Trong quan hệ kinh tế quốc tế, các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội không chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà còn được mở rộng ra với phần còn lại của thế giới.
Trang 1CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI, VÀ KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC TRONG VIỆC ĐIỀU
HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
Trang 2I- TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI:
1 Khái niệm về tỷ giá hối đoái:
Trong quan hệ kinh tế quốc tế, các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hộikhông chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà còn được mở rộng ra với phần cònlại của thế giới Các quan hệ này thể hiện là quá trình luân chuyển hàng hoá,vốn trên phạm vi toàn thế giới Quá trình này làm xuất hiện các nhu cầu vềngoại tệ để thanh toán các hợp đồng ngoại thương và đầu tư quốc tế Vì vậy,mỗi quốc gia phải xác định tỷ lệ trao đổi giữa đơn vị tiền tệ của nước mình(đồng nội tệ) với đơn vị tiền tệ của quốc gia khác (đồng ngoại tệ) thường là cácngoại tệ mạnh như USD, JPY, GBP, EUR, …Từ đó xuất hiện phạm trù “tỷ giáhối đoái”
Tỷ giá hối đoái là giá cả của 1 đồng tiền này được biểu thị thông qua đồngtiền khác
Ví dụ: Tỷ giá bán ra của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ngày09/07/2008 là 1 USD = 16.851VND
Như vậy, bản chất của tỷ giá hối đoái là một loại giá cả nhưng là giá cảcủa hàng hóa đặc biệt đó là tiền tệ
Đồng tiền đứng ở vị trí thứ nhất gọi là đồng tiền yết giá Đồng tiền đứng ở
vị trí thứ hai gọi là đồng tiền định giá
Đồng tiền yết giá là đồng tiền thể hiện giá trị của nó qua đồng tiền địnhgiá, có số đơn vị là 1
Tỷ giá đứng trước là tỷ giá mua của ngân hàng Tỷ giá mua của ngân hàng
là tỷ gía ngân hàng áp dụng khi mua ngoại tệ vào Tỷ giá đứng sau là tỷ giá báncủa ngân hàng Tỷ giá bán của ngân hàng là tỷ giá ngân hàng áp dụng khi bánngoại tệ ra
2 Các phương pháp yết giá:
Trang 3Là phương pháp biểu thị mà trong đó lấy đồng tiền trong nước làm 1 đơn
vị để so sánh với số lượng tiền tệ nước ngoài
1 nội tệ = x ngoại tệ
Theo phương pháp này thì bản tệ là đồng tiền yết giá, ngoại tệ là đồng tiềnđịnh giá Đây là phương pháp thường dùng ở một số nước như: Anh, Mỹ, Úc,Newzealand, Euro
b) Phương pháp yết giá trực tiếp:
Là phương pháp biểu thị mà trong đó lấy ngoại tệ làm một đơn vị để sosánh với số lượng tiền tệ trong nước
1 ngoại tệ = x nội tệ
Với phương pháp này thì ngoại tệ là đồng tiền yết giá, nội tệ là đồng tiềnđịnh giá Phương pháp này được dùng ở các nước còn lại trong đó có nước ta.Trong bài nghiên cứu này tỷ giá hối đoái được niêm yết theo phương pháptrực tiếp nếu không có chú thích gì thêm
3 Phân loại tỷ giá hối đoái:
Có nhiều loại tỷ giá khác nhau được sử dụng trên thị trường hối đoái, tuỳthuộc vào tiêu thức phân loại khác nhau
a) Căn cứ vào đối tượng xác định:
Nếu phân loại theo đối tượng xác định, người ta chia ra hai loại tỷ giá:
Tỷ giá chính thức: là một loại tỷ giá do Ngân hàng Trung ương nước đó
xác định và công bố
Tỷ giá thị trường: là tỷ giá hình thành do quan hệ cung cầu trên thị trường
hối đoái
b) Căn cứ vào kỹ thuật giao dịch:
Nếu phân loại theo kỹ thuật giao dịch, người ta chia thành hai loại tỷ giá:
Tỷ giá giao ngay (spot): là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc giao nhận
ngoại hối sẽ được thực hiện chậm nhất sau hai ngày làm việc
Tỷ giá giao dịch kỳ hạn (forward): là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc
giao nhận sẽ được thực hiện theo thời hạn nhất định ghi trong hợp đồng
c) Căn cứ vào hoạt đông xuất - nhập khẩu:
Căn cứ tiêu thức này, người ta phân ra hai loại tỷ giá:
Trang 4Tỷ giá xuất khẩu: là tỷ giá so sánh giữa tổng giá vốn hàng xuất khẩu tính
trên sàn tàu bằng tiền nội địa so với ngoại tệ thu được theo giá FOB tại cảngxuất khẩu, cụ thể là:
Tỷ giá xuất khẩu = tổng giá vốn tại sàn tàu bằng nội tệ / tổng ngoại tệ thuđược theo giá FOB tại cảng
Tỷ giá nhập khẩu: là tổng giá bán hàng nhập khẩu tại cảng nhập khẩu tính
theo nội tệ so với ngoại tệ phải trả tính theo giá CIF tại cảng nhập khẩu, cụ thể:
Tỷ giá nhập khẩu = tổng giá bán hàng nhập khẩu tại cảng nhập khẩu / tổngngoại tệ phải trả theo giá CIF tại cảng nhập khẩu
d) Căn cứ vào giá trị của tỷ giá:
Nếu căn cứ vào giá trị của tỷ giá, người ta chia làm hai loại:
Tỷ giá danh nghĩa: là tỷ giá sử dụng hàng ngày trong giao dịch trên thị
trường ngoại hối, nó chính là giá cả của một đồng tiền biểu thị qua một đồngtiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hoá và dịch vụ giữachúng
Tỷ giá giữa hai đồng tiền bất kỳ được gọi là tỷ giá song phương(bilateralexchange rate) Đối với mỗi sự thay đổi tỷ giá song phương, ta đều biết đồngtiền nào lên giá và đồng tiền nào hạ giá Vấn đề phức tạp đặt ra là tại một thờiđiểm nhất định, đồng tiền này lên giá, nhưng lại làm giảm giá đối với đồng tiềnkia, vậy làm thế nào để biết được một đồng tiền là lên giá hay giảm giá đối vớitất cả các đồng tiền còn lại? Để giải quyết vấn đề này, trong thực tế người tadùng tỷ giá danh nghĩa đa biên - MNER (multiple nominal exchange rate) phảnánh sự thay đổi giá trị đồng tiền đối với tất cả các giá trị của đồng tiền còn lại vàđược biểu thị dưới dạng chỉ số Để đơn giản, người ta chọn ra một rổ các đồngtiền mạnh được sử dụng chủ yếu trong thanh toán ngoại thương và căn cứ vào
tỷ trọng thanh toán của từng đồng tiền để phân bổ tỷ trọng cho từng tỷ giá songphương theo nguyên tắc tỷ trọng thanh toán càng lớn thì tỷ trọng tỷ giá songphương cũng càng lớn Ta có công thức tính MNER như sau:
j
n
j
ij w e
Trang 5Tỷ giá thực: là tỷ giá xác định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa đã được điều
chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát trong nước và ở nước ngoài, do đó nó phản ánh tươngquan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ Đặc tính quan trọng nhất của tỷ giá thực
là nó đại diện cho khả năng cạnh tranh quốc tế của nước đó Để so sánh khảnăng cạnh tranh của hai nước, người ta thường dựa vào tỷ giá thực song phươngnhư sau:
i
i
Ri CPI
CPI e E
*
CPI*; là chỉ số tỷ giá tiêu dùng ở nước ngoài
CPI: là chỉ số tỷ giá tiêu dùng trong nước
i: là số thứ tự kỳ tính toán.
Tỷ giá hối đoái thực có ý nghĩa quan trọng, bởi vì với các nhân tố kháckhông đổi:
Xét ở trạng thái tĩnh:
coi là định giá thực quá cao Điều này có nghĩa là:
Nếu chuyển đổi mỗi đồng nội tệ ra ngoại tệ sẽ mua được ít hàng hoá ởnước ngoài hơn so với ở trong nước
Nếu chuyển đổi đồng ngoại tệ ra nội tệ sẽ mua được nhiều hàng hoá trongnước hơn so với ở nước ngoài
Do đó, khi tỷ giá thực lớn hơn 1 sẽ giúp cải thiện được cán cân thươngmại
coi là định giá thực quá thấp Khi tỷ giá thực nhỏ hơn 1 làm cho cán cân thươngmại trở nên xấu đi
là như nhau, tức hai đồng tiền là ngang giá sức mua, do đó, tác động làm chocán cân thương mại cân bằng
Trang 6Vì vậy, khi phá giá, tức chỉ số e tăng thì làm cho tỷ giá thực tăng, giúp cảithiện cán cân thanh toán.
Trên thực tế, mỗi nước không phải có quan hệ kinh tế không phải với chỉmột nước mà còn với nhiều nước khác nữa Để có cái nhìn tổng thể về sức muathực tế của đồng tiền nước đó với đồng tiền nước khác có liên quan thì người tathường dựa vào tỷ giá hối đoái thực đa biên (multiple real exchage rate) MRERđược xác định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa đa biên đã được điều chỉnh bởi tỷ lệlạm phát trong nước và ở tất cả các nước còn lại Công thức tính MRER:
VN i
i i
CPI MNER
j
j i
đó, tỷ giá thực song phương đơn thuần chỉ đề cập đến vị thế cạnh tranh thươngmại quốc tế giữa hai nước mà thôi
e) Căn cứ vào thời điểm giao dịch:
Căn cứ vào thời điểm giao dịch, tỷ giá hối đoái được chia làm hai loại:
- Tỷ giá mở cửa: là tỷ giá được công bố vào đầu giờ của ngày giao dịch.
- Tỷ giá đóng cửa: là tỷ giá được công bố vào cuối giờ của ngày giao dịch
Ngoài ra, ở Việt Nam còn có các loại tỷ giá khác như tỷ giá tiền mặt, tỷ giáchuyển khoản, tỷ giá mua, tỷ giá bán,…
4 Các phương pháp xác định tỷ giá:
Tỷ giá hối đoái được xác định dựa trên quan hệ cung cầu của một đồng
Trang 7đường cầu của đồng tiền đó, với mỗi mức tỷ giá hối đoái ta sẽ xác định sốlượng cung cầu tương ứng Tại mức tỷ giá làm cho cung khớp cầu thì được gọi
là tỷ giá cân bằng Tuy nhiên, tỷ giá cân bằng không phải là một đại lượng bấtbiến theo thời gian mà nó có thể nó có thể biến động thường xuyên khi cungcầu thay đổi Mối quan hệ giữa cung cầu ngoại tệ tác động hình thành tỷ giáđược mô tả như trong hình 1
giá ngoại tệ sẽ giảm (tỷ giá sẽ giảm đi trên đồ thị)
giá ngoại tệ sẽ tăng (tỷ giá sẽ tăng lên trên đồ thị)
Ngoài ra, trong nhiều trường hợp người ta còn có thể gián tiếp xác định tỷgiá hối đoái dựa trên 2 tỷ giá đã biết của 2 cặp tiền tệ để xác định tỷ giá của mộtcặp tiền tệ thứ ba Xác định tỷ giá theo cách này được gọi là phương pháp tínhchéo
Quy tắc xác định tỷ giá tính theo phương pháp tính chéo được phát biểunhư sau: “Muốn xác định tỷ giá hối đoái của đồng tiền A so với đồng tiền Btheo phương pháp tính giá chéo ta lấy tỷ giá của đồng tiền A so với đồng tiền Bnhân tỷ giá của đồng tiền C so với đồng tiền B.”
A AC
Trang 8Ví dụ: 1 USD = 15.600 VND USD/VND = 16.560
1 EUR = 1,434 USD EUR/USD = 1,434
Vậy tỷ giá giữa EUR và VND là:
II CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1 Tỷ lệ lạm phát tương đối:
Lạm phát biểu hiện sự tăng giá trên thị trường Trong một quốc gia lạmphát tăng sẽ làm sức mua đồng nột tệ giảm đi,làm tỷ giá hối đoái tăng và ngượclại Tuy nhiên nếu đồng ngoại tệ cũng bị lạm phát hay tăng giá ở nước ngoài thì
tỷ giá hối đoái cũng bị ảnh hưởng tương tự Như vậy, sức mua của đồng tiền có
bị ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ giá Ngưới ta gọi đó là thuyết ngang giá sức muaPPP
Sự thay đổi trong tỷ lệ lạm phát tương đối có thể ảnh hưởng đến các hoạtđộng thương mại, đến lượt nó những hoạt động thương mại này tác động đếncầu tiền và cung tiền và vì thế tác động đến tỷ giá hối đoái
Trang 9này sẽ làm cho giá cả của sản phẩm sẽ giống nhau khi được tính bằng một đồngtiền chung Trên thực tế, sự tồn tại của chi phí vận chuyển, thuế nhập khẩu vàhạn ngạch có thể ngăn cản hình thức ngang giá sức mua tuyệt đối.
Hình thức tương đối của lý thuyết này để giải thích cho khả năng bất hoànhảo của thị trường, giá cả của những sản phẩm ở những nước khác nhau sẽkhông nhất thiết bằng nhau khi được tính bằng một đồng tiền chung Tuy nhiên,theo hình thức này, tỷ lệ thay đổi trong giá cẩn phẩm sẽ phần nào giống nhaukhi được tính bằng một đồng tiền chung, miễn là chi phí vận chuyển và cáchàng rào mậu dịch không đổi Tức là khi mặt bằng giá cả trong hai nước thayđổi tương đối thì tỷ giá hối đoái sẽ điều chỉnh để duy trì ngang giá sức mua.Khái niệm này được mô phỏng thành công thức sau:
1
) 1 (
) 1 (
I
I e
I h là mức lạm phát trong nước
I f là mức lạm phát nước ngoài
Từ công thức trên, ta có thể rút ra kết luận sau:
lạm phát trong nước vượt quá lạm phát nước ngoài
lạm phát nước ngoài vượt quá lạm phát trong nước
Dưới tác động của lạm phát thì tỷ giá cân bằng mới được xác định là:
f t t
I
I S e S S
1
11
1Tuy nhiên, lý thuyết này không phải luôn đúng trong thực tế do nhữngnguyên nhân như:
Ngoài chênh lệch lạm phát, tỷ giá hối đoái còn chịu ảnh hưởng của cácnhân tố khác, đó là sai biệt trong lãi suất, mức thu nhập và các biện pháp kiểmsoát của Chính phủ
Ngay trong quan hệ ngoại thương, bên cạnh sự chi phối của lạm phát vàcác biện pháp kiểm soát của Chính phủ, thì sự ràng buộc bởi các hợp đồngngoại thương, sự không đồng nhất về các mặt hàng giữa các quốc gia (không cóhàng thay thế cho hàng nhập khẩu) cũng góp phần hạn chế sự chuyển dịch sức
Trang 10cầu khi có chênh lệch lạm phát Từ đó, ngăn cản sự biến động của tỷ giá hốiđoái theo chênh lệch lạm phát như lý thuyết 3P đã dự báo.
2 Lãi suất tương đối:
Lãi suất chính là giá cả của dòng vốn, dòng vốn sẽ đổ về nơi có lãi suấtcao và chảy ra khỏi nơi có lãi suất thấp Thay đổi trong lãi suất tác động đếnđầu tư chứng khoán nước ngoài, tới lượt mình đầu tư chứng khoán nước ngoàilại ảnh hưởng đến cung và cầu tiền, vì thế ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái Cầnlưu ý rằng lãi suất tác động trong quá trình chu chuyển vốn quốc tế là lãi suấtthực, tức là lãi suất danh nghĩa đã được điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát Theohiệu ứng Fisher quốc tế ta có phương trình:
1 + lãi suất danh nghĩa = (1 + lãi suất thực) (1 + lạm phát dự kiến)
Phương trình trên thường được tính gần đúng bằng phương trình:
Lãi suất danh nghĩa = lãi suất thực + lạm phát dự kiến
Nếu lãi suất thực trong nước cao hơn lãi suất thực nước ngoài hay lãi suấtngoại tệ, dẫn đến nhiều dòng vốn sẽ chảy vào hoặc sẽ chuyển hoá lượng ngoại
tệ trong nền kinh tế sang đồng nội tệ để hưởng lãi suất cao hơn, điều này làmcung ngoại tệ tăng lên(đường cung ngoại tệ dịch chuyển sang phải) Đồng thời,cầu ngoại tệ trên thị trường lại giảm xuống (đường cầu ngoại tệ dịch chuyểnsang trái), do các nhà đầu tư trong nước muốn giữ tiền trong ngân hàng và cácchứng từ có giá của nước mình hơn là hơn là đầu tư ra nước ngoài với lãi suất
lãi suất thực trong nước thấp hơn lãi suất thực nước ngoài, tỷ giá hối đoái sẽtăng
Trang 11Từ phân tích hiệu ứng Fisher quốc tế, ta thấy khi lãi suất thực như nhaucho một năm ở tất cả mọi quốc gia, thì chênh lệch cho lãi suất danh nghĩa bất kỳ
ở hai nước nào cũng biểu thị cho chênh lệch lạm phát giữa hai nước đó Như thếkhông khuyến khích các nhà đầu tư trong việc đầu tư vào chứng khoán củanước có lãi suất cao, bởi lãi suất này cũng phản ánh dự kiến lạm phát cao, mà
mô hình 3P đã dự báo lạm phát cao có thể áp đặt lực giảm giá lên chính đồngtiền của nước này Kết quả cuối cùng, tỷ suất sinh lợi khi đầu tư nước ngoài (r)
11
h f
f
i
i e
i i
e r
Đây là nội dung của hiệu ứng Fisher quốc tế Từ công thức trên, xin rút ranhận xét:
thấp hơn lãi suất trong nước và sự tăng giá này sẽ cải thiện tỷ suất sinh lợi từnước ngoài cho các nhà đầu tư trong nước
ngoài cao hơn lãi suất trong nước Chính sự giảm giá này sẽ làm giảm tỷ suấtsinh lợi từ chứng khoán nước ngoài dưới góc nhìn của các nhà đầu tư trongnước, khiến tỷ suất sinh lợi từ chứng khoán nước ngoài không cao hơn tỷ suấtsinh lợi từ chứng khoán trong nước
Tỷ giá hối đoái khi có chênh lệch lãi suất giữa hai nước theo dự báo củahiệu ứng Fisher quốc tế là:
f t t
I
I S e S S
1
11
1Cũng như thuyết ngang giá sức mua, hiệu ứng Fisher quốc tế không luônđúng, do nó căn cứ trên ngang giá sức mua Hơn nữa, ngoài lạm phát còn cónhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái, nên tỷ giá hối đoái cũngkhông hoàn toàn điều chỉnh theo chênh lệch lạm phát
3 Thu nhập tương đối:
Nếu thu nhập trong nước có sự gia tăng còn các yếu tố khác coi như khôngđổi, thì dẫn đến xu hướng tiêu dùng hàng ngoại nhiều hơn hay nhu cầu nhập
Trang 12khẩu tăng Từ đó, làm tăng cầu về ngoại tệ (đường cầu ngoại tệ dịch sang phải), còn nhu cầu nước ngoài đối với hàng trong nước không đổi Vì thế, đồng ngoại
giảm thì đồng ngoại tệ sẽ giảm giá
Hình 4
Tỷ giá USD/VND
Đường cung USD
Đường cầu USD
4 Kiểm soát của Chính phủ:
Chính phủ của nước ngoài có thể tác động đến tỷ giá cân bằng qua nhiều cách khác nhau như áp đặt những rào cản về ngoại hối, áp đặt những rào cản về ngoại thương, can thiệp vào thị trừng ngoại hối và tác động đến những biến động vĩ mô như lạm phát, lãi suất và thu nhập quốc dân
5 Kỳ vọng:
Giống như các thị trường tài chính khác, thị trường ngoại hối phản ứng lại với các thông tin trong tương lai có liên quan đến tỷ giá.Ví dụ, tin về gia tăng lạm phát ở Mỹ có thể làm những nhà đầu cơ bán đo la do dự kiến đồng đô la sẽ giảm giá trong tương lai, điều nay gây áp lục giảm giá đồng đô la ngay lập tức
III TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN CÁN CÂN THANH TOÁN
Trang 13Là một đo lường tất cả những giao dịch giữa các cư dân trong nước và cưdân nước ngoài qua một thời kỳ nhất định, thường là một năm Một báo cáo cáncân thanh toán có thể được tách thành nhiều phần nhỏ khác nhau, nhưng phầnđược chú trọng nhiều nhất là tài khoản vãng lai và tài khoản vốn.
Tài khoản vãng lai: là một thước đo rộng nhất của mậu dịch quốc tế về
hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia Trong đó, cán cân mậu dịch – thànhphần chủ yếu của tài khoản vãng lai – là thuật ngữ nói lên chênh lệch giữa xuấtkhẩu và nhập khẩu hàng hoá Một thâm hụt trong cán cân mậu dịch tiêu biểumột giá trị hàng nhập khẩu lớn hơn hàng xuất khẩu Ngoài ra, tài khoản vãng laicòn bao gồm cán cân dịch vụ, đó là số tiền chi trả thuần khoản lãi và lợi tức cổphần cho các nhà đầu tư nước ngoài, cũng như số tiền thu và chi từ mậu dịchquốc tế và các giao dịch khác Các chuyển giao đơn phương bao gồm các khoảnbiếu tặng hay viện trợ của Chính phủ và tư nhân cũng được phản ánh trong tàikhoản vãng lai
Tài khoản vốn: phản ánh các thay đổi trong tài sản dài hạn và tài sản ngắn
hạn mà quốc gia sở hữu
Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến cán cân thanh toán:
Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái cán cân tài khoản vãng lai
Tác động của tỷ giá và chính sách tỷ giá đến cán cân tài khoản vãng laiđược biểu hiện tập trung trước hết là đối với cán cân thương mại- nội dung chủyếu của tài khoản vãng lai
Sự biến động của tỷ giá hối đoái sẽ có tác động trực tiếp đến giá cả xuấtnhập khẩu của chính quốc gia đó
Ví dụ: Năm 1994 tỷ giá hối đoái ở mức 1 USD = 10.500 VND, 1 ô tô convới giá 30.000 USD được nhập khẩu và được tính tương đương thành tiền ViệtNam là 315 triệu đồng, còn xuất 1 tấn gạo có chi phí sản xuất 3,5 triệu VND sẽ
có lãi với giá bán 340 USD/tấn
Đến năm 1998, khi mức tỷ giá 1 USD = 13.500 VND và các yếu tố kháckhông đổi thì phải tốn 405 triệu VND mới có thể nhập chiếc xe cũng giá 30.000USD, nhưng chỉ cần bán 1 tấn gạo giá 259,26 USD là đã có lãi
Nếu các yếu tố khác không đổi mà đồng tiền của của một nước bắt đầutăng giá so với đồng tiền của của nước khác thì tài khoản vãng lai của nước đó
sẽ giảm vì hàng hóa xuất khẩu từ nước này sẽ trở nên mắc hơn đối với nước
Trang 14nhập khẩu nếu tiền của họ mạnh, dẫn đến nhu cầu về loại hàng hóa này giảmlàm giảm xuất khẩu.
Một trong những phương pháp tiếp cận để phân tích kỷ thuật trong cán cânthanh toán là xét độ co giãn của đường cầu xuất khẩu và nhập khẩu Một khibiết được các độ co giãn đó, ta có thể tính toán được sự thay đổi trong cán cântài khoản vãng lai như thế nào Nếu độ co giãn đường cầu xuất khẩu lớn hơnmột (cầu co giãn theo giá) thì khi tỷ giá tăng sẽ làm giảm nhập khẩu
Tuy nhiên, trong thực tế có trường hợp mức độ co giãn nhu cầu nhập khẩuhàng hóa từ các nước khác bằng không (cầu không co giãn), có nghĩa là ngườitiêu dùng của một quốc gia cho rằng không một loại hàng hóa nào có thể thaythế được hàng nhập khẩu Trong trường hợp này, khi đồng bản tệ giảm giá sẽảnh hưởng xấu đến cán cân thanh thương mại và cán cân tài khoản vãng lai.Những chính sách tỷ giá khác nhau với những đặc điểm và cơ chế xácđịnh khác nhau có tác động khác nhau đến cán cân thương mại của một nước.Trong chế độ tỷ giá cố định, một khi tỷ giá được duy trì ổn định thì nó cóthể giảm thiểu những rủi ro từ giá cả trên thị trường hàng hóa, dịch vụ và do đógóp phần duy trì được trạng thái cân bằng tương đối trong cán cân thương mạicủa một nước thông qua việc ổn định này không hàm ý đảm bảo sự chia sẻ côngbằng về lợi ích thương mại giữa các quốc gia, bởi vậy không có ổn định tuyệtđối về dài hạn
Trong chế độ tỷ giá thả nổi, biểu hiện sự biến đổi thường xuyên theo quan
hệ cung cầu trên thị trường, có tác động làm tăng những rủi ro về yếu tố giá cảđối với hoạt động ngoại thương và cả hoạt động hoạt động tài chính quốc tế
Do đó, xét ở gốc giá cả tỷ giá thả nổi lại có khả năng phản ánh được tương quan
và lơi ích thương mại luôn thay đổi giữa các nước tạo ra động lực để chuyểndịch cán cân thương mại đến vị trí cân bằng mới cao hơn
Hai chế độ trên đều có những ưu, nhược điểm trái ngược nhau Thực tếnày làm nảy sinh một chế độ kết hợp hai cực cố định và thả nổi có thể mang lạinhiều lợi ích hơn cho cán cân tài khoản vãng lai nói riêng và kinh tế nói chungcủa một nước –chế độ tỷ giá linh hoạt
Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến cán cân tài khoản vốn
Khi một đồng tiền được dự kiến tăng giá thì phần trăm thay đổi trong tỷsuất sinh lợi dự kiến là dương góp phần làm tăng tỷ suất sinh lợi thực tế của nhà
Trang 15đầu tư, nên họ sẵn sàng đầu tư vào chứng khoán nước đó để hưởng lợi từ cácbiến động tiền tệ và tạo sự gia tăng trong cán cân tài khoản vốn.
Ví dụ: một người có 300.000 france Thuỵ Sỹ, tỷ giá hiện tại 2 SFR/USD,đang xem xét việc mua trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 1 năm với lãi suất7%/năm và dự kiến năm sau tỷ giá tăng lên mức 2,5 SFR/USD Vậy tỷ suất sinhlợi thực tế của nhà đầu tư Thuỵ Sỹ tại Mỹ (nếu dự kiến của nhà đầu tư nàyđúng):
1 32 %
2
2 5 2 1
% 7
Một sự thay đổi tỷ giá hối đoái theo hướng tăng giá đồng nội tệ có tácđộng thúc đẩy và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư của các nước phát triện đẩymạnh đầu tư ra nước ngoài
Ngược lại, một sự biến đổi tỷ giá hối đoái theo hướng giảm giá đồng nội tệ
có tác động gia tăng việc thu hút đầu tư của nước ngoài Đây có thể là một công
cụ mà các nước đang phát triển có thể khai thác để giảm bớt tình trạng khanhiếm về vốn nếu biết điều chỉnh chính sách tỷ giá hợp lý Chủ động giảm giáđồng nội tệ có thể đạt được mục đích khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhậpkhẩu và tăng khả năng thu hút đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, điều này lại cómâu thuẩn với các khoản vay đã huy động trước đó vì nó làm tăng thêm gánhnặng nợ nước ngoài và cũng làm tăng rủi ro của đầu tư trong tương lai khi cácnhà đầu tư có dự kiến tăng về tính không ổn định của tỷ giá hối đoái
Các biến động tỷ giá hối đoái dự báo cho các nhà đầu tư chứng khoáncũng có thể ảnh hưởng đến tài khoản vốn ếu nội tệ của một nước được dự kiến
đủ mạnh, các nhà đầu tư nước ngoài có thể sẵn sàng đầu tư vào chứng khoáncủa nước đó để hưởng lợi từ các biến động tiền tệ
Khi đánh giá tại sao tài khoản vốn của một quốc gia thay đổi trong tươnglai, phải xem xét đống thời tất cả các yếu tố Một quốc gia có thể có sự sụt giảmtrong tài khoản vốn ngay cả khi lãi suất hấp dẫn, nếu đồng tiền của quốc gia này
dự kiến sẽ giảm giá
IV CÁC CÔNG CỤ PHÒNG NGỪA RỦI RO TỶ GIÁ
Trang 161 Hợp đồng kỳ hạn
Hợp đồng kỳ hạn là một công cụ tài chính để mua hoặc bán một số lượngtiền nhất định, tại một tỷ giá nhất định, tại một thời điểm xác định trong tươnglai Các hợp đồng kỳ hạn được ký kết và giao dịch giữa các ngân hàng và kháchhàng, hay giữa ngân hàng với nhau Giao dịch kỳ hạn không diễn ra trên sở giaodịch mà giống như giao dịch giao ngay, đây là thị trường phi tập trung của cácngân hàng và các nhà môi giới được liên kết với nhau bằng điện thoại, telex, vitính và hệ thống SWIFT
2 Hợp đồng giao sau
Hợp đồng tiền tệ giao sau là một thỏa thuận giữa hai đối tác ấn định cácđiều kiện trao đổi một số lượng tiền cụ thể, tỷ giá được ấn định vào lúc thỏathuận hợp dồng
Các hợp đồng giao sau giống như hợp đồng kỳ hạn ở tất cả khía cạnhngoại trừ một số chi tiết quan trọng là những thỏa thuận đã được tiêu chuẩn hóa
để trao đổi tiền tệ
Các hợp đồng giao sau loại bỏ những phiền toái về rủi ro tín dụng mà hợpđồng kỳ hạn thường gặp phải, là do chức năng của công ty thanh toán bù trừ canthiệp vào các bên giao dịch Công ty thanh toán bù trừ ngăn ngừa mọi rủi ro tíndụng phát sinh do trở thành một đối tác tham gia bằng một hệ thống điều chỉnhtheo thị trường mỗi ngày
3 Hợp đồng quyền chọn
Không giống như các hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng giao sau, các quyềnchọn tiền tệ cho người mua cơ hội nhưng không bắt buộc mua hoặc bán với giá
đã được thỏa thuận, gọi là giá thực hiện trong tương lai Đúng như tên gọi của
nó, một quyền chọn là một công cụ tài chính cho người nắm giữ quyền- nhưngkhông bắt buộc– bán hoặc mua công cụ tài chính khác với giá bán thỏa thuậntrong một thời hạn nhất định gọi là ngày hết hiệu lực hay ngày đến hạn Nhưvậy, giá trả cho quyền chọn gọi là phí quyền chọn
Quyền chọn mua cho phép chủ sở hữu quyền nhưng không bắt buộc muatài sản tài chính hoặc hàng hóa cơ sở
Quyền chọn bán ngược lại chó pháp chủ sở hữu quyền nhưng không bắtbuộc bán tài sản tài chính hoặc hàng hóa cơ sở
Trang 17Quyền chọn Châu Âu chỉ được thực hiện vào ngày đáo hạn, trong khiquyền chọn kiệu Mỹ có thể thực hiện bất cứ lúc nào cho đến trước ngày đáohạn Ngoài ra còn có các quyền chọn trên hợp đồng giao sau.
Số lượng mua vào và bán ra đồng tiền này (đồng tiền yết giá là bằng nhautrong cả hai vế (vế mua vào và vế bán ) của hợp đồng hoán đổi
Căn cứ đặc điểm ngày giá trị, giao dịch hoán đổi gồm hai loại:
Spot- Forwad Swap: Bao gồm một giao dịch ngay và giao dịch kỳ hạn Forward- Foward Swap:Bao gồm hai giao dịch kỳ hạn được ký kết hômnay nhưng có giá trị khác nhau
V KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC TRONG CHÍNH SÁCH ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ
1 Quá trình điều hành chính sách tỷ giá của Trung Quốc:
Là 1 nước trong khu vực châu Á nhưng Trung Quốc có một nền kinh tếphát triển vượt bậc và mau lẹ Từ một nước thực hiện thể chế kinh tế kế hoạchhóa tập trung cao độ phát triển sang kinh tế thị trường XHCN và hội nhập kinh
tế thế giới Trung Quốc tiến hành cải cách, mở cửa nền kinh tế từ cuối nhữngnăm bảy mươi, theo đó là điều chỉnh các chính sách kinh tế cho phù hợp vớimục tiêu phát triển kinh tế mang màu sắc riêng của Trung Quốc Cùng với quátrình cải tổ và chuyển đổi nền kinh tế, chế độ và chính sách tỷ giá hối đoái củaTrung Quốc được chuyển đổi cho phù hợp vói yêu cầu của nền kinh tế pháttriển dựa trên cơ chế thị trường có sự điều của Nhà nước theo định hướngXHCN
Trang 18Vào năm 1978, Trung Quốc bắt đầu mở cửa nền kinh tế và thúc đẩy xuấtkhẩu Sau khi chính phủ trao quyền cho các địa phương và các doanh nghiệp, tỷgiá không còn đơn thuần là công cụ hạch toán trong việc hoạch định hoạt độngngoại thương mà bắt đầu đóng vai trò như một tín hiệu chỉ dẫn đối với hoạtđộng xuất nhập khẩu Để chống lại các tác động tiêu cực của việc đồng tiềnđịnh giá quá cao, Trung Quốc đã thực hiện một loạt các biện pháp của hệ thốngcải cách ngoại hối như chế độ giữ lại ngoại tệ, phá giá đồng tiền và thành lậpcác trung tâm hoán đổi ngoại tệ Điều này có tác dụng kích thích trực tiếp hoạtđộng xuất khẩu của Trung Quốc Thực vậy:
- Chế độ giữ lại ngoại tệ được ban hành theo đó các doanh nghiệp xuấtkhẩu và chính quyền địa phương được phép giữ lại một lượng ngoại tệ nhấtđịnh Khi cần, họ có thể dùng NDT để mua lại lượng ngoại tệ đó theo tỷ giáhiện hành, với điểu kiện là việc sử dụng phải phù hợp với quy định chung Donội tệ được định giá cao, nên việc cho phép các doanh nghiệp mua lại ngoại tệtại mức tỷ giá chính thức hàm chứa một sự phá giá nội tệ, từ đó có tác dụngkhuyến khích xuất khẩu
- Sự hình thành trung tâm hoán đổi ngoại tệ kết hợp với chế độ giữ lạingoại tệ đã kích thích hơn nữa hoạt động xuất khẩu, do những người nắm giữngoại tệ có cơ hội tăng thêm thu nhập Ngoài lượng ngoại tệ cần thiết cho nhậpkhẩu, còn có thể chuyển phần thu nhập ngoại tệ được giữ lại mức giá cao hơnmức tỷ giá chính thức Như vậy, cũng như chế độ giữ lại ngoại tệ, việc hoán đổingoại tệ trên thị trường hoán đổi ngoại tệ cũng có tác dụng phá giá đồng nột tệ,qua đó khuyến khích xuất khẩu
Việc phá giá NDT có tác dụng tích cực đến sức cạnh tranh của hàng xuấtkhẩu Trung Quốc trên thị trường thế giới
Đến năm 1994, chính phủ Trung Quốc quyết định phá giá mạnh đồngNDT Biên độ phá giá lên tới 50%: từ mức 5,75 NDT/1USD năm 1993 lên 8,7NDT/1USD kể từ ngày 1/1/1994
Cùng với việc thay đổi chính sách tỷ giá, chế độ quản lý ngoại hối củaTrung Quốc cũng được cải cách mạnh mẽ tỷ giá chính thức thống nhất với mức
tỷ giá hoán đổi hiện hành, chế độ giữ lại ngoại tệ được bãi bỏ, thị trường ngoạihối liên ngân hàng được thành lập
Việc cải cách chế độ tỷ giá thực chất đi liền với việc phá giá đồng tiền đãtác động rất mạnh và hầu như tức thời đến động thái của nền kinh tế Trung
Trang 19Quốc, đặc biệt đối với hoạt động ngoại thương và thu hút vốn đầu tư rực tiếpnước ngoài.
Việc phá giá đồng NDT với quy mô 50% dẫn tới kết quả tức thì: cán cânthương mại từ chỗ thâm hụt 12,2 tỷ USD năm 1993 chuyển thành thặng dư 5,4
tỷ USD năm 1994 Kể từ đó cho đến khi Tung Quốc gia nhập WTO (2001), xuhướng này luôn được giữ vững với mức thặng dư thương mại cao ổn định.Nhưng cũng từ năm 1994, tỷ giá hối đoái không còn đơn thuần liên quanđến cán cân thương mại hay tài khoản vãng lai, mà tác động của nó lan toả đếncác khu vực khác của nền kinh tế Trung Quốc Các yếu tố như ổn định kinh tế
vĩ mô, chính sách tiền tệ và tài khoá cung những yếu tố khác phải được đưa vàobức tranh chung khi xem xét vai trò của tỷ giá Mối quan hệ ngày càng khăngkhít giữa khu vực đối nội và đối ngoại cho thấy không thể ấn định tỷ giá hốiđoái với mục đích đơn giản là chỉ nhằm thúc đẩy xuất khẩu
Nhờ áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ dưới hình thức hạn chế hoạt độngcho vay của Ngân hàng nhà nước vào năm 1995 nên lạm phát giảm xuống mứcchỉ còn 2,8% Chính việc lạm phát giảm cộng các biện pháp hoàn thuế xuấtkhẩu được áp dụng nên xuất khẩu của Trung Quốc tăng gần 21% trong năm1997
Khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 đã buộc nhiều nước trong khuvực phá giá đồng tiền của mình ở quy mô lớn trong tương quan với đôla Mỹ.Trong bối cảnh đó, Trung Quốc phải đứng trước lựa chọn khó khăn, hoặc là phágiá NDT để lấy lại đà cho “guồng máy xuất khẩu” hoặc vẫn giữ nguyên mức tỷgiá như trước khi có khủng hoảng Cuối cùng, phương án thứ hai đã được lựachọn Điều này làm cho hàng xuất khẩu của Trung Quốc kém cạnh tranh hơn,nhưng nhờ áp dụng các một loạt các biện pháp như tăng mức hoàn thuế đối vớimặt hàng xuất khẩu chủ yếu, bãi bỏ hạn ngạch và giấy phép xuất khẩu đối vớinhiều mặt hàng, đa dạng hoá thị trường xuất khẩu Nên sau mức tăng trưởng 6%năm 1996, xuất khẩu năm 2001 tăng 28%, rồi tiếp tục tăng tương ứng 22% và34% trong năm 2002 và 2003 Có thể nói những kết quả này đạt được do nhữngbiện pháp ngoại thương nêu trên đã phát huy hiệu lực, đồng thời việc gia nhậpWTO cuối năm 2001 đã giúp Trung Quốc khai thác được nhiều cơ hội xuấtkhẩu mới Dần dần, hàng hoá Trung Quốc ồ ạt xâm nhập thị trường các nướccông nghiệp phát triển, và làm dấy lên cuộc tranh cãi về vai trò của đồng đôla.Dường như càng hoạt động lâu ở Trung Quốc, các công ty nước ngoàicàng phát hiện ra những hấp dẫn mới của đất nước này: chi phí thấp, sức cạnh
Trang 20tranh cao, giá thành sản phẩm thấp ở Trung Quốc đồng nghĩa với một thôngđiệp: muốn bán được hàng ở bất cứ đâu trên thế giới thì cách chắc chắn là đầu
tư vào Trung Quốc để sản xuất tại đây
Sức mạnh của thông điệp đó càng được nhân lên nhờ quyết tâm và hànhđộng liên tục phá giá mạnh đồng NDT vào năm 2003, 2004 của chính phủTrung Quốc đã làm cho sức cạnh tranh về giá của hàng xuất khẩu từ TrungQuốc vượt qua giới hạn thông thường để rở thành một sự đột phá mạnh, khiếndòng vốn FDI đổ vào lập tức tăng mạnh Năm 1993, lượng FDI thực hiện tăngtăng 250% so với năm 1992, năm 1994 tăng 23% so với năm 1993 Đến năm
1998, mức tăng là 200% so với năm 1993 Và sang thế kỷ mới Trung Quốc trởthành một trong những nền kinh tế thu hút nhiều FDI nhất trên thế giới, với sốlượng FDI đổ vào hàng năm đạt mức 55-70 tỷ USD
2 Trung Quốc trứơc áp lực lên giá đồng NDT
Hiện nhiều nước trên thế giới, đứng đầu là Mỹ đang gây áp lực mạnh mẽbuộc Trung Quốc phải tái định giá đồng NDT Việc đồng NDT đang được địnhgiá thấp là nguyên nhân khiến các nhà sản xuất Mỹ liên tục yêu cầu áp dụng ràocản thương mại đối với hàng hoá của Trung Quốc
Trước sức ép tăng giá của Mỹ và các nước,ngày 28/10/2004, Ngân hàngTrung Quốc lần đầu tiên trong 10 năm qua tuyên bố tăng lãi suất tiền gửi kỳ hạnmột năm đối với đồng NDT từ 1,98%/năm lên 2,25%/năm Như vậy, kể từtháng 5/1996, Trung Quốc đã tăng chuẩn lãi suất tiền gửi sau 8 lần giảm liêntiếp, do đó dư luận cho rằng đây có thể là bước mở đường cho việc tăng giáđồng NDT vào thời gian tới và chính Bộ trưởng Tài chính Mỹ John Snow cũngphấn khởi cho rằng động thái nâng lãi suất của Trung Quốc nhất quán với mộtchính sách tỷ giá linh hoạt hơn Nhưng trên thực tế,cho đến thời điểm này,Trung Quốc vẫn kiên quyết theo đuổi chính sách điều hành tỷ giá, bởi nếu tuỳtiện tăng giá đồng NDT sẽ gây nhiều tổn hại cho nền kinh tế Trung Quốc:
Khó khăn trong việc duy trì tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Ở Trung
Quốc người lao động trong khu vực nông thôn hiện đang còn dôi dư rất nhiều,các công ty quốc doanh thì thừa nhân công Trong khi đó, một đồng NDT tăng
sẽ khiến hàng hoá nhập khẩu đắt lên, dẫn đến tổn hại cho xuất khẩu Doanh thugiảm dẫn tới tình trạng các nhà máy sẽ sa thải số nhân công hiện thời hoặckhông thuê thêm nhân công mới, tỷ lệ thất nghiệp theo đó sẽ gia tăng Đồng
Trang 21thời, một đồng NDT mạnh hơn sẽ làm tăng chi phí lao động, đầu tư trực tiếpnước ngoài giảm.
Thị trường tài chính non nớt, dễ gây tổn thương cho các công ty chưa có kinh nghiệm Mãi đến năm 1980, các giao dịch có kỳ hạn và đảm bảo được thiết
lập, ngay sau đó hệ thống tài chính mới trở thành công cụ hết sức đắt lực giúpTrung Quốc đổ vốn vào những doanh nghiệp nhà nước và khuyến khích cáccông ty mở rộng khinh doanh tại các thị trường phát triển ở nước ngoài Mặtkhác, thị trường kỳ hạn của Trung Quốc được mở cửa vào tháng 10 /1990 đãbộc lộ những điểm yếu kém như kỳ hạn không theo đúng tiêu chuẩn, các điềukhoản phi lý và điều hành kém hiệu quả Đến nay Trung Quốc có 12 thị trường
kỳ hạn, nhưng chủ yếu về các mặt hàng nông nghiệp hoặc sắt thép Rõ ràng vớimột thị trường tài chính vẫn chưa thực sự bền vững, thì việc Trung Quốc bấtngờ tăng giá lại đồng NDT sẽ là một cú đánh mạnh đối với không ít công tykém nhạy cảm và chưa được trang bị cẩn thận trong việc đối phó với những cúsốc như vậy Nhà nước Trung Quốc tất nhiên sẽ cố gắng giải quyết những vấn
đề trên
Tăng giá các khoản vay quá hạn trong lĩnh vực ngân hàng Mặc dù tái
định giá đồng NDT sẽ giảm các khoản vay cho Chính phủ, nhưng lại tăng nguy
cơ vỡ nợ đối với các khoản vay quá hạn Tuy nhà nước đã có hướng điều chỉnh
để giải quyết vấn đề này, nhưng một khi các khoản vay quá hạn đang được xuấtkhẩu và được các nhà đầu tư Mỹ mua lại, thì xét khía cạnh nhất định, các khoảnvay đó vẫn đang là vấn đề tồn tại Đồng NDT tăng giá sẽ làm tăng giá cáckhoản vay quá hạn Nhưng chúng ta cũng cần nhớ rằng Chính phủ Trung Quốc
có một khoản ngoại tệ lớn bằng USD, xấp sỉ số họ đã dùng để bình ổn đồngNDT Số tài sản nay mất giá trị hay không còn tuỳ thuộc vào việc định giá đồngNDT
Bất ổn trong thu hút tiền đầu tư Gần đây, do đầu cơ tiền tệ, một lượng lớn
ngoại tệ chảy vào Trung Quốc Khi việc tái định giá được tiến hành và các nhàđầu tư thấy rằng họ đã kiếm đủ số tiền họ cần, dòng vốn đầu tư này sẽ chảy rakhỏi nền kinh tế Tái định giá quá chậm sẽ gây ra những ngại ngần cho nhà đầu
tư, còn nếu tái định giá quá nhanh thì các dòng vốn đầu tư sẽ chuyển đi ngay lậptức Vì vậy, tái định giá không khéo có thể gây ra những nguy hiểm cho việcchuyển vùng vốn Rất nhiều nhà đầu tư không muốn tiếp tục đầu tư sau tái địnhgiá, đặc biệt khi nền kinh tế bị giữ lại một cách thận trọng, hạn chế nguồn lợi từcác phương tiện phi tiền tệ
Trang 22Có lẽ vì thế mà Chính phủ Trung Quốc hiện vẫn chưa thể đưa ra bất kỳthay đổi nào trong chính sách tỷ giá Tuy nhiên, giữ vững mức tỷ giá hiện hành(8,26 – 8,28 NDT/USD) cũng không phải là công việc dễ thực hiện Theo đánhgiá, có những thời điểm Ngân hàng Trung ương Trung Quốc phải bỏ NDT đểmua tới 600 triệu USD mỗi ngày Rõ ràng, điều này không thể thực hiện liêntục và kéo dài Do đó, Trung Quốc đã thực hiện một số biện pháp làm dịu sức
ép cho đồng NDT Chẳng hạn, từ 1/11/2003 thí điểm cho phép 14 tỉnh, khu vựcđược đầu tư ra nước ngoài nhiều hơn, mức trần từ 1 triệu USD nâng lên 3 triệuUSD Các biện pháp khác là: giảm bớt mức độ khuyến khích xuất khẩu, siếtchặt hơn những quy định về việc cho các nhà các nhà đầu tư bất động sản vaytiền và hạn chế hạn ngạch đầu tư của các ngân hàng nước ngoài vào thị trườngtrái phiếu cũng như thị trường chứng khoán Trung Quốc
Dường như Trung Quốc vẫn đang rất cẩn trọng trong việc điều chỉnh tỷgiá đồng NDT và cho đến giờ, dù thừa nhận đồng NDT được định giá thấpnhưng Trung Quốc vẫn cho rằng hiện chưa phải là thời điểm thích hợp để điềuchỉnh đồng NDT Theo quan điểm của nhiều nhà kinh tế, thì cuối cùng TrungQuốc cũng sẽ điều chỉnh để cân đối cán thân thương mại với các nước khác, đặcbiệt là với Mỹ Vấn đề đặt ra, mức độ và thời điểm nâng giá như thế nào là thíchhợp để đáp ứng được đồng thời cả lợi ích của Trung Quốc và các bạn hàng chủyếu của nước này
Hiện nay, tình trạng thâm hụt mậu dịch với Trung Quốc của hầu như tất cảnền kinh tế phát triển đã trở nên ngày càng gay gắt và động chạm đến nhiềunhóm lợi ích xã hội, đã đặt trước chính phủ nhiều nước, đặt biệt là Mỹ và EU,yêu cầu cấp bách phải giảm nhanh chóng thâm hụt thương mại, lập lại cân bằngtrong cán cân tài khoản vốn và tài khoản vãng lai với Trung Quốc Để đạt đượcmục tiêu đó Mỹ và các nước G7 khác đang gây áp lục rất mạnh buộc TrungQuốc phải tăng giá đồng NDT lên 20-40% trong một thời gian ngắn
Trong thời điểm này USD đang dần mất đi địa vị đồng tiền cơ trục của thếgiới Đồng thời khoản dự trữ ngoại hối hơn 1400 tỷ USD nên được đổi thànhEuro hoặc ngoại tệ mạnh khác Trận đòn của Trung Quốc đưa ra được xem làtín hiệu cảnh báo địa vị nền kinh tế đang đi xuống, dẫn đến thị trường cổ phiếuthế giới giảm theo một cách toàn diện
Đối diện với áp lực tăng giá đồng NDT của các nước phát triển phươngTây, Trung Quốc phát động phản kích Trung Quốc cho biết sẽ thu hồi nguồn
Trang 23đồng euro Hành động trên nói lên rằng nếu các nước phát triển tiếp tục uy hiếpchủ quyền tiền tệ Trung Quốc, Trung Quốc sẽ không ngồi yên để nhìn.
Cả áp lực đòi đồng NDT lên giá lẫn quá trình lên giá của đồng tiền nàyđều đang diễn ra trên thực tế Áp lực thì ngày càng gia tăng, còn Chính phủTrung Quốc thì cố gắng trì hoãn sự tăng giá để tiếp tục thúc dẩy xuất khẩu,nâng cao tiềm lực tài chính và tránh gây sốc trong nền kinh tế và xã hội Vì vậytốc độ lên giá đồng NDT đang diễn ra nhưng với tốc độ chậm và được chínhphủ Trung Quốc kiểm soát chặt chẽ
Trước hết, theo nguyên lý truyền thống đồng NDT lên giá sẽ làm cho sảnphẩm của Trung Quốc trở nên kém cạnh tranh hơn về giá trên thị trường quốc
tế Nhờ đó, các nền kinh tế nhập khẩu từ Trung Quốc sẽ có khả năng giảm đượctình trạng nhập siêu, còn các đối thủ cạnh tranh xuất khẩu với Trung Quốc sẽ có
cơ hội tăng xuất khẩu các mặt hàng cạnh tranh với hàng hóa Trung Quốc
Bù lại những bất lợi và tổn thất do đồng NDT lên giá, chính điều này tạo
ra cho Trung Quốc những cơ hội thu lợi không nhỏ Về dài hạn, sự lên giá đồngNDT sẽ giúp Trung Quốc thu được nhiều lợi ích Những lợi ích đó bắt nguồn từchỗ: Khi đồng NDT lên giá, giá sản phẩm đầu vào nhập khẩu của Trung Quốctính ra NDT sẽ rẻ đi tương ứng Điều này sẽ làm giảm đáng kể tác động tiêu cực
do giá thành sản phẩm xuất khẩu tăng lên gây ra
Trang 24CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI
GIAN QUA
Trang 25Sau một thời gian dài, tỷ giá hối đoái nói riêng và giá cả hàng hoá nóichung bị bóp méo do cơ chế quản lý kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp Giá
cả của nền kinh tế được quy định dựa trên kế hoạch, chính sách chủ quan củaNhà nước, hoàn toàn thoát ly thị trường Tháng 3/1989, được xem như mốcđánh dấu sự chuyển biến lớn trong cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta, từ nền kinh
tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý củaNhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Một thay đổi quan trọng tronghàng loạt những thay đổi triệt để là tỷ giá được “thả nổi” và tiến lại gần tỷ giáthị trường
I BIẾN ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM TRƯỚC KHI GIA NHẬP WTO
1 Giai đoạn trước năm 1992
Đây là giai đọan tiếp theo của quá trình chuyển đổi theo cơ chế thị trường.Trong giai đọan này đứng về phương diện thanh toán quốc tế, Việt Nam đứngtrước một tình thế vô cùng khó khăn, thị trường với các nước XHCN cũ bị thuhẹp đáng kể, bên cạnh hệ thống đa biên bị tan rã, tất cả các nước XHCN đềuđồng loạt chuyển đổi đồng tiền thanh toán với Việt Nam bằng ngoại tệ tự dochuyển đổi (chủ yếu bằng USD), nhiều căn bệnh trầm trọng như: lạm phát phi
mã kéo dài mà đỉnh cao là năm 1986 lạm phát lên đến 774.4%, năm 1987 là301%, năm 1988 là 308%; hàng hoá khan hiếm, sản xuất đình đốn, cơ chế thịtrường đã xuất hiện nhưng bị Nhà nước phủ định Do đó, hệ thống giá cả trongnền kinh tế trở nên phức tạp, hình thành nhiều loại giá: bên cạnh giá do Nhànước quy định thì giá trên thị trường chợ đen thường lớn hơn giá do Nhà nướcquy định rất nhiều Gánh nặng chênh lệch bù giá đè nặng lên vai Ngân sách Nhànước Năm 1989, quy định trần tín dụng, cải cách chính sách tỷ giá Thông tư số33/NH-TT của NHNN Việt Nam được ban hành vào ngày 15/3/1989 (hướngdẫn thi hành nghị định số 166/HĐBT về quản lý ngoại hối) quy định về việcmua bán ngoại tệ, xoá bỏ chế độ kết hối ngoại tệ, xoá bỏ chế độ đa tỷ giá mang
Trang 26tính áp đặt duy ý chí trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung trước đây, định hướngxây dựng một chế độ tỷ giá thống nhất vận hành theo cơ chế thị trường dưới sựđiều tiết của Nhà nước Trong thực tế, từ khi thông tư số 33/NH-TT được banhành, đánh dấu một thời kỳ ngắn của sự thả nổi tỷ giá tương đối mạnh tronglịch sử vận động tỷ giá tại Việt Nam.
giá chính thức
Tỷ giá thị trường
tự do
Chênh lệch tỷ giá thị trường tự do và tỷ giá chính thức
3/1990
6/1990
9/1990
12/1990
3/1991
6/1991
9/1991
10/1991
12066
Trang 2712742
12/1992
10718
-0.0492
Nguồn: báo cáo thường niên NHNN 1989, 1990, 1991
Thời kỳ này, tỷ giá được xác định phản ánh theo sát những diễn biến củalạm phát làm cho tỷ giá hối đoái thực tế được giữ vững gần như không đổi, nên
đã có những tác động tích cực khôi phục cả cân đối bên trong và bên ngoài nềnkinh tế, từng bước nâng cao sức mạnh của hàng hóa nội địa, thúc đẩy hàng hóaxuât khẩu phát triển và do đó làm gia tăng nguồn cung ngoại tệ, giảm dần thâmhụt trong cán cân thương mại, cán cân thanh toán quốc tế qua nhiều năm Tỷ giámua bán của các ngân hàng được phép dựa trên cơ sở tỷ giá chính thức doNHNN công bố cộng trừ 5% và chênh lệch giữa tỷ giá mua bán quy định là0.5%
Từ bảng số liệu trên cho thấy, sự biến động tỷ giá là rất mạnh kể từ khihợp nhất tỷ giá Đây được coi là thời kỳ điều chỉnh mạnh tỷ giá của NHNNnhằm đưa giá trị của VND về với giá trị cân bằng và sát với tỷ giá thị trường tụ
do Đỉnh cao của mức tăng giá USD là vào cuối năm 1991, ngày 4/12/1991 giáUSD trên thị trường tư nhân Hà Nội và TPHCM là 14.450 VND/USD và14.580 VND/USD Giá USD trong tháng 12/1991 đã tăng lên từ 60 đến 80% sovới mức giá đầu năm Chênh lệch tuyệt đối giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá trênthị trường tự do ngày càng được rút ngắn lại Những số liệu trên cho thấy xuhướng lên giá của USD trên cả hai khu vực Nhà nước và thị trường tự do trongthời gian từ năm 1989 đến năm 1991 Tình trạng này dẫn đến tâm lý đầu cơ, dựtrữ USD để ăn chênh lệch giá và có thể đẩy nền kinh tế Việt Nam vào vòng luẩnquẩn
Tỷ giá và lạm phát có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Khi tỷ giá biến độngtheo hướng làm giảm VND, sẽ gây sức ép tăng lạm phát Trong bối cảnh nước
ta vừa thoát ra khỏi mức lạm phát cao (3 con số /năm) cuối năm 1989, việc xảy
ra cơn sốt vàng và USD vào cuối năm 1990 cùng với sự đổ bể tín dụng năm
1991 được xem như một nhân tố quan trọng gây tái lạm phát
Tác động của tỷ giá đến cán cân thanh toán
Trang 28Tình hình lạm phát ,tỷ giá ,cán cân thương mại, cán cân thanh toán, dự trữngoại hối của Việt Nam 1989-1992:
11.975
Trong thời kỳ này hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩuđược nâng cao góp phần khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng quy mô kinhdoanh, kim ngạch xuất khẩu Vào năm 1991, VND được phá giá lên tới 103%
đã tạo điều kiện rất tốt cho các doanh nghiệp xuất khẩu tăng quy mô sản xuấtcủa mình Thời điểm này còn là thời điểm bùng nổ các doanh nghiệp tham giaxuât khẩu Có thể nói, thời điểm này là một bằng chứng rất rõ về hiệu quả củabiện pháp phá giá tiền tệ lên hoạt động xuất khẩu của Việt Nam
Lo sợ nguy cơ lạm phát cao trở lại, NHNN Việt Nam đã áp dụng một loạtchính sách xiết chặt như: bán tín phiếu kho bạc, thay đổi mức dự trữ ngoại tệ(bán USD mua VND) để kéo giá USD giảm xuống, cho vay để giảm bớt hậuquả của đổ bể tín dụng đã đưa tỷ giá thị trường giảm dần và ổn định trở lại vàođầu năm 1992 Nhờ đó lạm phát bị đẩy lùi, sức mua của VND dần dần ổn định,cán cân thương mại và cán cân thanh toán trở nên bội thu (năm 1992 cán cânthanh toán thặng dư khoảng 0,2 tỷ USD) nên mức tỷ giá ổn định như cuối năm
1991 đầu năm 1992 là hợp lý Có người cho rằng cần phải nâng giá trị VNDhơn nữa cho phù hợp với tình hình thặng dư trong cán cân thanh toán và đápứng nhu cầu mở rộng vốn đầu tư để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế
2 Giai đoạn từ 1992 đến 1997
Trang 29trường ngoại tệ thường gặp phải cơn sốc theo chu kỳ vào cuối quý, cuối nămkhi nhu cầu nhập khẩu và trả nợ đến hạn tăng cao đã làm cho lạm phát thường
có xu thế tăng vọt vào những thời điểm này, tạo ra tâm lý đầu cơ ngoại tệ thúcđẩy nhanh hiện đô la hoá trong hệ thống lưu thông - thanh toán Sự quản lý lỏnglẻo đã dẫn đến nhiều vụ đổ bể tín dụng vào cuối năm 1991 và đầu năm 1992, dựtrữ ngoại tệ tăng chậm trong 3 năm 1989, 1990 và 1991 mức dự trữ ngoại tệtương ứng là 24 triệu USD, 24 triệu USD và 25 triệu USD; một vấn đề nổi cộmkhác là vấn đề nợ nước ngoài và công tác quản lý nợ, một cái giá phải trả choviệc thả nổi tỷ giá là gánh nặng nợ nước ngoài tính bằng VND trong NSNN đãtăng mạnh Trước những vấn đề đặt ra đó, Chính phủ đã thay đổi cơ chế điềuhành tỷ giá với những nội dung cụ thể như sau:
Quy định biên độ dao động của tỷ giá so với tỷ giá chính thức được công
bố bởi NHNN Tăng cường sức mạnh của các biện pháp hành chính mà cụ thể
là buộc các đơn vị kinh tế truớc hết là các đơn vị kinh tế quốc doanh có ngoại tệphải bán cho NHNN theo tỷ giá ấn định Tỷ lệ kết hối lúc đầu được quy định là100% sau giảm xuống dần
Bãi bỏ hoàn toàn hình thức quy định tỷ giá nhóm hàng trong thanh toánngoại thương giữa NSNN với các đơn vị kinh tế tham gia hoạt động ngoạithương Thay vào đó là áp dụng tỷ giá chính thức do NHNN công bố
Để hạn chế tác động của những yếu tố phi kinh tế, một mặt Chính phủtăng cường công tác thông tin, cho công khai hoá một cách nhanh chóng vàchính xác các chỉ số kinh tế quan trọng như tỷ giá chính thức, tỷ giá thị trường,chỉ số giá, sự biến động giá vàng, …Nhờ vậy mà hạn chế nạn đầu cơ, giảm tâm
lý hoang mang Mặt khác, Chính phủ cũng thông qua nhiều hình thức, tốc độ,mức can thiệp để thể hiện rõ quyết tâm cải cách triệt để nền kinh tế nói chung
và nguy cơ bùng nổ trở lại của lạm phát nói riêng
Mặt khác, Chính phủ cũng cho thấy có sự chú trọng tăng cường thực lựckinh tế cho hoạt động can thiệp vào tỷ giá bằng cách gia tăng mạnh quỹ dự trữngoại tệ, lập quỹ bình ổn giá
Dự trữ ngoại tệ Việt Nam (1993-1997)
Trang 30Trieu USD
Du tru ngoai te Viet Nam (1993-1997)
(Nguồn : Tài liệu “ Một số vấn đề về chính sách tỷ giá hối đoái cho
mục tiêu phát triển kinh tế Việt Nam” NXB Thống Kê, tr.96)
Chính sách tỷ giá tác động đến cán cân thanh toán
CPI Mỹ (năm gốc 1992) 1,00 1,02 1,04 1,06 1,08 1,12CPI Việt Nam 1,175 1,052 1,144 1,094 1,127 1.03
CPI Việt Nam (năm gốc 1992) 1,00 1,052 1,196 1,290 1,417 1,48
Tỷ giá danh nghĩa 10.720 10.832 11.050 10.965 11.044 111.75
Tỷ giá hối đoái thực song phương 10.720 11.256 12.757 14.472 15.115 15.255
Nguồn: tổng hợp từ số liệu báo cáo thương niên của NHNN
Qua bảng trên cho thấy từ năm 1992 cho đến trước khi xảy ra cuộc khủng