Một trong những bệnh quan trọng nhất và gây thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuôi vịt là bệnh dịch tả vịt và bệnh viêm gan vịt.. Ý nghĩa khoa học – thực tiễn của ñề tài - Góp phần ñề ra
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
BÙI DOÃN MÙI
ðÁNH GIÁ ðỘ DÀI MIỄN DỊCH CỦA VACCIN DỊCH TẢ VỊT VÀ VIÊM GAN VỊT SẢN XUẤT TẠI XÍ NGHIỆP
THUỐC THÚ Y TRUNG ƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào Các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Bùi Doãn Mùi
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Bộ giáo dục và đào tạo, trường đại học nông nghiệp Hà Nội ựã trang bị kiến thức cho tôi trong thời gian tham gia lớp cao học khoá 17 của Trường và có cơ hội ựể hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa thú y cùng các thầy cô giáo trong nhà trường ựã tận tình giảng dạy, tạo ựiều kiện cho tôi ựược tiếp cận với những kiến thức khoa học về nông nghiệp trong 2 năm học ở trường
để hoàn thành luận văn này tôi luôn nhận ựược sự chỉ bảo tận tình của người hướng dẫn khoa học Tiến sĩ Trần Thị Liên, Tiến sĩ Nguyễn Văn Thọ
Ngoài ra trong quá trình thực hiện ựề tài tôi luôn nhận ựược sự ựộng viên giúp ựỡ tạo ựiều kiện của Ban lãnh ựạo Xắ nghiệp thuốc thú y Trung ương, Ban lãnh ựạo trung tâm vịt đại Xuyên cùng một số hộ chăn nuôi vịt ở các huyện thuộc một số tỉnh Hà Nam, Hưng Yên, Hà Nội, các bạn ựồng nghiệp trong phân xưởng vaccin Virut, gia ựình và người thân ựã ựộng viên, giúp ựỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện ựề tài Tôi xin ựược bày tỏ lòng biết
ơn chân thành ựối với sự giúp ựỡ quý báu ựó
Hà nội, tháng 01năm 2010
Tác giả luận văn
Bùi Doãn Mùi
Trang 42.2.2 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm gan vịt trong và ngoài nước 27
3 NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
Trang 53.3.1 Sử dụng phương pháp công cường ñộc ñể xác ñịnh ñộ dài miễn
3.3.2 ðể khảo sát ñộ dài miễn dịch của vaccin nhược ñộc viêm gan vịt
3.3.3 Kết hợp tiêm phòng cho các hộ chăn nuôi ở một số ñịa phương 46 3.3.4 Phương pháp lấy mẫu: lấy mẫu theo 10 tiêu chuẩn nghành 160- 92 46
4.1 Các kết quả thu ñược trong quá trình tiến hành ñánh giá ñộ dài
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Cs Công sự
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Tình hình bệnh dịch tả vịt ở một số nước châu á 7 4.1 Kết quả công cường ựộc cho vịt sau khi tiêm vaccin dịch tả vịt
4.2 Kết quả công cường ựộc cho vịt sau khi tiêm vaccin 3 tháng 48 4.3 Kết quả công cường ựộc dịch tả vịt ở tháng thứ 6 49 4.4 Kết quả công cường ựộc dịch tả vịt ở tháng thứ 9 50 4.5 Kết quả công cường ựộc dịch tả vịt ở tháng thứ 10 52 4.6 Kết quả công cường ựộc dịch tả vịt ở tháng thứ 11 54 4.7 Kết quả công cường ựộc dịch tả vịt ở tháng thứ 12 55 4.8 Kết quả công cường ựộc viêm gan vịt 72 giờ sau khi tiêm vaccin 58 4.9.a Kết quả hàm lượng kháng thể của vịt con sau 21 ngày sử dụng
4.9.b Kết quả hàm lượng kháng thể của vịt con sau 21 ngày dùng
vaccin Viêm gan vịt nhươc ựộc ựông khô của 2 lô vaccin 60 4.10.a Kết quả thu ựược về mức ựộ bảo hộ của vaccin viêm gan vịt lô 1
4.10.b kết quả thu ựược về mức ựộ bảo hộ của vaccin viêm gan vịt lô 2
4.10.c Kết quả thu ựược về mức ựộ bảo hộ của vaccin viêm gan vịt lô 3
4.11.a đánh giá mức ựộ bảo hộ của 3 lô vaccin viêm gan vịt nuôi tại xắ
4.11.b Kết quả thu ựược về mức ựộ bảo hộ của vaccin viêm gan vịt lô 1
Trang 84.11.c Kết quả thu ựược về mức ựộ bảo hộ của vaccin viêm gan vịt lô 2
4.11.d Kết quả thu ựược về mức ựộ bảo hộ của vaccin viêm gan vịt lô 3
4.12.a đánh giá mức ựộ bảo hộ của 3 lô vaccin viêm gan vịt nuôi tại xắ
4.12.b Kết quả thu ựược về mức ựộ bảo hộ của vaccin viêm gan vịt lô 1
4.12.d Kết quả thu ựược về mức ựộ bảo hộ của vaccin viêm gan vịt lô 3
4.13.a đánh giá mức ựộ bảo hộ của 3 lô vaccin viêm gan vịt nuôi tại xắ
4.13.b Kết quả thu ựược về mức ựộ bảo hộ của vaccin viêm gan vịt lô 1
4.14.a đánh giá mức ựộ bảo hộ của 3 lô vaccin viêm gan vịt nuôi tại xắ
4.14.b Kết quả thu ựược về mức ựộ bảo hộ của vaccin viêm gan vịt lô 1
Trang 94.15.a đánh giá mức ựộ bảo hộ của 3 lô vaccin viêm gan vịt nuôi tại xắ
4.15.b Kết quả thu ựược về mức ựộ bảo hộ của vaccin viêm gan vịt lô 1
Trang 101 MỞ ðẦU
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Vịt là loài thuỷ cầm ñược chăn nuôi nhiều nhất Trên thế giới hàng năm
có khoảng 550 ñến 600 triệu vịt ñược chăn nuôi, trong ñó ở châu á chiếm tới 80
- 86% tổng ñàn vịt Nước ta hàng năm ñàn vịt sản xuất khoảng 30.000 ñến 40.000 tấn thịt hơi; 0,8 ñến 1 tỷ quả trứng và khoảng 1000 ñến 1500 tấn lông Theo số liệu thống kê của FAO (2003) [42]: Tổng số vịt của Việt Nam là 60 triệu con, ñứng thứ 2 thế giới, sau Trung Quốc Ngoài những giống vịt truyền thống ở nước ta hiện nay chúng ta còn có thêm một số giống vịt nhập ngoại có năng suất, chất lượng cao ñó ñược nhập vào Việt Nam như vịt Khaki-Cambell ñược nhập vào nước ta từ năm 1992, thích ứng tốt và phát triển nhanh ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung Vịt CV-Super M là giống vịt chuyên thịt và ñược nhập vào nước ta từ năm 1989 Hiện nay ñang ñược nuôi nhiều ở các vùng ñồng bằng sông Cửu Long và ñồng bằng sông Hồng
Một trong những bệnh quan trọng nhất và gây thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuôi vịt là bệnh dịch tả vịt và bệnh viêm gan vịt Bệnh dịch tả vịt
là một loại DNA virus thuộc họ Herpesvirideae nhóm Herpesvirus Bệnh gây nên tình trạng bại huyết, xuất huyết cho vịt với tỷ lệ chết cao lên ñến 90% Theo Quyết ñịnh số 63/2005/Qð - BNN [5] và Quyết ñịnh số 64/2005/Qð - BNN [6] ñược Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành ngày 13/10/2005 thì bệnh dịch tả vịt ñược coi là bệnh nguy hiểm của ñộng vật, phải
áp dụng các biện pháp phòng bệnh bắt buộc Bệnh dịch tả vịt là một trong 7 bệnh phải tiêm phòng bắt buộc và yêu cầu tỷ lệ tiêm phòng phải ñạt 100% Bệnh viêm gan vịt xảy ra ở hầu hết các nước trên thế giới, bệnh do virut Viêm gan vịt type I gây ra Hàng năm có rất nhiều vịt con bị chết ở khắp
Trang 11các quốc gia Ở Việt Nam theo những thông báo mới nhất của Viện chăn nuôi, Viện thú y, Trường đại Học Nông nghiệp Hà Nội thì bệnh Viêm gan vịt có nguy cơ thiệt hại nặng nề ựến ngành chăn nuôi vịt trong cả nước đặc trưng của bệnh là bệnh tắch ở gan, gan sưng, mềm, dễ nát khi ấn nhẹ, gan có màu ựỏ anh ựào hoặc màu vàng ựất, mặt gan loang lổ, các vết xuất huyết có thể bằng ựầu ựinh ghim Ngoài ra còn thấy lách sưng nhẹ, thận sưng, tụ huyết,
cơ tim nhợt nhạt, tỷ lệ tử vong có khi lên ựến 100% sau khi nhiễm bệnh từ 2-
4 ngày Bệnh chỉ xảy ra ở vịt con dưới 6 tuần tuổi Bệnh dịch tả vịt và viêm gan vịt hiện nay không có thuốc ựặc hiệu ựể chữa mà biện pháp duy nhất là phòng bệnh bằng vaccin đã có nhiều nghiên cứu về bệnh dịch tả vịt và viêm gan vịt cũng như virus gây bệnh ựược tiến hành Nhiều loại vaccin dịch tả vịt, viêm gan vịt ựã ựược sản xuất và lưu hành trên thị trường Việt Nam Song việc sử dụng vaccin chủ yếu lại do người chăn nuôi quyết ựịnh Hơn nữa do khâu chăn nuôi chưa hợp lý, vệ sinh phòng bệnh chưa triệt ựể ựã ảnh hưởng rất nhiều ựến hiệu quả bảo hộ của Nhằm ựóng góp thêm thông tin khoa học
về tình hình bệnh, thời gian bảo hộ của ựàn vịt sau khi ựược tiêm phòng vaccin, góp phần phòng chống bệnh dịch tả vịt và viêm gan vịt ở Việt Nam ựạt hiệu quả cao Chúng tôi tiến hành nghiên cứu ựề tài vaccin
: "đánh giá ựộ dài miễn dịch của vaccin dịch tả vịt và viêm gan vịt sản xuất
tại xắ nghiệp thuốc thú y trung ương"
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của ựề tài
- Khẳng ựịnh chất lượng của vaccin thông các quá trình phân phối hàng trong kinh doanh
- Khẳng ựịnh khả năng ựáp ứng miễn dịch của vịt con sau khi ựược tiêm phòng vaccin
- đưa ra những khuyến cáo phòng bệnh hiệu quả cao cho ựàn vịt con
Trang 121.3 Ý nghĩa khoa học – thực tiễn của ñề tài
- Góp phần ñề ra các phương pháp phòng bệnh dịch tả vịt và viêm gan vịt có hiệu quả cao trong chăn nuôi vịt
- Kết quả nghiên cứu của ñề tài là cơ sở khoa học phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo, ñồng thời ñúng giúp thêm tư liệu tham khảo cho cán bộ thú y cơ sở và người chăn nuôi
Trang 132 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Năm 1930, tại Hà Lan, De Zeeuw mô tả một trường hợp bệnh tương tự xảy ra ở một ñàn vịt 150 con Năm 1942, dịch lại tái phát ở ñất nước này làm chết 2600 trong tổng số 5700 vịt Vịt ốm ỉa phân xanh, mổ khám khi vịt chết thấy xuất huyết cơ tim, dạ dày tuyến, tá tràng, viêm kiểu bạch hầu ở cuống họng và lỗ huyệt Lần này, Boss (1943) [43] ñã phân lập ra virus và cấy truyền 18 ñời trên vịt
Năm 1949, tại Hội nghị Thú y thế giới lần thứ XIV, căn cứ vào những kết quả nghiên cứu của mình về chủng virus do Boss (1943) phân lập ñược, Jansen và Kunst ñã ñề nghị gọi tên bệnh là Duck virus enteritis (DVE) (OIE, 2000) [58] Bệnh dịch tả vịt còn có các tên gọi khác nhau như: Endenpest (Hà Lan), Pest du canard (Pháp), Enteupest (ðức) (Nguyễn Xuân Bình, 2006) [4]
Trang 14* Phân bố bệnh
Tại Châu Âu, bệnh dịch tả vịt đã được Devos phát hiện ở Bỉ năm 1964 Năm 1970, Gaudry phát hiện bệnh dịch tả vịt ở Pháp; Asplin phát hiện bệnh ở Anh Bela Toth và Voxapeer Suwathanaviroij cơng bố bệnh dịch tả vịt xảy ra
ở ðức Do sự lan rộng của virus cúm gia cầm nên chính phủ các nước châu
Âu, đặc biệt là ðức đã đề cao biện pháp cách ly thuỷ cầm bằng lưới trong khoảng thời gian từ 20/10/2005-15/12/2005 Tuy nhiên tỷ lệ chết đã tăng đột biến trong những ngày này Tổng cộng cĩ 17/124 (14%) lồi chim trưởng thành và 149/184 (81%) lồi chim 1 năm tuổi bị chết Phản ứng trung hồ sử dụng kháng huyết thanh dịch tả vịt đã phát hiện vịt và các lồi chim chết do bệnh dịch tả vịt (Kaleta E.F & cs, 2007) [53]
Tại Châu Mỹ, bệnh dịch tả vịt được chẩn đốn lần đầu tiên ở tây bán cầu vào năm 1967 từ một vùng sản xuất vịt thương phẩm tập trung tại hạt Suffolk, New York (Leibovitz & Hwang, 1967) [53] Vụ dịch đầu tiên xảy ra trên đàn thuỷ cầm hoang ở Mỹ xuất hiện vào tháng 1 và 2 năm 1973, tại hồ Andes, miền nam Dakota Vụ dịch này đã tấn cơng với sự tàn phá nhanh chĩng và khốc liệt Gần 40% của 100.000 lồi thuỷ cầm trú đơng, hầu hết là vịt trời đã bị chết Vào thời kỳ cao điểm của dịch, mỗi ngày chết hơn 1000 chim Tất cả những lồi thuỷ cầm đại diện tại hồ Andes đều bị gánh chịu bao gồm ngỗng Canada, vịt trời, vịt đen, vịt lai nhọn đuơi, vịt trời Mỹ, vịt gỗ, vịt
mỏ nhọn Mỹ đầu đỏ mắt vàng, vịt Nga và vịt Bắc Kinh Những lồi chim cịn sống sau vụ dịch ở hồ Andes đã phân tán rộng khắp vùng Bắc Mỹ Những mẫu máu được lấy từ những vịt sống sĩt ở hồ Andes đã chỉ ra rằng cĩ tới 30%
số vịt đã bị phơi nhiễm virus Tại tiểu bang Michigan (Mỹ) bệnh dịch tả vịt đã được báo cáo vào năm 1979 trên vịt Nga và vịt trời [55] Brand C.J., and D.E Docherty (1984) [38] đã xác nhận bệnh dịch tả vịt xảy ra ở Mỹ Năm 1993
Trang 15Tại Châu á, năm 1944 bệnh xảy ra ở ấn độ và tái phát vào năm 1963 Năm 1968, Jansen công bố bệnh xảy ra ở Trung Quốc Khi nghiên cứu về bệnh này, Mukerji xác nhận chủng virus của ấn độ và chủng virus của Hà Lan có cùng tắnh chất kháng nguyên Năm 1976, 1977 bệnh ựã phát ra ở Thái Lan gây thiệt hại tới 650.000 vịt (Voxapeer Suwathanaviroij, 1978) [65] Năm 1979 ựã
có báo cáo về sự xuất hiện bệnh dịch tả vịt ở ựàn vịt trời và vịt Muscovy
gà Vũ đình Tiếu và Mai Anh cho biết dùng vaccin dịch tả vịt ựể tiêm cho vịt có thể ngăn chặn ựược dịch Từ ựó bệnh dịch tả vịt chắnh thức ựược công nhận có tại Việt Nam Tiếp theo, dịch ựã phát ra ở Hà Nội, Thanh Hoá, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Nam Hà (cũ), Thái Bình, Nghệ An,
Hà Tĩnh, Quảng Bình, Cao Bằng, Hải Hưng (cũ)
Năm 1971, dịch lại phát ra ồ ạt ở các tỉnh Ninh Bình, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Hà Bắc (cũ) và thành phố Hải Phòng Nhờ có tiêm phòng vaccin nên diện dịch ựã bị thu hẹp lại, chỉ còn âm ỉ ở một số cơ sở chăn nuôi phân tán
Năm 1980, dịch phát ra mạnh mẽ ở Hà Nam Ninh (cũ), Thanh Hoá và ựồng bằng sông Cửu Long Từ ựó dịch lan ra tới tận Nghệ Tĩnh, Kiên Giang, Hậu Giang, đồng Tháp
Trang 16Bảng 2.1 Tình hình bệnh dịch tả vịt ở một số nước châu á Năm Quốc gia Số vịt mắc bệnh Số vịt chết
Trang 17Năm 1989, Phạm Thị Lan Thu, Thân Thị Hạnh [34] cho biết đàn vịt của Phú Khánh trong những năm 1980-1986 thường phát bệnh và lây lan nhanh ở nhiều nơi Các tác giả đã tiến hành phân lập virus dịch tả vịt trên đàn vịt ở Phú Khánh
Năm 1999, Nguyễn ðức Hiền [20] đã chẩn đốn xác định virus gây bệnh dịch tả vịt ở Cần Thơ và theo kết quả chẩn đốn lâm sàng bệnh dịch tả vịt vào năm 2000-2002 của chính tác giả và cộng sự thì trên 1176 vịt được mổ khám cĩ 455 vịt được chẩn đốn là mắc bệnh dịch tả vịt
Theo thống kê mới nhất của OIE (2006) [59]; Việt Nam là một trong những nước bị bệnh dịch tả vịt gây thiệt hại nặng nề nhất Năm 1999, bệnh đã làm chết 51.752 trong tổng số 123.851 vịt Năm 2000, cĩ 2.964 vịt chết vì bệnh dịch tả vịt trong tổng số 6.747 vịt Năm 2001 phát hiện cĩ 24.478 vịt chết trong 46.993 vịt Năm 2002, bệnh xảy ra ở 33.831 vịt gây chết 15.680 con và năm 2004 số vịt chết vì bệnh dịch tả vịt là 22.447 (xem bảng 2.1) Như vậy, bệnh dịch tả vịt là căn bệnh cần được quan tâm, nghiên cứu sâu nhằm gĩp phần giảm thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuơi
2.1.2 Truyền nhiễm học
2.1.2.1 Lồi m ắc bệnh
Bệnh dịch tả vịt là bệnh của nhiều lồi vịt: vịt trời, vịt mỏ nhọn, vịt đầu
đỏ, … Các lồi thuỷ cầm khác như ngan, ngỗng, thiên nga và một số lồi chim hoang dã cũng cảm nhiễm bệnh (Friend, 1973) [44], (Docherty D.E & Franson C.J., 1992) [41] Vịt là lồi cảm nhiễm nhất, các giống vịt ở mọi lứa tuổi đều cĩ thể mắc bệnh Tỷ lệ vịt mắc bệnh và chết cĩ thể lên tới 100% Mức độ cảm nhiễm cĩ thể khác nhau tùy theo giống vịt Lồi vịt nhọn đuơi được coi là ít cảm nhiễm nhất đối với bệnh (Sandhu T.S & Leibovitz L., 2003) [60] Theo Vandorssen (1955) [64] thì trong họ Anatideae, chỉ lồi vịt xám được coi là đề kháng với bệnh Các động vật khác như bồ câu, cơng và
Trang 18ñộng vật có vú không cảm thụ với bệnh
Kaleta EF & cs (2007) [50] cho biết tại vụ dịch ở châu Âu vào năm
2005, ngoài 34 loài thuộc bộ Anseriformes còn có thêm 14 loài thuỷ cầm cảm nhiễm với bệnh dịch tả vịt
Trong phòng thí nghiệm, vịt con là ñộng vật thí nghiệm cảm nhiễm nhất ñối với bệnh Virus dịch tả vịt có khả năng nhân lên ở gà nhỏ hơn 2 tuần tuổi (Jansen, 1968) [49]
2.1.2.2 Mùa v ụ phát bệnh
Bệnh dịch tả vịt xảy ra nhiều nhất vào tháng 4-6 Sự bùng nổ dịch bệnh phụ thuộc vào ñiều kiện thời tiết, mùa sinh sản của vịt và ảnh hưởng của nhân
tố stress (Sarmah R & Sarmah A.K., 1996) [61]
Theo Phạm Sỹ Lăng (2002) [28], ở Việt Nam, bệnh dịch tả vịt xảy ra quanh năm nhưng phát triển mạnh vào thời vụ chăn nuôi vịt và trùng với thời
vụ thu hoạch lúa: Vụ chiêm tháng 5-6, vụ mùa tháng 10-11
2.1.2.3 L ứa tuổi mắc bệnh
Bệnh xảy ra ở vịt mọi lứa tuổi, tuy nhiên vịt từ 15 ngày tuổi trở ñi bị nhiễm nhiều nhất (Nguyễn Xuân Bình, 2006) [4]
2.1.2.4 Ch ất chứa virus
ở vịt bị nhiễm bệnh, virus có trong máu, các cơ quan phủ tạng, nhiều nhất
là ở gan, lách và óc Tại Việt Nam ñã nghiên cứu sự nhân lên của virus ở cơ thể vịt bị gây nhiễm nhân tạo Sau khi gây nhiễm virus 24 giờ, virus ñã nhân lên, xâm nhập vào máu nhưng số lượng còn ít ðến 48 giờ, virus ñã xuất hiện trong nước mắt, nước mũi Và ñến 72 giờ, khi vịt bị bệnh nặng, bắt ñầu ỉa chảy thì tế bào niêm mạc ñường tiêu hoá do tác ñộng của virus bị huỷ hoại, tróc ra cùng với dịch tiết có nhiều virus, theo phân bài xuất ra ngoài (Trần Minh Châu, 1987)
Trang 19[11] Vịt bệnh mang virus rất lâu và có thể tái phát bệnh ở thể ẩn tính Người ta
có thể phát hiện bệnh bằng kiểm tra nốt rộp ở mặt dưới của lưỡi vịt
Shawky S., Schat K.A (2002) [63] cho biết virus dịch tả vịt có thể tiềm tàng trong cơ thể vịt và có khả năng tái hoạt ñộng trở lại Sau 3 tuần gây nhiễm không tìm thấy virus dịch tả vịt trong lỗ huyệt nhưng 7-9 tuần sau gây nhiễm, bằng phản ứng PCR, tác giả ñã phát hiện thấy DNA virus dịch tả vịt trong thần kinh trung ương, hạch lâm ba ngoại vi, lách, tuyến ức và túi Bursa
2.1.2.5 ðường xâm nhập và cách lây lan
Trong thí nghiệm, có thể gây bệnh bằng cách tiêm dưới da, bắp thịt, tiêm tĩnh mạch hoặc nhỏ mũi
Trong tự nhiên, ñường xâm nhập chủ yếu của virus dịch tả vịt là ñường tiêu hoá Vịt bệnh bài xuất căn bệnh theo phân, nước mắt, nước mũi làm ô nhiễm thức ăn nước uống và bệnh lây lan sang vịt khoẻ và các ñộng vật cảm nhiễm khác Jansen (1964) [48] cho biết, nguồn nước và các ñộng vật thuỷ sinh trong ñó cũng ñóng vai trò nhất ñịnh trong việc truyền lây căn bệnh Khi dịch xảy ra, việc bán chạy vịt bệnh, mổ thịt vịt ốm ñều làm cho bệnh lan ñi rất nhanh và xa Bệnh lây lan rất nhanh và mạnh theo phương thức truyền lây gián tiếp nhưng phương thức truyền lây trực tiếp từ mẹ sang con cũng có thể xảy ra (Burgess E.C & TM Yuill, 1981) [39]
2.1.3 Triệu chứng và bệnh tích
2.1.3.1 Tri ệu chứng
Thời gian nung bệnh ñối với bệnh dịch tả vịt là 3-4 ngày, có thể dài hơn hoặc ngắn hơn phụ thuộc vào bệnh lần ñầu tiên xảy ra hay ñã từng xảy ra ñối với ñàn vịt
Ở ñàn vịt con bệnh thường bắt ñầu bằng những dấu hiệu: Nhiều con tự nhiên lờ ñờ, không thích vận ñộng, không muốn xuống nước ở vịt lớn khi lùa
Trang 20ăn một số con rớt lại sau ñàn Bắt xem thấy chân có dấu hiệu liệt, thân nhiệt cao ở ñàn vịt ñẻ khi bệnh xuất hiện sản lượng trứng giảm xuống, có khi ngừng ñẻ hẳn Vịt bệnh thường ủ rũ, bỏ ăn, ñứng một chân, ñầu rúc vào cánh Trong ñàn vịt nhiều con có tiếng kêu khản ñặc Vịt thường sưng mi mắt, niêm mạc mắt ñỏ Lúc ñầu chảy nhiều nước mắt làm ướt cả vùng lông dưới mi mắt Sau nước mắt ñặc lại có màu vàng như mủ ñóng ñầy khoé mắt và có khi làm 2
mi mắt dính lại với nhau Vịt bệnh có khi khó thở, tiếng thở khò khè Từ mũi chảy ra chất niêm dịch lúc ñầu trong, sau ñặc lại Nước mũi khô, quánh lại quanh khoé mũi Nhiều con ñầu sưng to, sờ nắn có cảm giác ñầu mềm như quả chuối chín Hầu, cổ cũng có thể sưng do tổ chức liên kết dưới da bị phù thũng Lúc mới bị bệnh, vịt khát nên uống nhiều nước Sau vài ngày vịt ỉa chảy, phân rất loãng, có mùi khắm và có màu trắng xanh Hậu môn bẩn, lông dính bết ñầy phân (Nguyễn Như Thanh, 2001) [32]
Ngoài ra, bệnh dịch tả vịt còn có một số triệu chứng khác ñáng chú ý như: Vịt sợ ánh sáng, có biểu hiện thần kinh Vịt tì mỏ xuống ñất Vịt ñực bị
sa dương vật, niêm mạc có những vết loét Vịt ñẻ giảm sản lượng trứng mạnh (Phạm Quang Hùng, 2003) [24] Sau khi xuất hiện triệu chứng ñược 5 - 6 ngày, vịt bệnh gầy rạc, tứ chi liệt, nằm một chỗ, rũ cánh, thân nhiệt giảm dần rồi chết
2.1.3.2 B ệnh tích
Xác chết gầy, bẩn; da vùng ñầu, cổ, ngực, bụng, ñùi xuất huyết lấm tấm Tổ chức liên kết dưới da vùng ñầu, cổ thuỷ thũng, có dịch trong suốt hơi hồng hoặc hơi vàng Mổ khám các cơ quan nội tạng như gan, lách, thận, cơ tim thì thấy ở các cơ quan này ñều biểu hiện bệnh tích sưng, tụ huyết hoặc xuất huyết, ở gan có những ñiểm hoại tử màu trắng ñục, to bằng ñầu ñinh ghim hoặc to hơn (Trần Kim Anh, 2004) [2]
Trang 21Bệnh tích của bệnh dịch tả vịt đặc trưng là ở đường tiêu hố cĩ những chấm xuất huyết, nhiều nhất là ở cuống mề và trực tràng, bên trên phủ lớp màng giả khĩ bĩc Ruột non xuất huyết thành những vịng nhẫn nhìn từ ngồi vào thấy cĩ màu nâu hoặc tím rất đặc trưng (Trần Minh Châu, 1996) [12]
Phạm Quang Hùng (2003) [24] cho biết ở mỗi lứa tuổi vịt, bệnh lại thể hiện những đặc trưng riêng: Vịt bố mẹ bệnh tích chủ yếu là ở tuyến ức, xuất huyết mơ và tổn thương bộ máy sinh sản Cịn ở vịt con thì bệnh tích chủ yếu
ở các Lymphoid
Nguyễn ðức Hiền (2005) [21] cơng bố tỷ lệ bệnh tích đặc trưng trên vịt thực nghiệm, trong đĩ: Niêm mạc mắt xuất huyết (95,45%); phổi viêm, tụ máu, thuỷ thũng (95,45%); dạ dày tuyến xuất huyết (100%); ruột non xuất huyết viêm loét (100%); ruột già xuất huyết viêm loét (97,73%); lách tụ máu
cĩ nốt hoại tử và gan xuất huyết cĩ nốt hoại tử (100%)
2.1.4 Chẩn đốn
ðể chẩn đốn bệnh dịch tả vịt cĩ nhiều phương pháp được sử dụng, dưới đây là sơ đồ chẩn đốn bệnh dịch tả vịt theo tiêu chuẩn ngành của Bộ Nơng nghiệp và phát triển nơng thơn 10 TCN 815-2006 [8]
2.1.4.1 Ch ẩn đốn lâm sàng
Kiểm tra một số đặc điểm dịch tễ học, bệnh sử và truyền lây của bệnh như: Bệnh xảy ra ở vịt, ngan, ngỗng mọi lứa tuổi; bệnh lây lan nhanh và trầm trọng trong khoảng 2-3 ngày
Kiểm tra triệu chứng: Vịt giảm ăn, mất thăng bằng, ỉa phân lỗng, xù lơng Mắt vịt cĩ dử, mí mắt sưng, sợ ánh sáng, chảy nước mũi
Trang 22Sơ đồ 1 Sơ đồ chẩn đốn bệnh dịch tả vịt
ðặc điểm
Lấy mẫu bệnh phẩm
Phát hiện
Giám định (VN)
Trang 23Kiểm tra bệnh tích: Vịt trưởng thành cĩ hiện tượng gan bị bạc màu Con đực trưởng thành cĩ thể xảy ra hiện tượng dương vật bị thay đổi vị trí ở con cái quan sát thấy các nang trứng bị xuất huyết Mạch máu bị tổn thương, tổn thương hệ bạch huyết, thối hố nhu mơ, ống tiêu hố cĩ nhiều chất nhờn ðối với bệnh tích vi thể thấy xuất hiện các thể vùi nội nhân, thể vùi tế bào chất trong các biểu mơ của hệ thống tiêu hố
Chẩn đốn phân biệt bệnh dịch tả vịt với một số bệnh sau:
Bệnh viêm gan do virus: Bệnh chỉ tập trung ở vịt con từ 1-3 tuần tuổi Gan chủ yếu bị viêm, xuất huyết thành điểm, thành vệt, ít cĩ hiện tượng hoại tử
Bệnh tụ huyết trùng và phĩ thương hàn: Do Pasteurella và Salmonella gây nên ðây là những vi khuẩn thường trú trong cơ thể vịt, ngay cả ở vịt khoẻ Cho nên bệnh dịch tả vịt dễ ghép với hai bệnh này và gây khĩ khăn cho cơng việc chẩn đốn bệnh Tuy nhiên nếu là ổ dịch tụ huyết trùng hoặc phĩ thương hàn đơn thuần thì khi điều trị bằng kháng sinh đặc hiệu cĩ thể nhanh chĩng dập tắt dịch
- Ly tâm 2.000 vịng/15ph
- Lấy dịch trong ở trên
- Kiểm tra vơ trùng: Trên mơi trường nước thịt BHI, hoặc trên mơi trường thạch máu
Trang 24b Phân l ập virus
* Phân lập trên vịt con
Tiêm huyễn dịch bệnh phẩm ñã ñược xử lý như trên cho vịt con (0,7-1 kg) với liều 0,5 ml/con vào dưới da hay bắp lườn Nếu bệnh phẩm có virus dịch tả vịt, vịt sẽ biểu hiện triệu chứng, bệnh tích ñặc trưng của bệnh dịch tả vịt giống như ñã mô tả ở phần 2.1.3
* Phân lập trên trứng vịt có phôi
- Tiêm 0,2ml huyễn dịch bệnh phẩm ñã xử lý vào xoang niệu mô hoặc màng nhung niệu phôi vịt 11-12 ngày: 5 phôi/mẫu bệnh phẩm
- Trứng ñược ấp tiếp ở tủ ấp 370C Soi trứng Loại bỏ những phôi chết trong khoảng 24h sau khi tiêm
- Virus dịch tả vịt gây chết phôi sau 4-10 ngày với ñặc trưng: Xuất huyết lan rộng
- Thu hoạch gan phôi và nước niệu ñể giám ñịnh virus
* Phân lập trên tế bào xơ phôi vịt (Duck Embryo Fibroblast-DEF)
- Cấy tế bào DEF trên các lọ nuôi cấy T25 hoặc ñĩa nuôi cấy (ñĩa nuôi cấy 6 lỗ, 24 lỗ), sau 2-3 ngày tế bào mọc thành thảm (khoảng 70%) thì gây nhiễm huyễn dịch bệnh phẩm ñã xử lý: 500µl/lỗ hoặc lọ Việc cấy chuyển 2 lần là cần thiết trong quá trình phân lập
- Quan sát bệnh tích tế bào (CPE-Cytopathic pathogene effect): ñặc trưng với ñám tế bào to, tròn và trở nên hoại tử sau 2-4 ngày sau ñó
- Thu hoạch hỗn dịch tế bào, ñông tan, ly tâm và thu phần nước trong cho giám ñịnh virus
c Ph ương pháp giám ñịnh virus
* Phương pháp trung hoà trên trứng vịt có phôi (VN-Virus Neutralization):
Trang 25- Chuẩn bị:
+ Pha loãng virus phân lập: Nồng ñộ 10-1-10-9 với dung dịch PBS + Lô ñối chứng dương: Trộn kháng huyết thanh dương tính dịch tả vịt với các nồng ñộ virus ñã pha loãng theo tỷ lệ 1:1
+ Lô ñối chứng âm: Trộn huyết thanh âm tính với các nồng ñộ virus ñã pha loãng theo tỷ lệ 1:1
* Phương pháp trung hoà trên tế bào xơ phôi vịt (DEF):
- Chuẩn bị:
+ Tế bào DEF trên ñĩa nuôi cấy tế bào 96 lỗ ñã nuôi cấy ñược 2-3 ngày + Pha loãng virus phân lập: các nồng ñộ 10-1-10-9 với môi trường nuôi cấy MEM
+ Lô ñối chứng dương: Trộn kháng huyết thanh dương tính dịch tả vịt
Trang 26với các nồng ựộ virus ựã pha loãng theo tỷ lệ 1:1
+ Lô ựối chứng âm: trộn huyết thanh âm tắnh với các nồng ựộ virus ựã pha loãng theo tỷ lệ 1:1
- Tiến hành:
+ Gây nhiễm hỗn hợp trên vào ựĩa ựã nuôi cấy tế bào DEF (ựĩa 96 lỗ), 100ộl/lỗ, 8 lỗ/nồng ựộ
+ ủ ựĩa nuôi cấy ở tủ ấm CO2 ở 370C/1h
+ đổ bỏ hỗn hợp trên, cho môi trường nuôi cấy MEM 100ộl/lỗ
+ Tiếp tục ủ ựĩa nuôi cấy ở tủ ấm CO2 ở 370C
+ Kiểm tra bệnh lý tế bào (CPE) trong 3-7 ngày với biểu hiện tế bào co tròn và tụ lại thành ựám, thời gian lâu tế bào có hiện tượng hoại tử
- đánh giá kết quả:
+ Tắnh toán chỉ số trung hoà NI (neutralization index) Nếu thuỷ cầm chưa tiêm phòng, phát hiện có kháng thể dịch tả vịt (bằng phương pháp trung hoà SN), kết luận thủy cầm ựã nhiễm virus dịch tả vịt
2.1.4.3 Ch ẩn ựoán bằng phương pháp PCR (Polymerase Chain Reaction)
Năm 1999, Pritchard L.I & cs [56] ựã phát triển phương pháp PCR ựể phục vụ cho việc phân lập virus dịch tả vịt ở Việt Nam Phương pháp này cho phép phân biệt nhanh và chắnh xác giữa bệnh dịch tả vịt với một số bệnh do Herpesvirus gia cầm khác gây nên như bệnh Marek, bệnh viêm thanh khắ quản truyền nhiễm và bệnh do Herpesvirus gây ra ở ngỗng
Phương pháp PCR hay phản ứng chuỗi polymerase là một phương pháp tạo dòng invitro, không cần sự hiện diện của tế bào PCR là một phản ứng sinh hoá phụ thuộc nhiệt ựộ, dựa trên nguyên tắc sử dụng ựoạn mồi chuyên
Trang 27biệt ñể tổng hợp nên một mạch DNA mới bổ sung với ñoạn DNA khuôn mẫu Phương pháp PCR dựa trên hoạt ñộng của DNA polymerase trong quá trình tổng hợp DNA mới tử mạch khuôn Tất cả những DNA polymerase ñều cần những ñoạn mồi, là những ñoạn DNA ngắn có khả năng bắt cặp bổ sung với một ñầu của mạch khuôn ðoạn mồi này sau ñó sẽ ñược nối dài ra nhờ hoạt ñộng của DNA polymerase ñể hình thành một mạch mới hoàn chỉnh (Hồ Huỳnh Thuỳ Dương, 2003) [14]; (Võ Thị Thương Lan, 2002) [26]
Một phản ứng PCR gồm có 6 thành phần tham gia:
1) DNA làm khuôn;
2) Hai ñoạn mồi (bao gồm mồi xuôi và mồi ngược);
3) Enzym DNA-polymerase chịu nhiệt;
4) Môi trường ñệm cung cấp ion Magiê (Mg++);
5) Phần nucleotid ở dạng deoxynucleotid (ký hiệu dNTP);
6) Nước tinh khiết
Có 3 giai ñoạn (ba bước ñiều chỉnh nhiệt ñộ) cho 1 chu kỳ:
1) Bung liên k ết của DNA: ðược thực hiện ở nhiệt ñộ 90°C- 98°C trong
vài giây ñến vài phút, các phân tử DNA xoắn kép sẽ bị tách ra, tạo nên các sợi ñơn dùng ñể làm khuôn cho các ñoạn mồi bám vào và enzym DNA- polymerase xúc tác tổng hợp
2) M ồi bám (hay còn gọi là ủ với mồi): Nhiệt ñộ ñược hạ xuống 37-
68°C, ñể các ñoạn mồi bám vào với các trình tự bổ sung tương ứng trên các phân tử DNA làm khuôn
3) T ổng hợp (hay còn gọi là kéo dài): Nhiệt ñộ ñược nâng lên 68°C-
72°C trong vài chục giây ñến vài chục phút, ñể các sợi DNA vừa ñược tổng
Trang 28hợp xoắn vào nhau tạo nên DNA sợi kép, chính là sản phẩm PCR
Cứ như vậy, phản ứng xảy ra trong 25- 35- 40 chu kỳ Sau chu kỳ cuối cùng, có một chu kỳ bổ sung ñược duy trì ở nhiệt ñộ 72°C trong 5- 10 phút sao cho tất cả các sợi ñơn DNA mới xoắn lại, tạo nên sản phẩm PCR là hỗn hợp các chuỗi xoắn kép DNA Cuối cùng, nhiệt ñộ hạ xuống 4°C ñể bảo quản sản phẩm Kết quả là từ một ñoạn DNA bất kỳ có thể ñược nhân lên nhanh chóng hàng tỷ lần (2n sau n chu kỳ) mà không cần ñến tế bào sinh vật
Sản phẩm của PCR là hỗn hợp các chuỗi xoắn kép DNA ñược kiểm tra bằng cách chạy ñiện di trên thạch agarose nồng ñộ 0,8%-2%,
Kỹ thuật ñiện di trên gel là hết sức quan trọng ñối với người làm kỹ thuật di truyền, vì ñó là cách chủ yếu làm cho các ñoạn acid nucleic hiển thị trực tiếp Phương pháp này dựa trên một ñặc tính là các phân tử acid nucleic ở
pH trung tính, chúng tích ñiện âm nhờ các nhóm phosphat nằm trên khung phosphodiester của các sợi acid nucleic Khi ñặt chúng vào ñiện trường, các phân tử acid nucleic sẽ chuyển dịch về cực dương Khi tiến hành trên môi trường thạch agarose hay các loại thạch ñặc biệt khác, các phân tử acid nucleic tuỳ theo kích thước sẽ chuyển dịch với các tốc ñộ khác nhau: loại có phân tử lượng lớn chuyển dịch chậm, loại bé hơn sẽ chuyển dịch nhanh hơn Kiểu loại gel dùng trong ñiện di có tác dụng rất quan trọng ñối với mức ñộ phân tách các phân tử acid nucleic, nó phụ thuộc vào cấu trúc và kích cỡ của các lỗ có trong gel Có hai loại gel ñược sử dụng phổ biến là agarose và polyacrylamid Agarose ñược chiết xuất từ tảo biển, có thể mua ở dạng bột khô, bị nóng chảy ở nhiệt ñộ trên 45°C, trong dung dịch ñệm ở nồng ñộ thích hợp, thường trong khoảng 0,3-2,0% (w/v) Khi làm nguội (dưới 45°C), agarose ñông lại thành gel Gel agarose thường ñược dùng ñể chạy trong máy ñiện di Gel polyacrylamid thường ñược dùng ñể phân tách các phân tử acid
Trang 29nucleic cĩ kích thước nhỏ hơn ðiện di được thực hiện bằng cách đưa các mẫu acid nucleic vào gel và đặt một điện áp vào đĩ Trạng thái đĩ được duy trì cho đến khi chất nhuộm đánh dấu (xanh Bromophenol) bổ sung vào mẫu trước khi đưa vào gel chạy tới đầu cuối của gel Các acid nucleic ở trên gel thường hiển thị ở dạng băng màu trắng, cĩ thể chụp ảnh được và ghi nhận lại khi nhuộm bằng Ethidium bromide và được quan sát dưới ánh sáng tia tử ngoại Kích thước các băng DNA được so sánh với chỉ thị di truyền DNA (DNA marker) được cho vào cùng lúc với sản phẩm PCR ở một giếng riêng biệt, cạnh các giếng dùng phát hiện các sản phẩm PCR (Lê Thanh Hồ, 2002) [22]
Theo Vũ Minh Thục (2004) [35], nhược điểm chính của phương pháp PCR là sự nhạy cảm khác thường của chúng, làm cho chúng rất dễ cĩ kết quả
“dương tính sai”, và thường diễn ra bởi một số lượng nhỏ DNA bị nhiễm chéo trong phịng thí nghiệm Tuy nhiên, riêng với bệnh dịch tả vịt, Hansen (1999) [46] đã khẳng định sự đặc trưng của đoạn mồi đã được kiểm tra với bộ gen khuơn mẫu của các loại Herpesvirus gây bệnh ở gia cầm khác như đại bàng, chim câu, gà, Kết quả cho thấy sự khuếch đại vẫn khơng cho sản phẩm ðiều này cĩ nghĩa là phản ứng này đặc hiệu rất cao cho DNA của virus dịch
tả vịt Với hai đoạn mồi sẽ cĩ khả năng phát hiện 1 fg của DNA từ virus dịch
tả vịt và phản ứng PCR được đánh giá là nhạy bén hơn gấp 20 lần so với việc chẩn đốn bệnh dịch tả vịt bằng nuơi cấy tế bào
2.1.5 Biện pháp can thiệp và phịng bệnh dịch tả vịt
2.1.5.1 Bi ện pháp can thiệp
Bệnh dịch tả vịt là bệnh khơng chữa được Nên giết chết và chơn sâu những vịt bị bệnh chết hoặc bệnh quá nặng Tuy nhiên với đàn vịt mới chớm mắc vài con thì cĩ thể can thiệp bằng cách vaccin nhược độc cho tồn đàn Những vịt nào đã bị nhiễm virus thì sẽ phát bệnh ngay, cịn những vịt chưa bị
Trang 30nhiễm virus sẽ ñược bảo hộ bằng hiện tượng cản nhiễm Nếu tiêm sớm và kết hợp với chăm sóc ñàn vịt tốt thì có thể cứu ñược tới 90% vịt (Trần Minh Châu, 1980) [9] Nên tăng cường thêm các biện pháp chăm sóc bồi dưỡng nhằm tăng cường sức ñề kháng cho vịt (sử dụng chất ñiện giải và vitamin)
Theo Archie Hunter (2002) [3] nếu có ổ dịch xảy ra, vịt khoẻ mạnh có tiếp xúc với mầm bệnh phải ñược tiêm phòng vì vịt phát triển miễn dịch chỉ trong một ngày sau khi tiêm phòng
2.1.5.2 Phòng b ệnh
* V ệ sinh phòng bệnh
ðối với những nơi chưa có bệnh tốt nhất nên tự túc con giống Khi tạo ñàn không nên nhập chung nhiều ñàn nhỏ lại Lò ấp trứng cũng không nên ấp trứng của quá nhiều ñàn Sau mỗi lần ấp trứng cần tẩy uế lò ấp rồi sát trùng kỹ bằng hơi formol (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [31]
Lê Hồng Mận (2005) [30] khuyến cáo: Không chăn vịt, ngan, ngỗng từ nơi có nhiều nguồn nước chảy tới ñể ñề phòng sự lây nhiễm qua nguồn nước Tuyệt ñối không cho các loại gia cầm, thuỷ cầm khác vào trại Nên tẩy uế sát trùng ñịnh kỳ chuồng nuôi
Phạm Quang Hùng (2003) [24] nêu một số nguyên tắc phòng bệnh bằng vệ sinh như sau:
- Chuồng trại vịt cách xa khu dân cư Cổng trại phải có hố sát trùng (thường sát trùng bằng Cloramin 3%) Hạn chế người ñi lại, người ra vào trại phải sát trùng giày dép, tay chân
- ðiều kiện nuôi dưỡng tốt, máng ăn, máng uống phải sạch sẽ Thức ăn, nước uống phải vệ sinh Thực hiện tiêu ñộc, sát trùng dụng cụ, chuồng trại giữa hai lứa vịt Chú ý tiêu diệt chuột và các loài gặm nhấm quanh khu vực trại
Trang 31- Vịt mới mua về phải nuôi cách ly ít nhất 3 tuần lễ
* Tiêm phòng b ằng vaccin
- Vaccin ñể phòng bệnh dịch tả vịt có 2 loại là vaccin vô hoạt và vaccin nhược ñộc
+ Vaccin vô hoạt:
ðể vô hoạt virus dịch tả vịt, trước ñây thường dùng hoá chất là formol, gần ñây sử dụng chất BPC (β propiolactone) Tại Việt Nam ñã chế thử vaccin
vô hoạt như: vaccin dịch tả vịt gan máu glyxerin tím, vaccin formol gan Theo OIE (2000) [58] vaccin vô hoạt tạo ñược miễn dịch cho ñàn vịt nhưng hiệu lực thấp hơn so với vaccin nhược ñộc, hiện nay vaccin vô hoạt chỉ sử dụng trong phòng thí nghiệm, chưa ñược áp dụng trong sản xuất
+ Vaccin nhược ñộc:
Ngày nay người ta thường sử dụng chủng virus vaccin là virus nhược ñộc dịch tả vịt thích nghi trên phôi vịt và virus dịch tả vịt chủng Jansen thích nghi trên phôi gà và trên nuôi tế bào Fibroblast phôi gà một lớp ðây là 2 loại vaccin có ñộ an toàn cao và hiệu lực tốt, thời gian miễn dịch dài, sau khi tiêm vaccin 9 tháng vịt vẫn còn miễn dịch Vaccin sử dụng an toàn với cả vịt con một ngày tuổi Vaccin ñược chế biến dưới 2 dạng vaccin tươi và vaccin ñông khô (Lê Hồng Mận 1999) [29]
Trang 32Nguyễn Như Thanh (2001) [32], Phạm Quang Hùng (2003) [24] ñề nghị tiêm phòng ngay sau khi vịt nở từ ñàn vịt bố mẹ ñã ñược phòng bệnh dịch tả vịt Sau 45 ngày cần tiêm lại và sau 1 năm thì cứ 6 tháng lại tiêm phòng 1lần Lê Hồng Mận (1999) [29] cho rằng cần tiến hành tiêm phòng 2 lần/năm ñối với vịt lớn; lần 1: cuối xuân ñầu hè; lần 2: sau lần thứ nhất 6 tháng Ngoài ra tác giả Trần Minh Châu còn ñề nghị tiêm củng cố cho vịt con 10 ngày tuổi bằng vaccin viêm gan ñể ñảm bảo cho ñàn vịt nuôi tại những nơi bị ô nhiễm nặng
+ Theo Quyết ñịnh số 63/2005/Qð-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn [5] việc tiêm phòng vaccin bắt buộc ñối với bệnh dịch tả vịt gồm:
ðối tượng tiêm phòng: Vịt, ngan các lứa tuổi
Phạm vi tiêm phòng: Các cơ sở chăn nuôi tập trung, chăn nuôi hộ gia ñình trong phạm vi cả nước
Tiêm phòng ñịnh kỳ mỗi năm 2 lần, tuỳ theo lứa tuổi
Liều lượng, ñường tiêm, gia cầm trong diện tiêm theo sự hướng dẫn của nhà sản xuất vaccin
+ ðối với trường hợp ñàn vịt bố mẹ ñược tiêm vaccin phòng bệnh dịch
tả vịt, Nguyễn Xuân Bình (2006) [4] cho rằng không cần tiêm cho vịt con trước 2 tuần tuổi Do trong thời gian này, trong vịt con vẫn còn tồn tại kháng thể ñược truyền qua lòng ñỏ trứng nên có khả năng xảy ra phản ứng trung hoà làm giảm hiệu lực của vaccin
2.1.5.3 M ột số thông tin về vaccin dịch tả vịt ở Việt Nam
Năm 1969, chủng virus nhược ñộc dịch tả vịt thích nghi trên phôi vịt ñã ñược sử dụng ñể sản xuất vaccin phòng bệnh dịch tả vịt ở Việt Nam Khi nuôi cấy trên phôi vịt, virus gây bệnh tích phôi ổn ñịnh, thời gian chết phôi trung bình là 100 ± 24 giờ Trong nước niệu nang, hàm lượng virus có ELD50 lúc 72
Trang 33giờ là 10 -4,75/0,2 ml Vaccin khi sử dụng pha 1/200 tiêm vào dưới da cho vịt con với liều 0,2 ml/con và tiêm cho vịt lớn với liều 1 ml/con Vaccin tạo ñược miễn dịch tốt cho ñàn vịt Vịt con 1 ngày tuổi sau khi tiêm vaccin ñược bảo
hộ chắc chắn 100% ñến 45 ngày tuổi, vịt lớn kéo dài miễn dịch tới 9 tháng
Trần Minh Châu (1987) [11] ñã nghiên cứu chủng vaccin nhược ñộc dịch tả vịt thích nghi trên phôi gà Tác giả cho biết, chủng virus này gây chết phôi gà rất ổn ñịnh, thời gian chết phôi 72-120 giờ Virus vaccin có ELD50 từ
hiệu lực cần nghiên cứu thêm Tác giả còn nghiên cứu chế thử 4 loại vaccin
vô hoạt và ñưa ra kết luận: Vaccin vô hoạt cũng tạo ñược miễn dịch cho ñàn vịt nhưng ñáp ứng miễn dịch không mạnh mà giá thành lại cao
Lê Văn Lãnh (1991) [27] nghiên cứu ñặc tính sinh học của virus vaccin dịch tả vịt chủng Jansen và cho biết virus vaccin có tính ổn ñịnh khi nuôi cấy trên phôi gà và tế bào xơ phôi gà 1 lớp; chỉ số ELD50 biến ñộng trong khoảng
từ 10-3,31/0,2 ml ñến 10-3,36/0,2 ml; CPE50 biến ñộng từ 10-4,36 ñến 10-4,54 Vaccin an toàn cho mọi lứa tuổi vịt, hiệu lực của vaccin cao Vaccin ñược chế biến dưới 2 dạng là vaccin tươi và vaccin ñông khô
Vaccin tươi thường ñược ñóng ở ampoul 100 liều, chỉ bảo quản tối ña
là 4 tháng ở kho lạnh và phải dùng không quá 6 giờ khi ñã pha loãng vaccin bằng nước sinh lý Vaccin ñông khô thì thời gian bảo quản dài hơn (khoảng
1 năm) và ít bị mất hiệu lực khi gặp ñiều kiện bất lợi Vaccin ñông khô có thể ñóng ampoul 100 liều hoặc chai có từ 500-1000 liều (Nguyễn Như Thanh, 2001) [32] Tuỳ theo liều ñóng vaccin mà pha loãng với nước sinh lý
ñủ cho 0,2ml/vịt con và 0,3-0,5ml/vịt lớn ðường tiêm chủ yếu là dưới da hoặc bắp lườn
Nguyễn ðức Hiền (1999) [20] nghiên cứu và kết luận phương pháp nhỏ
Trang 34mắt hoặc tiêm bắp hoặc kết hợp cả hai ñều cho ñáp ứng miễn dịch tương ñối giống nhau và ñạt tỷ lệ bảo hộ hơn 70%
Nguyễn Ngọc Huân (2006) [23] khuyến cáo sử dụng vaccin dịch tả vịt ñông khô của Navetco trong quy trình thú y an toàn dịch bệnh áp dụng cho vịt nuôi ở nông hộ
Theo Quyết ñịnh số 04/2006/Qð-BNN [7] ngày 12 tháng 01 năm 2006 công bố danh mục vaccin, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hoá chất dùng trong thú y ñược phép lưu hành tại Việt Nam thì tại Việt Nam ñang lưu hành 2 dòng sản phẩm vaccin phòng bệnh dịch tả vịt ñều ở dạng ñông khô ñóng lọ từ 100 ñến 1000 liều do xí nghiệp thuốc thú y trung ương, công ty thuốc thú y trung ương và phân viện thú y miền trung sản xuất, ngoài ra còn một số sñược nhập khẩu của Marial, Fizer
Từ năm 2000 ñến nay, bộ môn VSV-TN-BL trường ðHNNI ñang có những nghiên cứu về việc chế tạo vaccin mới với chủng virus cường ñộc dịch
tả vịt DP-EG-2000 có xuất xứ từ nước ngoài Những kết quả thử nghiệm ban ñầu khá khả quan, dần ñáp ứng ñược yêu cầu trong nghiên cứu và sản xuất
2.2 Bệnh dịch tả vịt
2.2.1 Lịch sử về bệnh viêm gan vịt (DHV)
Bệnh viêm gan do virut của vịt ñược phát hiện vào năm 1945 ở Mỹ , Levine và Hofstand (1945)[46] quan sát thấy một bệnh lạ xảy ra trên ñàn vịt con một tuần tuổi, vịt con chết nhanh ngay sau khi có biểu hiện triệu chứng, bệnh tích ñặc trưng là gan sưng lốm ñốm xuất huyết
Vào mùa xuân năm 1949 Levine và Fabricant [47] theo dõi 750.000 con vịt ở ñảo Long ở Mỹ thấy một bệnh tương tự xảy ra trên các ñàn vịt con trắng Bắc Kinh, bệnh xuất hiện ñầu tiên ở những vịt 2-3 tuần tuổi, bệnh lây lan từ trại vịt này sang trại vịt khác, có tới 70 trại bị thiệt hại nghiêm trọng, có
Trang 35trại tỷ lệ chết lên tới 95% Cuối dịch chỉ còn sót một vài trại khi bị nhiễm bệnh tỷ lệ chết thấp khoảng 15% Năm 1950 cũng là Levine và Fabricant [48]
ñã phân lập ñược virut viêm gan vịt typ I bằng cách nuôi cấy mầm bệnh trên
tế bào xơ phôi gà 1 lớp
Năm 1953 người ta phát hiện bệnh ở các bang khác của nước Mỹ, năm
1965 tại Norfolk của Anh, trên những ñàn vịt con ñã ñược tiêm phòng vaccin nhược ñộc Viêm gan vịt typ I, bệnh Viêm gan vịt vẫn xảy ra Bằng phương pháp bảo hộ chéo trên vịt con, người ta phân lập ñược virut Viêm gan vịt typ
II (Asplin, 1953)[17] Một thời gian sau, trên các ñàn vịt không thấy bệnh xuất hiện nhưng vào năm 1983, bệnh lại xảy ra trên 3 ñàn vịt ở Norfolk (Anh), tỷ lệ chết ñến 50% ở vịt 6-14 ngày tuổi, 10-25% ở vịt 3-6 tuần tuổi Bệnh sảy ra lẻ tẻ, trong ñàn vịt chỉ có một số bị nhiễm bệnh
ðến thời ñiểm này bệnh Viêm gan vịt do virut Viêm gan vịt typ II chỉ thấy xảy ra ở nước Anh, chưa có báo cáo nào về tình hình bệnh ở các nước khác
Năm 1969 Toth [67] cho biết ở ñảo Long của Mỹ, bệnh Viêm gan vịt vẫn xảy ra trên ñàn vịt con ñã ñược tiêm phòng bằng vaccin nhược ñộc typ I Bệnh xảy ra nhẹ hơn so với bệnh Viêm gan vịt typ I, tỷ lệ chết của vịt con hiếm khi vượt quá 30% Haider và Calnek (1979)[33] ñã ñặt tên virut này là virut viêm gan vịt typ III Cho ñến nay virut Viêm gan vịt typ III mới chỉ ñược công bố ở Mỹ
Ở Việt Nam, bệnh viêm gan vịt do virut xảy ra nhiều, tỷ lệ chết cao gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi thuỷ cầm Những nghiên cứu về bệnh Viêm gan vịt cũng như việc nghiên cứu ñưa ra vaccin phòng bệnh còn nhiều hạn chế
Năm 1983, Trần Minh Châu và cộng sự [14]ñã phân lập ñược một chủng virut cường ñộc tại một số trại nuôi vịt ở tỉnh Hà Tây, Hà Nam, Thái Bình, ñồng bằng sông Cửu Long
Có nhiều nghiên cứu về bệnh Viêm gan vịt và biện pháp phòng bệnh
Trang 36cho vịt Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn đức Lưu, Trần Thị Thu Hiền (2001) [7] ựã nghiên cứu sử dụng kháng thể viêm gan vịt phòng trị bệnh cho ngan, vịt Nguyễn Văn Cảm, Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Khánh Ly (2001)[11] nghiên cứu những biến ựổi bệnh lý của bệnh viêm gan vịt
2.2.2 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm gan vịt trong và ngoài nước
Ở Việt Nam, từ năm 1978 Trần Minh Châu[13] ựã nghi có bệnh viêm gan vịt , nhưng lúc ựó chưa phân lập ựược mầm bệnh Năm 1979-1983, bệnh xảy ra ở nhiều ựịa phương làm chết rất nhiều vịt, ựặc biệt vụ dịch lớn sảy ra ở đông Anh, Hà Nội năm1979-1980 (Trần Minh Châu, Nguyễn Thu Hồng, 1985)[14] Theo Lê Thanh Hòa, Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên (1984)[4] cho biết : ở Gia Lâm, Hà Nội năm 1983 bệnh viêm gan do virut của vịt ựã xảy ra làm chết hàng nghìn vịt con
Năm 1983, Trần Minh Châu [14] và cộng sự ựã phân lập ựược một chủng virut cường ựộc tại một trại nuôi vịt ở Hà Sơn Bình Qua nuôi cấy trên phôi gà, chủng virut này yếu ựi không gây ựược bệnh cho vịt con nhưng vẫn gây ựược miễn dịch nên có thể dùng ựể chế vaccin
Năm 1985, Trần Minh Châu và Nguyễn Thu Hồng [14] nghiên cứu thăm dò chế tạo chủng virut nhược ựộc viêm gan vịt bằng chủng virut phân lập tại ựịa phương các tác giả cho biết qua nhiều ựời tiếp truyền phôi gà, chủng virut ựã giảm ựộc với vịt con và cho miễn dịch tốt
Theo Nguyễn Văn Cảm và cộng sự (2001) [11], từ tháng 1 ựến tháng 6 năm 2001 qua ựiều tra 12 ổ dịch tại các ựịa phương: Hưng Yên, Hà Tây, Hà Nam, Hà Nội, Tuyên Quang ựã cho kết luận ựó chắnh là bệnh viêm gan do virut của vịt với tỷ lệ nhiễm trong ựàn tới 100%, tỷ lệ chết từ 48,57% ựến 90%
Theo Nguyễn Hữu Vũ và cộng sự (2001) [7] sáu tháng ựầu năm 2001
số vịt, ngan con chết vì bệnh viêm gan do virut của vịt ở các tỉnh Hà Nam, Hà Tây, Hưng Yên, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Hà Nội lên tới hàng nghìn con Tại
Trang 37Nam ðịnh xảy ra một ổ dịch viêm gan do virut làm 10.000 con vịt con bị bệnh, trong ñó vịt chết và sử lý là 7.000 con
Nguyễn ðức Lưu, Vũ Như Quán (2002) [6] cho biết ở các tỉnh ñồng bằng Nam Bộ, bệnh viêm gan do virut của vịt xảy ra ở nhiều nơi gây thiệt hại nặng nề, nhưng ñến nay vẫn chưa có thông báo chính thức nào
Ở trong nước hiện nay, vaccin Viêm gan vịt ñược TS Trần Thị Liên nghiên cứu thành công và ñăng ký sản xuất tại Xí nghiệp thuốc thú y trung ương , ñể phòng bệnh cho vịt tại các ñịa phương cho kết quả tốt
2.2.3 Virut học bệnh Viêm gan vịt
2.2.3.1 Hình thái và phân lo ại virut
- Hình thái:Virut Viêm gan vịt là một ARN virut rất nhỏ, xuyên qua màng lọc Beckefeld và Seitz Theo Reuss 1959[64], dưới kính hiển vi ñiện tử virut là những hạt tròn bề mặt sù sì, kích thước từ 20-40nm Virut thuộc loại không có vỏ bọc nên không mẫn cảm với Ete và Chloroform, do ñó người ta thường dùng các chất sát trùng Formol 3%, NaOH 3%, nước vôi ñể diệt virut Capxit của virut gồm 32 capsome hợp thành cấu trúc hình khối bao bọc lấy sợi ARN nằm cuộn tròn ở giữa ðây là vật liệu di truyền và gây nhiễm của virut Khi virut xâm nhập vào tế bào, virut thực hiện quá trình nhân lên trong
tế bào bị nhiễm Chính ARN ñó lập tức tạo thành ARNm ñiều khiển sinh tổng
hợp axit nucleic và protein của virut
Virut có sức ñề kháng rất lớn với ñiều kiện ngoại cảnh, có khả năng tồn tại 10 tuần trong ñàn vịt bị nhiễm, hơn 37 ngày trong phân ẩm (Asplin, 1961) Trong ñiều kiện lạnh virut tồn tại rất lâu ở 2-40C, virut tồn tại ñược 700 ngày Theo Schyusn năm 1957 khi làm lạnh ñến -380C thì giữ ñược từ 8 tháng trở lên Virut bị vô hoạt bởi Formalin 1% và NaOH 2% ,vì vậy người ta thường dùng 2 chất sát trùng này ñể tiêu ñộc chuồng trại
- Phân loại: Virut Viêm gan vịt nằm trong họ Picornaviridae, họ này
Trang 38chứa hầu hết các loại virut gây hại cho ñộng vật, cách ñặt tên xuất phát từ tính chất nhỏ bé của virut (Pico)
Virut Viêm gan vịt có 3 type:
Type I: Enterovirut
Type II: Astrovirut
Type III: Picornavirut
2.2.3.2 ðặc tính sinh học của virut
* ðặc tính kháng nguyên
Virut Viêm gan vịt không làm ngưng kết hồng cầu gà, thỏ, cừu, vịt, chuột lang, chuột nhà, chuột ñồng do không có khả năng ngưng kết hồng cầu nên ñã cho phép phân biệt nó với virut Newcastle
* ðặc tính gây bệnh và ñộc lực của virut
Trong tự nhiên virut Viêm gan vịt gây bệnh cho vịt từ 1-3 tuần tuổi cũng
có trường hợp phát ra từ vịt mới nở 12 giờ hoặc vịt lớn 5-6 tuần Ngoài ra ngan cũng mắc bệnh Viêm gan vịt ñặc biệt là ngan Pháp, ngỗng và một số loài chim nước như vịt trời, vịt trưởng thành và một số gia cầm khác không mắc
Về tính mẫn cảm theo ñộ tuổi với vịt con ñược Kapp và cộng sự năm
1967 ñã giải thích như sau: ngay sau khi nở trong gan của vịt con có nhiều tế bào gan gọi là tế bào sáng (Light- Cell) và virut trước tiên tấn công vào tế bào gan tối (Dark- Cell) Số lượng các tế bào này ngày càng thay thế cho tế bào gan sáng thì tính mẫn cảm của virut ñối với vịt ngày càng giảm dần Thời gian chuyển hóa cấu trúc gan này khoảng 4-6 tuần hoàn toàn phù hợp với giới hạn tuổi mắc bệnh Viêm gan vịt Những vịt từ 5-6 tuần tuổi hoặc lớn hơn vẫn bị mắc bệnh nặng ñược giải thích: các tế bào gan bị tổn thất và các tế bào gan sáng lại chiếm ưu thế một lần nữa
Trong phòng thí nghiệm dùng vịt con từ 1-7 ngày tuổi làm ñộng vật thí nghiệm các ñộng vật khác như thỏ, chuột lang, chuột bạch… ñều không mẫn
Trang 39cảm với bệnh Ngoài ra virut còn gây nhiễm cho phôi vịt 10-14 ngày tuổi hoặc phôi gà 8-10 ngày tuổi, ở các hiệu giá khác nhau tuỳ thuộc vào ñộc lực của virut
Virut Viêm gan vịt cường ñộc khi cấy truyền trên vịt con thì ñộc lực tăng lên Nhưng nếu cấy truyền nhiều ñời trên phôi gà, phôi vịt thì ñộc lực giảm ñi không còn khả năng gây bệnh trở thành giống virut nhược ñộc cụ thể
là virut Type I và Type II cấy truyền nhiều ñời qua phôi gà, virut Type III cấy truyền nhiều ñời qua phôi vịt Trong thiên nhiên có một số chủng virut Viêm gan vịt có ñộc lực yếu, nó có thể không gây chết phôi ở những lần cấy truyền ñầu tiên (Asplin (1958) [17]; Reuss (1959) [64])
* ðặc tính nuôi cấy
Virut cường ñộc Viêm gan vịt có trong tất cả các cơ quan, mô của vịt con mắc bệnh, tập trung nhiều nhất ở gan, lách, ñại não
- Nuôi cấy trên ñộng vật cảm thụ
Virut Viêm gan vịt cường ñộc phát triển tốt trên cơ thể vịt 1-7 ngày tuổi Thỏ, chuột lang, chuột bạch, người…không mẫn cảm với virut Viêm gan vịt (Reuss, 1959) [64] Người ta dùng huyễn dịch chứa virut Viêm gan vịt ñem tiêm dưới da, bắp thịt, cho uống, nhỏ mắt, nhỏ mũi, sau 2-4 ngày vịt có triệu chứng ñặc trưng Mổ khám bệnh tích ñiển hình ở gan, gan sưng nhũn, dễ bị nát khi ấn nhẹ, trên bề mặt có nhiều ñiểm xuất huyết, ñôi khi có ñiểm hoại tử vàng xen kẽ, lách sưng, có ñiểm hoại tử chấm trắng, thận bị xung huyết Quan sát bệnh tích vi thể thấy chủ yếu có biến ñổi ở gan Trong tế bào gan có nhiều ñiểm hoại tử, tăng sinh ống mật, các mạch máu bị sưng, các tế bào gan bị tích mỡ, một số trường hợp nguyên sinh chất tế bào gan xuất hiện thể bao hàm
- Nuôi cấy trên phôi trứng
Virut Viêm gan vịt thích ứng trên phôi vịt 10-14 ngày tuổi, phôi gà
8-10 ngày tuổi Nhiều tác giả ñã ứng dụng phương pháp này trong quá trình
Trang 40phân lập virut Năm 1950 Levine và Fabricant[47], sau ñó Asplin[16], Lauchlan 1954, Reuss 1959[64]…ñã sử dụng phương pháp này ñể phân lập virut dùng huyễn dịch các cơ quan, ñặc biệt là gan (sử lý bằng kháng sinh) rồi ñem tiêm vào xoang niệu mô của phôi gà từ 8-10 ngày tuổi hoặc phôi vịt 10-
14 ngày tuổi, ñể tủ ấm ở nhiệt ñộ 370C
Phần lớn phôi gà chết sau 24-96 giờ còn phôi vịt sau 24-72 giờ Phôi chết ñể nhiệt ñộ 40C sau 24 giờ mổ và quan sát Bệnh tích như sau:
* Xuất huyết nặng dưới da, ñặc biệt là ở ñầu và tứ chi
* Phôi phù toàn thân nhất là cổ và ñầu
* Gan sưng có nhiều ñiểm xuất huyết, trên bề mặt gan có những ñiểm hoại tử vàng
* Nước trứng chuyển sang màu xanh nhạt
Với những phôi có thời gian chết kéo dài thì nước trứng có màu xanh, gan tổn thương, phôi còi cọc biểu hiện rõ rệt hơn
- Nuôi cấy trên môi trường tế bào
Nhiều thí nghiệm nuôi cấy virut Viêm gan vịt trên môi trường tế bào tổ chức ñã xác ñịnh virut nhân lên tốt trên môi trường tổ chức xơ phôi gà, xơ phôi vịt, thận phôi, gan phôi vịt…sau khi gây nhiễm hàm lượng virut tăng lên
và sau một vài lần cấy truyền trên môi trường tế bào virut cho CPE (Cytophatogen effect) nhất ñịnh Biểu hiện của CPE là nhân bị co tròn, nguyên sinh chất ñông ñặc, không bào và nhân co lại, tế bào bị vỡ ra rồi chết, căn cứ vào ñó ta có thể ñánh giá hiệu giá virut
2.2.3.3 Các type c ủa virut cường ñộc Viêm gan vịt
Bệnh Viêm gan vịt do 3 type virut gây nên là virut Viêm gan vịt type I, virut Viêm gan vịt type II và virut Viêm gan vịt type III
* Virut Viêm gan v ịt type I
- Hình thái