QUI TRÌNH KỸ THUẬT SẢN XUẤT LÚA CAO SẢN Bước thực hiện Kết quả cần đạt Hè-Thu 3 Sử dụng giống tốt Chọn giống có năng suất cao, chất lượng gạo tốt và chống chịu rầy nâu và cháy lá và bón
Trang 1Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền nam
Báo cáo tổng kết đề tài nhánh Tập hợp quy trình côngnghệ
thuộc đề tài cấp nhà nước
“Nghiên cứu các giải pháp Khoa học công nghệ và thị trường nhằm phát triển vùng nguyên liệu
phục vụ chế biến và xuất khẩu gạo”
Trang 2
BỘ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam
121 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Q1-Tp.HCM
QUY TRÌNH KỸ THUẬT SẢN XUẤT LÚA CAO SẢN
VÙNG ĐỒNG LỤT
Cơ quan chủ trì: Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp miền Nam
Cơ quan thực hiện: Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long
Chủ nhiệm Đề tài: Ths Huỳnh Trấn Quốc
Trang 3BỘ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam
121 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Q1-Tp.HCM
Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật:
QUY TRÌNH KỸ THUẬT SẢN XUẤT LÚA CAO SẢN
VÙNG ĐỒNG LỤT
Cơ quan chủ trì: Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp miền Nam
Cơ quan thực hiện: Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long
Chủ nhiệm Đề tài: Ths Huỳnh Trấn Quốc
TP.HCM, 6- 2005
Bản thảo viết xong 5/2005
Tài liệu này được chuẩn bị trên cơ sở một số kết quả thực hiện Đề tài cấp Nhà nước mã số KC.06.02.NN
Trang 4QUI TRÌNH KỸ THUẬT SẢN XUẤT LÚA CAO SẢN
Bước thực hiện Kết quả cần đạt
Hè-Thu
3 Sử dụng giống tốt Chọn giống có năng suất cao, chất lượng gạo
tốt và chống chịu rầy nâu và cháy lá
và bón phân đúng cách
quá sâu
(IPM)
Không có bị thiệt hại do sâu bệnh
1 Bước 1: Thời vụ gieo trồng
Vụ Đông-Xuân ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tuy bị lệ thuộc vào thời gian nước lũ rút đi để có thể tiến hành gieo sạ, tuy nhiên cần phải chủ động bơm nước ở những nơi có đủ điều kiện để có thể xuống giống trong tháng 11 dương lịch Một khi gieo sạ trong tháng 11 thì các giống lúa ngắn ngày sẽ trổ vào tháng 01 là giai đoạn có số giờ nắng trong ngày cao nhất, chênh lệch về nhiệt độ ngày và đêm cao nhất; do đó cây lúa sẽ tích
Trang 5lũy chất khô cao nhất và như vậy sẽ cho năng suất lúa cao nhất Vụ Hè –Thu cần gieo sạ vào đầu tháng 5 dương lịch để khi lúa trổ tránh được lúc mưa bão nhiều nhằm làm giảm tỉ
lệ lép mà đây là nguyên nhân chính gây sụt giảm nghiêm trọng cho năng suất lúa vụ này
2 Bước 2: Sử dụng giống tốt
Giống lúa được chọn để gieo trồng cần phải có năng suất cao, phẩm chất tốt và chống chịu được một số sâu bệnh hại chính như rầy nâu và đạo ôn (cháy lá) như vậy có thể tiết kiệm được đáng kể chi phí cho việc sử dụng thuốc Ngoài ra nên sử dụng hạt giống khoẻ (hạt vàng sáng không có đốm đen) và bảo đảm độ nảy mầm tốt (hơn 95%) để
có thể tiết kiệm được số lượng giống dùng trong gieo sạ Các giống lúa như: Jasmine 85, OMCS2000, OM 3536, OM 2717, OM 3242 và OM2395 nên được sử dụng vì qua kết quả khảo nghiệm của Viện lúa ĐBSCL cũng như trong các thí nghiệm khác đã minh chứng rằng các giống này thích nghi rộng, có năng suất cao và phẩm chất gạo tốt
Hình 1 Giống OM2717
Trang 6ĐẶC TÍNH MỘT SỐ GIỐNG LÚA PHỔ BIẾN VÀ TRIỂN VỌNG
Phẩm chất gạo một số giống lúa có triển vọng
(Báo cáo kết quả KHCN của Viên lúa 2004)
TGST (Ngày)
N.S T/ha
Gạo nguyên (%)
Dài hạt (mm)
D/R Amylose
(%)
Bạc bụng cấp (%) OM2717 77,8 67,9 47,5 7,0 3,3 24,7 8,6 OM2395 72,8 62,7 51,7 7,2 3,3 24,5 8,6 OM3536 76,7 63,9 34,6 7,1 3,7 22,3 3,2 OM3242 79,0 62,7 48,6 6,9 3,4 24,8 7,0
Trang 7Nên dùng giống lúa xác nhận trong sản xuất để đạt độ thuần của giống cao tránh lẫn tạp do hạt cỏ, lúa cỏ… và để có độ nảy mầm cao Hiện nay các giống xác nhận được sản xuất bởi các Viện, Trường và Trung Tâm giống ở các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long
3 Bước 3: Sửa soạn đất
Đất cần được cày phơi ải sau khi thu hoạch lúa Đông –Xuân để đất không bị chua
do phèn di chuyển lên đất mặt, giúp vi sinh vật hoạt động tốt hơn và đồng thời còn có tác dụng làm vệ sinh đồng ruộng cho tốt hơn (diệt cỏ và chôn vùi rơm rạ) Thực tế đã chứng minh cho thấy trong những năm qua những nơi ruộng có cày ải đã góp phần tăng năng suất lên khoảng 1 tấn lúa/ha
Đồng ruộng cần phải được san phẳng để thuận tiện cho việc gieo sạ, chăm sóc, quản lý nước, quản lý cỏ dại và hạn chế chuột phá hoại Mặt bằng đồng ruộng còn có ý nghĩa quyết định trong việc bảo đảm số bông trên một đơn vị diện tích do đảm bảo được mật độ gieo sạ
Các thao tác trong việc sửa soạn đất bao gồm:
1 Cày phơi ải đất: được thực hiện ngay sau khi thu hoạch lúa Đông Xuân khi đất còn ẩm để diệt cỏ, hạ phèn, diệt ốc bưu vàng và giúp vi sinh vật hoạt động khoáng hoá tốt;
Trang 82 Bừa đất: có tác dụng làm cho đất tơi nhỏ ra và cũng giúp cho phân hủy rơm rạ được nhanh chóng hơn;
3 San phẳng mặt ruộng (trang đất);
4 Đánh bùn: có mục đích diệt cỏ, diệt ốc bằng cơ giới và sau đó rút nước để phòng ngừa cho lúa không bị ngộ độc do các acid hữu cơ được hình thành trong quá trình phân hủy rơm rạ
4 trên bảng so màu lá trong giai đoạn từ khi sạ lúa đến trước khi lúa trổ Cần kiểm tra màu
lá thường xuyên để giúp chúng ta xác định thời điểm bón phân cho chính xác Lá được chọn để so màu lá là đã phát triển hoàn toàn từ trên ngọn lúa
Bảng so màu lá lúa
Trang 9Một cách khác để xác định thời điểm cây lúa cần được bón thêm đạm là so sánh màu của lúa dọc theo bờ ruộng với lúa bên trong ruộng Nếu màu của lúa bên trong có màu vàng hơn lúa dọc theo bờ là lúc đó nên bón thêm phân đạm (chú ý không nên bón phân đạm khi ruộng có quá nhiều nước để tránh đạm bị mất đi do bốc hơi)
Lượng phân lân 60 kg P2O5 chỉ nên áp dụng cho ruộng nhiều phèn và trong điều kiện nếu trả rơm rạ lại cho đất thì mức phân kali chỉ nên sử dụng ở liều thấp 30 kg K2O/ha
là đủ Phân lân dạng super nên bón lót toàn bộ, nếu dùng lân dạng dễ tan như DAP thì nên chia làm 2 lần bón Lần 1 vào thời điểm 5 NSKS và lần 2 vào giai đoạn tượng đòng (35 NSKS) Phân kali cũng nên chia làm 2 lần bón mỗi lần ½ số lượng cùng lúc với bón lân
5 Bước 5: Phòng trừ cỏ dại
Cỏ dại cạnh tranh ánh sáng và dưỡng chất với cây trồng do vậy cần triệt để phòng
và trừ cỏ; nên diệt cỏ trước khi cỏ trổ bông để tránh việc cỏ phát tán Người nông dân có thể lựa chọn một trong 3 phương pháp diệt cỏ sau đây:
1 Biện pháp cơ giới: bao gồm nhổ cỏ bằng tay, dùng dao, cuốc hoặc dùng máy kéo
để cày, trục… Tuỳ theo số lượng cỏ và các điều kiện thuận tiện mà lựa chọn thời điểm áp dụng cho thích hợp
2 Biện pháp canh tác: bao gồm việc điều chỉnh mực nước ruộng trên ruộng có mặt bằng tốt là biện pháp khá hiệu quả và ít tốn kém Ngoài ra người dân còn có thể dùng mật độ sạ dày để khống chế cỏ cũng như luân canh để khống chế cỏ
3 Biện pháp hoá học: hiện nay là biện pháp phổ biến nhất để diệt cỏ Nên sử dụng thuốc diệt cỏ trong thời gian chậm nhất 3 NSKS bằng những loại thuốc tiền và hậu nẩy mầm
Trang 10Các loại thuốc diệt cỏ trên ruộng lúa
Hướng dẫn dùng thuốc
6 Bước 6: Quản lý nước
Nước không những cần thiết cho cây lúa phát triển mà còn giúp cho chúng ta khống chế được cỏ dại Mức nước tối hảo được khuyến cáo là vào khoảng 5cm để vừa hạn chế
cỏ đồng thời giúp cho lúa đẻ chồi tốt hơn và hạn chế sự lây lan của bệnh bạc lá (nếu có) Mức nước tối hảo cho lúa qua các giai đoạn phát triển như sau:
1 Giai đoạn mạ: sau khi gieo sạ và lúa đã được 1 tuần tuổi thì mức nước ruộng được điều chỉnh ở mức 3-5 cm;
2 Giai đoạn đẻ chồi tích cực: mức nước tối hảo không quá 10cm;
3 Giai đoạn tượng khối sơ khởi (có đòng đất): giữ đất ẩm 1 tuần và sau đó tiếp tục cho ngập ở mức 10 cm cho đến khi trổ;
4 Giai đoạn chín: một khi lúa đã vào chắc (thời điểm 2 tuần sau khi trổ đều) nên tháo nước cho ruộng khô để thuận tiện cho việc thu hoạch và tránh thất thoát
7 Bước 7: Phòng trừ sâu bệnh
Phòng trừ sâu bệnh cho lúa được khuyến cáo nên áp dụng phương pháp IPM để tiết kiệm chi phí, tránh gây ô nhiễm cho môi trường Tuy nhiên để đảm bảo cho phương pháp này thành công thì việc dùng giống chống chịu với sâu bệnh hại mang tính quyết định nhất là trong tình hình dịch hại do cháy lá và rầy nâu Tuyệt đối tránh việc bón phân đạm
Trang 11quá dư thừa làm cho dịch bệnh dễ phát triển Cần thường xuyên thăm đồng để kịp thời phát hiện dịch hại và áp dụng thuốc theo ngưỡng được khuyến cáo
Để ngăn ngừa rầy nâu một cách có hiệu quả nên dùng giống kháng, không bón phân đạm quá nhiều và nhất là không nên gieo sạ ở mật độ quá dày Một khi rầy nâu bộc phát nên ngưng bón phân đạm, thoát nước ruộng và dùng thuốc Mipcin hoặc Bassa để trừ rầy non khi chúng vừa nở
Trang 12Đề phòng bệnh cháy lá kinh tế nhất là dùng giống kháng, không nên bón dư thừa phân đạm, không nên gieo sạ quá dày và nhất là nên thường xuyên thăm đồng đặc biệt là vào những ngày có nhiều mây mù, có ẩm độ cao nhằm kịp thời phát hiện bệnh để dùng thuốc cho có hiệu quả hơn Các loại thuốc trừ nấm như probenazole, tricyclazole, fthalide, pyroquilon và tricyclazole đều trị bệnh cháy lá rất hữu hiệu
8 Bước 8: Thu hoạch & tồn trữ
Cần thu hoạch khi đúng độ chín (giai đoạn chín sinh lý khi 80-90% lúa đã vàng) để giảm tổn thất do rơi vãi lúc thu hoạch và làm tăng tỉ lệ gạo nguyên Lúa cần được phơi sấy và đảm bảo cho ẩm độ hạt khi tồn trữ khoảng 14% và để nơi thoáng mát nhằm bảo đảm phẩm chất và giảm bị sâu mọt, nấm bệnh tấn công
Trang 13
BỘ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam
121 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Q1-Tp.HCM
Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật:
QUY TRÌNH SẢN XUẤT LÚA CAO SẢN XUẤT KHẨU
VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI
Cơ quan chủ trì: Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp miền Nam
Cơ quan thực hiện: Trung Tâm Nghiên Cứu Thực Nghiệm Nơng Nghiệp Đồng Tháp Mười
Chủ nhiệm Đề tài: Ths Huỳnh Trấn Quốc
Trang 14BỘ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam
121 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Q1-Tp.HCM
Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật:
QUY TRÌNH SẢN XUẤT LÚA CAO SẢN XUẤT KHẨU
VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI
Cơ quan chủ trì: Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp miền Nam
Cơ quan thực hiện: Trung Tâm Nghiên Cứu Thực Nghiệm Nơng Nghiệp Đồng Tháp Mười
Chủ nhiệm Đề tài: Ths Huỳnh Trấn Quốc
TP.HCM, 5- 2005
Bản thảo viết xong 4/2005
Tài liệu này được chuẩn bị trên cơ sở một số kết quả thực hiện Đề tài cấp Nhà nước mã số KC.06.02.NN
Trang 15Cơ quan chủ trì: Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp miền Nam
Cơ quan thực hiện: Trung Tâm Nghiên Cứu Thực Nghiệm Nông Nghiệp Đồng Tháp Mười
Chủ nhiệm Đề tài: Ths Huỳnh Trấn Quốc
Trang 16QUY TRÌNH SẢN XUẤT LÚA CAO SẢN XUẤT KHẨU
VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI
Từ các kết quả nghiên cứu thử nghiệm, quy trình kỹ thuật sản xuất lúa cao sản xuất khẩu trên đất phèn trung bình ở Đồng Tháp Mười đã được xây dựng và hoàn thiện Các điểm cải tiến chính của quy trình kỹ thuật so với quy trình của nông dân là giảm được lượng giống gieo sạ, áp dụng phương pháp sạ hàng, bón phân cân đối hợp lý và áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp Ngoài ra, quy trình còn khuyến cáo thu hoạch đúng thời điểm (90-95% độ chín), áp dụng công nghệ thu hoạch và sau thu hoạch (sử dụng máy cắt rãi và máy sấy lúa)
Các nội dung chính của quy trình là:
1 Chuẩn bị đất
Làm đất chuẩn bị ruộng sạ rất quan trọng Mặt bằng ruộng phẳng sẽ thuận lợi cho việc điều tiết nước trên ruộng Chuẩn bị ruộng tốt sẽ hạn chế cỏ dại phát triển, giúp cây mọc đều, hạn chế công tỉa dặm sau này Mặt bằng ruộng tốt cũng là cơ sở để có thể áp dụng biện pháp sạ hàng, sạ thưa Trước khi sạ, ruộng cần được:
- Vệ sinh đồng ruộng để hạn chế cỏ dại, lúa nền và sâu bệnh;
- Cày 1 lần, trục 1-2 lần để đảm bảo ruộng bằng phẳng, đất tơi nhuyễn, sạch cỏ;
- Sang sửa mặt bằng ruộng (nếu cần)
- Tu sửa, nạo vét hệ thống kênh nội đồng để tưới, tiêu thuận lợi
2 Thời vụ
Đối với vụ Đông Xuân:
Phương châm: chủ động sạ sớm, gieo sạ đồng loạt Áp dụng:
- Quy luật sạ càng sớm, năng suất lúa càng cao ở vụ Đông Xuân;
- Sạ đồng loạt tránh ló đầu, ló đuôi để hạn chế chim chuột, sâu bệnh
Thời gian gieo sạ thích hợp: 15/11-31/12 (dương lịch)
Trang 17Đối với vụ Hè Thu:
Phương châm:
- Né cao điểm của mặn và phèn đầu vụ (nếu có);
- Tránh được lũ cuối vụ;
- Sạ đồng loạt tránh ló đầu, ló đuôi
Thời gian gieo sạ thích hợp: 1/4-10/5 (dương lịch)
3 Chuẩn bị giống
- Một số giống lúa cao sản xuất khẩu thích hợp cho vùng Đồng Tháp Mười: VND95-20, OMCS 2000, Jasmine 85, IR64
- Sử dụng giống có độ thuần cao (cấp xác nhận trở lên);
- Nên thử tỷ lệ này mầm và sức nảy mầm lô giống trước khi ngâm ủ, đảm bảo tỷ lệ nảy mầm ≥85%;
- Hạt giống nảy mầm đều, khỏe là yêu cầu đầu tiên đối với lúa sạ
- Nguyên tắc chung trong ngâm ủ hạt giống: ngâm cho hạt no nước, ủ đủ ẩm để hạt nảy mầm nhanh, khỏe và đều
- Cách ngâm ủ:
+ Loại hạt lép, lửng và hạt cỏ (nếu có) bằng cách rê, sảy, đãi nước,
+ Cho hạt giống vào các bao ngâm (bao không bí hơi), trọng lượng 15-20 kg/bao
rạch Thời gian ngâm từ 24-36 giờ
Nên ủ bằng rơm rạ, cỏ khô Thời gian ủ khoảng 24 giờ, lúc này hạt giống đã nứt nanh
+ Nên xử lý hạt giống bằng một số chế phẩm để tăng tính kháng và phòng sâu bệnh (Regent, Actara, K-Humate, Risopla, ) Đối với giống Jasmine 85 cần phải xử lý hạt giống bằng thuốc Carban 50 SC, Carben 50 WP để diệt nấm lúa von
Trang 184 Lượng giống và phương pháp gieo sạ
- Lượng giống sạ: 100-120 kg/ha
- Phương pháp sạ: nên sạ lúa theo hàng
- Một số chú ý trong kỹ thuật sạ hàng:
+ Khi cho hạt giống lúa vào trống chỉ cho 2/3 là đủ, nếu đổ đầy hạt không lăn tròn trong trống để tự rơi xuống được Khi trống còn khoảng 1/3 nên đổ thêm giống vào đầy lại 2/3 để tránh tình trạng hạt rơi xuống hơn bình thường
+ Chú ý lau khô tất cả các trống Không để nước bắn vào trống, nếu trống bị ướt hạt giống khó rơi ra đều
+ Thao tác khi kéo máy: trước khi kéo máy phải làm động tác đẩy lùi (gạt mạnh 1 cái về phía sau) rồi mới kéo tới thì hạt mới rơi ra Nếu quên động tác này thì 30-50cm đầu tiên, lượng hạt giống rơi ra rất ít hoặc không có hạt rơi Bước chân đi cần phải đều thẳng, tránh giật cục
Ruộng lúa sạ theo hàng
Trang 19Cơ sở khoa học của việc bón phân:
chất trong đất và khả năng giữ phân khác nhau, ngay cả trong cùng một loại đất thì độ cao của ruộng khác nhau thì yêu cầu về phân bón cũng khác nhau
nhất định, có giống chịu phân, có giống chịu phân yếu
+ Nhu cầu sinh lý của cây: cây cần loại phân gì, lúc nào, nhiều hay ít Trên cơ sở
đó đáp ứng tốt nhu cầu dinh dưỡng của cây để cây sinh trưởng - phát triển thuận lợi:
Nhu cầu về đạm: cây lúa cần gần như suốt vụ nhưng có 4 đỉnh quan trọng là cây con, đẻ nhánh, làm đòng và trổ xẹt
Nhu cầu về lân: cần nhiều ở giai đoạn đầu, nguyên tắc cung cấp lân càng sớm càng tốt Bón dứt điểm lân vào giai đoạn đẻ nhánh
Nhu cầu về kali: cần ở 3 đỉnh chính: cây con, đòng và trổ Trong đó giai đoạn làm đòng yêu cầu kali là cao nhất
bồi đắp, ít phèn nên lượng phân có thể giảm Ngược lại, vụ Hè Thu thường bị phèn nên phải tăng lượng lân và nên bón phân đợt 1 sớm và nhiều hơn vì đất khoáng hóa yếu
Nguyên tắc bón phân:
+ Bón phân theo nguyên tắc nạng đầu nhẹ cuối cho cây: nguyên tắc này dựa trên nhu cầu sinh lý dinh dưỡng của cây lúa, nhất là phân đạm và phân lân Mục tiêu là tạo cây con khỏe, đẻ nhánh sớm, đẻ tập trung để có số nhánh hữu hiệu cao và bông con lớn như bông cái
+ Bón phân để điều chỉnh ruộng lúa tuân theo qui luật 2 xanh - 2 vàng
+ Bón phân đợt 3 theo nguyên tắc không ngày - không số: với phân bón ở đợt 1, đợt 2 nếu có sai vẫn còn sửa được, nhưng từ đợt 3 thì phải cẩn thận Bón phân đợt
3 hợp lý làm tăng năng suất rõ rệt, ngược lại sẽ làm giảm năng suất đáng kể, nhất
Trang 20Bón phân đợt 3 về thời gian và lượng bón tùy thuộc vào thời điểm cây lúa chuyển vàng Cây lúa chuyển vàng chậm cũng có nghĩa là cây lúa đang dư đạm Trong trường hợp như vậy, cần dời thời điểm bón trễ lại, bón ít phân đạm và tăng lượng kali
+ Bón phân phải có sự điều chỉnh cho đều trên quần thể ruộng: chỗ gò, chỗ xấu bón nặng tay hơn; chỗ trũng, tốt bón nhẹ tay và có thể tăng thêm kali
+ Ruộng bón phân phải có nước và giữ được nước: để tránh mất phân do bay hơi hoặc rửa trôi
+ Bón phân dựa theo thời tiết: trời âm u, sắp có mưa không nên bón vì cũng dễ mất phân
+ Khi lúa đang bị bệnh không nên bón phân, mà phải trị bệnh xong mới bón + Trường hợp bị ngộ độc phèn thì ngưng bón đạm mà phải xử lý phèn, giải độc cho cây, khi lúa hồi phục, trở lại màu xanh thì mới bón đạm
Dạng loại, thời kỳ và lượng phân bón cho lúa ở Đồng Tháp Mười:
- Dạng loại phân bón: có thể dùng các loại phân đơn (Lân nung chảy, Lân Super Long Thành, Urea, Kali clorua, ) hay phân phức (DAP, NPK 16-16-8, 20-20-15, ) Trong điều kiện giá phân ngoại tăng cao như hiện nay thì việc sử dụng phân nội (Lân nung chảy, Lân Super Long Thành) sẽ có lợi hơn
- Lượng bón: theo chân đất và thời vụ gieo trồng Lượng bón có thể áp dụng công thức 80-100N + 60-80P2O5 + 45-60K2O Thông thường vụ Hè Thu cần tăng lượng lân bón khoảng 10% để cung cấp lân và hạn chế ngộ độc phèn cho cây lúa Lượng phân đạm nên bón theo bảng so màu lá lúa
- Thời kỳ bón:
+ Đạm:
Thúc 1 (8-10 ngày sau sạ): 40% lượng N (không cần bảng so màu)
Thúc 2 (18-22 ngày sau sạ): khoảng 17 ngày sau sạ, so màu lá lúa để xác định đúng lượng và thời điểm bón đạm mà cây lúa cần Điều chỉnh lượng đạm theo màu lá lúa
Trang 21Thúc 3 (40-45 ngày sau sạ): từ 35 ngày sau sạ, so màu lá lúa để xác định đúng lượng và thời điểm bón đạm mà cây lúa cần
Cách so màu và điều chỉnh lượng bón: So màu vào cùng thời gian (từ 8-10 giờ sáng) Khi đo, lưng của người so màu hướng về phía mặt trời và chỉ 1 người thực hiện việc so màu trong suốt vụ lúa Chọn ngẫu nhiên 20 lá lúa (lá đã hoàn chỉnh và cao nhất trong bụi lúa) từ 4-5 vị trí khác nhau trên các giống của 2 qui trình So màu tại điểm lá lúa 2/5 tính
từ chóp lá trở xuống Không tách đôi hoặc làm hư lá lúa Ghi nhận số khung màu của từng lá rồi tính trị số trung bình của 20 lá đã được so Nếu trị số trung bình ở dưới khung màu chuẩn (khung số 4 - đối với lúa sạ) là lúc lúa thiếu đạm thì nên bón thêm lượng đạm theo hướng dẫn:
Lúa 18-22 ngày sau sạ: bón 50-60 kg Urê (ĐX); 40-50 kg Urê (HT)
Lúa 40-45 ngày sau sạ: bón 40-50 kg Urê (ĐX); 30-40 kg Urê (HT)
+ Lân: Bón lót: 100% lân nung chảy, tương đương khoảng 25-50% P2O5
Thúc 1 (8-10 ngày sau sạ): 50-25% P2O5 bằng DAP
Thúc 2 (16-22 ngày sau sạ): 25% P2O5 bằng DAP
+ Kali: Thúc 1 (8-10 ngày sau sạ): 33% K2O bằng KCl
Thúc 3 (40-45 ngày sau sạ): 67% K2O bằng KCl
Bảng so màu lá lúa
Ghi chú: có thể sử dụng phân bón lá để điều chỉnh quần thể ruộng lúa và cung cấp vi lượng
Trang 22Một số công thức bón phân cho lúa trên đất phèn trung bình ở Đồng Tháp Mười:
Công thức phân bón sử dụng: ~ 80 N + 60 P2O5 + 60 K2O Có thể chọn 1 trong các cách bón sau:
Đợt 3: LĐ (40-45 NSS)
Tổng lượng phân/ha/vụ
~ 40 kg Urê (so màu lá)
40 kg Urê (so màu lá)
40 kg Urê (so màu lá)
70 kg KCl
130 kg DAP
125 kg Urê
100 kg KCl
Ghi chú: CC: giai đoạn cây con; ĐN: giai đoạn đẻ nhánh; LĐ: giai đoạn làm đòng
6 Phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại hại lúa
Nguyên tắc phòng trừ sâu bệnh, cỏ dại hại lúa:
- Cỏ dại: tùy loại cỏ và mức độ trên ruộng, chọn đúng loại thuốc trừ cỏ Chú ý đến
độ ẩm trước và sau khi xịt theo hướng dẫn của từng loại thuốc
- Sâu: áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), hạn chế dùng thuốc khi lúa dưới 40 ngày tuổi
- Bệnh: phát hiện sớm, phòng trừ kịp thời
Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM):
* Nội dung trong IPM:
- Trồng cây khỏe: đây là nguyên tắc quan trọng nhất, cần áp dụng một cách hài hòa các biện pháp canh tác để cho cây khỏe, chống chịu được với sâu bệnh và thời tiết bất lợi
Trang 23- Bảo vệ thiên địch: trong thiên nhiên (cụ thể là trong ruộng lúa) có nhiều sinh vật có ích (thiên địch), chúng diệt sâu bệnh hại Vì vậy cần tạo môi trường thuận lợi cho chúng phát triển, chính chúng là yếu tố hạn chế dịch hại
- Thăm đồng thường xuyên: cần điều tra hệ sinh thái trên đồng ruộng mỗi tuần hay vài ngày/lần để phát hiện những yếu tố bất lợi cho cây trồng Xác định tỷ lệ giữa thiên địch và sâu hại, từ đó quyết định biện pháp xử lý để hạn chế thiệt hại do dịch hại gây ra giúp cây trồng phát triển tốt
- Nông dân trở thành chuyên gia: nông dân được huấn luyện để trở thành những chuyên gia, có khả năng nhận dạng được sâu bệnh và xử lý kịp thời những bất lợi trên đồng ruộng bằng các biện pháp kỹ thuật thích hợp nhất, đồng thời cũng là người huấn luyện và truyền đạt lại cho những nông dân khác để cùng thực hiện chương trình quản lý dịch hại tổng hợp trên phạm vi rộng lớn
* Các biện pháp kỹ thuật trong IPM:
- Sử dụng giống kháng: là một trong những biện pháp quan trọng, dễ áp dụng, ít tốn kém, hiệu quả cao Trên cùng cánh đồng, không nên trồng một giống chiếm quá 60% diện tích để giữ tính kháng của giống được lâu
- Biện pháp canh tác gồm: chuẩn bị đất, bố trí thời vụ, mật độ gieo sạ, bón phân hợp
lý, chăm sóc vệ sinh đồng ruộng tốt, quản lý nước theo quy trình mới, dùng nước
ém cỏ, sử dụng phân phân bón lá (K-Humate, Hydrophos, ) để điều chỉnh quần thể ruộng lúa phát triển tốt và đồng đều
- Biện pháp sinh học: là biện pháp mang lại hiệu quả kinh tế cao, không gây ảnh hưởng tới môi trường và sức khỏe con nguời
+ Tạo môi trường thuận lợi cho một một số loại côn trùng, nấm bệnh có ích trong thiên nhiên (còn gọi là thiên địch) để chúng khống chế một số sâu bệnh hại như không dùng thuốc sâu sớm và loại thuốc có độ độc hại cao
+ Nuôi vịt hoặc cá trên ruộng lúa ăn sâu trong mô hình lúa-cá-vịt
- Biện pháp vật lý: bẫy đèn, trực tiếp bắt sâu, quơ chà tre gạt sâu phao, trực tiếp đào hang, dặm cù bắt chuột,
Trang 24- Biện pháp hóa học: đây là biện pháp cuối cùng để ngăn chặn thiệt hại do sâu bệnh hại gây ra khi mật số hoặc tỷ lệ quá cao
+ Ưu điểm: dễ sử dụng, hiệu quả diệt sâu bệnh cao và nhanh, dùng khống chế và dập dịch
+ Nhược điểm: chi phí cao, gây độc cho người, diệt thiên địch, phá vỡ cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường, …
Chú ý: khi sử dụng thuốc hóa học cần tuân thủ theo nguyên tắc 4 đúng:
loại thuốc có hiệu quả cao nhất, hiệu quả chọn lọc cho từng đối tượng sâu bệnh, không nên chọn loại thuốc phổ rộng
theo đối tượng, đảm bảo từ 320-400 lít/ha
- Đúng lúc: phun vào lúc sức chống chịu của sâu kém nhất (ví dụ như với rầy phun khi tuổi 2-3), chỉ phun thuốc khi đến mức ngưỡng kinh tế cần phòng trừ
- Đúng cách: cần phun đúng vị trí sâu bệnh trú ẩn
Một số sâu bệnh hại chính trên lúa và biện pháp phòng trừ:
* Bù lạch còn gọi là bọ trĩ (Baliothrips biformis):
- Đặc điểm chính: trưởng thành màu nâu đậm, có cánh, di chuyển xa, vòng đời ngắn (15-20 ngày) nên mật số gia tăng rất nhanh theo thời gian
- Triệu chứng lúa bị hại: bù lạch chích hút nhựa nên lá có những đường sọc màu bạc
- bị nặng chỉ còn màng biểu bì trong suốt (mất màu xanh) Lá lúa cuốn lại, cả đám ruộng trông có màu vàng đỏ
- Điều kiện phát sinh-phát triển: thời tiết khô hạn, nhiệt độ cao Ở Đồng Tháp Mười,
bù lạch phát triển mạnh ở đầu vụ Hè Thu, tấn công mạnh những ruộng thiếu nước (bị hạn, bị xì phèn) Mưa nhiều làm giảm mật số bù lạch Trà muộn thì bị hại hơn
do mật số được tích lũy cao
Trang 25Bù lạch hại lúa
- Biện pháp phòng trừ:
+ Kiểm tra đồng ruộng thường xuyên, quan sát màu sắc ruộng
+ Phát hiện bằng cách nhúng ướt tay, sau đó quơ nhẹ trên ngọn lúa
+ Điều khiển nước trên ruộng hợp lý Đưa nước vào, bón phân có thể sẽ hết bù lạch
+ Dùng thuốc hóa học: sử dụng các loại thuốc như Bassa 50ND, Bassan 50EC, Bian 40EC, Mipcide 20EC, Applaud 10WP, Trebon 10EC, Actara, …
* Sâu phao còn gọi là sâu đeo (Nymphula depunctalis):
- Triệu chứng gây hại: sâu non cắn lá, ăn mô diệp lục để lại biểu bì làm cho lá còn màu trắng Sâu cắn lá, cuộn thành phao rơi xuống nước và sống ở đó, ban đêm để
cả phao bò lên ăn lá Sâu chủ yếu hại vào thời kỳ lúa đẻ nhánh (15-30 ngày tuổi)
Sâu phao hại lúa
Trang 26- Điều kiện phát sinh - phát triển:
+ Ruộng có nhiều nước
+ Ruộng lúa non, mềm
+ Lúa lớn mức độ hại giảm
- Biện pháp phòng trừ:
+ Rút cạn nước ruộng
+ Nuôi vịt con thả vào ruộng để ăn phao
+ Dùng một số loại thuốc diệt trừ như: Kinalux, Permecide 50EC, Decis 2,5EC,
Fastac 5EC, Vinetox 95BHN, …
* Sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis) :
Là loại sâu hại không nguy hiểm, dễ phòng trừ Tuy nhiên nếu hại vào giai đoạn trổ - chín mà không phòng trừ tốt sẽ làm giảm năng suất đáng kể do lá đòng bị hư hại
- Triệu chứng: sâu non cuốn lá lại thành tổ và ăn lớp biểu bì lá, ruộng bị hại sẽ có vùng bị ăn trắng do bị sâu cạp mất biểu bì
- Điều kiện phát sinh - phát triển: vòng đời: 30- 35 ngày, trứng sẽ nở sau đẻ 6-7
ngày Ruộng lúa rậm rạp, xanh tốt, lá lúa mềm, lá lớn… là những nơi bướm thích đến đẻ trứng Thiên địch cũng là tác nhân hạn chế sự phát triển của loại sâu hại này
Sâu cuốn lá nhỏ hại lúa
Trang 27- Biện pháp phòng trừ:
Dọn cỏ xung quanh ruộng lúa diệt ký chủ và mầm mống của sâu hại
Mật độ giống sạ vừa phải
Bón phân cân đối giữa N-P-K
Bảo vệ thiên địch bằng cách hạn chế phun thuốc dưới 40 ngày
+ Dùng thuốc hóa học: Regent 800WG, Padan 95 SP, Fastac 5EC, Cyperan,
Diaphos, …
Chú ý khi dùng thuốc:
+ Phun khi sâu còn nhỏ (sau khi bướm ra rộ 1 tuần)
+ Trộn thêm ít mật, đường vào dung dịch thuốc để thu hút sâu non ra ăn
* Rầy nâu (Nilaparvata lugens):
Ngoài gây hại trực tiếp làm lúa cháy rầy, rầy nâu còn truyền một số bệnh do siêu vi gây lên như bệnh lúa cỏ, bệnh lúa lùn
- Đặc điểm hình dạng: trưởng thành: có màu nâu hay xám, dài 3,5 - 4,5 mm, có 2 dạng cánh ngắn và cánh dài tồn tại tùy theo nguồn thức ăn trên đồng ruộng Chúng có thể
đẻ từ 100-300 trứng trong suốt cuộc đời 2 tuần của nó Rầy non: có 5 tuổi, màu từ trắng xám tới hồng sậm Trứng: hình bầu dục, màu trắng sữa, gần nở có màu vàng Trứng đẻ xếp thành hàng như nải chuối trong bẹ lá rất khó phát hiện
Rầy nâu hại lúa
- Qui luật phát sinh - phát triển:
+ Mỗi năm trung bình có từ 12-13 lứa rầy
Trang 28+ Rầy nâu gây hại trên các trà lúa trong năm: như lúa Đông Xuân, lúa Hè Thu và lúa mùa Thường gây hại vào cuối của mỗi vụ lúa do có sự tích lũy mật số ngày càng tăng
+ Nguyên nhân dẫn đến sự phát triển của rầy nâu là: có nguồn thức ăn quanh năm trên đồng ruộng, sử dụng giống lúa nhiễm, sử dụng nông dược không hợp lý (diệt thiên địch)
+ Ký chủ của rầy chủ yếu là lúa - lúa ma, mía
- Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: sử dụng giống lúa kháng rầy hay hơi kháng có hiệu quả nhất Vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ, gieo trồng tập trung, không nên gieo trồng 3 vụ lúa/năm, sạ mật độ vừa phải (100 - 120 kg/ha), gieo theo hàng bằng máy càng tốt, bón phân cân đối, không bón dư phân đạm
+ Biện pháp sinh học: thả vịt con vào ruộng diệt rầy, bảo vệ thiên địch trên đồng ruộng
+ Biện pháp lý học: dùng bẫy đèn để diệt trưởng thành cánh dài, dùng dầu Gazol rãi trên mặt nước kết hợp phun xịt diệt rầy nâu rơi xuống
+ Biện pháp hóa học: sử dụng một số loại thuốc đặc trị như: Carbosan 25EC, Bassa, Mipcide, Trebon, Applaud, Actara, Butyl, Hopfa, … theo như khuyến cáo trên nhãn thuốc Trước khi xịt nên bơm nước vào cho rầy tập trung ở chảng ba cây lúa, khi xịt vẹt lúa, chĩa vòi phun xuống gốc, xịt lúc mát trời khi rầy cám ở tuổi 2-3
* Rệp gié còn gọi là nhện đỏ hay nhện bạc (Steneotarsonemus spinki):
Rệp gié thuộc loài nhện là đối tượng nguy hiểm và rất khó phát hiện
- Triệu chứng: nhện thường sống trong các bẹ lá lúa, gây hại bằng cách chích hút nhựa cây và để lại nhiều sọc dài màu nâu tím bên ngoài bẹ lá (An Giang gọi bệnh sọc còn nông dân Đồng Tháp Mười gọi là bệnh cạo gió) Khi mật số cao, chúng bò lên bông lúa và chích hút các gié đang phát triển (bông thẳng đứng vì phần lớn hạt đều bị lép)
Trang 29- Điều kiện phát sinh - phát triển: rệp gié gây hại nặng trong vụ hè thu đặc biệt khi
có các đợt nắng nóng, khô hạn Ruộng gieo sạ quá dày hay bón nhiều đạm làm rệp gié bộc phát
- Biện pháp phòng trừ:
Dọn cỏ xung quanh ruộng lúa diệt ký chủ và mầm mống của sâu Mật độ giống sạ vừa phải
Bón phân cân đối giữa N-P-K
Bảo vệ thiên địch bằng cách không phun thuốc dưới 40 ngày
+ Dùng thuốc hóa học: sử dụng thuốc đặc trị nhện như: Brightin 1.8EC, Ortus,
Kumulus 80DF
*Bệnh đạo ôn còn gọi là bệnh cháy lá, bệnh cổ trầu (do nấm Pyricularia oryzae):
Bệnh này gây hại trên lúa ở bộ phận lá và cả bông Trên bông có tên là đạo ôn cổ bông
- Triệu chứng:
+ Trên lá: vết bệnh điển hình có hình con mắt, xung quanh có viền màu nâu sậm Khi bệnh nặng, các vết bệnh liên kết lại với nhau tạo cho lá có màu nâu (giống nhổ
cổ trầu) Lá cháy khô và chết
+ Trên thân: có ở đốt thân, làm thối đốt, dễ gãy
+ Trên bông: xuất hiện ở cổ bông, vết màu đen, làm bông gãy Trường hợp này làm giảm năng suất nhiều
Vùng lúa bệnh thường cây lúa thấp, lùn so với chỗ bình thường
Khi bị bệnh ở cổ bông, hạt lép 1 phần hoặc toàn phần bông (bông bạc giống như triệu chứng của sâu đục thân)
- Điều kiện để bệnh phát triển mạnh:
+ Thời tiết: đêm sương nhiều, trời âm u, nhiều mây …
+ Đông Xuân bệnh phát triển mạnh hơn Hè Thu
+ Bón dư phân, nhất là đạm
+ Sạ dày
Trang 30+ Trồng giống nhiễm
Bệnh cháy lá/ đạo ôn cổ bông
- Biện pháp phòng trừ:
+ Dùng giống kháng bệnh: là biện pháp cho hiệu quả nhất
+ Chăm sóc hợp lý, nhất là bón phân cân đối, không bón dư đạm
+ Thăm đồng thường xuyên để phát hiện bệnh sớm, nhất là khi sử dụng giống nhiễm cần phun ngừa 2-3 lần: 20NSS: 2-3 chai Kitazin/ha, 40NSS (làm đòng) 2-3 chai Fujione/ha và 55 NSS (trước trổ): Kasai hay Rabcide: 1-1,5 kg/ha
+ Khi phát hiện bệnh ngưng ngay bón phân đạm hay bất kể loại phân bón nào có chứa đạm (kể cả phân bón lá), sử dụng thuốc đặc trị và phun ít nhất 2 lần (phun lại lần 2 cách
7 ngày sau lần 1) Có thể sử dụng Kitazin 50 ND (lúc lúa còn nhỏ), Fujione 40 ND (Fuan), Kasai 21,2 BHN, Rabcide, Beam 75 WP,
*Bệnh vàng lá (còn gọi là bệnh chín sớm):
Bệnh vàng lá lúa là một trong những bệnh gây hại phổ biến trên lúa hiện nay Hầu hết các giống lúa ngắn ngày hiện đang gieo trồng đều bị gây hại Nguyên nhân của bệnh hiện
Trang 31chưa xác định rõ Tuy nhiên đã biết được các điều kiện giúp bệnh phát triển và đề ra những biện pháp phòng trừ có hiệu quả
- Triệu chứng của bệnh:
+ Bệnh xuất hiện từ các tầng lá dưới lan lên các tầng lá phía trên
+ Vết bệnh lúc đầu là những đốm li ti trong xanh, sau đó to dần có hình tròn hay bầu dục màu vàng cam
+ Vết bệnh phát triển nhanh kéo dài dọc theo lá, có thể lan toàn bộ lá và có màu vàng cam (gọi là bệnh vàng lá) Bệnh phát triển làm lá tàn sớm trước khi chín nên còn có tên là bệnh chín sớm
+ Bệnh xuất hiện chủ yếu từ giai đoạn làm đòng trở đi Bệnh xuất hiện sớm gây thiệt hại năng suất hơn bệnh xuất hiện muộn
- Điều kiện phát triển của bệnh: bệnh thường phát triển mạnh ở vụ Đông Xuân Ruộng
sạ dày, bón phân không cân đối, nhất là bón dư đạm bệnh càng nặng
Sạ với mật độ vừa phải (từ 100-120 kg /ha)
Bón cân đối N-P-K, không bón dư đạm nhất là khi ở giai đoạn nuôi hạt Thăm đồng thường xuyên để phát hiện bệnh sớm
Trang 32+ Trị bệnh: khi bệnh vừa chớm xuất hiện có thể dùng một trong các loại thuốc sau: Ben 50 WP, Fundozol, Eminent
7 Quản lý nước và chăm sóc khác
- Cấy dặm sớm (16-20 ngày sau sạ)
- Điều khiển mực nước thích hợp ở mỗi giai đoạn:
+ Giai đoạn sạ: chắt mọi, giữ đất đủ ẩm
cho việc xịt thuốc cỏ đúng theo yêu cầu kỹ thuật của từng loại thuốc
+ Giai đoạn lúa đẻ nhánh (13-25 ngày sau sạ): mực nước 5-7 cm
+ Giai đoạn lúa đứng cái (30-37 ngày sau sạ): khai nước để khoáng hóa đất và hạn chế đẻ nhánh vô hiệu
+ Giai đoạn làm đòng - vào chắc: đủ nước
+ Trước chín 10-15 ngày: khai nước để thuận lợi cho thu hoạch lúa
8 Công nghệ thu hoạch và sau thu hoạch
- Thu hoạch lúc đúng độ chín (90-95% độ chín) cho năng suất và chất lượng cao nhất
- Sử dụng máy cắt rãi giảm được chi phí, công lao động lại có tác dụng làm cho lúa khô đều, tăng chất lượng gạo
- Không nên phơi mớ ngoài đồng quá lâu, lúa khô không đồng đều, khi xay chà tỷ lệ gạo nguyên thấp
- Phương pháp làm khô lúa bằng máy sấy vừa chủ động lại có tác dụng tăng chất lượng gạo so với phơi trên sân
- Cần lưu ý quy hoạch ruộng làm giống cho vụ sau để có kế hoạch cắt, suốt, phơi riêng tránh lẫn tạp cơ giới
Trang 33
BỘ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam
121 Nguyễn Bỉnh Khiêm-Tp.HCM
QUY TRÌNH KỸ THUẬT SẢN XUẤT LÚA THƠM
Cơ quan chủ trì: Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp miền Nam
Cơ quan thực hiện: Trung Tâm Nghiên Cứu Thực Nghiệm Nông Nghiệp Đồng Tháp Mười
Chủ nhiệm Đề tài: Ths Huỳnh Trấn Quốc
Trang 34BỘ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam
121 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Q1-Tp.HCM
Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật:
QUY TRÌNH KỸ THUẬT SẢN XUẤT LÚA THƠM
Cơ quan chủ trì: Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp miền Nam
Cơ quan thực hiện: Viện Nghiên cứu và Phát triển Hệ thống Canh tác – Trường Đại học Cần Thơ
Chủ nhiệm Đề tài: Ths Huỳnh Trấn Quốc
TP.HCM, 12- 2004
Bản thảo viết xong 11/2004
Tài liệu này được chuẩn bị trên cơ sở một số kết quả thực hiện Đề tài cấp Nhà nước mã số KC.06.02.NN
Trang 35QUY TRÌNH CANH TÁC LÚA THƠM TRÊN VÙNG
ÐẤT VEN BIỂN CAO
Dọn vệ sinh đồng ruộng để hạn chế cỏ dại, lúa nền và sâu bệnh;
Trang 364 CHỌN MẬT ÐỘ SẠ VÀ PHƯƠNG PHÁP SẠ THÍCH HỢP
Nên thử tỷ lệ nẩy mầm và sức nẩy mầm của giống trước khi ngâm ủ, đảm bảo tỷ lệ nẩy mầm trên 80% là tốt
Hạt giống nẩy mầm đều, khoẻ là yêu cầu đầu tiên đối với lúa sạ
Ngâm giống (nếu sạ hàng 100 kg/ha, nếu sạ lan nên sạ thưa 140-160 kg/ha) Hạt giống sau khi ngâm ủ, mầm dài từ 1-2 mm, đổ ra cho ráo nước rồi đem sạ bằng công cụ sạ hàng
để diệt nấm lúa von
• Tại sao phải bón phân theo bảng so màu lá?
Bón phân đạm theo bảng so màu lá là cách bón phân khoa học dựa vào nhu cầu thực tế của cây lúa tùy theo độ phì của đất, mùa vụ, nhóm giống và giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây lúa
Tiết kiệm phân bón, giảm chi phí, tăng lợi tức
Trang 37Giảm tác hại của sâu bệnh và ngã đổ do không có lượng đạm dư thừa trong cây
Giảm tác hại đến môi trường do giảm lượng đạm dư thừa trong đất và trong nước
• Bảng so màu ra sao?
Bảng so màu có 6 dãy màu từ nhạt đến đậm với mã số tương ứng từ 1 đến 6
Hình 1 Bảng so màu lá lúa
• So màu như thế nào?
Mỗi tuần 1 lần, bắt đầu từ ngày 14 sau khi sạ hoặc cấy cho đến lúc lúa trổ
Chọn ngẫu nhiên 10 bụi lúa rải rác trong ruộng (không chọn nơi quá tốt hoặc quá xấu) Trên mỗi cây lúa chọn 1 lá trên cùng phát triển đầy đủ (không quá non hoặc quá già)
Rà phần giữa phiến lá dọc theo bảng so màu để xem màu lá trùng với dãy màu nào trên bảng so màu Ghi nhận dãy màu đó Nếu màu lá nằm giữa 2 dãy màu, thí dụ 3 và 4 thì ghi 3,5
Lấy trung bình mã màu của 10 lá để đại diện cho màu lá của đám ruộng
Không so màu trực tiếp dưới ánh sáng mặt trời (sẽ làm chói mắt, không phân biệt rõ màu sắc)
Thời gian so màu tốt nhất trong ngày là từ 8-10 giờ sáng và nên giữ thời gian cố định cho mỗi lần so
Trang 38Hình 2 Cách so màu lá
• Bón phân khi nào?
Bón phân ngay khi màu lá nhạt hơn dãy màu chuẩn ứng với từng nhóm giống lúa
Ðối với nhóm giống lúa chậm đáp ứng với phân đạm thường có màu mã tranh và chuyển màu từ từ khi bón đạm thì chọn dãy màu số 3 làm chuẩn
Ðối với nhóm giống lúa nhạy cảm với phân đạm thường có màu xanh đậm, lá dầy và chuyển màu nhanh khi bón phân đạm, thì chọn dãy màu số 4 làm chuẩn
• Bón bao nhiêu mỗi lần?
+ Ðối với phân đạm
Lúa sạ Đông Xuân Hè Thu
+ Ðối với phân lân
Nếu dùng super lân: nên bón 1 lần lúc bón lót hoặc 10 ngày sau khi sạ/cấy: 300 kg/ha Nếu dùng DAP: nên bón làm 2 lần kết hợp trong 2 lần bón đạm đầu tiên (50 kg/ha lần 1
và 50 kg/ha lần 2) Trong trường hợp nầy nên giảm bớt 9 kg N/ha (tương đương 20 kg Urea /ha) cho mỗi lần bón
Trang 39+ Ðối với phân Kali
Nên bón 2 lần lúc lúa được 7-10 ngày sau khi sạ và lúc lúa có đòng đòng đất (dài 1- 2 cm)
với liều lượng 50 kg KCl/ha
6.2 Bón phân cân đối
Tùy theo chân ruộng mà có thể bón phân phù hợp với sự phát triển của cây lúa
Đặc biệt là phân chuồng, phân hữu cơ, phân vi lượng, vi sinh rất tốt cho tính thơm của
gạo Phân hoá học cần bón cân đối
Chọn 1 trong các công thức sau: bón cho 1 ha (kg), chia làm 3-4 lần bón:
Hoặc sử dụng phân bón hổn hợp Con cò và chia làm 4 lần bón như sau:
Ghi chú: NSKS: ngày sau khi sạ
7 PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH TÍCH CỰC, ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC IPM
Thăm ruộng thường xuyên: xem rễ lúa, gốc lúa, bẹ lúa, lá lúa, gié lúa Nếu quá ngưỡng
kinh tế thì mới sử dụng thuốc Nên áp dụng qui trình IPM đối với cây lúa
Trang 40Một số côn trùng gây hại chính
7.1 Bù lạch
* Thời điểm xuất hiện: 10-20 ngày sau khi sạ
* Triệu chứng: toàn ruộng lúa ngã màu vàng, chóp lá cuốn lại
* Phòng trị: không để ruộng khô nước, dùng thuốc hoá học
Hình 3 Bù lạch hại lúa
7.2 Sâu phao
* Thời điểm xuất hiện: 15-40 ngày sau khi sạ
* Triệu chứng: sâu cắn cụt ngọn lúa, cuốn lá lại nổi trên mặt nước ruộng như những phao cá
* Phòng trị: rút nước ruộng để giảm sự lây lan, dùng thuốc hoá học
Hình 4 Sâu phao hại lúa