Những năm qua cùng với sự phát triển chăn nuôi lợn công nghiệp với các giống có năng suất và tỷ lệ nạc cao, phương thức chăn nuôi và chuồng trại tiên tiến thì chăn nuôi lợn nái Móng Cái
Trang 1Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Viện khkt nông nghiệp miền nam
Báo cáo tổng kết đề tài nhánh
Nghiên cứu xây dựng mô hình khép kín từ sản xuất, chế biến đến xuất khẩu lợn sữa, thịt lợn mảnh đảm bảo 5-10% giá thành sản phẩm tại Nam định và nghệ an
_
thuộc đề tài cấp nhà nước mã số kc 06.06 nghiên cứu một số giải pháp khoa học công nghệ và thị
trường nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thịt lợn
Chủ nhiệm đề tài: ts đỗ văn quang
6482-3
27/8/2007
Trang 2Nghiên cứu xây dựng mô hình sản xuất lợn sữa tập trung đạt tiêu
chuẩn xuất khẩu tại Nam Định
Chăn nuôi ở Nam Định phát triển với tốc độ nhanh, đa dạng và toàn diện nhưng chăn nuôi lợn vẫn luôn giữ vị trí quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho tiêu dùng và xuất khẩu
Những năm qua cùng với sự phát triển chăn nuôi lợn công nghiệp với các giống có năng suất và tỷ lệ nạc cao, phương thức chăn nuôi và chuồng trại tiên tiến thì chăn nuôi lợn nái Móng Cái để cung cấp lợn sữa cho xuất khẩu cũng được tỉnh chú ý quan tâm nhằm chuyển nguồn lương thực có giá trị hàng hoá thấp sang sản phẩm chăn nuôi có giá trị hàng hoá cao
Thực tế cho thấy, với phương thức chăn nuôi còn mang tính tận dụng, đầu tư xây dựng chuồng trại và thức ăn còn thấp, trình độ chăn nuôi chưa cao thì chăn nuôi lợn nái Móng Cái sản xuất lợn sữa vẫn còn phù hợp và có hiệu quả đối với điều kiện chăn nuôi ở hộ nông dân tỉnh Nam Định Mặt khác sản phẩm lợn sữa của Nam Định nhiều năm qua đã được thị trường các nước: Malaixia, Trung quốc và thị trường Hồng Kông chấp nhận và đánh giá cao Năm
2001 Nam Định xuất khẩu được 3.200 tấn, năm 2002 xuất khẩu được 3.000 tấn và 6 tháng đầu năm 2003 xuất khẩu được gần 1.500 tấn lợn sữa Đây thực sự là một tiềm năng rất lớn mà tỉnh
đang tập trung khai thác
Tuy nhiên việc sản xuất lợn sữa ở Nam Định còn nhiều vấn đề bất cập đó là: Quy mô nuôi còn nhỏ lẻ, phân tán, năng suất thấp, giá thành cao, thị trường tiêu thụ không ổn định có lúc hiệu quả kinh tế chưa cao, nhiều người chăn nuôi bị thua lỗ
Để nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi, phát huy và khai thác triệt để tiềm năng sẵn có của địa phương thì việc xây dựng mô hình sản xuất lợn sữa tập trung, đảm bảo đủ tiêu chuẩn xuất khẩu và giảm giá thành sản phẩm là việc làm cần thiết góp phần chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp của tỉnh đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
II Mục tiêu của đề tài:
- Xây dựng được mô hình sản xuất lợn sữa tập trung đảm bảo đủ tiêu chuẩn xuất khẩu
- Chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật về giống, chuồng trại phương thức chăn nuôi, vệ sinh môi trường, phòng trừ dịch bệnh và sử dụng thức ăn chăn nuôi phù hợp với địa phương nhằm tăng năng suất, giảm giá thành sản phẩm
- Đề xuất một số chính sách để mở rộng và duy trì vùng chăn nuôi sản xuất lợn sữa
III Địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu:
3.1 Địa điểm:
Đề tài được thực hiện tại HTX Nông nghiệp Hải Tân – xã Hải Tân – huyện Hải Hậu – tỉnh Nam Định
3.2 Nội dung nghiên cứu:
3.2.1 Điều tra đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Móng Cái và quá trình chăm sóc nuôi dưỡng, chi phí thức ăn cho lợn nái và lợn con ở các hộ nông dân thuộc HTX nông nghiệp Hải Tân – Hải Hậu
Trang 33.2.2 Theo dõi các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái Móng Cái ở các hộ mô hình Gồm các
chỉ tiêu:
- Số con sơ sinh sống/ ổ (con)
- Khối lượng sơ sinh/ ổ (kg)
- Số con cai sữa/ ổ (con)
- Khối lượng cai sữa/ ổ (kg)
- Tuổi cai sữa (ngày)
- Số ngày chờ phối (ngày)
- Khoảng cách lứa đẻ (ngày)
- Lứa đẻ/ nái/ năm (lứa đẻ)
- Số con cai sữa/ nái/ năm (con)
- Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa (%)
3.2.3- Theo dõi về thức ăn:
Xây dựng công thức phối hợp khẩu phần thức ăn và định lượng thức ăn cho lợn nái ở các giai
đoạn khác nhau
3.2.4- Theo dõi tình hình bệnh tật và phương pháp phòng bệnh
- Tỷ lệ viêm vú, viêm tử cung ở lợn nái
- Phòng bệnh cho lợn nái và lợn con
3.2.5- Tính giá thành sản xuất 1 kg lợn con cai sữa và hiệu quả kinh tế của mô hình
3.3- Phương pháp nghiên cứu:
3.3.1- Phương pháp điều tra:
- Thống kê toàn bộ các hộ chăn nuôi lợn nái móng cái trên địa bàn HTX
- Chọn ngẫu nhiên ra 30 hộ, điều tra theo phương pháp phát phiếu theo mẫu định sẵn
và phỏng vấn trực tiếp
- Số liệu điều tra là các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái Móng Cái ở những ổ đẻ hiện có hoặc gần nhất và tỷ lệ mắc bệnh: Viêm vú, viêm tử cung, mất sữa ở lợn nái và bệnh tiêu chảy
ở lợn con
3.3.2- Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu:
- Sơ đồ bố trí thí nghiệm theo dõi các chỉ tiêu sinh sản của lợn móng cái nuôi ở các hộ mô hình
Chuồng trại
TT Hộ chăn nuôi Quy mô nuôi
(Con nái) Đạt yêu cầu Chưa đạt yêu cầu
Đực phối trực tiếp
-Tiêu chí để xác định phân loại chuồng trại để theo dõi:
+ Chuồng trại đạt yêu cầu là những chuồng được xây dựng thành một khu riêng đảm
Trang 4mỗi hộ mà có thể xây dựng các kiểu chuồng khác nhau nhưng phải đảm bảo được các yêu cầu
- Xây dựng công thức phối hợp khẩu phần thớc ăn cho lợn nái và lợn con tập ăn
- Xây dựng tiêu chuẩn ăn cho lợn nái ở các giai đoạn
4.3.4- Theo dõi về bệnh tật:
Xác định loại bệnh, loại lợn mắc bệnh, số con mắc bệnh, tỷ lệ khỏi bệnh, tỷ lệ chết và tỷ lệ loại thải so với số mắc bệnh
3.3.5- Phương pháp tính giá thành sản xuất 1 kg lợn con cai sữa:
Tổng tiền chi phí thức ăn cho mẹ và con + Chi phí khác Giá thành1 kg lợn con cai sữa =
Khối lượng toàn ổ lúc cai sữa
- Thức ăn chi phí cho mẹ gồm các giai đoạn:
+ Chờ phối
+ Nuôi con
+ Chi phí khác gồm: Khấu hao chuồng trại, tiền phối giống, thuốc thú y
- Thức ăn tập ăn cho con tính cả giai đoạn hết 1,0 kg thức ăn tổng hợp/con
IV Kết quả thực hiện đề tài
4.1- Điều tra năng suất sinh sản và chi phí thức ăn chăm sóc nuôi dưỡng ở lợn nái
Móng Cái năm 2001 (trước khi thực hiện đề tài)
Để có số liệu so sánh đánh giá thực trạng chăn nuôi lợn nái móng cái sản xuất lợn sữa tại địa bàn HTX trước khi thực hiện đề tài chúng tôi tiến hành điều tra 30 hộ chăn nuôi với tổng số 50 ổ đẻ kết quả về năng suất sinh sản được thể hiện ở bảng 4.1
Bảng 4.1: Kết quả điều tra năng suất sinh sản của lợn nái Móng Cái
3 Số con cai sữa/ ổ con 8,90 ± 0,18 15,12
4 Khối lượng cai sữa/ ổ kg 68,53 ± 3,07 27,86
6 Số ngày chờ phối ngày 22,48 ± 0,98 55,92
7 Khoảng cách lứa đẻ ngày 193,80 ± 0,99 3,83
8 Lứa đẻ/ nái/ năm lứa đẻ 1,88 ± 0,32 3,53
9 Số con cai sữa/ nái/ năm con 16,73 ± 0,32 13,54
10 Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa % 88,12 ± 1,20 9,49
Trang 5Qua bảng trên cho thấy một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn móng cái năm 2001 của các hộ nông dân ở dưới mức trung bình, chưa đạt được các chỉ tiêu năng suất của lợn Móng Cái Cụ thể chỉ tiêu lứa đẻ/ nái/ năm 1,88 lứa, số con cai sữa/ nái/ năm 16,73 con Điều này chứng tỏ kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn của người dân còn hạn chế
- Kết quả điều tra chăm sóc nuôi dưỡng:
Đa số các hộ chăn nuôi theo phương pháp truyền thống, sử dụng nguồn lương thực trong gia
đình để chăn nuôi Chế độ dinh dưỡng và tiêu chuẩn ăn cho lợn nái được các hộ sử dụng như sau:
+ Nái chửa + chờ phối: 0,5 kg cám gạo + 0,5 kg gạo + 2 – 3 kg rau xanh/ ngày
+ Nái đẻ và nuôi con thì tiêu chuẩn ăn có tăng lên: Cám gạo 1kg + gạo 0,5 kg + 2 – 3
kg rau xanh và chi phí 1.000 đ/ngày mua thức ăn giầu đạm như: Tôm, tép, cá con
Đối với lợn con theo mẹ chế độ tập ăn sớm cho lợn con ít được quan tâm hoặc dinh dưỡng không đầy đủ Qua kết quả sinh sản và chế độ chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái Móng Cái
và lợn con cho thấy các hộ thiếu kỹ thuật về chăn nuôi, mức dinh dưỡng thiếu, chế độ ăn không hợp lý do đó năng suất sinh sản thường đạt rất thấp
Như vậy muốn nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái móng cái, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi cần phải chuyển giao một cách đồng bộ có hiệu quả, các biện pháp kỹ thuật về giống, thức ăn, chuồng trại và vệ sinh thú y trên cơ sở các điều kiện về kinh tế, đất đai
và trình độ của người dân cho phù hợp
4.2- Kết quả theo dõi năng suất sinh sản đàn lợn móng cái ở các hộ mô hình
Sau khi kết thúc điều tra chúng tôi chọn ra 10 hộ để xây dựng mô hình, tiến hành chỉ
đạo các hộ nhập lợn từ cơ sở giống của tỉnh, tập huấn kỹ thuật chuyển giao tiến bộ về quản lý chăm sóc nuôi dưỡng, xây dựng khẩu phần và tiêu chuẩn ăn cho lợn nái theo từng giai đoạn Kết quả theo dõi 157 ổ đẻ được thể hiện ở bảng 2
Kết quả ở bảng 2 cho thấy các chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn Móng Cái nuôi ở các hộ mô hình đạt tương đối cao, đã thể hiện được tiềm năng di truyền của giống: Cụ thể là: Số con cai sữa đạt 10,40 con, lứa đẻ/ nái/ năm đạt 2,12 lứa, số con cai sữa/ nái/ năm đạt 22,15 con Như vậy có thể nói các biện pháp kỹ thuật chuyển giao cho các hộ nông dân đã phát huy được tác dụng và thực sự mang lại hiệu quả cho người chăn nuôi
Nếu so sánh với kết quả sinh sản của lợn Móng Cái ở HTX trước khi thực hiện đề tài thì các chỉ tiêu: Số con sơ sinh sống/ ổ, số con cai sữa/ ổ, số con cai sữa/ nái/ năm cao hơn theo thứ tự 0,8; 1,5; 5,42 con Tuổi cai sữa giảm từ 57,32 ngày xuống còn 42,23 ngày và số ngày chờ phối (thời gian không sản xuất) đã giảm được 7,67 ngày, tỷ lệ nuôi sống tăng từ 88,12% lên 95,41%
Bảng 2: Kết quả sinh sản của lợn Móng Cái trước và sau khi thực hiện đề tài
1 Số con sơ sinh sống/ ổ con 10,10 ± 0,21 10,90 ± 0,16
2 Khối lượng sơ sinh/ ổ kg 5,42 ±0,11 6,52 ± 0,08
3 Số con cai sữa/ ổ con 8,90 ± 0,18 10,40 ± 0,15
4 Khối lượng cai sữa/ ổ kg 68,53 ± 3,07 82,16 ± 0,74
5 Tuổi cai sữa ngày 57,32 ± 0,69 42,40 ± 0,54
6 Số ngày chờ phối ngày 22,48 ± 0,18 15,40 ± 0,45
7 Lứa đẻ/ nái/ năm lứa/năm 1,88 ± 0,09 2,13 ± 0,01
8 Số con cai sữa/ nái/ năm con 16,73 ± 0,32 22,15 ± 0,33
9 Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa % 88,12 ± 1,20 95,41 ± 0,63
Trang 6kỹ thuật và nâng quy mô chăn nuôi ở mỗi hộ Vậy quy mô chăn nuôi nào là phù hợp và có
hiệu quả kinh tế nhất trong điều kiện chăn nuôi của nông hộ ? Trả lời câu hỏi này chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đánh giá sự ảnh hưởng của quy mô nuôi khác nhau đến năng suất sinh
sản của lợn Móng Cái Kết quả theo dõi được thể hiện ở bảng 3
Qua số liệu thu được ở bảng 3 cho thấy: ở các quy mô nuôi khác nhau thì các chỉ tiêu đánh
giá năng suất sinh sản của lợn Móng cái cũng khác nhau Các chỉ tiêu số con cai sữa/ ổ, số con
cai sữa/ nái/ năm của lợn móng cái đạt giá trị cao nhất ở quy mô nuôi 15 nái (10,49; 22,45
con) và quy mô nuôi 5 nái có giá trị thấp nhất (10,29; 21,81) ở các chỉ tiêu tương ứng
(P<0,05) Nếu so sánh với trung bình toàn đàn thì quy mô nuôi 15 nái cao hơn ở chỉ tiêu số
con cai sữa/ nái/ năm là 0,3 con, còn quy mô nuôi 5 nái thấp hơn 0,34 con
ở quy mô nuôi 10 nái các chỉ tiêu số con cai sữa/ ổ, lứa đẻ/ nái/ năm đều cao hơn so
với quy mô nuôi 5 ná (P<0,05), so với quy mô nuôi 15 nái và trung bình toàn đàn thì sai khác
ở các chỉ tiêu trên không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05)
Sở dĩ có kết quả trên qua theo dõi cho thấy ngoài yếu tố về chuồng trại (trình bày ở
phần sau) thì sự bố trí phân công lao động để nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý theo dõi đàn
lợn và ý thức chăn nuôi ở mỗi hộ là nguyên nhân chủ yếu ở quy mô nuôi 10 – 15 nái các hộ
phân công lao động chuyên theo dõi và chăm sóc đàn lợn, vì vậy việc thực hiện các biện pháp
kỹ thuật và quản lý được tốt hơn Mặt khác do mạnh dạn bỏ vốn ra để đầu tư xây dựng chuồng
trại, mua thức ăn, mua con giống nên ở những hộ này có ý thức chăn nuôi tốt và năng động
trong việc tìm kiếm thị trường, học hỏi kỹ thuật và bản thân họ là những người có nhiều kinh
nghiệm trong chăn nuôi
Bảng 3: ảnh hưởng của quy mô nuôi khác nhau đến năng suất sinh sản của lợn móng cái
TT Quy
mô Tha
m số
Số con sss/ổ (con)
Pss/ ổ (kg)
Số con CS/ ổ (con)
Pcs/
ổ (kg)
Tuổi
CS (ngà y)
Só ngày chờ phối (ngà
năm
Số con CS/ná
i/
năm (con)
Tỷ lệ sống (%)
4.2.3 ảnh hưởng của chuồng trại đến năng suất sinh sản của lợn nái Móng Cái
Trang 7Chuồng trại là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tăng năng suất trong chăn nuôi Chuồng trại đảm bảo yêu cầu nó giúp cho vật nuôi phát huy được tiềm năng di truyền của giống, thuận tiện trong các thao tác kỹ thuật về chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý đàn lợn, tiết kiệm được thời gian và đặc biệt là có thể điều chỉnh được tiểu khí hậu cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của vật nuôi
Kết quả ở bảng 4 cho thấy năng suất sinh sản của lợn Móng cái được nuôi ở những hộ
có chuồng trại đạt yêu cầu cao hơn so với những hộ có chuồng trại chưa đạt yêu cầu trong cùng một quy mô nuôi
Cụ thể: ở quy mô nuôi 15 nái hộ ông Khu và hộ ông Uyên là 2 hộ có chuồng trại đạt yêu cầu thì các chỉ tiêu số con cai sữa đạt 11,03 và 11,27 con, số con cai sữa/ nái/ năm đạt 23,60 và 24,45 con; tỷ lệ nuôi sống đạt 97,61% và 97,53% Trong khi đó hộ ông Văn là hộ có chuồng trại chưa đạt yêu cầu thì giá trị của các chỉ tiêu tương ứng đạt 9,21 con; 19,06 con và 93,55%
Trang 8Bảng 4 Năng suất sinh sản của lợn nái móng cái ở các hộ mô hình khác nhau
TT Hộ
Số lợn nuôi
Chỉ tiêu T.số
Số con sss/ ổ
KCLĐ Lứa đẻ/
năm
Số con cs/
/năm
Tỷ lệ sống %
Trang 9Bảng 4 (tiếp theo): Năng suất sinh sản của lợn nái Móng cái ở các hộ mô hình khác nhau
Số lợn nuôi
Chỉ tiêu T.số
Số con sss/ ổ
KCLĐ Lứa đẻ/
năm
Số con cs/
/năm
Tỷ lệ sống %
Trang 10Tương tự như vậy ở quy mô nuôi 10 con nái và 5 nái giá trị các chỉ tiêu trên ở lợn nái Móng cái nuôi ở các hộ ông Quân, ông Phát cao hơn ông Yên, ông Quyên và hộ ông Thanh cao hơn hộ ông Đức, ông Thiểm
Như vậy chuồng trại đạt yêu cầu đã tạo được môi trường thuận lợi cho sự phát triển của lợn nái và lợn con, tăng sức đề kháng, tăng tỷ lệ nuôi sống, giảm được nhiều bệnh tật, từ đó tăng năng suất sinh sản và hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
Tóm lại:
Qua theo dõi các chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn Móng cái nuôi ở các hộ mô hình có thể khẳng định năng suất sinh sản của lợn Móng cái đã được nâng lên nhờ các biện pháp kỹ thuật về giống, thức ăn, chuồng trại, quản lý chăm sóc nuôi dưỡng đã được chuyển giao xuống cho các hộ chăn nuôi Tuy nhiên muốn nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế hơn nữa và tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá đạt tiêu chuẩn xuất khẩu thì các hộ phải nuôi ở quy mô
từ 10 nái trở lên
4.3- Kết quả theo dõi về thức ăn:
Thức ăn và dinh dưỡng của khẩu phần có vai trò rất quan trọng trong chăn nuôi lợn, nó
có liên quan chặt chẽ đến khả năng sinh trưởng, sinh sản của lợn Thức ăn chiếm tỷ lệ rất cao (khoảng 70%) trong cơ cấu giá thành sản phẩm để giảm chi phí về thức ăn chúng tôi hướng dẫn các hộ phối hợp khẩu phần thức ăn bằng các nguyên liệu sẵn có của địa phương là chủ yếu
Với tiêu chuẩn ăn cho lợn nái sinh sản Móng cái ở các giai đoạn ở bảng 6 là thấp so với quy định, song trong thực tế lợn Móng Cái được nuôi ở các hộ mô hình vẫn cho năng suất sinh sản khá tốt (số con sơ sinh sống/ ổ đạt 10,90 con, số con cai sữa/ ổ đạt 10,40 con, lứa đẻ/ nái/ năm đạt 2,13 lứa)
Đối với lợn con theo mẹ chúng tôi hướng dẫn các hộ tập ăn cho lợn con từ 20 ngày tuổi Tuần đầu thức ăn được nấu chín cho dễ tiêu hoá, từ tuần thứ 2 trở đi tập cho lợn con quen dần với thức ăn sống và đến khi lượng thức ăn tiêu thụ hết từ 1 – 1,3 kg/con trong thời gian 40 – 45 ngày tuổi thì tiến hành cai sữa Với biện pháp kỹ thuật này đã giảm được đáng kể độ hao mòn của lợn mẹ do vậy sau cai sữa lợn nái hồi phục nhanh giảm được số ngày chờ phối (thời gian không sản xuất) từ 22,48 ngày xuống 14,79 ngày Mặt khác do thu nhập thức ăn sớm nên khi sản lượng sữa của lợn nái giảm (sau 21 ngày) lợn con không bị khủng hoảng về thức ăn vẫn sinh trường và phát triển bình thường khối lượng cai sữa/ ổ ở 42,23 ngày tuổi đạt 82,16 kg (7,9kg/ con) Đây là một trong những biện pháp kỹ thuật mới mà các hộ mô hình được tiếp thu, đã góp phần nâng cao khối lượng cai sữa, rút ngắn thời gian theo mẹ, tăng lứa đẻ của lợn nái/ năm
Bảng 5 Công thức phối hợp thức ăn cho lợn nái Móng Cái và lợn con tập ăn
Nguyên liệu Đ.vị tính Lợn nái Lợn con tập ăn
Trang 11Bảng 6- Tiêu chuẩn ăn cho lợn nái sinh sản Móng cái
Giai đoạn Cám tổng hợp (kg) Rau xanh (kg)
4.4- Kết quả theo dõi tình hình bệnh tật và các biện pháp phòng bệnh:
Song song với quá trình nghiên cứu theo dõi khả năng sinh sản, chăm sóc nuôi dưỡng trên đàn nái Móng cái và lợn con ở các hộ mô hình, chúng tôi đã tiến hành theo dõi về tình hình diễn biến một số bệnh ở lợn cái Hậu bị, lợn nái sinh sản và lợn con Kết quả nghiên cứu
được tình bày ở bảng 7 Qua bảng 7 chúng tôi nhận thấy:
- Đối với lợn nái sinh sản phổ biến mắc một số bệnh thông thường nhưng tỷ lệ mắc bệnh thấp; bệnh viêm phổi 4/100 con, bệnh viêm vú 3/100 con, bệnh viêm đường sinh dục 4/100 con, bệnh ngoài da 3/100 con, bệnh thai chết lưu 1/100 con Những bệnh này sau khi
được chữa trị, chăm sóc nuôi dưỡng thì tỷ lệ khỏi bệnh đạt 100%
- Đối với lợn con: Mắc chủ yếu là các bệnh về đường tiêu hoá, hô hấp: Bệnh ỉa phân trắng 372/1711 con bằng 21,74%, bệnh rối loạn tiêu hoá 12/1711 con bằng 0,70%, bệnh viêm phổi 45/1711 con bằng 2,63% Tỷ lệ chết ở lợn con từ sơ sinh đến cai sữa là 78/1711 con bằng 4,56% Trong đó mẹ đè chết con 7 con bằng 0,4%, bệnh rối loạn tiêu hoá 2 con bằng 0,11%, bệnh ỉa phân trắng 58 con bằng 3,38%, bệnh viêm phổi 5 con bằng 0,29%, bệnh khác 6 con bằng 0,35%
Như vậy đàn lợn nái Móng cái và đàn lợn con chủ yếu mắc một số bệnh thông thường Bằng biện pháp phát hiện bệnh, chữa trị kịp thời cho kết quả tốt Đối với bệnh ỉa phân trắng ở lợn con do nhiều nguyên nhân gây ra do đó cần tiến hành các biện pháp phòng trừ bệnh tổng hợp đó là:
+ Tiến hành nuôi dưỡng chăm sóc lợn mẹ tốt trong giai đoạn có chửa, tạo điều kiện cho thai phát triển tốt khi đẻ khoẻ mạnh có khối lượng sơ sinh cao
+ Tạo môi trường thuận lợi cho lợn con: Chuồng trại phải luôn khô ráo, độ ẩm thấp, thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông Đặc biệt chú ý phải có ô úm lợn con để tạo nhiệt
độ thích hợp cho lợn con trong những ngày nhiệt độ quá thấp
+ Tiêm sắt cho lợn con vào 3; 7 ngày tuổi
+ Tập cho lợn con ăn sớm để khắc phục hiện tượng thiếu dinh dưỡng
+ Khi lợn con ỉa phân trắng dùng kháng sinh để điều trị kịp thời Đối với trường hợp
mẹ đè chết con cần phải xây dựng chuồng trại đảm bảo đủ diện tích lợn nái nuôi con và đặc biệt là phải cố định đầu vú cho những lợn con có khối lượng sơ sinh thấp, yếu bú những vú
đầu để tạo điều kiện cho chúng hồi phục nhanh khỏi bị tụt hậu trong đàn
Bảng 7: Tình hình bệnh tật ở đàn lợn nái Móng Cái và lợn con
Loại lợn mắc (con) Tỷ lệ khỏi bệnh (%)
TT Tên bệnh T.số lợn
mắc (con) Lợn nái Lợn con Lợn nái Lợn con
Trang 124.5- Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình:
Để theo dõi được những thông số kỹ thuật cơ bản chúng tôi phát cho mỗi hộ gia đình một cuốn sổ nhật ký theo mẫu quy định để ghi chép những chỉ tiêu kỹ thuật trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, những chi phí như mua giống, thức ăn qua các tháng về số lượng và giá cả, tiền phối giống tiền tiêm phòng và thuốc thú y, khấu hao chuồng trại (Chỉ tập trung vào xây dựng
là chính), tiền bán lợn qua mỗi lứa Riêng công lao động không tách ra bởi lẽ, người chăn nuôi vẫn chủ yếu lấy công làm lãi không tính tiền phân lợn thu được nên gọi là lãi thô
Kết quả tính toán giá thành sản xuất 1 kg lợn con lai sữa và hiệu quả kinh tế của mô hình được trình bày ở phần 4.2.2 và 4.4.3, đại diện cho 157 lứa đẻ theo dõi
4.5.1- Những thông số kinh tế để tính toán hiệu quả chăn nuôi lợn nái móng cái sản xuất lợn sữa:
- Giá ngô trung bình: 2.000 đ/kg
- Giá cám gạo trung bình: 2.000 đ/kg
- Giá gạo tẻ thường: 2.200 đ/kg
- Giá thóc tẻ thường: 1.600 đ/kg
- Giá thức ăn đậm đặc: 6.000 – 7.000 đ/kg
- Tiền phối giống 1 lứa: 10.000 đ
- Tiền tiêm phòng: 4.500 đ/lứa/nái
- Chuồng trại khấu hao: 15 – 20 năm
- Không tính khấu hao giống bởi vì chi phí thức ăn và tiền mua giống nuôi giai
đoạn hậu bị so với tiền thu được khi bán loại thải chênh lệch nhau không đang kể (Giá trtung bình trong 3 năm từ 2002- 2004)
4.5.2- Giá thành sản xuất 1 kg lợn con cai sữa ở các hộ mô hình và kết quả điều tra thực trạng ở HTX
* Đối với các hộ mô hình:
- Chi phí thức ăn gia đoạn chờ phối: 14,79 kg x 2.330 đ = 34.460 đ
- Chi phí thức ăn giai đoạn chưa kỳ I: 84 kg x 2.330 đ = 195.720 đ
- Chi phí thức ăn chửa kỳ II: 36 kg x 2.330 đ = 83.880 đ
- Chi phí thức ăn giai đoạn nuôi con: 84,46 kg x 2.330 đ = 196.791 đ
- Chi phí thức ăn lợn con tập ăn: 10 kg x 2.900 đ = 29.000 đ
Tổng chi phí thức ăn: 564.851 đ
- Chi phí khấu hao, phối giống, thuốc thú y: 100.000 đ
Tổng chi phí cho 1 lứa đẻ: 664.851 đ
Vậy giá thành sản xuất ở các hộ mô hình là:
Trang 13Vậy giá thành sản xuất thực trạng tại HTX là:
596.620 đ : 68,53 kg = 8.706 đ/kg
4.5.3- So sánh hiệu quả kinh tế:
Về giá thành sản xuất: Giá thành sản xuất 1 kg lợn con lai sữa ở các hộ mô hình giảm
so với thực trạng sản xuất tại HTX là:
% 05 , 7 100 /
706
.
8
/ 092 8 /
d
kg d kg
d
- Về hiệu quả kinh tế:
Nếu giá bán lợn sữa đạt 11.000 đ/kg thì hiệu quả của mô hình trong một năm
Thu: 82,16 kg/ lứa x 2,13 lứa x 11.000 đ = 1.925.000 đ
Chi: 82,16 kg/lứa x 2,13 lứa x 8.092 đ = 1.416.000 đ
Lãi trong 1 năm/ nái: 509.000 đ
(Nếu gia lợn sữa đạt 17.000đ/kg (Như thời điểm tháng 6- 10 năm 2004) thì lãi 1 nái/năm được hơn 1.000.000đ
V Kết luận và đề nghị:
5.1 Kết luận
1- Năng suất sinh sản của lợn móng cái nuôi ở các hộ mô hình cao hơn so với các hộ khác tại địa bàn HTX
- Số con sơ sinh sống/ ổ đạt 10,9 con cao hơn 0,8 con
- Số con cai sữa/ ổ đạt 10,4 con cao hơn 1,5 con
- Số lứa đẻ/ nái/ năm đạt 2,13 lứa cao hơn 0,25 lứa
- Số con cai sữa/ nái/ năm đạt 22,15 con cao hơn 5,42 con
- Khối lượng cai sữa/ ổ 42,23 ngày đạt 82,16 kg
2- Quy mô chăn nuôi khác nhau đã ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn móng cái Năng suất sinh sản của lợn Móng cái ở các hộ mô hình đạt giá trị cao ở quy mô nuôi 10 –
- Cho phép sử dụng kết quả nghiên cứu của đề tài này làm tài liệu tham khảo giúp cho việc xây dựng vùng nguyên liệu, xây dựng kế hoạch, định hướng chăn nuôi trong tỉnh
VI Tài liệu tham khảo
1 Báo cáo khoa học trình bày tại hội nghị khoa học kỹ thuật chăn nuôi thý y toàn
Trang 143 Những vấn đề kinh tế kỹ thuật chăn nuôi lợn xuất khẩu - Trung tâm khuyến nông sinh thái, Tổng Công ty Chăn nuôi Việt Nam 9/ 2001 (Tài liệu hôi thảo, tập huấn)
4 Nguyễn Thiện, Đoàn Xuân Trúc, Tăng Văn Lĩnh và CTV “Sổ tay kỹ thuật chăn nuôi lợn trang trại” Nhà xuất bản Nông nghiệp - Hà Nội 2003