nghiệp cần lưu ý tác động của yếu tố rủi ro tỷgiá
Trang 18Ví dụ công ty Giadimex đang thương lượng xin vay vốn tài trợ xuất khẩu của HSBC
số tiền 3 triệu USD để thu mua và chế biến hàng xuất khẩu Hiện tại do lãi suất USDtrên thị trường giảm nên HSBC đồng ý cho Giadimex vay với lãi suất 3%/năm trongthời hạn 6 tháng Hiện tại tỷ giá USD/VND = 15.381 Sáu tháng sau khi nợ đáo hạn,
tỷ giá USD/VND là bao nhiêu công ty chưa biết, do đó, công ty đối mặt với rủi ro tỷgiá nếu ký kết hợp đồng vay vốn này Công ty ước tính, sáu tháng sau phải trả nợ cảgốc và lãi là 3(1+ 0,03 x 6/12) = 3,045 triệu USD Với tỷ giá hiện tại công ty phải
bỏ ra 3,045 x 15.381 = 46.835,145 triệu VND trả nợ và lãi Nhưng nếu sáu thángsau tỷ giá USD/VND = 15.481 thì cứ mỗi USD phải trả công ty phải bỏ thêm100VND, tổng chi phí trả nợ và lãi sẽ lên đến 3,045 x 15481 = 47.139,645 triệuVND, tăng 47.139,645 – 46.835,145 = 304,5 triệu VND so với ước tính
V. Rủi ro sở hữu chéo:
1) Khái quát về sở hữu chéo
1.1) Thâu tóm ngân hàng, nợ xấu và tăng vốn ảo là 3 rủi ro lớn xuất phát từ sở hữu chéo trong hoạt động ngân hàng.
Có 3 rủi ro lớn xuất phát từ sở hữu chéo trong hoạt động ngân hàng đã được Tiến sĩ
Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, nêu
ra Đó là thâu tóm ngân hàng, nợ xấu và tăng vốn ảo, từ đó dẫn đến rủi ro mang tính
cá nhân hoặc tổ chức khác không họ hàng gì với cá nhân A để cùng đầu tư vào mộtngân hàng Vì thế, sở hữu chéo là vấn đề Việt Nam còn rất ít kinh nghiệm và rất khókiểm soát
Điều này cần phải truy lại từ thời kỳ đầu những năm 1990, khi các ngân hàngthương mại nhà nước đầu tư vào ngân hàng nhỏ để tái cấu trúc các ngân hàngnày.Lúc đó, chỉ đơn thuần là ngân hàng lớn đầu tư vào ngân hàng nhỏ chứ chưa lằngnhằng như sau này, khi các doanh nghiệp phi tài chính đầu tư vào ngân hàng, trởthành những ông chủ ngân hàng hay chiếm vị trí chi phối trong ngân hàng Sau đó
họ lại đầu tư vào các ngân hàng khác Các ngân hàng khác lại có chu trình đầu tư rấtphức tạp, đan chéo nhau như sở hữu chéo đã nói ban đầu Do đó, mức độ rủi ro caohơn trong khi khả năng giám sát của chúng ta lại không theo kịp tình hình thịtrường
Trang 19Có một đặc điểm chung khi nói đến rủi ro của thị trường tài chính ngân hàng Đó làrủi ro mang tính hệ thống, dù rủi ro ấy ban đầu chỉ xuất phát từ một vài tổ chứcriêng lẻ Vì đó là quan hệ giữa dòng tiền với nền sản xuất thực, nên sự đổ vỡ củamột vài tổ chức sẽ không chỉ lan tỏa trong hệ thống ngân hàng (do mối quan hệ lằngnhằng giữa các ngân hàng), mà còn ra cả hệ thống sản xuất kinh doanh ngoài ngânhàng.
Nợ xấu là hệ lụy của câu chuyện vừa nêu Nếu giám sát không chặt chẽ, dòng tiền
có thể chuyển sang cho vay các dự án sân sau của chính những người chi phối hoặclàm chủ ngân hàng Việc nguồn lực phân bổ không được đánh giá, giám sát đầy đủ
sẽ dễ gây ra nợ xấu Khi đã xuất hiện nợ xấu, việc xử lý sẽ khó khăn hơn nhiều, domối quan hệ lằng nhằng của sở hữu chéo.Các ngân hàng cũng có thể đầu tư chéovào nhau, nắm cổ phần của nhau, qua đó giúp nhau nâng vốn điều lệ một cáchnhanh chóng
Điều này có thể đã xảy ra ở Việt Nam nếu quan sát 2 điểm Thứ nhất là những vụviệc gần đây và dòng tiền đầu tư của các ngân hàng thương mại Thứ hai là trongthời gian quá ngắn, họ lại có được số vốn rất lớn để tăng vốn điều lệ Đây là vốn sởhữu của ngân hàng Điều đó cho thấy vốn ảo là có thực trong hệ thống ngân hàngViệt Nam
Điều này nguy hiểm ở chỗ, sở hữu chéo làm sai lệch việc đánh giá rủi ro của hệthống ngân hàng, vì có rất nhiều chỉ số dựa trên số vốn sở hữu mà ngân hàng đangnắm, trong khi vốn đó là vốn ảo Các chỉ số không chính xác sẽ dẫn đến những sailệch, cả về quản trị ngân hàng lẫn giám sát hệ thống tài chính.Chắc chắn là có rủi ro,
vì sở hữu chéo giảm tính minh bạch, giảm khả năng giám sát và tăng khả năng đổ
vỡ của một định chế tài chính Khi đó người gửi tiền sẽ chịu thiệt hại
Kinh nghiệm của các nước vào những thời điểm khủng hoảng, cần cải tổ hệ thốngtài chính cho thấy, họ đều nâng mạnh số tiền bảo hiểm, thậm chí bảo hiểm 100% giátrị khoản tiền gửi Điều này là để có được sự ổn định trong quá trình tái cấu trúc haycải cách để làm lành mạnh hệ thống ngân hàng Ở nhiều nước trong giai đoạn khủnghoảng 2008-2009, bảo hiểm tiền gửi đã giúp tránh được tình trạng người dân quá lolắng, ồ ạt đến ngân hàng rút tiền
Như vậy, trong điều kiện bình thường, cần phải có một tỉ lệ bảo hiểm tiền gửi nhấtđịnh, nhưng vẫn phải đảm bảo rằng, nếu một ngân hàng làm ăn kém thì ngân hàng
đó phải chấp nhận phá sản Còn trong khủng hoảng mà cần tái cấu trúc hệ thốngngân hàng, có thể buộc phải chấp nhận mức bảo hiểm tiền gửi rất cao, thậm chí là100% giá trị khoản tiền gửi
Nếu sở hữu chéo nằm trong hoạt động sản xuất kinh doanh thực, hoạt động phi tàichính, trong một chừng mực nhất định nào đó, nếu năng lực tài chính và quản trị củadoanh nghiệp tốt thì sở hữu chéo có thể tạo ra những lợi thế nhất định trong kinhdoanh Ví dụ như lợi thế quy mô, lợi thế kiểm soát chuỗi giá trị
Trang 20Thế nhưng, nếu sở hữu chéo gắn với khu vực tài chính - ngân hàng thì rủi ro sẽ rấtcao Nói chung, các nhà kinh tế đều rất e ngại với chuyện không tạo ra một bứctường lửa giữa ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại Bởi lẽ, bản chất sở hữuchéo là các dòng vốn đầu tư lẫn nhau mà lại chịu sự chi phối của một người hay mộtnhóm người nhất định.
1.2) Sở hữu chéo tại các Chaebol Hàn Quốc
Sở hữu chéo đơn giản là việc 2 tổ chức sở hữu cổ phần lẫn nhau, chẳng hạn nhưcông ty (Cty) A đầu tư vào Cty B, sau đó B lại đầu tư vào A Ở Hàn Quốc, sở hữuchéo được coi là đặc trưng nổi bật của các tập đoàn kinh doanh quy mô lớn(Chaebol) Mối quan hệ sở hữu chéo không chỉ giữa các Cty thành viên trong nội bộChaebol mà còn giữa các Chaebol với nhau Luật Thương mại của Hàn Quốc quyđịnh rõ giới hạn cho phép đối với vấn đề này, theo đó, các Cty con không được phépnắm giữ cổ phiếu của Cty mẹ và Cty mẹ cũng không được phép nắm giữ quá 40%
cổ phần của Cty con Tuy việc nắm giữ cổ phần chéo không được phép nhưng mộtCty vẫn có thể đầu tư vốn vào một Cty khác và sau đó chuyển vốn cổ phần sang chobên thứ 3 Hình thức này là hình thức đầu tư nội bộ, được gọi là “mô hình kim tựtháp”
Mô hình này cho thấy, với số vốn đầu tư không quá lớn (chỉ cần đảm bảo mứckhống chế ở một số Cty chủ chốt và một lượng vốn nhỏ ở các Cty con) nhưng phạm
vi ảnh hưởng của Cty mẹ hay các gia đình sáng lập thực sự rất lớn Cty mẹ chỉ cầnduy trì tỷ lệ cổ phần khống chế tại Cty A và Cty B nhưng vẫn có ảnh hưởng rất lớntới các Cty con của A và B Tuy nhiên, chính sự tập trung này cộng thêm với cácchính sách bảo hộ quá lớn của Chính phủ là những nguyên nhân căn bản gây nên rấtnhiều vấn đề bất cập ở Hàn Quốc:
Thứ nhất, những bất cập liên quan tới quản trị doanh nghiệp (DN): Tình trạng quản
lý không rõ ràng, kém hiệu quả trong quản lý do những mối quan hệ qua lại đan xentrong mô hình sở hữu chéo khá phổ biến Các Cty niêm yết trực thuộc các chaebolluôn có quan niệm mang tính mặc định là những người lãnh đạo sẽ không bao giờ bịthay thế Vị trí của những người này sẽ vẫn được duy trì đến chừng nào nhữngngười ủng hộ họ vẫn còn nắm giữ các vị trí quản lý tại các Cty con, vì thế họ đươngnhiên sẽ trúng cử trong đại hội cổ đông Thêm nữa là tình trạng không phân định rõràng chức năng quản trị của Hội đồng quản trị (HĐQT) với chức năng quản lý củaBan điều hành và thiếu tính minh bạch trong quản lý DN Cho đến năm 1997,HĐQT của tất cả các Cty niêm yết chỉ bao gồm những “người trong cuộc” và họ cóquyền chỉ định kiểm toán viên bên ngoài Vì thế, tính độc lập của các kiểm toán viênbên ngoài luôn là một vấn đề gây nhiều nghi vấn
Sau cuộc khủng hoảng 1997, Sở Giao dịch Chứng khoán Hàn Quốc đã buộc các Ctymuốn niêm yết phải có tối thiểu là 1/4 thành viên của HĐQT là các thành viên độclập từ bên ngoài Đồng thời, phải thành lập một uỷ ban bao gồm cả kiểm toán viênnội bộ, thành viên độc lập từ bên ngoài và các chủ nợ để lựa chọn (hoặc gợi ý lựa
Trang 21chọn) kiểm toán viên bên ngoài nhằm tăng thêm tính minh bạch cho hoạt động kiểmtoán.
Thứ hai, sự thiếu lành mạnh trong cơ cấu vốn của các chaebol: Chính tình trạng sởhữu chéo cộng với sự quản lý trực tiếp từ gia đình sáng lập gần như không tạo ramột cơ chế điều hành hiệu quả Các Cty hoạt động kinh doanh hiệu quả sẽ phải trợcấp cho các Cty hoạt động không hiệu quả trong nội bộ chaebol thông qua hoạtđộng đầu tư và bảo lãnh chéo Vấn đề “giải quyết nội bộ” như vậy khiến cho cácCty mạnh bị yếu đi và trên bình diện chung gây nên tình trạng thiếu lành mạnh về
cơ cấu vốn, thậm chí tạo nên dòng “vốn ảo”
Khủng hoảng tài chính năm 1997-1998 đã cho thấy một trong những nguyên nhândẫn đến nợ xấu là việc các Cty gia đình này nắm quyền kiểm soát ở các NHTM và
sử dụng những NHTM này tài trợ cho các dự án của mình và các Cty có liên quan
Vì thế, sau khủng hoảng, Hàn Quốc đã cấm ngay các tập đoàn không được đầu tưvào các lĩnh vực khác
VI Rủi ro nguồn vốn:
1) Khái niệm:
Rủi ro về nguồn vốn thường xẩy ra dưới hai hình thức: rủi ro thiếu vốn và rủi rothừa vốn Trước hết, chúng ta cần phải hiểu rõ về khái niệm thừa và thiếu vốn trongkinh doanh ngân hàng
Thừa vốn là tình trạng vốn tồn đọng ở quỹ nghiệp vụ, bao gồm cả quỹ thanh toántiền gửi ở ngân hàng Nhà Nước, quỹ tiền mặt, quỹ dự trữ của ngân hàng
Thiếu vốn là tình trạng xuất hiện trong các bộ phận thanh toán của ngân hàng
2) Phân loại
2.1) Rủi ro do thừa vốn
Ngân hàng Thương mại thông qua hình thức “đi vay để cho vay” nhằm kiếm lợinhuận, còn nguồn vốn tự có ”chỉ là cái đệm chống đỡ sự sụt giá của các tài sản Có”.Khi nguồn vốn huy động của ngân hàng bị ứ đọng có nghĩa là ngân hàng không chovay ra được hoặc không sử dụng hết, trong khi đó ngân hàng vẫn phải trả lãi chongười gửi tiền, chi các chi phí nghiệp vụ, các chi phí quản lý Nếu không khắc phụctình trạng này thì đến một chừng mực nào đó, mức độ thua lỗ lớn sẽ dẫn đến việcđóng cửa ngân hàng
2.2) Rủi ro do thiếu vốn
Thừa vốn đã gây khó khăn cho ngân hàng thì việc thiếu vốn còn tệ hại hơn nhiều.Rủi ro thiếu vốn không thể lường hết mức độ của nó gây ra vì vốn của ngân hàngphần lớn là vốn huy động (vốn đi vay) của xã hội để cho vay ra Nếu thiếu vốn trong
Trang 22thanh toán ngân hàng không thể thanh toán cho khách hàng khi họ có nhu cầu rúttiền Nếu với các ngành kinh tế khác thì việc thanh toán chỉ là một phần vốn của đơn
vị và có thể sẽ không khó khăn trong việc khất nợ với khách hàng (tất nhiên việclàm này không thể kéo dài và thường xuyên), nhưng với hoạt động của ngân hàng,khi một khách hàng bị khất nợ sẽ kéo theo hàng loạt khách hàng sẽ đến ngân hàng
để rút tiền Điều xảy ra khi đó sẽ là hoạt động của ngân hàng bị xáo trộn, mà khảnăng cao nhất có thể xảy ra đó là tuyên bố mất khả năng thanh toán và phá sản Nhưvậy, loại rủi ro này rất nguy hiểm, khó lường hết được hậu quả, thậm chí nó cònnguy hiểm hơn cả loại rủi ro bất khả kháng do thiên tai, địch hoạ gây ra bởi lẽ vớicác loại rủi ro đó ngân hàng vẫn còn khả năng phục hồi với các loại rủi ro thiếu vốnthì khả năng xấu nhất của một doanh nghiệp có thể xảy ra
VII Rủi ro đạo đức :
1) Khái quát :
Ngân hàng là ngành kinh doanh đặc biệt, nhạy cảm, gắn chặt với tiền, và luôn đốimặt với nhiều rủi ro Trong các vấn đề rủi ro, dường như rủi ro đạo đức đang lànguy cơ ngày càng lớn đối với ngân hàng
Rủi ro đạo đức là một thuật ngữ kinh tế học và tài chính được sử dụng để chỉ mộtloại rủi ro phát sinh khi đạo đức của chủ thể kinh tế bị suy thoái Rủi ro đạo đức làmột kiểu thất bại thị trường nảy sinh trong môi trường thông tin phi đối xứng
Trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, theo nhà kinh tế học Paul Krugman, rủi ro đạođức được hiểu là “trường hợp khi một bên đưa ra các quyết định liên quan tới mức
độ chấp nhận rủi ro, trong khi bên kia phải chịu tổn thất nếu các quyết định đó thấtbại” (Paul, 2009)
Rủi ro đạo đức nảy sinh khi bên có ưu thế thông tin hiểu được tình thế thông tin phiđối xứng giữa các bên giao dịch và tự nhiên hình thành động cơ hành động theohướng làm lợi cho bản thân bất kể hành động đó có thể làm hại cho bên kém ưu thếthông tin Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, rủi ro đạo đức nảy sinh từ chínhhoạt động kinh doanh của ngân hàng và khách hàng sử dụng vốn của các ngân hàngthương mại (NHTM) Hậu quả của rủi ro đạo đức do hai chủ thể này gây nên lại dongười gửi tiền vào ngân hàng và chính ngân hàng đó gánh chịu
Khi nhắc tới rủi ro đạo đức trong nghành ngân hàng, tín dụng là bộ phận hay đượcnhắc tới nhất Đây là những cán bộ trực tiếp làm việc với khách hàng, thẩm định hồ
sơ, ra phán quyết tín dụng Điều này có thể chứng minh khi những thông tin khởi tốcác cán bộ quản lý, cán bộ tín dụng các ngân hàng liên tục trên các mặt báo vìnhững hành vi sai phạm của mình Các hành vi phổ biến như thiếu trách nhiệmtrong thẩm định, cấu kết với khách hàng, ăn chia hoa hồng trên số tiền vay được,liên kết với nhau để vay mượn lòng vòng, thậm chí là vay ké của khách hàng…
2) Ví dụ về rủi ro đạo đức:
Trang 23Sau một loạt vụ scandal liên quan đến các ngân hàng gần đây, có 1 điều mà côngchúng nhận thấy rõ ràng: đạo đức của ngành ngân hàng đang bị đổ vỡ.
Barclays, một trong những ngân hàng lớn nhất thế giới, đang dính vào vụ scandalthâu tóm lãi suất Libor Trong khi đó, HSBC, ngân hàng lớn nhất châu Âu, cũng vừa
bị buộc tội có dính líu đến hoạt động rửa tiền ở Mexico Cách đây không lâu, JPMorgan đã khiến giới tài chính sửng sốt khi công bố lỗ hơn 5 tỷ USD do chiến lượcgiao dịch sai lầm
Ngoài những thiệt hại liên quan đến danh tiếng của ngân hàng cũng như những thiệthại tài chính mà các cổ đông phải gánh chịu, có 1 điều mà công chúng nhận thấy rõràng: đạo đức của ngành ngân hàng đang bị đổ vỡ Giờ đây, “Làm thế nào để sửachữa lỗ hổng này?” chính là câu hỏi cần được trả lời
Điều gì khiến các nhân viên của Barclays cho rằng không có gì là sai trái khi làmgiả lãi suất Libor? Tại sao các nhân viên của ngân hàng HSBC tại Mexico khôngkiểm soát chặt chẽ hơn nữa để đảm bảo chắc chắn rằng họ không hề dính dáng đếnhoạt động buôn bán ma túy bất hợp pháp?
Một trong những vấn đề chủ chốt ở đây chính là qui mô quá lớn của các ngân hàng
Rõ ràng là, khi một ngân hàng có hàng trăm nghìn nhân viên, người ta không thểđảm bảo chắc chắn rằng tất cả các nhân viên này luôn luôn hành động đúng mực
Những thương vụ mua bán và sáp nhập diễn ra chóng vánh, đặc biệt là khi các bộphận không thể hoàn toàn hòa nhập vào tập đoàn mẹ, cũng là “thủ phạm.” Hầu hếtnhững vấn đề mà HSBC đang gặp phải hiện nay đều bắt nguồn từ những vụ M&Ađược quản lý một cách yếu kém
Thêm vào đó, hội đồng quản trị của các ngân hàng lớn cũng phải được tăng cườngsức mạnh Họ cần phải sẵn sàng đương đầu với mọi thử thách, biết rõ về hoạt độngkinh doanh của không chỉ ngân hàng đó mà còn của toàn ngành Trong trường hợpthiếu hụt thông tin, họ cần tham khảo ý kiến từ những chuyên gia tin cậy để nắm bắtthông tin chính xác và kịp thời
Thiếu hụt những yếu tố trên, các ngân hàng lớn đã phải trả giá Cấu trúc tiền lương
“mở đường” cho tính thiếu trung thực Trong những năm ngành ngân hàng bùng nổ,thù lao của các nhân viên ngân hàng tăng vọt do doanh thu tăng trưởng mạnh vàcuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các ông lớn và những kẻ "sinh sau đẻ muộn" đầytham vọng Tốc độ tăng trưởng thần kỳ của Barclays sau khi mua lại một phầnLehman Brothers là một trường hợp điển hình
Động thái hối thúc các ngân hàng cắt giảm thưởng cho nhân viên của các nhà làmluật là rất đáng hoan nghênh Tuy nhiên, các qui định này cần được mở rộng ápdụng với cả những nhân viên ở cấp thấp hơn – bộ phận có nguy cơ phạm tội caonhất
Trang 24Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính ngày càng trầm trọng, các ngân hàng đang tựrút ra bài học từ chính những lỗi lầm trong quá khứ Lấy HSBC là một ví dụ, ngânhàng này đã thay đổi hoàn toàn chiến lược kinh doanh trên toàn cầu với các tiêuchuẩn áp dụng chặt chẽ hơn
Đã có nhiều ý kiến cho rằng các ngân hàng nên quay về với mô hình ban đầu, khilương thưởng của nhân viên phải gắn với những rủi ro mà họ gặp phải chứ khôngphải chỉ dựa vào các hợp đồng mà họ kí được như hiện nay Ngược lại, không ítngười cho rằng mô hình này sẽ là một bước lùi và khiến tăng trưởng kinh tế bị xóimòn Tuy nhiên, sự bền vững trong tương lai mới là điều quan trọng nhất
VIII Một số rủi ro khác:
1) Rủi ro thuần túy:
Đó là loại rủi ro do thiên tai gây ra như bão lụt, động đất, hoả hoạn, hoặc các rủi ro
do bị trộm cắp, lừa đảo, tệ nạn tham nhũng dẫn đến thiệt hại nặng nề về tài sản chongân hàng Tuy nhiên bằng các biện pháp bảo hiểm và bảo vệ sẽ phần nào hạn chếđược những thiệt hại khi rủi ro này xảy ra
2) Rủi ro hệ thống:
Là rủi ro có thể xảy ra như nhập dữ liệu sai, kiểm soát thay đổi kém, kiểm soát dự
án kém, lỗi lập trình, lỗi dịch vụ, an ninh hệ thống, sự không phù hợp của hệthống…
Ví dụ: Trường hợp của 1 chủ thẻ do rút tiền tại ATM của 3 ngân hàng khách vớingân hàng phát hành, số tiền thực tế rút là 2 triệu VND nhưng do lỗi hệ thống tàikhoản đã bị trừ mất 9 triệu VND, hay như trường hợp của 1 chủ thẻ khác rút 2 triệunhưng tiền không ra trong khi đó tài khoản vẫn bị trừ mất 2 triệu
3) Rủi ro pháp lý:
Là rủi ro từ sự không rõ ràng của các hoạt động pháp lý hoặc không rõ ràng trongviệc áp dụng và hiểu các hợp đồng, luật hay quy chế Ở một số nước, rủi ro pháp lýbắt nguồn từ sự không rõ ràng của quan điểm pháp lý
Chương 2) : Những ứng phó của NHTW các nước trên thế giới đối
với những bất ổn thường gặp hiện nay trong hệ thống các NHTM các nước này.
I Giới thiệu chung về NHTW
1) Khái niệm chung về NHTW
Để tìm hiểu về những ứng phó của NHTW đối với bất ổn thường gặp hiện nay trong
hệ thống NHTM của các nước trên thế giới thì trước hết ta cần hiểu NHTW là gì?
Trang 25NHTW là một cơ quan thuộc bộ máy nhà nước , được độc quyền phát hành giấy bạcngân hàng và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động tiền tệ, tín dụng
và ngân hang, với mục tiêu cơ bản là ổn định và an toàn trong hoạt động hệ thốngngân hang NHTW thực hiện chức năng quản lý không chỉ đơn thuần bằng các luật
lệ , các biện pháp hành chính, mà còn thong qua các nghiệp vụ mang tính chất hoạtđộng kinh doanh sinh lời NHTW có các khoản thu nhập từ tài sản của mình như :chứng khoán chính phủ, cho vay chiết khấu, kinh doanh trên thị trường ngoại hối….Hai mặt quản lý và kinh doanh gắn chặt chẽ với nhau, hoạt động kinh doanh chỉ làphương tiện để quản lý, tự nó không phải là mục đích của NHTW, sau khi trừ cácchi phí hoạt động đều phải nộp vào NSNN
2) Các chức năng của NHTW trong nền kinh tế hiện đại
2.1) Chức năng độc quyền phát hành tiền
Đi liền với sự ra đời của NHTW thì toàn bộ việc phát hành tiền được tập trung vàoNHTW theo chế độ nhà nước độc hành phát hành tiền của cả nước
Giấy bạc ngân hàng do NHTW phát hành là phương tiện thanh toán hợp pháp , làmchức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán Để cho giá trị đồngtiền được ổn định, nó đòi hỏi việc phát hành tiền phải tuân theo những nguyên tắcnghiêm ngặt Các nguyên tắc đó là :
Phát hành tiền dựa vào dựa trữ vàng đảm bảo
Phát hành tiền có đảm bảo bằng hàng hóa
2.2) Chức năng ngân hàng của các ngân hàng
Là ngân hàng của các ngân hàng, NHTW thực hiện một số nghiệp vụ sau đây :
Mở tài khoản và nhận tiền gửi của các NHTM :
+ tiền gửi dự trữ bắt buộc
+ tiền gửi thanh toán
Cho vay đối với các NHTM :
+ bổ sung vốn khả dụng cho NHTM
+ Cứu nguy cho các NHTM ( cho người vay vốn cuối cùng)
Tổ chức thanh toán bù trừ giữa các NHTM
2.3) Chức năng NHTW là ngân hàng của nhà nước
Nói chung NHTW đa số là ngân hàng thuộc sở hữu của nhà nước, được thành lập vàhoạt động theo pháp luật Ở đây, NHTW thực hiện các nghiệp vụ chủ yếu sau :
Nhận tiền gửi của kho bạc
Bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ
Cho chính phủ vay khi cần thiết
2.4) Chức năng QLNN về lĩnh vực tiền tệ và tín dụng
Đó là các chức năng sau :
Quản lý nhà nước về lĩnh vực tiền tệ và tín dụng
+ xây dựng thực thi CSTT