Trên thực tế, việc tăng chỉ tiêu dưới danh nghĩa cứu nguy nền kinh tế mang lại nhiều thuận lợi cho chính phủ: bành trướng ngân sách và do đó là quyền lực chính trị; không phải thực hiện
Trang 1PHỤ LỤC Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN-CƠ SỞ THỰC TIỄN- TỔNG QUAN VỀ GÓI HỖ TRỢ 30.000 TỶ ĐỒNG CỦA CHÍNH PHỦ 6
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN: 6
1.1.1 LÝ THUYẾT KÍCH CẦU CỦA NHÀ KINH TẾ HỌC JOHN MAYNARD KEYNES: 6
1.1.2 MỤC ĐÍCH CỦA KÍCH CẦU: 9
1.1.3 CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN KHI THỰC HIỆN KÍCH CẦU: 10
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN: 13
1.3 TỔNG QUAN VỀ GÓI HỖ TRỢ 30.000 TỶ ĐỒNG CỦA CHÍNH PHỦ: 14
1.3.1 BỐI CẢNH VÀ NGUYÊN NHÂN RA ĐỜI: 14
1.3.2 MỤC TIÊU: 15
1.3.3 QUY ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ: 15
1.3.3.1 ĐỐI TƯỢNG TIẾP CẬN: 15
1.3.3.2 ĐIỀU KIỆN TIẾP CẬN KHOẢN VAY: 17
1.3.3.3 NGÂN HÀNG THAM GIA GIẢI NGÂN: 18
1.3.3.4 THỜI GIAN, LÃI SUẤT CHO VAY: 18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC GIẢI NGÂN GÓI HỖ TRỢ 30.000 TỶ ĐỒNG CỦA CHÍNH PHỦ 19
2.1 TÌNH HÌNH GIẢI NGÂN HIỆN TẠI: 19
2.1.1 TÌNH HÌNH TIẾP CẬN KHOẢN VAY: 19
2.1.2 TỐC ĐỘ GIẢI NGÂN: 19
2.2 KHÓ KHĂN: 21
Trang 22.2.2 TÀI SẢN THẾ CHẤP: 21
2.2.3 CÓ THỂ SỬ DỤNG VỐN SAI MỤC ĐÍCH: 22
2.2.4 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI QUÁ THẬN TRỌNG: 23
2.2.5 CHỜ ĐỘNG THÁI MỚI: 23
2.2.6 GIÁ THỊ TRƯỜNG NHÀ ĐẤT VÀ TÂM LÝ KHÁCH HÀNG: 24
2.3 NGUYÊN NHÂN: 24
2.4 THUẬN LỢI: 25
2.5 TÍNH HIỆU QUẢ CỦA GÓI HỖ TRỢ: 26
2.5.1 ĐÁNH GIÁ: 26
2.5.2 PHÁT HUY HIỆU QUẢ: 27
CHƯƠNG 3:GIẢI PHÁP NÂNG CAO TỐC ĐỘ GIẢI NGÂNGÓI HỖ TRỢ 30.000 TỶ ĐỒNG CỦA CHÍNH PHỦ 28
3.1 ĐIỀU KIỆN TIẾP CẬN: 29
3.1.1 NHÀ, ĐẤT GIÁ TRỊ KHÔNG QUÁ 1,05 TỶ ĐỒNG LÀ ĐƯỢC VAY:29 3.1.2 XÂY DỰNG, SỬA CHỮA NHÀ CŨNG ĐƯỢC VAY TIỀN: 29
3.1.3 NÊN CHO VAY THEO GIÁ TRỊ THANH TOÁN: 30
3.2 LÃI SUẤT VÀ THỜI HẠN CHO VAY: 30
3.2.1 GIẢM LÃI SUẤT ƯU ĐÃI Ở MỨC 5%: 30
3.2.2 TĂNG THỜI HẠN TRẢ NỢ LÊN 15 NĂM: 31
3.3 NGÂN HÀNG THAM GIA GIẢI NGÂN: 31
3.3.1 BẢN THÂN NGÂN HÀNG CÁC NHTM: 31
3.3.2 TĂNG THÊM NGÂN HÀNG THAM GIA GIẢI NGÂN: 32
3.4 BẢN THÂN KHÁCH HÀNG: 32
3.5 VẬN DỤNG KINH NGHIỆM KÍCH CẦU CỦA CÁC NƯỚC CÓ GÓI KÍCH CẦU TƯƠNG TỰ: 32
KẾT LUẬN 33
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam đang rơi vào tình trạng khó khăn về các lĩnh vực ngân hàng và bất động sản Gánh nặng nợ xấu tại các ngân hàng chưa được khắc phục hoàn toàn Cùng với tình trạng khó khăn của ngân hàng thì thị trường bất động sản cũng ảnh hưởng rất lớn Các công trình ngưng xây dựng vì thiếu vốn cũng như sự tồn kho về căn hộ, khiến các doanh nghiệp xây dựng rơi vào tình trạng khốn đốn Từ những tình trạng này, người dân cũng ảnh hưởng đến thu nhập và chi tiêu rất lớn Nắm được tình hình này, Chính phủ đã thông qua rất nhiều lần họp đã đưa ra quyết định ban hành Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 7/1/2013 về một số giải pháp tháo
gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu, NHNN đã ban hành Thông tư 11/2013/TT-NHNN ngày 15/5/2013 về gói tín dụng 30.000 tỷ đồng
hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng xây dựng nhà ở xã hội và người thu nhập thấp có thể sở hữu căn nhà xã hội mơ ước Gói tín dụng này được kỳ vọng là một trong những giải pháp góp phần tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản Nhưng từ khi gói tín dụng ra đời đã đặt ra rất nhiều ý kiến trái chiều như là: mục tiêu cho vay, mục đích ra đời Nhưng trong số đó, điều làm xôn xao dư luận nhất là tình hình giải ngân của gói tín dụng này
Trước thực tế đó, nhóm nghiên cứu chúng tôi muốn đi sâu tìm hiểu về gói tín dụng này nói chung và tốc độ giải ngân, những khó khăn, nguyên nhân nói riêng để giải ngân với tốc độ chậm như thế Để từ đó cũng đề xuất giải pháp, cũng như đưa ra những nhận định chủ quan về các giải pháp của các chuyên gia Do đó, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã chọn đề tài: “Vì sao không thể giải ngân nhanh gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng của Chính phủ Đâu là giải pháp phù hợp?”
Trang 51 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Bài nghiên cứu lấy học thuyết kích cầu của nhà kinh tế học Keynes làm nền tảng
lý luận để thấy được Chính phủ Việt Nam đã vận dụng nó vào thực tiễn như thế nào Ngoài ra, tìm thấy được mặt tốt và mặt hạn chế, và nguyên nhân dẫn đến khó khăn của gói tín dụng kích cầu 30.000 tỷ đồng Đồng thời tìm ra giải pháp phù hợp nhất để giải quyết tình trạng tắc nghẽn dòng vốn trong hiện tại và tương lai của gói kích cầu này
2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Gói tín dụng kích cầu 30.000 tỷ đồng của Chính phủ
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
- Phạm vi thời gian: Từ khi gói hỗ trợ 30.000 tỷ ra đời thời điểm hiện tại
- Phạm vi không gian: Các gói hỗ trợ tương tự của Nhà nước Việt Nam cũng như chính sách kích cầu của các nước trên Thế giới
-
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để thực hiện đề tài, chúng tôi chọn phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp phân tích
- Đánh giá
5 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU:
Do hạn chế về thời gian và kiến thức nên chúng tôi không thể tìm hiểu chi tiết các khía cạnh khác của gói vay hỗ trợ 30.000 tỷ đồng
Thông tin chủ yếu tham khảo từ báo chí, tạp chí kinh tế, và Internet, giáo trình Lịch
sử các học thuyết kinh tế nên có thể còn nhiều thiếu sót
Trang 6Mặc dù chúng ta đang ở trong một tình trạng khó khăn và cần những quyết định mạnh mẽ, nhanh và sáng suốt, nhưng sẽ rất khó thành công nếu chỉ thuần túy dựa trên kinh nghiệm, và đặt biệt là dựa vào trào lưu chung của các chính phủ nước lớn như khối các nước công nghiệp phát triển Dường như có một tâm lý bất an tập thể giữa các chính phủ và chính sách kích cầu liên tục được viện tới như một cái phao cứu hộ Tuy nhiên, hành động kích cầu của chính phủ luôn đồng nghĩa là thực hiện chuyển dịch những nguồn lực rất lớn trong nền kinh tế Do đó, luôn đem lại những xáo trộn ngay lập tức cũng như những hậu quả lâu dài Có thể đó là ca phẫu thuật diệu kỳ làm lành căn bệnh, nhưng cũng có thể là vết chém để lại thương tích lâu dài cho nền kinh
tư, mức chi tiêu của chính phủ và chi tiêu ròng của nước ngoài đối với hàng hóa sản
Trang 7xuất trong nước (xuất khẩu ròng) trên thị trường và tổng cầu, tức toàn thể số hàng hóa
mà người ta muốn mua Nhân tố trực tiếp quyết định mức sản lượng và việc làm
Theo Keynes, trong quá trình vận động của nền kinh tế, tồng cầu thường không theo kịp so với tổng cung Điều đó ảnh hưởng đến tình hình sản xuất, thu hẹp đầu tư, gây ra nạn thất nghiệp cũng như khủng hoảng kinh tế Để giải quyết tình trạng này phải tăng tổng cầu Tổng cầu lớn hơn tổng cung sẽ làm gia tăng đầu tư Do đó sẽ gia tăng việc làm và gia tăng thu nhập Cuối cùng sản lượng quốc gia cũng được gia tăng Đồng thời, Keynes cũng đề cao vai trò của nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế thong qua các chính sách kích cầu của Chính phủ Ông cho rằng để thoát khỏi khùng hoảng và thất nghiệp cần có sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế để tăng tổng cầu, gia tăng việc làm và thu nhập Sự can thiệp của nhà nước như chương trình đầu tư Nhà nước; chính sách tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ; mở rộng việc làm bằng cách
mở rộng đầu tư thậm chí cả vào các ngành quân sự; khuyến khích tiêu dung cá nhân… Như vậy, có thể nói chính sách kích cầu bắt nguồn từ tư tưởng kích cầu rút ra từ hai giả thuyết quan trọng của học thuyết Keynes:
Giả thuyết thứ nhất:
Cuộc suy thoái bắt nguồn từ nền kinh tế
có năng lực sản xuất bị dư thừa Biểu hiện
của tình trạnh này là các yếu tố đầu vào cho
sản xuất không được sử dụng hết công suất:
thất nghiệp trên thị trường lao động, máy
móc bị bỏ bê trong khu vực doanh nghiệp, và
hàng hóa ế thừa
Hiện tượng dư cung kiến giá cả có
hướng giảm trên tất cả các thị trường, do đó
càng không khuyến khích người mua, và cầu
càng ở dưới xa cung thực tế Kết quả là, nền
kinh tế bị mắc vào một cái bẫy suy thoái
không tự thoát ra được
Mức giá
Sản lượng Mức giá
Trang 8Giả thuyết thứ hai:
Chính phủ có khả năng chủ động chi tiêu toàn bộ, thậm chí nhiều hơn thu nhập của mình Trong khi đó, các khu vực không phải chính phủ (hộ gia đình và khu vực kinh tế tư nhân) thường chi tiêu ít hơn tổng thu nhập vì họ muốn để dành (khuynh hướng tiết kiệm cận biên lớn hơn không) Trong điều kiện bình thường, khoản tiết kiệm được chuyển sang khu vực doanh nghiệp để đầu tư (tạo nên thành phẩn của tổng cầu), nhưng trong thời kỳ suy thoái, doanh nghiệp không muốn đầu tư thêm nữa vì không có khả năng lợi nhuận
Xuất phát từ giả thuyết thứ nhất, Keynes cho rằng nền kinh tế bị suy thoái vì tạm thời không có đủ cầu cho cung đang dư thừa, tức là thiếu cầu hiệu lực Do đó, bài toán
sẽ được giải nếu xuất hiện một lượng cầu hiệu lực đủ lớn Xuất phát từ giả thuyết thứ hai, rằng chí có chính phủ mới có khả năng mạnh tay chi tiêu dựa trên ý chí của mình ngay cả khi nền kinh tế đang suy thoái (khiến các khu vực khác tư nhân và hộ gia đình hoàn toàn thoái chí, không muốn chi tiêu) Trên cơ sở đó, Keynes đề xuất một phương
án mà căn bản theo nguyên lý sau: Dịch chuyển sức mua từ khu vực dân cư và tư nhân vào tay chính phủ để tăng cầu hiệu lực, đưa nền kinh tế ra khỏi cái bẫy đình đốn do thiếu sức mua
Tư tưởng cơ bản này của học thuyết Keynes dần dần đã trở thành kim chỉ nam cho các hoạt động kinh tế của các nhà nước trên toàn thế giới Theo thời gian, cùng với một loạt các công cụ khác, nó trở thành phương tiện cơ bản của các chính sách can thiệp Tuy nhiên, như Milton Friedman đã nhận xét năm 1962 trong một tác phẩm kinh điển bảo vệ nền kinh tế thị trường, rằng các chính sách này đều biến thái theo chiều
Mức giá
Sản luợng luolượng
Trang 9hướng đơn giản hóa, tùy tiện và bị lạm dụng, theo một phiên bản “phân tích Keynes thô sơ” Qua đó chi tiêu chính phủ luôn được coi là phương tiện cứu rỗi, mà không còn cân nhắc nhiều đến thực trạng nền kinh tế mà trong đó những giả thuyết đầu tiên được
xác lập
Trên thực tế, việc tăng chỉ tiêu dưới danh nghĩa cứu nguy nền kinh tế mang lại nhiều thuận lợi cho chính phủ: bành trướng ngân sách và do đó là quyền lực chính trị; không phải thực hiện những cải cách gây đau đớn cho bản thân chính phủ và giới quan lieu như cải cách thể chế, luật pháp; được lòng dân chúng vì giữ cho giá nguồn lực ở mức cao (tiền lương lao động và lãi suất được duy trì); và một điều quan trọng, là tính hiệu quả kinh tế của các khoản chi tiêu không còn là ưu tiên số một, vì nó được biện minh nhờ tác động chủ yếu là sức cầu của gói chi tiêu đó sẽ lan tỏa qua hiệu ứng số
nhân nổi tiếng của Keynes, chứ không phải bản thân đối tượng chi tiêu
Các trường phái kinh tế ủng hộ tính hiệu quả của thị trường cho rằng chính sách kiểu Keynes có thể làm giảm cơn đau của nền kinh tế đang suy thoái về mặt xã hội, nhưng đổi lại, nó kéo dài ngày phục hồi của nền kinh tế Lập luận này cũng dựa trên kinh nghiệm của cuộc đại suy thoái 1929-1933, nhưng diễn giải dưới một lăng kính khác Họ cho rằng chính việc thắt chặt tiền tệ quá lâu của cục dự trữ liên bang khiến lãi suất bị giữ ở mức cao Thứ hai, các công trình cứu trợ xã hội to lớn thời đó đã khiến tiền lương bị giữ ở mức cao tương đối, khiến các doanh nghiệp thời kì suy thoái rất khó tiếp cận nguồn lao động rẻ để phục hồi sản xuất
Rút được những kinh nghiệm này, các chính phủ hiện đại đều sử dụng chính sách tiền tệ nới lỏng và cắt giảm lãi suất trong các gói giải pháp chống suy thoái Tuy nhiên, các chương trình an sinh xã hội và sức mạnh của công đoàn ít khi làm giá doa động giảm đáng kể Đây là một đánh đổi trên thực tiễn: nỗi đau được xoa dịu thì buộc phải kéo dài
1.1.2 MỤC ĐÍCH CỦA KÍCH CẦU:
Mục tiêu của gói gói kích cầu là tạo thêm cầu để đối ứng với năng lực sản xuất hiện tại của nền kinh tế suy thoái, tránh để sư thừa năng lực sản xuất ở mức khá cao gây lãng phí nguồn lực cũng như gây ra những vấn đề xã hội do tiến đến ngưỡng nguy hiểm đầy suy giảm kinh tế vào vòng xoáy luẩn quẩn: thất nghiệp ẽ dẫn đến cắt giảm thu nhập ( thực tế và kỳ vọng) làm giảm tiêu dùng, càng làm khó khăn về đầu ra của doanh nghiệp phải tiếp tục cắt giảm sản xuất và lao động, đẩy thất nghiệp tăng lên ở
Trang 10vòng tiếp theo và cứ tiếp tục như vậy Do vậy mục đích lớn nhất của gói kích cầu là duy trì việc làm
1.1.3 CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN KHI THỰC HIỆN KÍCH CẦU:
Nếu một gói kích cầu được thiết kế không tốt, thì mặc dù có tên gọi là kích cầu như trên thực tế gói kích cầu này dù có tốn kém nhưng lại không “kích thích” được nền kinh tế Điều này đặt biệt đúng nếu gói kích cầu không tuân theo các nguyên tắc nhất định của kinh tế học hoặc theo các nhóm lợi ích Theo Lawrence Summer (giáo
sư kinh tế, cố vấn cho tổng thống Mỹ Obama) cho rằng để một gói kích cầu có hiệu quả thì đảm bảo ít nhất 3 điều kiện: kịp thời, đúng đối tượng và ngắn hạn (nhất thời)
1.1.3.1 Nguyên tắc số 1: “Kích cầu phải kịp thời”
Kích cầu phải kịp thời nghĩa là khi chính phủ thực hiện gói kích cầu thì những biện pháp kích cầu này phải có hiệu ứng kích thích ngay, làm tăng chi tiêu ngay trong nền kinh tế
Kích cầu phải kịp thời ở đây không phải chỉ là việc kích cầu phải được chính phủ thực hiện một cách nhanh chóng khi xuất hiện nguy cơ suy thoái, mà kịp thời còn có nghĩa là một khi được chính phủ thực hiện thì những biện pháp này sẽ có hiện ứng kích thích ngay, tức là làm tăng chi tiêu ngay trong nền kinh tế Nếu để tự nền kinh tế phục hồi thì việc phục hồi sớm muộn cũng sẽ xảy ra, mặc dù việc phục hồi có thể kéo dài, cho nên mục tiêu của kích cầu là đẩy nhanh việc phục hồi của nền kinh tế
Do đó, việc kích cầu chỉ có thể thực hiên một cách có ý nghĩa trong một khoảng thời gian nhất định Các chính sách mất quá nhiều thời gian để thực hiên sẽ không có tác dụng, vì khi đó nền kinh tế tự nó đã có thể phục hồi, và việc gói kích cầu lúc đó lại
có thể có tác dụng xấu do có khả năng làm hun nóng nền kinh tế dẫn đến lạm phát và những mất cân đối vĩ mô Các chương trình đầu tư, dự án đầu tư có tốc độ giải ngân chậm không phải là những công cụ kích cầu tốt Bởi khi tổng cầu sụt giảm, thì các biện pháp này là không có tác động gì tới tổng cầu trong lúc cần phải tăng tổng cầu lên nhiều nhất (để tránh các tác động tích cực của suy thoái như việc các doanh nghiệp
sa thải công nhân)
1.1.3.2 Nguyên tắc số 2: “Kích cầu phải đúng đối tượng”
Mức độ “đúng đối tượng” của gói kích cầu của chính phủ phụ thuộc vào xu hướng chi tiêu và đầu tư của các đối tượng thuộc diện nằm trong gói kích cầu Để kích
Trang 11thích được cầu đối với hàng hóa dịch vụ, thì gói kích cầu phải được nhắm tới đối tượng sao cho gói kích cầu được sử dụng ngay (chi tiêu ngay), và qua đó làm tăng tổng cầu trong nền kinh tế Những biện pháp kích cầu đúng đối tượng là những biện pháp nhắm tới các đối tượng sẽ chi tiêu hầu như toàn bộ lượng kích cầu dành cho họ Mục tiêu của gói kích cầu là làm tăng cầu, nên chìa khóa để thực hiện điều này là cấp tiền cho những người ( có thể là các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp và chính quyền)-
sẽ sử dụng những đồng tiền này, và qua đó đưa thêm tiền vào nền kinh tế Tiền kích càu phải được sử dụng để khuyến khích các nhóm đối tượng này tiến hành các khoản chi tiêu mới, hoặc hạn chế nhóm này cắt giảm chi tiêu Ở thế giới cũng như ở Việt Nam, những người có thu nhập thấp thường có mức tiêu dung cao trên 1 đồng thu nhập có thêm được và thường tiêu dung hàng nội địa Do vậy, nếu kích cầu đúng nhóm đối tượng này thì đạt đồng thời cả hai mục tiêu là hiệu quả và công bằng, khác với sự đánh đổi hiệu quả và công bằng mà trong nền kinh tế thường gặp
Kích cầu đúng đối tượng là việc kích cầu hướng tới những chủ thể kinh tế nào tiêu dung nhanh hơn khoản tài chính được hưởng nhờ kích cầu và do đó sẽ sớm gây ra tác động lan tỏa tổng cầu hơn, đống thời hưỡng tới những chủ thể kinh tế nào bị tác động bất lợi hơn cả bởi suy thoái kinh tế thường đó là những chủ thể kinh tế có thu nhập thấp hơn Việc hỗ trợ các gia đình có thu nhập thấp để họ không giảm tiêu dung thậm chí còn tăng tiêu dung tạo ra hiệu ứng lan tỏa, kích thích doanh nghiệp mở rộng sản xuất và thuê mướn thêm lao động
Tóm lại, mức độ “đúng đối tượng” của gói kích cầu của Chính phủ thuộc vào: (i) mức độ chi tiêu của các đối tượng nhận được thu nhập nhờ có gói kích cầu thông qua tác động lan tỏa diễn ra trong nhiều vòng như mô tả nói trên; và (ii) mức độ “rò rỉ” ra hàng ngoại nhập của các chi tiêu đó ở trong mỗi vòng của các tác động lan tỏa
1.1.3.3 Nguyên tắc số 3: “Kích cầu chỉ được thực hiện trong ngắn hạn”
Nguyên tắc ngắn hạn có nghĩa là sẽ chấm dứt kích cầu khi nền kinh tế được cải thiện Nguyên tắc ngắn hạn có hai ý nghĩa:
o Gói kích cầu thực hiện trong ngắn hạn sẽ làm tăng hiệu quả của gói kích cầu
o Chỉ kích cầu trong ngắn hạn để không ảnh hưởng tới tình hình ngân sách trong dài hạn
Trang 121.1.3.3.1 Tính ngắn hạn làm tăng hiệu quả của gói kích cầu:
Những chính sách mà vẫn còn hiệu lực sau khinền kinh tế phục hôi, ví dụ như chính sách cắt giảm thuế cố định là những biện pháp kích cầu kém hiệu quả bởi vì những biện pháp kích thích này sẽ trở thành những khoản chi phí của chính phủ hoặc khoản thất thu khi mà thời gian cần kích thích đã kết thúc Hơn thế nữa, các biện pháp như tín dụng đầu tư, hoặc ưu đãi khấu hao tài sản sẽ là những biện pháp kích cầu hiệu quả hơn khi được thực hiện là những gói tạm thời ngắn hạn Nếu là những biện pháp dài hạn sẽ không kích thích được cầu Điều đó là do các biện pháp nếu chỉ được thực hiện trong ngắn hạn sẽ khuyến khích các doanh nghiệp tiến hành, đẩy nhanh tốc độ đầu tư để tận dụng những ưu đãi này (ví dụ như ưu đãi về thuế) Những biện pháp dài hạn, ví dụ như giảm thuế quá lâu sẽ không phải là một biện pháp kích cầu tốt, bởi vì các doanh nghiệp sẽ không cảm thấy cần thiết phải đẩy nhanh tốc độ đầu tư trong giai đoạn nền kinh tế cần được kích thích nhất
1.1.3.3.2 Ngắn hạn để đảm bảo không làm ảnh hưởng tới ngân sách trong dài hạn:
Thông thường khi thực hiện các biện pháp kích thích nền kinh tế bằng việc mở rộng chi tiêu (tạm thời) của chính phủ sẽ dẫn tới thâm hụt ngân sách Do đó, các gói kích cầu chỉ được phép mang tính chất tạm thời, trong ngắn hạn có thể làm tăng thâm hụt ngân sách, nhưng trong dài hạn phải không được phép làm thâm hụt ngân sách trầm trọng hơn Việc đảm bảo rằng trong dài hạn tình hình kinh tế không kém đi cũng
là yếu tố quan trọng để gói kích cầu ngắn hạn đạt hiệu quả hơn
Khi cân nhắc xem xét các biện pháp kích cầu cụ thể của gói kích cầu, thì cả ba nguyên tắc trên đều phải được tuân thủ và xem xét một cách đồng thời Nếu một biện pháp kích cầu cụ thể mà vi phạm một trong ba nguyên tắc trên thì về cơ bản biện pháp kích cầu đó chưa phải là một biện pháp kích cầu tốt Để tăng hiệu quả của gói kích cầu, cần có các chính sách hỗ trợ khác (không vi phạm các cam kết thương mại quốc tế của quốc gia) như không để tỷ giá bị định giá cao và làm tăng tính linh hoạt của tỷ giá nhằm sử dụng công cụ này nhưng vẫn tự động điều chỉnh thâm hụt thương mại ở mức hợp lý và bền vững
Trang 131.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Trở lại vấn đề hiện nay trên thế giới, các nước đã tuyên bố những kế hoạch kích thích ấn tượng gồm có Mỹ, Anh và Trung Quốc Chi tiết của các kế hoạch khác nhau ở mỗi nước, nhưng có thể tạm thời nhận định như sau:
- Gói kích thích ở Mỹ và Anh chủ yếu hướng tới khu vực tài chính để trợ cứu hệ thống không sụp đổ Điều này là phù hợp vì bản chất của cuộc khùng hoảng ở Mỹ là từ khu vực tài chính do những can thiệp sai lầm của chính quyền trước đó (duy trì lãi suất thấp và tăng trưởng tín dụng dễ dãi, nhất là tín dụng bất động sản) Nền kinh tế Anh bị ảnh hưởng liên đới cũng chủ yếu thông qua hệ thống tài chính kết nối chặt chẽ với Mỹ Hơn nữa, các gói kích thích mang tính trợ cứu trực tiếp (trong ngành công nghiệp xe hơi) hơn là kích cầu
- Gói kích thích ở Trung Quốc chủ yếu hướng tới xây dựng cơ sở hạ tầng (45% của tổng gói kích thích 4000 tỷ, hay tương đương 1800 tỷ nhân dân tệ) và tranh thủ giải quyết các vấn đê xã hội mà chủ yếu là hậu quả của quá trình phát triển nóng trong một thời gian dài vừa qua (gần 700 tỷ NDT) Cũng cần lưu ý rằng, thực ra giá trị gói kích thích ở Trung Quốc chỉ là 3000 tỷ NDT vì 1000 tỷ là để khắc phục thiên tai (chủ yếu là vụ động đất ở Tứ Xuyên) Phần để khắc phục thiên tai thì dù không có suy thoái kinh tế vẫn phải thực hiện Do đó, chính phủ Trung Quốc dường như lồng ghép như vậy để tăng hiệu quả tâm lý Nếu tính theo gói kích cầu “ ròng” là 3000 tỷ, thì 1800 tỷ
là cho xây dựng cơ bản theo kiểu đầu tư công truyền thống, và gần 700 tỷ là chi cho khu vực nông thôn vốn đã trở nên lạc hậu rất xa so với các vùng phía đông Nhìn kỹ hơn, nếu trừ đi phần chính phủ Trung Quốc vẫn phải chi tiêu dù không có suy thoái, thì gói kích thích thực sự có lẽ chỉ bằng một nửa so với tuyên bố
Như vậy, có thể nói các gói kích thích của cả Anh-Mỹ và Trung Quốc đều không mang nhiều tính chất kích cầu kiểu Keynes, mà mang nặng tính sửa sai nhiều hơn
Điều này đem lại một hàm ý quan trọng cho thực tiễn chính sách ở Việt Nam Có
lẽ chúng ta cần bắt đúng căn bệnh hiện nay của nền kinh tế Việt Nam, vì hiện trạng của nền kinh tế lúc này rấy có thể là hậu quả tổng hợp của nhiều căn bệnh cùng phát
Trang 14một lúc: sự lệch lạc về cấu trúc của nền kinh tế, hậu quả tích tụ của chuỗi can thiệp từ những năm trước, sự suy thoái cầu xuất khẩu và bất lợi từ thị trường thế giới, và cuốc cùng mới là sự suy giảm cầu đầu tư của khu vực doanh nghiệp, như là một sự lãnh chịu hậu quả của tất cả các yếu tố trên kia
Do đó, có thể cho rằng chúng ta đang ở trong gian đoạn suy thoái từ tổng cầu, nhưng đó chưa phải là tất cả Đằng sau và hòa lẫn vàn căn bệnh đó còn có nhiều căn bệnh khác Do đó, nếu chỉ tập trung vào biện pháp kích cầu là vừa chưa đủ, lại vừa có thể che khuất đi những biện pháp cần thiết khác
Do đó, chúng tôi cho rằng chúng ta cần những gói giải pháp tổng thể, mà trong
đó, giải pháp kích cầu chỉ là một phần mà thôi
1.3 TỔNG QUAN VỀ GÓI HỖ TRỢ 30.000 TỶ ĐỒNG CỦA CHÍNH PHỦ:
1.3.1 BỐI CẢNH VÀ NGUYÊN NHÂN RA ĐỜI:
Bối cảnh kinh tế nước ta đang có dấu hiệu phục hồi nhưng vẫn còn yếu ớt, lạm phát trong năm 2013 còn 6.04% Chỉ số quản trị mua hàng PMC tăng từ 48 điểm lên
51 điểm Đây là dấu hiệu chứng tỏ khu vực công nghiệp và xây dựng đang phục hồi Đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài tăng Giải ngân FDI tăng 4% Vốn FDI đăng
ký mới và tăng thêm 17% đạt 8,22 tỷ USD Tín dụng tính đến cuối tháng 4/2013 tăng khoảng 2%, mức tăng này tuy rất thấp nhưng khá cao so với cùng kỳ năm ngoái, trong năm 2012 hết tháng 5 tín dụng vẫn tăng trưởng âm
Mặc dù nền kinh tế đã có dấu hiệu phục hồi nhưng cũng cần phải giải quyết được tình trạng đóng băng tín dụng theo hướng kích cầu đầu tư và tiêu dùng để tránh tình trạng tốc độ phục hồi chậm lại và thị trường bất động sản lại tiếp tục đóng băng
Thị trường bất động sản Việt Nam đang trải qua nhiều khó khăn thách thức do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu và sự phát triển thiếu cân đối, không bền vững
Với tình hình kinh tế Việt Nam như vậy, Quốc hội và Chính phủ cũng đang nỗ lực đề ra nhiều giải pháp để tháo gỡ khó khăn cho thị trường đó là gói tín dụng 30.000
tỷ đồng, không thu tiền sử dụng đất đối với các dự án nhà ở xã hội, cho phép người nước ngoài được mua nhà…
Về gói tính dụng 30.000 tỷ đồng, Chính phủ đã chính thức đề cập vào ngày 18/12/2012
Ngày 26/12/2012, Chính phủ họp tổng kết và bàn nội dung NQ 01, Nghị quyết 02/NQ-CP Ngày 7/1/2013, Nghị quyết 01, 02 được ban hành Ngày 8/2/2013, Bộ Tài
Trang 15chính ban hành Thông tư số 16/2013/TT-BTC ngày 8/2/2013 hướng dẫn thực hiện việc gia hạn, giảm một số khoản thu ngân sách nhà nước theo Nghị quyết số 02/NQ-
CP
Ngày 8/3/2013, BXD ban hành TT số 02/2013/TT-BXD hướng dẫn việc điều chỉnh cơ cấu căn hộ các dự án nhà ở thương mại, dự án đầu tư xây dựng khu đô thị và chuyển đổi nhà ở thương mại sang làm nhà ở xã hội hoặc công trình dịch vụ
Ngày 13/3/2013, công bố toàn văn nội dung của dự thảo thông tư quy định về cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết số 02/NQ-CP để xin ý kiến rộng rãi của nhân dân trước khi chính thức ban hành Ngày 25/3/2013, NHNN có văn bản giải trình đối với các ý kiến góp ý cho dự thảo Thông tư cho vay hỗ trợ nhà ở, trong đó nhấn mạnh việc không cho đối tượng vay mua nhà ở xã hội được lọt vào nhóm đối tượng hưởng gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng là theo đúng NQ 02
Với những sự chuẩn bị đó, vào ngày 1/6/2013, gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng đã chính thức ra đời
1.3.2 MỤC TIÊU:
Gói vay này dành cho người nghèo vay mua nhà, thuê mua nhà và thuê nhà Nếu nền kinh tế không bị khủng hoảng thì vẫn có gói tín dụng này như nhiều quốc gia trên thế giới đã làm Khi kinh tế khá lên, thì vẫn cần những gói tín dụng lớn hơn và lãi suất tiếp tục giảm đi Trong điều kiện tình hình kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng, lạm phát cao, gói hỗ trợ này sẽ góp phần tăng cầu của nền kinh tế
Thông qua đó, trước tình hình sự mất cân đối cung - cầu của thị trường bất động sản và các dự án nhà ở thương mại thì còn tồn quá nhiều Nên gói vay này sẽ giúp tháo
gỡ những khó khăn của ngành xây dựng đang gặp phải
Qua đó, nếu có thể giải quyết được hàng tồn kho thì khác phục được sự lệch pha của cung – cầu, làm cho thị trường bất động sản giao dịch trở lại để phát triển nền kinh
tế
Gói vay này ra đời còn dựa vào mục tiêu phát triển nhà xã hội Đó là nhiệm vụ thực hiện chiến lược nhà ở quốc gia để mọi người có thể cải thiện về nhà ở, nhất là những người nghèo, có thu nhập thấp
1.3.3 QUY ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ:
1.3.3.1 ĐỐI TƯỢNG TIẾP CẬN:
Trang 16Theo Thông tư số 07, đối tượng được vay để mua nhà ở xã hội bao gồm 4 đối tượng gồm: Thứ nhất, cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và đối tượng thu nhập thấp vay vốn để thuê, thuê mua và mua nhà ở xã hội
Thứ hai, cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và đối tượng thu nhập
và có giá bán
Thứ 3, doanh nghiệp là chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở xã hội; doanh nghiệp là chủ đầu tư dự án nhà ở thương mại chuyển đổi công năng sang dự án nhà ở xã hội
Và cuối cùng là các tổ chức, cá nhân có liên quan
Nhóm đối tượng vay vốn để thuê, mua nhà ở thương mại có diện tích nhỏ hơn
chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước thuộc các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận
Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp; viên chức thuộc các đơn vị sự nghiệp công lập; lực lượng vũ trang nhân dân
Thứ hai, đối tượng thu nhập thấp là người lao động thuộc các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, hợp tác xã được thành lập
và hoạt động theo quy định của pháp luật; người đã được nghỉ lao động theo chế độ quy định; người lao động tự do, kinh doanh cá thể
Chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình, hoặc có nhà ở nhưng diện tích quá chật chội
Cụ thể hơn là có nhà ở là căn hộ chung cư, nhưng diện tích nhà ở bình quân của
sử dụng/người Có nhà ở riêng lẻ, nhưng diện tích nhà ở bình
sử dụng/người và diện tích khuôn viên đất của nhà
ở đó thấp hơn tiêu chuẩn diện tích đất tối thiểu thuộc diện được phép cải tạo, xây dựng theo quy định của UBND cấp tỉnh
Và điều kiện quan trọng, người vay vốn phải có hộ khẩu thường trú tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có dự án nhà ở Đối với trường hợp tạm trú thì phải có đóng bảo hiểm xã hội từ 1 năm trở lên
Ngoài ra, các đối tượng phải có xác nhận của cơ quan nơi công tác, xã, phường
có hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú mới được vay
Riêng đối với doanh nghiệp vay vốn làm nhà ở xã hội thì phải có dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật; có văn bản chấp thuận
Trang 17đầu tư của cấp có thẩm quyền; đã có đất sạch và giấy phép xây dựng, trừ trường hợp được miễn giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng
Đối với doanh nghiệp là chủ đầu tư dự án nhà ở thương mại chuyển đổi công năng sang dự án nhà ở xã hội thì ngoài các điều kiện quy định, phải có quyết định của cấp có thẩm quyền cho phép chuyển đổi từ nhà ở thương mại sang nhà ở xã hội
1.3.3.2 ĐIỀU KIỆN TIẾP CẬN KHOẢN VAY:
Tại Thông tư số 11/2013/TT-NHNN quy định về cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết 02/NQ-CP, các điều kiện để người thu nhập thấp được vay vốn ưu đãi mua, thuê
và thuê mua nhà cũng đã được cơ quan này quy định cụ thể
Theo đó, về điều kiện cho vay, NHNN quy định ngoài những điều kiện cho vay theo quy định của Pháp luật hiện hành về cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng; quy định tại Thông tư 07 của Bộ Xây dựng và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế thông tư này (nếu có); khách hàng phải đáp ứng thêm 4 điều kiện đối với cá nhân cũng như doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn
Về khách vay là cá nhân vay để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội và thuê, mua
thì phải có: Thứ nhất là có hợp đồng mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; hợp đồng thuê, mua nhà ở thương mại với chủ đầu tư
Thứ hai: có mục đích vay vốn để trả khoản tiền chưa thanh toán mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội và thuê, mua nhà ở thương mại theo quy định đối với các hợp đồng
đã ký với chủ đầu tư kể từ ngày 7/1/2013
Thứ ba là có đề nghị vay vốn để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội và thuê, mua nhà ở thương mại và cam kết khách hàng, các thành viên trong hộ gia đình của khách hàng chưa được vay vốn hỗ trợ tại ngân hàng để mua, thuê, thuê mua nhà ở theo chương trình này
Thứ tư là có đủ vốn tối thiểu tham gia vào phương án vay theo quy định
Đối với khách hàng doanh nghiệp, các điều kiện vay vốn cũng tương tự
Thứ nhất phải là doanh nghiệp trong diện được quy định của thông tư
Hai là phải có mục đích vay vốn để trả các chi phí chưa thanh toán phát sinh kể
từ ngày 1/7/2013 (không bao gồm chi phí thuế) để thực hiện dự án xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở thương mại chuyển đổi công năng sang nhà ở xã hội theo quy định
Ba là có đủ vốn tối thiểu tham gia vào dự án, phương án vay