Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thì chăn nuôi lợn ở Việt nam khoảng 90- 95% là ở trong nông hộ, chỉ khoảng 5-10% là ở các trang trại chăn nuôi quốc doanh.Trong nông hộ phương
Trang 1BÁO CAO ĐỀ TÀI NHÁNH
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHĂN NUÔI LỢN THEO HƯỚNG TRANG TRẠI GẮN
VỚI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU
THUỘC ĐỀ TÀI KHCN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ THỊ TRƯỜNG NHẰM ĐẨY
Trang 2Mục lục
Phần I: Thông tin chung về đề tài 3
Phần II: Phần chính của báo cáo 3
Chương I: Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 4 Chương II: Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 8
2.1.Đối tuợng nghiên cứu 8
Chương III: Kết quả nghiên cứu 12
3.1 ảnh hưởng của giống lợn tới năng suất và hiệu quả chăn nuôi 12
3.1.1.ảnh hưởng của giống lợn tới khả năng sinh sản và hiệu quả
3.4.Đánh giá hiệu quả kinh tế- kỹ thuật của các mô hình 20
3.4.1 Diễn biến số đầu lợn nái qua các năm 20
3.4.2.Chỉ tiêu kinh tế- kỹ thuật của các mô hình qua các năm 20
Kết luận và kiến nghị 22
Phần III Báo cáo thực hiện tài chính 23
Tài liệu tham khảo 23
Trang 3Chữ Viết tắt dùng trong báo cáo
TTTA Tiêu tốn thức ăn
PIC Pig Improvement Company
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
Lợn lai 5 máu Đ−ợc tạo ra từ lợn nái CA x đực 402
Trang 4Phần I: Thông tin chung về đề tài
1.Tên đề tài nhánh: “Nghiên cứu xây dựng mô hình chăn nuôi lợn theo hướng trang
trại gắn với chế biến và xuất khẩu”
Thuộc đề tài “ Nghiên cứu một số giải pháp khoa học Công nghệ và thị trường nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thịt lợn”, mã số KC.06.06.NN
2 Thuộc chương trình: “ ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm chủ lực” có mã số KC.06
3 Cấp quản lý: Cấp nhà nước
4 Thời gian thực hiện: 2002-2005
5 Kinh phí: 183.606.000 đồng
6 Chủ trì đề tài nhánh: TS Phùng Thị Vân
7.Cơ quan phối hợp thực hiện: Viện Chăn Nuôi
8 Cơ quan chủ quản: Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường
9 Đơn vị thực hiện: Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương
10 Danh sách những người tham gia:
- TS Phùng Thị Vân- Bộ môn Kinh tế và Hệ thống chăn nuôi
- BSTY Trịnh Quang Tuyên-Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương
- KS Nguyễn Văn Lục- Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương
Phần II: Phần chính của báo cáo
Đặt vấn đề
Tổng đàn lợn của Việt Nam đứng thứ 10 trên thế giới và đứng thứ 2 ở châu
á sau Trung Quốc Đàn lợn của nước ta liên tục tăng trong những năm vừa qua.Năm 1990 đàn lợn của nước ta là 12,26 triệu con, năm 2004 đạt ước tính 26,143 triệu con với sản lượng thịt hơi là 2,012 triệu tấn.Tốc độ tăng đàn lợn của nước ta trong 3 năm gần đây (2000-2003) trung bình là 7,74%, sản lượng thịt tăng
là 8,87%/ năm (Tổng cục thống kê, 2004)
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thì chăn nuôi lợn ở Việt nam khoảng 90- 95% là ở trong nông hộ, chỉ khoảng 5-10% là ở các trang trại chăn nuôi quốc doanh.Trong nông hộ phương thức chăn nuôi chủ yếu là tận dụng, quy mô nhỏ lẻ, nuôi phổ biến là các giống lợn địa phương hoặc lợn lai có tỉ lệ máu ngoại ít nên năng suất thấp, giá thành cao, chất lượng thịt lợn chưa đáp ứng yêu cầu thị trường nước ngoài và chủ yếu mới chỉ phục vụ tiêu thụ nội địa, chưa có sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và thị trường thế giới Cụ thể lượng thịt lợn xuất khẩu được năm 2001 là 30 ngàn tấn, năm 2002 là 19 ngàn tấn, năm 2003 là 12 ngàn tấn
Thực hiện chiến lược phát riển chăn nuôi lợn 2005- 2010 nhà nước đã ban hành nghị định 166/2001/ QD-TTG ngày 26/10/2001 của Thủ tướng chính phủ về
Trang 5“Một số biện pháp và chính sách phát triển chăn nuôi lợn xuất khẩu giai đoạn 2001-2010” và phê duyệt cho triển khai đề tài trọng điểm cấp nhà nước
“Nghiên cứu một số giải pháp Khoa học công nghệ và thị trường nhằm đấy mạnh xuất khẩu thịt lợn”.Thực hiện đề tài nhánh “Xây dựng môhình chăn nuôi lợn
gắn với chế biến và xuất khẩu” nhằm mục tiêu:
- Nghiên cứu áp dụng một số giải pháp kỹ thuật vào xây dựng mô hình chăn nuôi lợn giảm giá thành sản phẩm từ 5- 10%
- Sản phẩm thịt lợn đạt tiêu chuẩn xuất khẩu (Tỉ lệ nạc đạt tên 52%, không mắc bệnh truyền nhiễm, không có tồn dư các chất kháng sinh và các chất khác)
Yêu cầu khoa học đối với sản phẩm: Báo cáo khoa học
Yêu cầu kỹ thuật đối với sản phẩm
TT Chỉ tiêu ĐVT Yêu cầu số
1.1 Yếu tố giống lợn trong chăn nuôi lợn
Nuôi lợn giống thuần chủng cho năng suất thấp, nuôi lợn giống lai cho năng suất cao hơn nhờ tận dụng được ưu thế lai.Theo Lasley (1974) [6] : ưu thế lai là một hiện tượng sinh học, chỉ tăng sức sống của đời con so với bố mẹ khi có sự giao phối giữa các cá thể không thân thuộc ưu thế lai không chỉ biểu thị có sức chiụ
đựng cao ở môi trường không thuận lợi, nó còn bao gồm cả sự giảm tử vong, tăng tốc độ sinh trưởng, tăng sức sản xuất và tăng khả năng sinh sản.Vì vậy người ta xem ưu thế lai như một sinh lực đặc biệt có lợi của sinh vật học
Ivanov B.(1982) [21] cho biết một số chỉ tiêu sản xuất ở lợn giống phối giống thuần chủng so với khi phối giống chéo giữa 2 giống như sau:
Chỉ tiêu Y L Y x L
Số con sơ sinh/ ổ ( con) 11,0 10,6 11,2
Khối lượng/ổ lúc 60 ngày tuổi( kg) 167,4 184 206
Tuổi đạt 100 kg( ngày) 204 178 184
Nhiều công trình nghiên cứu của một số tác giả như: Holmes(1980) [19] Bhat
và CS, (1980) [15]; Hardjosubroto và CS (1980) [18]; Tristan và CS (1991) [26]; Kovalenko và CS (1990 ) [22] đều có kết luận: Các nhóm lợn lai của nhiều giống
Trang 6khác nhau (từ 3- 4 giống) đều có xu hướng đẻ nhiều con hơn, tăng khối lượng sơ sinh, tăng khả năng sinh truởng, giảm thời gian nuôi thịt, tiêu tốn thức ăn ít hơn, nâng cao tỉ lệ nạc và chất lượng thịt xẻ so với lợn thuần chủng
ở Việt Nam việc lai kinh tế lợn bắt đầu từ những năm 60 Qua hơn 40 năm tiến hành nghiên cứu và khảo nghiệm trên hơn 40 tổ hợp lai giữa các giống lợn nội với lợn nội, giữa các giống lợn nội với các giống lợn ngoại, lai giữa các giống lợn ngoại với nhau đã chọn được nhiều tổ hợp lợn lai phục vụ cho sản xuất đã có nhiều đóng góp cho phát triển chăn nuôi lợn ở nước ta: Nguyễn Thiện và CS (1995) [9] cho biết: Lợn lai F1( nội x ngoại), lợn lai 3/ 4 máu ngoại, lợn lai 7/8 máu ngoại, lợn lai ngoại x ngoại đã đạt tỉ lệ nạc tương ứng: (39- 43 %); (45- 47%); (49- 52,4%) và (52-60%), so với lợn giống nội của ta chỉ đạt tỉ lệ nạc từ 36- 38% Phùng Thị Vân và CS (2000) [10] cho biết lợn lai nuôi thịt thuộc nhóm lợn lai 2 giống (L
x Y) có mức tăng trọng/ ngày thấp hơn (từ 601,5- 667,7 gam/ ngày) so với lợn lai nuôi thịt thuộc nhóm lợn lai 3 giống: nái F1 (L xY) x đực Duroc (từ 617,8-694,1 gam/ ngày), lợn lai 2 máu nuôi thịt F1(L xY) có chi phí thức ăn cao hơn (3,03- 3,32 kg TA/kgTT) so với lợn lai 3 máu(D x LY) có mức chi phí thức ăn (2,85 - 3,11 kg/ kg TT)
Trần Thị Kim Anh (1998) [13] cho biết lợn nái lai F1 có chỉ tiêu số con: sơ sinh sống, 21 ngày tuổi, cai sữa cao hơn so với lợn nái thuần tương ứng 0,5; 9,0
và 10% Chỉ tiêu về khối lượng toàn ổ 21 ngày tuổi cao hơn 10%, tuổi đạt khối lượng 100 kg thấp hơn 7,5%, tiêu tồn thức ăn (TTTA) thấp hơn 2,0% Lợn nái lai nhiều máu ngoại có chỉ tiêu số con: đẻ sống,21 ngày và cai sữa cao hơn tương ứng
là 8,0; 23,0 và 24% so với lợn nái thuần, khối lượng 21 ngày/ ổ cao hơn 27%, tuổi
đạt 100 kg thấp hơn 7,0% và TTTA/ kg tăng trọng thấp hơn 1,0% Cũng tác giả trên cho biết: hiệu quả kinh tế đối với các hệ thống lai giống ở Mỹ như sau: Phối giống thuần đạt lãi ròng bình quân là 3,32 USD/ lứa đẻ, lai cố định 3 giống là 77,14 USD và lai cố định 4 giống là là 94,76 USD/ lứa
1.2 Chuồng trại và năng suất chăn nuôi lợn
Vào những năm 60 hệ thống chuồng trại kiểu K54đã khắc phục được nhiều nhược điểm của chuồng cổ truyền.Từ 1990 đến nay các kiểu chuồng theo mô hình của Nga, Trung Quốc,Thái Lan, Đan Mạch, Cộng Hoà Liên Bang Đức đã được đưa vào thử nghiệm và cải tiến cho phù hợp với điều kiện khí hậu của Miền Bắc (khung sắt, mái cao, 4 mái, nuôi lợn nái đẻ và lợn con trên sàn, hệ thống thông gió, thoát phân) liên tục được cải tiến đã góp phần làm tăng năng suất chăn nuôi từ
3 – 5%, giảm hàm lượng khí độc trong chuồng nuôi từ 60 – 70% (Lê Thanh Hải, 1997) [5]; (Phạm Nhật Lệ và Cs, 2000) [12]; (Nguyễn Văn Đồng và Cs,2000) [8] ).Hiện nay hầu hết các cơ sở chăn nuôi lợn ngoại tập trung, các trang trại tư nhân với quy mô vừa trở lên đã áp dụng kỹ thuật nuôi lợn nái đẻ và lợn con trên sàn/cũi Theo Stanley E Custis (1996),[25] nuôi lợn trên nền sàn có rãnh là giúp cho việc tách lợn ra khỏi các vi sinh vật gây bệnh có trong phân của chúng, từ đó giảm bớt khả năng mắc bệnh của lợn Lê Thanh Hải và Cs (1998),[4] cho biết nuôi lợn nái
đẻ và lợn con trên lồng sàn đạt một số chỉ tiêu cao hơn so với nuôi trên chuồng nền: Số con cai sữa 30 ngày tuổi cao hơn là 5,61%, số con 60 ngày/ổ cao hơn 9,5% Khối lượng/ ổ ở 60 ngày tuổi cao hơn 16,55%, tiêu tốn thức ăn/1 kg tăng
Trang 7trọng lợn con từ cai sữa đến 60 ngày tuổi thấp hơn 19,47% Hiệu quả kinh tế nuôi lợn trên lồng sàn (tính từ khi lợn nái đẻ tới khi xuất bán lợn con 60 ngày tuổi) cao hơn 47% so với nuôi lợn trên chuồng
1.3 Môi trường chăn nuôi và khả năng nhiễm bệnh đối với gia súc
Phân và nước thải từ các trại chăn nuôi gia súc thải ra là một nguồn chất thải lớn gây ô nhiễm môi trường.Trong phân lợn có chứa nhiều Nitơ, phốtpho, nhiều hệ
vi sinh vật.Nitrát và vi sinh vật có thể nhiễm vào nguồn nước trên mặt đất và nguồn nước ngầm.Trong quá trình tích chứa phân và nước tiểu,sự phân huỷ làm cho hơi
độc hình thành.Các công trình nghiên cứu cho biết có trên 40 loại khí độc hình thành trong môi trường chăn nuôi, trong đó có những loại khí độc với liều lượng rất nhỏ cũng gây độc cho người và gia súc.James Barker và Cs.,1996[2],nồng độ bắt
đầu gây độc cho người và gia súc như sau:H2S (>20ppm);NH3(>20ppm);C02 (>40.000ppm);C0(>50ppm).Theo thông báo của Susan S Schiffman đăng trên tạp chí American J Animal.Sci.1998 [24] (tập hợp của nhiều công trình nghiên cứu từ 1967-1997) về sự liên quan giữa mùi và khí độc trong chăn nuôi với người làm việc trong môi tường chăn nuôi và những người sống gần khu vực chăn nuôi có quy mô lớn: Mùi hôi thối, các khí độc từ chăn nuôi liên quan tới 48 triệu chứng bệnh ở người và có thể gộp vào mấy nhóm bệnh chính: gây bệnh về mắt, đường hô hấp,
đau đầu, bệnh ngoài da, bệnh về tai
Nguồn khí độc,vi sinh vật có hại và bụi trong chuồng nuôi là những tác nhân gây bệnh ở gia súc.Đối với lợn tiếp xúc hàm lượng khí H2S >150 PPm trong vòng
20 phút gây kém ăn,thần kinh không bình thường, khi hàm lượng là 200ppm gây phù thũng ở phổi,khó thở,chết.Với khi NH3 ở hàm lượng 50-100 ppm năng suất và sức khoẻ giảm, ở hàm lượng>300ppm tiếp xúc lâu sinh thở gấp, thở không đều và
đi đến co giât
ẩm độ: ẩm độ cao cao trong chuồng nuôi là yếu tố bất lợi cho cả lợn lớn và
lợn bé, đặc biệt khi nhiệt độ quá nóng hoặc quá lạnh Trong môi trường có độ ẩm cao >80 % vi khuẩn có điều kiện sinh sôi nảy nở nhanh.Theo Stanley E C., 1996 [25] , ở độ ẩm không khí 40% vi trùng có thể chết nhanh gấp 10 lần so với độ ẩm 80%.Giữ cho chuồng luôn khô ráo là một yêu cầu rất quan trọng trong công tác phòng bệnh cho lợn
Các bệnh về đường ruột và hô hấp của lợn thường có nguyên nhân từ sự nhiễm các tác nhân gây bệnh.ở điều kiện bình thường thì sự đề kháng của lợn sẽ giữ ở mức làm cho sự nhiễm khuẩn bệnh không gây ảnh hưởng Khi có tác nhân của môi trường không thuận lợi, trong đó có chuồng trại không hợp vệ sinh, quá nóng hoặc quá lạnh, ẩm độ cao, thiếu ánh sáng thì tỷ lệ tiết glucorticoid tăng lên.ở pha đầu của các phản ứng của lợn chống lại các tác động khi các hoocmon này có trong máu với mức độ thấp thì sẽ kích hoạt cơ thể đề kháng, còn ở mức tập trung cao thì chúng sẽ hạn chế khả năng đề kháng bằng cách can thiệp vào các thể kháng, làm giảm số tế bào bạch cầu trong máu, làm tổn hại cơ chế giải độc và làm ức chế quá trình loại bỏ vi khuẩn và như vậy khả năng nhiễm bệnh tăng lên.Vì vậy làm giảm
Trang 8tối thiểu các tác động xấu của môi trường là một chìa khoá nâng hiệu quả chăn nuôi
Theo Stanley E C.,1996 [25] thì sự ô nhiễm môi trường có thể giảm đáng kể khi
có những biện pháp thiết kế về chuồng trại, sử dụng thức ăn, xử lý phân và chất thải gia súc phù hơp.Theo James P Murphy; Leslie L.Christianson (1996) [3], chuồng nuôi thông thoáng sẽ loại bỏ được hơi ẩm, khí độc, mùi, bụi và vi sinh vật gây bệnh trong không khí Độ ẩm cao trong chuồng nuôi sẽ góp phần vào sự ngưng tụ không khí chứa hơi nước, là nguyên nhân về bệnh hô hấp cho vật nuôi Hiện nay ở nhiều nước chăn nuôi lợn phát triển,trong thiết kế xây dựng chuồng trại đã áp dụng nhiều kiểu hệ thống thông gió cơ khí khác nhau để điều tiết thông thoáng chuồng nuôi
Hệ thống thông gió kiểu đẩy(dùng các quạt thổi khí vào trong), hệ thống thông gió kiểu hút (dùng các quạt hút khí ra khỏi chuồng) Hệ thống kiểu trung hoà dùng quạt cả hút và cung cấp khí với tỉ lệ tương đương nhau
Nhiệt độ chuồng nuôi Lợn điều chỉnh thân nhiệt của chúng bằng cách cân bằng
lượng nhiệt mất đi với lượng nhiệt tạo ra qua trao đổi chất và lượng nhiệt hấp thụ
được.Khi sự khác nhau giữa thân nhiệt và nhiệt độ môi trường trở nên lớn thì tỉ lệ thoát nhiệt sẽ tăng lên.Về mùa lạnh khi nhiệt độ môi trường xuống thấp dưới nhiệt
độ hữu hiệu thì tăng thêm chi phí thức ăn để tăng lượng nhiệt trao đổi chất để vật nuôi tự nó tạo ra nhiều nhiệt lượng để giữ cho cơ thể ấm.Theo Stanley E Custis (1996),[25] khi nhiệt độ thấp hơn 100C so với nhiệt độ tối ưu thì nhu cầu thức ăn/1 lợn nái/1ngày đêm tăng là 0,68 kg.Với lợn choai có khối lượng trung bình 36 kg khi nhiệt độ giảm 7 0C so với nhiệt độ tối ưu thì nhu cầu thức ăn tăng 0,11kg/con/ngày.Với lợn nái khi nhiệt độ chuồng nuôi tăng trên mức tối ưu thì lợn nái giảm thèm ăn và dẫn đến tiết sữa kém Lợn nái chửa nếu chịu stress nhiệt quá lớn có thể gây chết phôi, lợn thịt giảm tăng trọng và tăng chi phí thức ăn
1.4 Xử lý chất thải chăn nuôi
Việc nghiên cứu xử lý chất thải chăn nuôi rất được quan tâm ở nhiều quốc gia
trên thế giới.Tuỳ thuộc vào vị trí chuồng trại, khả năng đầu tư thiết bị mà trong thực tế vận hành nhiều hệ thống xử lý chất thải khác nhau ở các nước trên thế giới như: hệ thống đồng cỏ, hầm chứa lộ thiên, hệ thống các bể lắng lọc, ao hồ sinh học,
hệ thống biogas
Hiện nay xử lý chất thải chăn nuôi bằng hệ thống Biogas được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới.Bên cạnh hệ thống chuồng trại và xử lý chất thải liên tục được cải tiến, hiện nay một số nước chăn nuôi phát triển đang sử dụng các hoá chất hấp thụ mùi, bổ sung các chất sinh học vào thức ăn nhằm nhằm giảm thiểu việc thải Nitơ và hạn chế mùi hôi thối ở phân, nâng cao tăng trọng,giảm chi phí thức ăn, giảm tỉ lệ chết ở lợn (Headon và Walsh (1993) [20 ], D.J.A Cole và cs (1998) [17], Cepta Duffy và P Brooks (1998) [16] R Power và K Tuck (1994) [23]
Một trong những giải pháp xử lý chất thải chăn nuôi được áp dụng là công nghệ Biogas.Từ năm 1960 công nghệ Biogas của các nước Trung Quốc, án Độ, Colômbia,Philipin lần lượt được du nhập vào Việt Nam Theo Nguyễn Quang Khải(2000) [7] tới nay ước tính nước ta có khoảng trên 30.000 công trình sinh học
Trang 9và chủ yếu là Biogas dạng túi nilông, hệ thống này phân huỷ và lên men kém khi mùa đông lạnh, hệ số sinh ga chỉ đạt 1,2- 1,5 chịu áp lực khí thấp do đó tỉ lệ suy thoái cao, ước tính gần 30% Sau nhiều năm nghiên cứu, thử nghiệm các mô hình Biogas của Trung Quốc, Đài Loan và Philipin có cải tiến thì một số mô hình có kết cấu bằng gạch đã được hình thành Đến nay hệ thống Biogas có kết cấu bền vững theo mô hình của Trung Quốc có hệ số sinh khí cao (4-4,5) đã được cải tiến và áp dụng rộng rãi ở các tỉnh phía Bắc.Dương Nguyên Khang và Lê Minh Tuấn (2002) [1]: thì chỉ tiêu COD của chất thải chăn nuôi sau qua xử lý Biogas giảm tương ứng 59,06; 67,79 ; 59,86 và 73,03%, chỉ tiêu E Coli sau xử lý biogas giảm rất cao từ 89,26-99,95% ,chỉ tiêu Coliform giảm từ 51,02- 99,91% Phùng Thị Vân và CS (2003) [11]: cho biết áp dụng một số giải pháp kỹ thuật tổng hợp bao gồm : cải tạo chuồng trại thông thoáng, xử lý chất thải chăn nuôi bằng Biogas, sử dụng chế phẩm sinh học De- odorase bổ sung vào thức ăn, nuôi lợn trên sàn cũi đã cải thiện sức khoẻ đàn lợn :giảm bệnh viêm phổi, bệnh tiêu chảy ở lợn con, bệnh viêm tử cung ở lợn nái tương ứng 4,23 ; 8,53 và 4,84%, tăng năng suất chăn nuôi (tăng khối lượng lợn con/ổ ở 60 ngày tuổi từ 5,26- 5,76%, nâng tăng trọng ở lợn choai từ 22,5
- 28,3 gam/ ngày và giảm chi phí thức ăn/ kg tăng trọng từ 3,15- 4,24%)
Chương II: Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Bốn hộ chăn nuôi lợn ngoại khép kín từ lợn nái đến lợn thịt xuất chuồng với quy
mô từ 10- 20 lợn nái
2.2 Phạm vi nghiên cứu:
Tập trung chủ yếu vào một số chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật của các mô hình chăn nuôi lợn nông trại áp dụng một số giải pháp kỹ thuật tổng hợp
- Địa điểm nghiên cứu:2 hộ có quy mô 20 lợn nái/ hộ tại xã Thanh trì, huyện
Thanh Trì-Hà Nội và 2 hộ có quy mô 10 nái/ hộ tại xã Trung Châu, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây
- Thời gian nghiên cứu: 2002- 2005
- Nội dung nghiên cứu:
+ Khảo sát ảnh hưởng của yếu tố giống tới hiệu quả chăn nuôi lợn trong điều
kiện chăn nuôi nông hộ
+ So sánh hiệu quả sử dụng 2 loại thức ăn chăn nuôi lợn nái chửa
+ Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng của thịt lợn
+ Đánh giá hiệu quả các mô hình chăn nuôi áp dụng một số giải pháp kỹ thuật tổng hợp trong điều kiện chăn nuôi nông hộ
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu trong nông hộ
2.3.1.Bố trí thí nghiệm
Trang 10Thí nghiệm 1: Khảo sát ảnh hưởng của giống tới hiệu quả chăn nuôi lợn
-Từ lợn nái đến lợn choai -Từ lợn nái đến lợn thịt 90kg
2 Giống Lợn nái giống thuần L và Y Lợn nái lai nguồn gốc PIC
3 Thức ăn Thức ăn hỗn hợp của hãng
Cargill
Thức ăn hỗn hợp của hãng Cargill
4 Chuồng
trại
Chuồng 4 mái,lợn nái đẻ, lợn con sau cai sữa nuôi trên lồng cũi
Chuồng 4 mái, lợn nái đẻ, lợn con sau cai sữa nuôi trên lồng cũi
Thí nghiệm 2: Nuôi lợn choai và lợn thịt Nội dung Lô I Lô II Lô III
Phương hức
chăn nuôi
Nuôi từ 60 ngày tuổi đến 90kg
Nuôi từ 60 ngày tuổi đến 90kg
Nuôi từ 60 ngày tuổi đến 40- 45kg (xuất khẩu lợn choai)
Lợn lai 2 máu F1 ( L xY)
Lợn lai 4-5 máu nguồn gốc PIC
Trang 11Thí nghiệm 3: So sánh hiệu quả sử dụng 2 loại thức ăn nuôi lợn nái chửa
-Từ lợn nái đến lợn choai -Từ lợn nái đến lợn thịt 90kg
2 Giống Lợn nái lai có nguồn gốc PIC Lợn nái lai có nguồn gốc
PIC
3 Thức ăn -Thức ăn tự phối chế cho lợn nái
chửa
- Các loại lợn khác nuôi bằng thức ăn hỗn hợp của Cargill
Thức ăn hỗn hợp của hãng Cargill cho tất cả các loại lợn
Ghi chú: Thức ăn tự trộn cho lợn chửa được phối chế từ nguyên liệu sẵn có của địa
phương như bột ngô, cám gạo với thức ăn đậm đặc của hãng thức ăn Cagill theo công thức đã ghi trên bao bì đảm bảo 14% Protein thô và 2900kcalo/1kg thức ăn hỗm hợp Hai thí nghiệm (1 và 3) được tiến hành từ tháng 2 năm 2002 đến tháng 3 năm 2003.Thí nghiệm 2 đựơc tiến hành từ tháng 8 đến tháng 12/ 2002.Thí nghiệm
2 được lặp lại từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2003
2.3.2 Các giải pháp kỹ thuật áp dụng vào các hộ chăn nuôi
+ Lợn nái lai 3 và 4 máu (lợn nái bố mẹ có nguồn gốc PIC)
+ Cải tiến chuồng nuôi để tạo thông thoáng: Cao từ 2,4- 2,6 m, có 4 mái, hạ thành bao chuồng, có bạt che
+ Nuôi lợn nái nuôi con, lợn con theo mẹ trên chuồng cũi/ sàn
+ Sử dụng thức ăn công nghiệp để chăn nuôi các loại lợn
+ áp dụng quy trình chăn nuôi lợn của trung tâm nghiên cứu lợn Thuỵ Phương
Trang 12+ Xử lý chất thải bằng Biogas
+ áp dụng quy trình phòng bệnh cho lợn
Các mô hình chăn nuôi lợn áp dụng các giải pháp kỹ thuật
+ Xây dựng hệ thống biogas + Nái nuôi con,
và lợn con cai sữa nuôi trên sàn, lợn chửa nuôi trên nền trệt
+ Chuồng 4 mái và hạ thấp tường bao +Xây dựng hệ thống biogas
+ Nái nuôi con, nái chửa và lợn con cai sữa nuôi trên sàn
+Chuồng 4 mái
và hạ thấp tường bao
+ Xây dựng hệ thống biogas + Nái nuôi con,
và lợn con cai sữa nuôi trên sàn, lợn chửa nuôi trên nền trệt
-50% nái là lợn bố
mẹ mua từ Viện Chăn nuôi
-50% lợn nái
F1( LY) và F1 (YL) mua của hãng CP
50% lợn thuần L,Y;
50% lợn F1
-50% nái là lợn
Y và L mua từ trại Tam Đảo -50% lợn nái bố
mẹ mua từ Viện Chăn nuôi F1(LY hoặc YL)
50% lợn thuần L,Y; 50% lợn F1
Tất cả các loại lợn
đều ăn thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh
+Lợn nái nuôi con và lợn con cai sữa ăn thức
ăn hỗn hợp hoàn chỉnh
+ lợn chửa và lợn thịt ăn thức
ăn tự trộn Công tác
Có tiêm phòng định
kỳ và bổ sung
Có tiêm phòng
định kỳ và bổ sung
2.3.3 Đánh giá chất lượng thịt lợn
Sau kết thúc vỗ béo đợt II chọn 6 lợn thịt (3 đực thiến và 3 lợn cái) để giết mổ,
trong đó 2 con nuôi tại Trung Châu- Hà Tây và 4 con nuôi tại Thanh trì -Hà Nội
Phương pháp xác định tỉ lệ nạc, mỡ, xương, da theo phương pháp của Liên Xô cũ
Trang 13(mổ khảo sát tách lọc riêng thành các phần: nạc, mỡ, xương, da, sau đó tính tỉ lệ nạc, mỡ, xương, da trên tổng khối lượng thịt xẻ)
Một số chỉ tiêu về thành phần hoá học của thịt được phân tích tại phòng phân tích của viện chăn nuôi
Xác định lượng tồn dư của kim loại nặng và kháng sinh trong thịt lợn được tiến hành tại Trung tâm kiểm tra vệ sinh thú y Trung ương 1
Các chỉ tiêu theo dõi:
*.Các chỉ tiêu kỹ thuật
- Chỉ tiêu số con: Sơ sinh, 21 và 60 ngày tuổi
- Chỉ tiêu khối lượng: 21 và 60 ngày tuổi (lợn con), 40- 45 kg (lợn choai) và 90-
- Các khoản chi phí cho chăn nuôi
- Các khoản thu từ chăn nuôi lợn
2.3.4 Xử lý số liệu:
Thực hiện trên chương trình Exel theo 2 phương pháp sau:
- Theo phương pháp thống kê sinh vật học
- Theo phương pháp thống kê kinh tế
Chương III: Kết quả nghiên cứu
3.1.ảnh hưởng của giống lợn tới khả năng sinh sản và nuôi thịt
3.1.1 ảnh hưởng của giống lợn tới khả năng sinh sản
So sánh khả năng sinh sản giữa trang trại 2 và 3 có khác nhau là sử dụng các giống lợn khác nhau, cụ thể là trang trại 3 sử dụng lợn nái bố mẹ C22 và CA phối với đực dòng cuối cùng 402 (lợn có nguồn gốc PIC) tạo ra con thương phẩm 4 và 5 máu Trang trại 2 nuôi lợn nái là giống thuần Yorkshire và Landrace và 2 giống này cho phối chéo ( nái L phối với đực Y và nái Y phối với đực L) tạo ra con lai F1(Yx L) và F1( LxY) nuôi thịt
Kết quả bảng 1 cho thấy: Các chỉ tiêu về số con của trang trại 3 > trại 2 cụ thể sự sai khác về số con đẻ ra sống/ổ cao hơn 1,32 con (P<0,05); số con cai sữa/ổ cao hơn 0,8 con (P>0,05); số con 60 ngày/ổ cao hơn 0,8 con (P > 0,05 )
Các chỉ tiêu về khối lượng của lợn con ở trang trại3>trang trại 2 Mức chênh lệch về khối lượng sơ sinh/ổ là 0,71 kg; Khối lượng 21 ngày tuổi /ổ cao hơn 4,19 kg; Khối lượng 60 ngày tuổi/ổ cao hơn 12,70kg, các sai khác đều không rõ rệt (P > 0,05 )