BÀI TẬP NHÓM Môn: Tài chính ngân hàng và sự phát triển Đề tài: Thực trạng điều hành lãi suất ở Việt Nam (chính sách lãi suất). Kinh nghiệm điều hành lãi suất ở các nước và khuyến nghị đối với Việt Nam. Giảng viên hướng dẫn: TS Đặng Anh Tuấn Lớp: Kinh tế 19A Nhóm: Lê Minh Đức Bùi Kim Liên Cao Thị Thảo Lê Thị Phương Thảo Hà Nội 2011 Lời nói đầu Như chúng ta đã biết, lãi suất và việc điều hành lãi suất giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế của mỗi một quốc gia. Tùy từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển mà các quốc gia điều tiết lãi suất theo hướng phù hợp. Tuy vậy, không phải ai cũng nắm được chi tiết cơ chế điều hành lãi suất hiện nay của Việt Nam qua các thời kỳ cũng như thời điểm hiện tại. Vì vậy nhóm chúng tôi xin trình bày đề tài: Thực trạng điều hành lãi suất ở Việt Nam (chính sách lãi suất). Kinh nghiệm điều hành lãi suất ở các nước và khuyến nghị đối với Việt Nam. Đề tài của chúng tôi bao gồm những nội dung chính sau: I. Những vấn đề chung về lãi suất II. Diễn biến lãi suất và cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam III. Bài học kinh nghiệm từ một số nước IV. Một số giải pháp điều hành lãi suất ở Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới Trong đó, học viên Bùi Kim Liên đảm nhiệm phần I, các học viên Cao Thị Thảo và Lê Thị Phương Thảo đảm nhiệm phần II, học viên Lê Minh Đức đảm nhiệm phần III, IV. Do điều kiện có hạn nên khó tránh khỏi những sai sót, vì vậy mong Giảng viên và các bạn học viên nhận xét, đóng góp ý kiến để đề tài của nhóm chúng tôi hoàn thiện hơn. I. Những vấn đề chung về lãi suất I.1. Khái niệm lãi suất I.1.1. Lợi tức Lợi tức là một khái niệm được xem xét dưới hai góc độ khác nhau: góc độ của người cho vay và của người đi vay.
Trang 1BÀI TẬP NHÓM Môn: Tài chính ngân hàng và sự phát triển
Đề tài: Thực trạng điều hành lãi suất ở Việt Nam (chính sách lãi suất) Kinh nghiệm điều hành lãi suất ở các nước và khuyến
nghị đối với Việt Nam.
Giảng viên hướng dẫn: TS Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế 19A Nhóm: Lê Minh Đức
Bùi Kim Liên Cao Thị Thảo
Lê Thị Phương Thảo
Hà Nội - 2011
Trang 2Lời nói đầu
Như chúng ta đã biết, lãi suất và việc điều hành lãi suất giữ vai trò vô cùng quantrọng đối với nền kinh tế của mỗi một quốc gia Tùy từng thời kỳ, từng giai đoạn pháttriển mà các quốc gia điều tiết lãi suất theo hướng phù hợp Tuy vậy, không phải ai cũngnắm được chi tiết cơ chế điều hành lãi suất hiện nay của Việt Nam qua các thời kỳ cũng
như thời điểm hiện tại Vì vậy nhóm chúng tôi xin trình bày đề tài: Thực trạng điều hành
lãi suất ở Việt Nam (chính sách lãi suất) Kinh nghiệm điều hành lãi suất ở các nước và khuyến nghị đối với Việt Nam Đề tài của chúng tôi bao gồm những nội dung chính sau:
I Những vấn đề chung về lãi suất
II Diễn biến lãi suất và cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam
III Bài học kinh nghiệm từ một số nước
IV Một số giải pháp điều hành lãi suất ở Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới
Trong đó, học viên Bùi Kim Liên đảm nhiệm phần I, các học viên Cao Thị Thảo và
Lê Thị Phương Thảo đảm nhiệm phần II, học viên Lê Minh Đức đảm nhiệm phần III, IV
Do điều kiện có hạn nên khó tránh khỏi những sai sót, vì vậy mong Giảng viên và cácbạn học viên nhận xét, đóng góp ý kiến để đề tài của nhóm chúng tôi hoàn thiện hơn
I Những vấn đề chung về lãi suất
Trang 3I.1 Khái niệm lãi suất
· Ở góc độ người đi vay hay người sử dụng vốn, lợi tức là số tiền mà người đi vayphải trả cho người cho vay (là người chủ sở hữu vốn) để được sử dụng vốn trong một thờigian nhất định Trong thời gian cho vay, người cho vay có thể gặp phải những rủi ro như:người vay không trả lãi hoặc không hoàn trả vốn vay Những rủi ro này sẽ ảnh hưởng đếnmức lợi tức mà người cho vay dự kiến trong tương lai
Khoản tiền đi vay (hay bỏ ra để cho vay) ban đầu gọi là vốn gốc Số tiền nhận được
từ khoản vốn gốc sau một khoản thời gian nhất định gọi là giá trị tích luỹ
I.1.2 Tỷ suất lợi tức (lãi suất)
Lãi suất (Ls) = lãi thu được(phải trả) trong 1 đơn vị thời gian/vốn gốc
Tỷ suất lợi tức (lãi suất) là tỷ số giữa lợi tức thu được (phải trả) so với vốn đầu tư(vốn vay) trong một đơn vị thời gian
Đơn vị thời gian là năm (trừ trường hợp cụ thể khác)
Hay nói 1 cách khác
+ Lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn trong 1 thời gian nhất định màngười sự dụng trả cho người sở hữu nó Lãi suất được sinh ra là bởi người đi vay đã sửdụng vốn đó để phục vụ các nhu cầu sinh lời của mình (trong hoạt động sản xuất kinhdoanh và tiêu dung) trong khi người cho vay đã hi sinh quyền đó
+Hay lãi suất là giá cả của các khoản vay
I.2 Phân loại lãi suất
Tùy tiêu thức phân loại, LS được chia thành:
I.2.1 Phân loại theo nội tệ, ngoại tệ:
- LS nội tệ: là LS được tính trên cơ sở đồng tiền một quốc gia, được áp dụng trongkhuôn khổ cho vay hoặc đi vay bằng đồng tiền trong nước
- LS ngoại tệ: là LS được tính trên cơ sở đồng tiền nước ngoài mà chủ yếu là nhữngngoại tệ mạnh, tự do chuyển đổi như Đô La Mỹ, Yên Nhật, Euro, Phrăng Thụy Sĩ…được
Trang 4thực hiên khi vay hoặc cho vay ngoại tệ mà hiện nay trên thế giới, LS được tính chủ yếubằng Đô La Mỹ LS ngoại tệ thường được tính theo năm.
Khi quyết định đi vay hoặc cho vay bằng nội tệ hay ngoại tệ, người đi vay hoặc chovay phải so sánh LS nội tệ với LS ngoại tệ chênh lệch như thế nào Sự so sánh này thôngqua 2 nhân tố mức lãi suất và tỉ giá hối đoái, sự ổn định của từng loại đồng tiền
I.2.2 Phân loại theo nghiệp vụ kinh doanh của NHTM:
-LS huy động vốn: LS do NHTM đưa ra để huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội, nhậntiền gửi của khách hàng, phát hành chứng chỉ tiền gửi
-LS cho vay: là LS thường do các NHTM công bố để thực hiện khả năng cho vayvốn
Phân loại theo tiêu thức này giúp cho các tổ chức tín dụng, các NHTM có thể quyếtđịnh nên ấn định LS huy động vốn và LS cho vay là bao nhiêu Quy định này giúp chocác tổ chức tín dụng có thể huy động được nguồn vốn dồi dào, có thể sử dụng hết nguồnvốn của mình để cho vay, hướng đến mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
I.2.3 Phân loại theo thời gian:
-LS ngắn hạn: LS áp dụng cho các khoản vay có thời hạn dưới 12 tháng
-LS trung hạn: LS áp dụng cho các khoản vay có thời hạn từ 12 tháng trở lên nhưngdưới 5 năm
-LS dài hạn: LS áp dụng cho các khoản vay có thời hạn từ 5 năm trở lên
Việc phân loại theo thời gian giúp chúng ta ấn định LS cho phù hợp với nguyên tắc:thời hạn càng dài thì LS càng cao
I.2.4 Phân loại theo LS đơn và LS kép:
-LS đơn: áp dụng cho những món vay đơn, có thời hạn tính lãi trùng với chu kì tínhlãi
S = P ( 1+ i.t) trong đó P: số tiền gốc
i : LS được niêm yết trên cơ sở một kì hạn nhất định t: thời gian của hợp đồng
S: số tiền gốc và lãi thanh toán 1 lần khi đến hạn
-LS kép: áp dụng cho những khoản vay có nhiều kì tính lãi, lãi thu được ở các kìtrước gộp chung vào gốc để tính lãi cho kì tiếp theo
Sn = P ( 1 + i )n trong đó n: số kì tính lãi
I.2.5 Phân loại theo nội dung kinh tế:
Trang 5Việc phân loại này giúp giải quyết vấn đề khi vay hoặc cho vay với 1 LS nào đó,chúng ta có cơ may thu được giá trị thực của đồng tiền nhiều hay ít hơn so với biến độngcủa mức lạm phát.
-LS danh nghĩa: LS được ghi tại các hợp đồng kinh tế
-LS thực: là LS danh nghĩa sau khi đã loại bỏ đi yếu tố tỉ lệ lạm phát Đây là LSngười cho vay được nhận và là LS mà họ quan tâm
ir = in – ii ( đối với ii < 10% )
ir = ( in – ii) / ( ii + 1) 100% ( đối với ii >= 10% )
I.2.6 Theo tính cạnh tranh của các công cụ nợ:
Nhóm LS chịu tác động chủ yếu của cung-cầu vốn:
-LS TPKB NN: là tỉ lệ giữa số tiền lãi so với tiền gốc mà KBNN trả cho người muatín phiếu
-LS tiền gửi ngắn hạn: tỉ lệ giữa số tiền lãi so với tiền gốc mà người huy động vốnphải trả cho các hình thức nhận tiền gửi của khác hàng, có thời hạn < 12 tháng
-LS kì phiếu do NHTM, các tổ chức TGTC khác phát hành: là LS ghi trên kì phiếu,
có thời hạn thanh toán < 12 tháng, để huy động vốn trên TTTT
-LS cho vay ngắn hạn: tỉ lệ giữa số tiền lãi so với số tiền gốc mà người vay phải trảngười cho vay trong thời gian <12 tháng
-LS thị trường liên ngân hàng: là LS vay ngắn hạn giữa các tổ chức TGTC với nhautrên TTTT liên ngân hàng, nó mang ý nghĩa huy động vốn nóng, biên động hàng ngày,phản ánh cung cầu trên thị trường
-LS Libor: là LS vay ngắn hạn giữa các tổ chức TGTC với nhau trên thị trường liên
NH London Đây là loại LSCB ngắn hạn, làm căn cứ cho các chủ thế tham khảo khi thựchiện các khoản huy động và cho vay vốn
-LS Sibor: là LS vay ngắn hạn giữa các tổ chưc TGTC với nhau trên thị trường liên
-LS tái chiết khấu
-LS cho vay qua đêm
Trang 6-LS cơ bản
-LS repo
I 3 Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế
I.3.1 Trong điều hành chính sách tiền tệ(cstt):
-LS là 1 công cụ quan trọng của cstt quốc gia do NHTW điều hành để đạt được cácmục tiêu chủ yếu của cstt như: ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát, kích thích tăng trưởngkinh tế, giải quyết tình trạng thất nghiệp
-LS là 1 trong những biểu hiện phản ánh sức khỏe của nền kttt CS ls không chỉ tácđộng đến những quyết định cá nhân mà còn tác động đến những quyết định của doanhnghiệp Đặc biệt, lãi suất còn có vai trò quan trọng trong việc điều hành có
hiệu quả các công cụ khac của CSTT như tái cấp vốn, tái chiết khấu…
Như vậy, LS là 1 công cụ quan trọng của CSTT, thông qua LS, NHTW có thểkhống chế toàn bộ LS trong nền kinh tế, chế định mức cung ứng khối lượng tiền tệ điềuhòa tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân, kiềm chế lạm phát, kích cầu giải tỏa thiểu phát, tạođiều kiện cho doanh nghiệp phát triển, góp phần giải quyết thất nghiệp, góp phần tăng thunhập quốc dân, đẩy mạnh phát triển kinh tế quốc gia
I.3.2 Làm sâu sắc thêm tính cạnh tranh giữa NHTM:
-NHTM là một tổ chức trung gian tài chính, là 1 loại hình doanh nghiệp kinh doanhtiền tệ và dịch vụ ngân hàng Như chúng ta đã biết, việc “mua tiền” “bán tiền” đều phải
có giá, được xác định theo quan hệ cung cầu vốn trên thị trường LS là giá cả của việc sửdụng vốn tiền tệ ( LS huy động vốn là giá mua, LS cho vay là giá của vốn bằng tiền )
- Để cạnh tranh, NHTM phải hạ LS cho vay hoặc tăng LS tiền gửi hoặc kết hợp cả 2biện pháp này Lúc này khách hàng, cả người vay và người gửi đều được hưởng lợi ,không chỉ hưởng lợi từ giá cả phù hợp mà còn được hưởng lợi ở chỗ được phục vụ tốthơn
-Tuy nhiên, NHTM không nhàn hạ thu lời mà phải tính toán hàng ngày để bảo vệ uytín của mình, thay đổi cung cách phục vụ nhanh chóng, nhạy bén
I.3.3 Tác động đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp:
-Khi LS cho vay nhỏ hơn tỉ suất lợi nhuận bình quân thì sẽ kích thích đầu tư và sảnxuất kinh doanh, giải quyết được thất nghiệp
-Các doanh nghiệp hoạt động không chỉ bằng nguồn vốn tự có của mình mà thôngthường còn phải vay ngân hàng Vì vậy nếu LS cho vay của ngân hàng quá cao thì sẽkhông kích thích các doanh nghiệp vay để đầu tư vào sản xuất kinh doanh
Trang 7I.3.4 Tác động trực tiếp đến các quyết định tích lũy và tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư:
-Nếu áp dụng LS cao, LS thực cao chính là động lực kích thích cá nhân tiết kiệm chitiêu gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng tập trung được nguồn vốn lớn , tăng khả năng chovay Tuy nhiên khi đó LS cho vay cũng tăng gây nản lòng các nhà đầu tư Vấn đề ở đây
là phải chọn một mức độ LS phù hợp để trở thành động lực vừa kích thích tiết kiệm vừa
mở rộng đầu tư
I.3.5 Thúc đẩy chu chuyển vốn và sử dụng hợp lí các nguồn vốn trong xã hội:
-Các dòng chu chuyển vốn trong xã hội được thông qua 4 chủ thể chính: cá nhân,doanh nghiệp, Chính phủ và các tổ chức TGTC Thông qua các TGTC, vốn được điềuhòa từ nơi thừa đến nơi thiếu Chính sách LS giữ vai trò chủ yếu trong việc điều hòa vốntrong nền kinh tế thị trường
-LS còn giữ vai trò thúc đẩy việc sử dụng các nguồn vốn trong xã hội một cách hợp lí
và hiệu quả Thông qua các loại LS như: LS ưu đãi, LS cho vay, LS cơ bản, LS tái chiếtkhấu được điều hành bởi NHTW, Chính phủ có hoạch định được sử dụng nguồn vốntrong toàn xã hội một cách hợp lí và hiệu quả nhất
II Diễn biến lãi suất và cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam
II.1 Nguyên nhân điều chỉnh lãi suất
Nguyên nhân điều chỉnh của ngân hàng Nhà nước là do những biến động của tìnhhình nền kinh tế như: lạm phát, thiểu phát, biến động của thị trường vàng, thị trườngngoại hối, sự thay đổi trong cán cân cung-cầu tiền, hoặc do mức lãi suất cũ chưa hợp lý,gây cản trở sự phát triển của nền kinh tế nên ngân hàng Nhà nước phải có biện pháp giữổn định cho thị trường tài chính
II.2 Diễn biến các giai đoạn điều chỉnh lãi suất
Điều hành chính sách lãi suất không phải là vấn đề mới Ngay từ thế kỷ thứ XVI,những nhà kinh tế thuộc trường phái trọng thương ở Anh đã đề cập đến việc điều hànhchính sách lãi suất với quan điểm áp dụng biện pháp hạ thấp lãi suất để kích thích đầu tư
và tạo thuận lợi cho việc cạnh tranh quốc tế về giá bán Nội dung chính sách lãi suất tiếptục được đề cập đến bởi những nhà kinh tế thuộc các trường phái cổ điển, tân cổ điển…như A Smith, Ricardo, Marshall… Chính sách lãi suất còn là đề tài mà K Mark, J M.Keynes cũng như M Friedman rất quan tâm Nhưng mãi cho đến nay, ở Việt Nam, chínhsách lãi suất vẫn còn là vấn đề mang tính thời sự, gây ra nhiều tranh luận bởi nhiều tácgiả với nhiều quan điểm khác nhau
Trang 8a Giai đoạn trước tháng 6/ 1992: Cơ chế thực thi lãi suất cố định
Trước 1992, hệ thống ngân hàng Việt Nam là hệ thống một cấp, nền kinh
tế đượcquản lý theo phương thức kế hoạch hóa tập trung, bao cấp Nguyên tắc của việc
xác định lãi suất là: Bảo toàn được vốn và có lãi, được áp dụng ở các doanh nghiệp củacác thành phần kinh tế Cơ chế lãi suất này được điều chỉnh theo biến động của chỉ số giá,đặc biệt là lãi suất ngoại tệ được áp dụng theo mức lãi suất của thị trường tiền tệ quốc tế.NHNN can thiệp ở mức độ cao và trực tiếp vào lãi suất thông qua ấn định các mức lãisuất tiền gửi và lãi suất tiền vay Đặc trưng cơ bản của lãi suất thời kỳ thực thi chế độquản lý nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung kéo dài, đó là áp dụng chính sáchlãi suất bao cấp khá nặng nề Dẫn đến lãi suất thực thi trong thời kỳ này với tình trạng
“lãi giả và lỗ thật” làm cho ngân hàng không thể bảo toàn vốn của mình do lạm phát tăngcao và lãi suất thực là số âm, vì tỷ lệ lạm phát đã lớn hơn lãi suất danh nghĩa
Các lần điều chỉnh lãi suất tín dụng 1989 – 1990
Đơn vị: %/tháng
Thời điểm
Lãi suất huy động vốn
Lãi suất cho vay bình quân
Thời gian của tổ chức
kinh tế Thời gian của dân cư
3 tháng Không kỳ
hạn 3 tháng
Không kỳ hạn
- Lãi suất thực âm và mang nặng tính chất bao cấp
- Mức lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp Nhà nước thấp hơn so với doanh nghiệpngoài quốc doanh
- Lãi suất danh nghĩa (16%) nhỏ hơn tỉ lệ lạm phát (17,6%)
- Lãi suất cho vay ngắn hạn cao hơn lãi suất cho vay dài hạn
Trang 9- Lãi suất cho vay ngân hàng nhỏ hơn lãi suất tiền gửi
Tình trạng này dẫn đến lãi suất không thực hiện được chức năng vốn có của nó, lãisuất không còn là đòn bẩy nhu cầu gửi tiền của công chúng , phát huy tính hiệu quả trongquá trình sử dụng vốn và đảm bảo lội nhuận cho ngân hàng Làm tăng tính ỷ lại của cácdoanh nghiệp Nhà nước, không khuyến khích họ làm ăn có hiệu quả, lỗ thì có Nhànước chịu
- Các ngân hàng không có cơ hội quyết định hoạt độngkinh doanh củamình, hoàn toàn phụ thuộc vào Nhà nước
b Giai đoạn từ tháng 6/1992 đến 1995: Cơ chế điều hành khung lãi suất
Đặc trưng của cơ chế này là Ngân hàng Nhà nước điều hành cơ chế lãi suất theokhung lãi suất, quy định rõ sàn lãi suất tiền gửi và trần lãi suất cho vay đối với nền kinh
tế Các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng căn cứ khung lãi suất của ngân hàngthương mại để đưa ra các lãi suất thích hợp cho mình, thực chất là bước chuyển đổi cănbản từ cơ chế lãi suất âm sang cơ chế lãi suất dương, đảm bảo cho các ngân hàng thươngmại, các tổ chức tín dụng kinh doanh có hiệu quả, đây là cơ chế lãi suất khởi đầu cho quátrình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam
Ngân hàng Nhà nước đã có nhiều bước điều chỉnh trong điều hành chính sách lãisuất: chuyển từ cơ chế lãi suất thực âm sang cơ chế lãi suất thực dương, xóa bỏ về cơ bản
sự chênh lệch lãi suất cho vay giữa các thành phần kinh tế Bắt đầu từ tháng 10/1993 lãisuất cho vay có 2 loại (1.8%/ tháng đối với doanh nghiệp Nhà nước, 2.1%/ tháng cho nềnkinh tế ngoài quốc doanh) và NHNN cho phép NHTM được thỏa thuận lãi suất với kháchhàng (áp dụng trong trường hợp huy động vốn bằng phát hành kỳ phiếu lãi suất huy động
có thể cao hơn lãi suất tiết kiệm cùng kỳ hạn 0,2%/ tháng và cho vay cao hơn mức trần2,1%/ tháng)
Lãi suất bình quân các năm 1986 – 1995
Trang 10Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế
* Ưu điểm:
- Lãi suất đã bắt đầu được sử dụng như một công cụ của chính sách tiền tệ Chínhsách lãi suất được cải cách theo hướng linh hoạt hơn và phù hợp với cơ chế thị trường:lãi suất cho vay bình quân > lãi suất tiền gửi bình quân > tỷ lệ lạm phát Đồng thờikhông có sự phân biệt giữa các thành phần kinh tế, mọi doanh nghiệp đều bìnhđẳng, do vậy một phần hạn chế được sự trì trệcủa nền kinh tế, đặc điểm của khuvực kinh tế Nhà nước.Thực chất chính là bước chuyển đổi căn bản từ cơ chế lãisuất âm sang cơ chế lãisuất dương, đảm bảo cho các ngân hàng thương mại,các tổ chức tín dụng kinh doanh cóhiệu quả, đây là cơ chế lãi suất khởi đầu cho quátrình tự do hóa lãi suất ở nước ta
- Cho phép các tổ chức tín dụng chủ động và tự quyết định mức lãi cụ thể của đơn vịmình
- Hạn chế đến mức thấp nhất sự can thiệp trực tiếp của NHNN vào hoạt đông củaNHTM
* Nhược điểm:
- Cơ chế này vẫn không khống chế trực tiếp lãi suất trên thị trường, điều này làmgiảm tác dụng kích thích và điều tiết hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng
- V i ệc k h ố n g c h ế c h ặ t c hẽ m ứ c t r ầ n l ã i su ấ t c h o va y ở m ứ c t hấ p đ ãkhuyến khích việc vay mượn trên thị trường tự do cũng như những tiêu cực trong cơchếcho vay của ngân hàng Lãi suất tiền gửi liên tục tăng, lãi suất cho vay bị khống chếtrần khiến cho lợi nhuận của ngân hàng giảm, khả năng tài chính yếu đi trong khi nềnkinh tếđa n g t r ê n đ à tă n g t r ư ở n g v ớ i n h ữ n g n h u cầ u về v ố n r ấ t l ớ n
c Giai đoạn từ năm 1996 đến tháng 7/ 2000: Cơ chế lãi suất trần
NHNN đã thay đổi căn bản cơ chế điều hành linh hoạt trần lãi suất, bướcđầu thực hiện tự do hóa lãi suất huy động và linh hoạt trần lãi suất cho vay.Mức lãi suất tái cấp vốn được quy định cụ thể và điều chỉnh phù hợp với chỉ
số lạm phát, quan hệ cung cầu -vốn trên thị trường Năm 1996-1997, NHNNkhống chế về mức chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi là0,35%/ tháng Quy định này đã gây mất công bằng giữa các tổ chức tín d ụ n g ,
b ở i v ì m ỗ i t ổ c h ứ c có đ ặc t h ù r i ê n g v ề c h i p h í h u y đ ộ n g v ố n V ì v ậ y ,
đ ế n n ă m 1998, quy định này bị bãi bỏ Đầu năm 1998, theo quyết định39/1998/QĐ-NHNN, của Thống đốc NHNN, trần lãi suất cho vay đã tăng thêm
Trang 111%/tháng lên 1,2%/ tháng, cho vay trung và dài hạn tăng từ 1,10%/tháng lên 1,25%/tháng Việc điều hành nâng trần lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng đối vớinền kinh tế là cơ sở để các tổ chức tín dụng tăng lãi suất huy động vốn tương ứng, tạođiều kiện huy động vốn đủ đáp ứng các nhu cầu cho vay, phát triển kinh tế xã hội Sangnăm 1999, nền kinh tế có dấu hiệu thiểu phát, nhằm kích cầu NHNN liên tụcđiều chỉnh giảm trần lãi suất, lãi suất cuối năm giảm 0,35%-0,4% so với đầunăm và ở mức thấp so với những năm trước:
+ Cho vay khu vực thành thị : 0,85% /tháng
+ Cho vay khu vực nông thôn : 1%/tháng11/1999,
Để bổ sung thêm công cụ điều hành lãi suất, tháng 11/1999 NHNN đưa vào sử dụngnghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá cho các NHTM, lãi suất tái chiết khấuđược qui định ở mức thấp hơn 0,05%/tháng so lãi suất tái cấp vốn;
Tháng 7/2000, NHNN đưa vào sử dụng nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất thị trường
mở được hình thành qua các phiên giao dịch theo quan hệ cung – cầu
Cơ chế lãi suất này đã góp phần duy trì sự tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát,ổnđịnh sức mua của VND trong sự tương quan của các đồng tiền trong khu vực
do cókhủng hoảng tiền tệ năm 1997-1998 ở các nước Đông Nam Á
Nét cơ bản của cơ chế điều hành trần lãi suất, đó là Ngân hàng Nhà nước đã thay đổicăn bản cơ chế điều hành linh hoạt trần lãi suất, bước đầu đã thực hiện tự do hóa lãi suấthuy động (lãi suất đầu vào của ngân hàng thương mại) và linh hoạt trần lãi suất cho vay(lãi suất đầu ra) Cơ chế lãi suất này đã góp phần duy trì sự tăng trưởng kinh tế, kiểm soátlạm phát, ổn định sức mua của VND trong sự tương quan của các đồng tiền trong khuvực do có khủng hoảng tiền tệ năm 1997-1998 ở các nước Đông Nam Á
* Ưu điểm:
- Kích cầu thúc đẩy đầu tư và tiêu dùng
* Nhược điểm:
- Mức ảnh hưởng của lãi suất đối với tổng cầu của nền kinh tế Việt Nam rất hạn chế
- Tác động của chính sách vĩ mô vào tổng cầu sẽ chỉ đem lại hiệu quả hạn chế, sựđiều chỉnh thường chậm nên mất đi lợi thế bất ngờ của sự thay đổi lãi suất
- Các NHTM quốc doanh vẫn phải bao cấp về tài chính Kết cục rủi ro lãi suấtluôn đặt gánh nặng lên vai các NHTM
- Hơn nữa, diễn biến lãi suất trong giai đoạn này ít có tác dụng đến việc tăng cườnghuy động vốn trung và dài hạn thì lãi suất cao trong khi NHNN liên tục giảm lãi suất
Trang 12d Giai đoạn từ tháng 8/2000 đến tháng 5/2002: Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản
kèm biên độ
Nội dung của cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ là Ngân hàng Nhà nước
đã điều hành cơ chế lãi suất theo luật ngân hàng để thay thế cho cơ chế lãi suất trần Lãisuất cơ bản và biên độ được công bố định kỳ hàng tháng, trường hợp cần thiết, Ngânhàng Nhà nước sẽ công bố điều chỉnh kịp thời
Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ, về cơ bản các ngân hàng thương mại, các tổchức tín dụng được ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cungcầu vốn trong nước của từng loại ngoại tệ Theo cơ chế lãi suất này cho thấy Ngân hàngNhà nước Việt Nam đã quyết tâm đổi mới chính sách lãi suất theo hướng tự do hóa vàtừng bước gắn lãi suất trong nước vào thị trường khu vực và thế giới
Theo quy định số 241/2000/QĐ-NHNN1 ngày 02 tháng 8 năm 2000 về việc thay đổi
cơ chế điều hành lãi suất cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng của thống đốcngân hàng Nhà Nước Việt Nam có những nội dung như sau:
Nay thay thế cơ chế điều hành trần lãi suất cho vay bằng cơ chế điều hành lãi suất cơbản đối với cho vay bằng Đồng Việt Nam và cơ chế lãi suất thị trường có quản lý đối vớicho vay bằng ngoại tệ theo quy định cụ thể tại các điều dưới đây
Đối với lãi suất cho vay bằng Đồng Việt Nam:
- Tổ chức tín dụng ấn định lãi suất cho vay đối với khách hàng trên cơ sở lãisuất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố theo nguyên tắc lãi suất cho vay không vượtquá mức lãi suất cơ bản và biên độ do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định từngthời kỳ
- Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất cơ bản trên cơ sở tham khảo mức lãisuất cho vay thương mại đối với khách hàng tốt nhất của nhóm các tổ chức tín dụng đượclựa chọn theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ Lãisuất cơ bản và biên độ được công bố định kỳ hàng tháng, trường hợp cần thiết, Ngânhàng Nhà nước sẽ công bố điều chỉnh kịp thời
Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ:
- Cho vay bằng Đôla Mỹ: Tổ chức tín dụng ấn định lãi suất cho vay theonguyên tắc lãi suất cho vay không vượt quá lãi suất Đôla Mỹ trên thị trường tiền tệ liênngành Ngân hàng Xinh-ga-po (lãi suất SIBOR) kỳ hạn 3 tháng đối với cho vay ngắn hạn,
kỳ hạn 6 tháng đối với cho vay trung hạn, dài hạn tại thời điểm cho vay và một biên độ
do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định trong từng thời kỳ
Trang 13- Cho vay bằng các ngoại tệ khác: Tổ chức tín dụng ấn định lãi suất cho vay dựatrên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung cầu vốn trong nước của từng loại ngoại tệ.Quyết định trên được đưa ra để thay thế cho quyết định năm 1996 Theo cơ chế lãisuất này cho thấy NHNN đã quan tâm đổi mới chính sách lãi suất theo hướng tự do hoá
và từng bước gắn lãi suất trong nước với thị trường khu vực và thế giới
Theo cơ chế này, NHNN công bố lãi suất cơ bản hàng tháng Trên cơ sở lãi suất cơbản, các TCTD được phép cộng thêm biên độ, đối với cho vay ngắn hạn cộng0,3%/tháng, cho vay trung và dài hạn cộng 0,5%/tháng… Đến tháng 6/2001, lãi suấtngoại tệ đã được tự do hóa, mức lãi suất cho vay và huy động ngoại tệ đều do các NHTM
tự quyết định theo cung cầu vốn trên thị trường Riêng lãi suất tiền gửi bằng ngoại tệ củacác DN tại NHTM và tiền gửi ngoại tệ của các NHTM tại NHNN chưa được tự do hóa
mà vẫn do NHNN quy định, nhằm khuyến khích các DN bán ngoại tệ cho các NHTM vàcác NHTM không gửi ngoại tệ ra nước ngoài các ngân hàng không được tính lãi suất chovay vượt quá lãi suất cơ bản + 0,3%/tháng đối với vốn ngắn hạn và + 0,5%/tháng đối vớivốn trung, dài hạn
Cơ chế giới hạn biên độ lãi suất so với lãi suất cơ bản về bản chất không khác gì sovới trần lãi suất áp dụng trước đây Tuy nhiên, trên thực tế mức trần (lãi suất cơ bản cộngbiên độ) được định ở mức cao hơn trần lãi suất theo cơ chế cũ rất nhiều Hình 1 cho thấylãi suất cho vay của ngân hàng luôn thấp hơn giới hạn biên độ cho phép Trước thời điểm
áp dụng lãi suất cơ bản, lãi suất cho vay bình quân của bốn ngân hàng thương mại quốcdoanh đã kịch trần (0,85%/tháng) Thực tế là trong năm 1999, các NHTM không theo kịp
5 đợt hạ trần lãi suất của NHNN, và kết quả, như trên Hình 1, là LSCV ngắn hạn bìnhquân vượt trên trần lãi suất
Từ tháng 8/2000, lãi suất cơ bản được đặt ở mức mà khi cộng với biên độ 0,3%/tháng
đã cao hơn hẳn lãi suất cho vay thực tế Như vậy, từ khi có cơ chế lãi suất cơ bản, cácngân hàng đã bắt đầu ấn định lãi suất trên cơ sở thỏa thuận với khách hàng
Một điểm đáng chú ý nữa là LSCV của các NHTM, mặc dù luôn cao hơn lãi suất cơbản, nhưng thay đổi theo lãi suất cơ bản Trong năm 2000 và 2001, cả hai mức lãi suấtnày đều giảm Nhưng trong thời gian đó, lãi suất tiền gửi lại tăng lên Cạnh tranh giữa cácngân hàng đã dẫn tới gia tăng lãi suất huy động vốn, nhưng LSCV vẫn không tăng vànằm trong biên độ lãi suất cơ bản Chênh lệch lãi suất, do vậy, đã giảm đi rõ rệt
Lãi suất cơ bản từ 08/2000 – 12/2002
Đơn vị: %/tháng
Trang 14Thời điểm Mức lãi suất
e Giai đoạn từ tháng 6/2002 đến tháng 5/2008: cơ chế lãi suất thoả thuận
Cơ chế lãi suất thỏa thuận áp dụng từ ngày 1/6/2002 đã xóa bỏ biên độ khống chế lãisuất cho vay, cho phép các tổ chức tín dụng được thỏa thuận lãi suất cho vay bằng đồngViệt Nam dựa theo quan hệ cung – cầu vốn và mức độ tín nhiệm đối với khách hàng.Tuy nhiên, thực tế từ khi cơ chế lãi suất thỏa thuận được đưa vào thực hiện lãi suấtvẫn còn thiếu tính thị trường Nguyên nhân là thời kỳ này 4 “đại gia” NHTM quốc doanh(Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam - VCB, Ngân hàng Nhà đồng bằng sông Cửu Long -MHB, Ngân hàng Công thương Việt Nam - ICB và Ngân hàng Đầu tư và Phát triểnViệtNam - BIDV) hiện đang chiếm 70% tổng tài sản của toàn bộ hệ thống ngânhàng, trong đó mỗi NHTMQD hiện đang quản lý một khối tài sản tương đương
15 - 20% GDP vớicác khách hàng chính là các DNNN Trong khi đó, Chínhphủ hạn chế việc tiếp cận thị trường ngân hàng của các Ngân hàng liên doanh
và chi nhánh Ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam Do vậy 4 “đại gia” này dễ dàngchi phối lãi suất trên thị trường Thêm vào đó,quá nhiều ưu đãi về lãi suất của Chỉnhphủ thông qua con đường cho vay chỉ định cũnglàm mất đi tính thị trường của lãisuất
Theo Quyết định số 187/2008/QĐ-NHNN, NHNN mở rộng diện các loại tiền gửiphải dự trữ bắt buộc, bao gồm các loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, thaycho việc áp dụng dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn từ 24 tháng
Trang 15trở xuống trong thời gian qua Tiếp đó là quyết định số 346/QĐ-NHNN về việcphát hànhtín phiếu Ngân hàng Nhà nước bằng tiền đồng dưới hình thức bắt buộc đối với các tổchức tín dụng nhằm thu hút 20.300 tỉ đồng Tình trạng khan hiếm tiền đồng trên thịtrường tiền tệ xuất hiện và ngày càng trầm trọng trong 6 tháng đầu năm 2008 (do cáckhoản thanh toán của doanh nghiệp tăng mạnh trong thời gian này; sự thiếu hỗ trợtrong cơ chế tái cấp vốn của và những hoạt động rút tiền khỏi hệ thống liên
NH trên thị trường mở của NHNN) khiến cho lãi suất tiền gửi VND liên ngânhàng tăng dữ dội, có thời điểm lên tới 30 - 40%/năm, đẩy các NHTM vào cu ộ c c hạ y
đ u a l ã i su ấ t h u y đ ộ n g n h ư m ộ t p h ả n ứ n g t ự n h iê n n hằ m h u y đ ộ n g đ ủ
m ộ t lượng vốn lớn trong thời gian ngắn đáp ứng hàng loạt các yêu cầu thắtchặt tiền tệ của NHNN như dự trữ bắt buộc, mua tín phiếu bắt buộc…Và c h ỉ s au
v à i n gà y ch ạ y đ ua , l ã i su ấ t h u y đ ộ n g c ủ a c ác N H T M ( l ê n đế n 1 5 % 16%/năm) đã cao hơn khá nhiều so với lãi suất tái cấp vốn của NHNN (13%/năm) và lãi
-s u ấ t t á i c h i ế t k h ấ u ( 1 1 % / n ă m ) m à N H N N c ũ n g v ừ a n â n g l ê n , đ ã
t ạ o r a m ộ t l à n sóng chuyển tiền từ ngân hàng lãi suất thấp sang ngân hàng lãisuất cao, mà đi kèm vớiđó là áp lực lạm phát Lãi suất huy động liên tục tăng dẫn đếnlãi suất cho vay cũng tăng theo tỷ lệ thuận khiến hệ thống tài chính – ngân hàngmất an toàn, các doanh nghiệp đều phải cân nhắc lại cơ cấu vốn của mình cũng nhưcác dự định sản xuất
Trong năm 2008, Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã tăng lãi suất cơ bản 3 lần và tớithời điểm tháng 6/2008, mức lãi suất đang là 14%, mức cao nhất ở Châu Á, từ mức 12%trước đó NHNN cũng giảm giá đồng VND 2% trong tháng này nhằm giải tỏa áp lực đốivới đồng tiền trong nước
* Ưu điểm:
- Cơ chế này đã tạo điều kiện khai thác triệt để sức mạnh của cơ chế thị trường trongđiều tiết kinh tế vĩ mô và vi mô
- Các TCTD chủ động, linh hoạt hơn trong quyết định đưa ra lãi suất kinh doanh
- Khai thác hiệu quả các nguồn lực phục vụ sản xuất
Thống đốc NHNN Lê Đức Thúy cho rằng: “Ưu điểm lớn nhất của cơ chế tự do hóa
lãi suất là tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng mở rộng mạng lưới để huy động cho vay vốn với mức lãi suất phù hợp; đáp ứng đầy đủ và nhanh hơn vốn cho người cần vay Một tác động khác của cơ chế mới là: Tạo thuận lợi cho việc cải cách hệ thống ngân hàng theo định hướng thị trường, nâng cao năng lực tài chính, khả năng cạnh