Hình 2.8: Phân bố hàm lượng trung bình của Cu mg/kg khô theo không gian theo mùa trong năm trong trầm tích tầng mặt hệ đầm phá TG - CH 36 10.. Hình 2.9: Phân bố hàm lượng trung bình của
Trang 1Bộ KHOA HọC Và CÔNG NGHệ
Dự án 14 EE5 Hợp tác Việt Nam - Italia giai đoạn 2004 - 2006 nghiên cứu động thái môi trường
đầm phá ven bờ miền trung việt nam làm cơ sở lựa chọn phương án quản lý
6527-13
12/9/2007
Hải Phòng, 2005
Trang 2Bộ KHOA HọC Và CÔNG NGHệ
Dự án 14 EE5 Hợp tác Việt Nam - Italia giai đoạn 2004 - 2006
nghiên cứu động thái môi trường
đầm phá ven bờ miền trung việt nam làm cơ sở lựa chọn phương án quản lý
CN Đặng Hoài Nhơn
Chuyên đề
Đánh giá diễn biến môi trường và chất lượng trầm tích hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (tỉnh Thừa Thiên Huế)
Thực hiện
CN Nguyễn Mạnh Thắng
CN Nguyễn Thị Kim Anh
Hải Phòng, 2005
Trang 3mục lục
Trang
Chương 1: Các yếu tố ảnh hưởng tới môi trường và chất
lượng trầm tích hệ đầm phá Tam giang - Cầu
II Khái quát đặc điểm địa chất khu vực 8
3 Chế độ Tân kiến tạo của khu vực 10
III Các hoạt động nhân sinh ảnh hưởng tới chất lượng
Chương 3 Đánh giá chất lượng và diễn biến môi trường
trầm tích hệ đầm phá tam giang - Cầu Hai 46
1 Diễn biến chất lượng môi trường trầm tích theo mùa 51
2 Diễn biến chất lượng môi trường trầm tích theo thời gian địa chất 51
Trang 4Danh mục bảng
Trang
1 Bảng 1.1: Đặc trưng khí hậu khu vực đầm phá Tam Giang - Cầu Hai 5
2 Bảng 1.2: Đặc trưng dòng chảy (trung bình nhiều năm) của các sông đổ
vào hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai 6
3 Bảng 1.3: Sự phân phối lượng dòng chảy theo mùa ở một số trạm
4 Bảng 1.4: Sự trao đổi nước và trầm tích của các sông vào đầm TG - CH 7
5 Bảng 1.5: Hiện trạng sử dụng đất của các xã trong khu vực 13
6 Bảng 1.6: Sản lượng khai thác thủy sản ở hệ đầm phá (tấn) 14
7 Bảng 1.7: Tốc độ tăng diện tích, sản lượng năng suất nuôi tôm sú trong 5
năm
14
8 Bảng 1.8: pH của nước ở các đầm phá trước và sau khi mở các cửa biển 16
9 Bảng 1.9: Độ mặn trung bình năm và mùa của nước ở các đầm phá (‰)
từ tháng 5/1998 đến tháng 10/1999 17
10 Bảng 1.10: Hàm lượng DO trong nước vùng đầm phá TG - CH 20
11 Bảng 1.11: Kết quả đo DO của nước ở các đầm phá vào các thời điểm
trước và sau khi mở các cửa biển 20
12 Bảng 1.12: Tỷ lệ số lượng họ và loài thuộc các lớp của khu hệ tảo phù du
ở đầm phá Tam Giang - Cầu Hai 21
13 Bảng 1.13: Thành phần loài thực vật có hoa thủy sinh ở phá TG - CH 22
14 Bảng 1.14: Sự phân bố của các loài động vật nổi theo độ mặn của các khu
Trang 53 Hình 2.2: Xu hướng phân bố hàm lượng Chc (mg/kg khô) trong môi trường
trầm tích tầng mặt trung bình hoá theo không gian theo mùa trong
4 Hình 2.3 : Xu hướng phân bố Nts trong trầm tích trong đầm phá TG - CH 31
5 Hình 2.4: Xu hướng phân bố hàm lượng Nts (mg/kg khô) trong môi trường
trầm tích tầng mặt trung bình hoá theo không gian theo mùa trong
6 Hình 2.5: Xu hướng phân bố hàm lượng Pts (mg/kg khô) trong môi trường
trầm tích tầng mặt trung bình hoá theo không gian theo mùa trong
7 Hình 2.6 : Xu hướng phân bố Sts trong trầm tích trong đầm phá TG - CH 34
8 Hình 2.7: Xu hướng phân bố hàm lượng Sts (mg/kg khô) trong môi trường
trầm tích tầng mặt trung bình hoá theo không gian theo mùa trong
9 Hình 2.8: Phân bố hàm lượng trung bình của Cu (mg/kg khô) theo không
gian theo mùa trong năm trong trầm tích tầng mặt hệ đầm phá TG -
CH
36
10 Hình 2.9: Phân bố hàm lượng trung bình của Pb (ppm/kg khô) theo không
gian theo mùa trong năm trong trầm tích tầng mặt hệ đầm phá Tam
11 Hình 2.10: Phân bố hàm lượng trung bình của Zn (mg/kg khô) theo không
gian theo mùa trong năm trong trầm tích tầng mặt hệ đầm phá Tam
12 Hình 2.11: Phân bố hàm lượng trung bình của As (ppm/kg khô) theo
không gian theo mùa trong năm trong trầm tích tầng mặt hệ đầm
13 Hình 2.12: Phân bố hàm lượng trung bình của Hg (ppm/kg khô) theo
không gian theo mùa trong năm trong trầm tích tầng mặt hệ đầm
18 Hình 3.3: Mức độ ô nhiễm Endrin trong trầm tích đầm phá Tam Giang -
19 Hình 3.4: Mức độ ô nhiễm Endrin trong trầm tích đầm phá Tam Giang -
20 Hình 3.5: Mức độ ô nhiễm DDD trong trầm tích đầm phá Tam Giang -
21 Hình 3.6: Mức độ ô nhiễm DDD trong trầm tích đầm phá T G - CH năm 50
Trang 6mở đầu
Lagoon Tam Giang - Cầu Hai là một trong những lagoon thuộc loại lớn trên thế giới và là lagoon lớn nhất ở Việt Nam Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai chứa đựng nhiều dạng tài nguyên quý: tài nguyên sinh học, tài nguyên phi sinh vật… và được biết đến bởi giá trị sử dụng và khoa học của chúng Trong những năm qua, hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai đã và đang bị khai thác với cường độ và tần suất cao, mặt khác nó còn là nơi chứa đựng một lượng lớn các chất thải (dinh dưỡng, kim loại nặng, vi lượng hữu cơ) từ thượng nguồn các sông Hương, Ô Lâu… làm ảnh hưởng đến chất lượng, giá trị của các hợp phần
chứa trong nó Dự án hợp tác Việt Nam - Italia 14EE5 ”Nghiên cứu động thái
môi trường đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam làm cơ sở lựa chọn phương
án quản lý” là cần thiết nhằm nghiên cứu hiện trạng môi trường các đầm phá
ven biển, trong đó có lựa chọn hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai làm điểm trình diễn (case sduty), qua đó lựa chọn các phương án quản lý môi trường tốt nhất Môi trường trầm tích là một hợp phần quan trọng cấu thành nên hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai và nó là nơi ghi lại dấu mốc quan trọng trong lịch
sử phát triển của bản thân hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, ghi lại tác động của con người đối với môi trường tự nhiên; vì vậy việc nghiên cứu chi tiết môi trường trầm tích hệ là cơ sở quan trọng đánh giá động thái môi trường hệ nói chung, thông qua đó có thể lựa chọn phương án quản lý tốt môi trường hệ một
cách tốt nhất Chuyên đề “Đánh giá diễn biến môi trường trầm tích và chất lượng trầm tích hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (tỉnh Thừa Thiên- Huế)” nhằm đánh giá: (1) - Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng và môi
trường trầm tích hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai; (2) - Nghiên cứu một số
đặc trưng phân bố của các thành phần vật chất trong môi trường trầm tích bề mặt của hệ; (3) - Bước đầu đánh giá chất lượng và diễn biến của môi trường trầm tích hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
Chuyên đề được thực hiện với sự giúp đỡ của Ban chủ nhiệm Dự án 14EE5, đặc biệt là TS Nguyễn Hữu Cử (Viện Tài nguyên và Môi trường biển
- Chủ nhiệm Dự án) và một số đồng nghiệp thuộc Viện Tài nguyên và Môi trường biển Qua đây xin được gửi lời cảm ơn tới sự giúp đỡ quý báu đó
Trang 7Chương 1 Các yếu tố ảnh hưởng tới môi trường
và chất lượng trầm tích hệ đầm phá Tam giang - Cầu Hai (tỉnh Thừa thiên Huế)
I Điều kiện tự nhiên
1 Vị trí địa lý
Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai là hệ đầm phá có diện tích lớn nhất nước
ta (216 km2, chiếm 40 % tổng diện tích đầm phá của cả nước) Chúng thuộc loại
lớn trên thế giới, là lagoon điển hình trong hệ thống lagoon ven bờ Việt Nam
Trong hệ đầm phá chứa đựng một nguồn tài nguyên to lớn hàng ngày đang được
nhân dân trong vùng khai thác để phục vụ đời sống xã hội và phát triển kinh tế,
quốc dân
Hình 1.1: Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu
Về địa lý, hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai chạy dài dọc theo bờ biển tỉnh
Thừa Thiên Huế từ cửa sông Ô Lâu đến chân núi Vinh Phong Phía tây nam, phía
nam giáp với đồng bằng Thừa Thiên Huế và núi Vinh Phong, phía đông bắc ngăn
Trang 8cách với biển bởi hệ thống cồn cát nhỏ hẹp và có hai cửa thông ra biển đó là cửa Thuận An và cửa Tư Hiền Hệ đầm phá thuộc 5 huyện: Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Phương Điền và Phú Lộc
Tọa độ góc: 16016’ - 16040’ vĩ độ Bắc
107025’ - 107050’ kinh độ Đông
Đầm Tam Giang có độ cao nhỏ hơn 2 m so với mực nước biển, đầm Cầu Hai có độ cao từ 0 - 1.4 m so với mực nước biển
2 Địa hình - địa mạo
Một lagoon ven bờ gồm 4 đơn vị cấu trúc cơ bản sau: vực nước, đê cát chắn,
bờ sau và các cửa biển
- Bờ sau: phần bờ sau phân bố ở phía tây, tây nam và nam của hệ đầm phá
Tam Giang - Cầu Hai với tổng chiều dài khoảng 183 km Trong đó có 12 % là bờ
đá gốc thành phần granit và gabro olivin (tuổi Trias muộn, T3), phân bố ở phía tây, tây nam đầm Cầu Hai Phần còn lại (88 %) của bờ sau là các thành tạo trầm tích Đệ tứ bở rời thuộc các bãi bồi lagoon (amQ23), bãi bồi của các cửa sông Ô Lâu, sông Hương, sông Truồi, sông Đại Giang và thuộc cồn cát cổ ở Quảng Điền
và Phú Vang (mvQ21 - 2) Các trầm tích này tạo nên đồng bằng châu thổ cao 3 - 6
m và đồng bằng cát cao 4 - 10 m Ven bờ đầm phá còn có các bãi bồi cao không liên tục Hàng năm về mùa lũ, các bãi bồi này ngập lũ, được bổ sung bồi tích Thành phần chủ yếu là cát nhỏ, bột màu nâu xám Riêng ở xã Tân Mỹ có các bãi triều cao với diện tích không lớn và được thực vật ngập mặn che phủ
- Vực nước: hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai được hình thành bởi 3 đầm
phá chính là Tam Giang, Thủy Tú và Cầu Hai, tổng chiều dài là 68 km và tổng diện tích là 216 km2 Phá Tam Giang nằm ở phía Bắc (từ cửa Ô Lâu đến cửa Thuận An) với chiều dài 27 km, chiều rộng trung bình 2 km, có nơi rộng nhất
đến 3,5 km và nơi hẹp nhất là 0,6 km Phá Tam Giang có diện tích 52 km2 và độ sâu trung bình là 2 m Đầm Thủy Tú là đoạn từ cửa Thuận An đến cửa Hà Trung với chiều dài 24,5 km, chiều rộng trung bình 1 km, nơi rộng nhất 2,6 km, độ sâu trung bình khoảng 2,5 m ở phía bắc đầm Thủy Tú có một vùng được nới rộng ra khoảng 5,5 km, độ sâu trung bình nhỏ khoảng 1,0 - 1,2 m, với diện tích 16 km2,
được gọi là đầm An Truyền Tổng diện tích của đầm Thủy Tú là 52 km2 Đầm Cầu Hai nằm ở phía nam hệ đầm phá và có hình dạng tương đối đẳng thước Chiều dài nhất theo hướng tây bắc - đông nam dài 17 km, chiều ngang từ Đá Bạc
đến Tuý Vân là 6 km, độ sâu trung bình của đầm là 1,4 m Diện tích đầm Cầu Hai là 112 km2 Phá Tam Giang và đầm Thủy Tú có địa hình đáy dạng luồng lạch, thường tạo nên các lạch sâu ở giữa đầm, đôi khi lệch nghiêng về một phía
Đáy của cả hai đầm này có xu hướng nghiêng dần về phía cửa Thuận An (nơi sâu nhất ở cửa Thuận An đạt trên 10 m, trong khi đó Hà Trung 3 - 4 m, ở Ô Lâu 0,5 -
1 m) Thường gặp các bãi bồi với diện tích khá rộng trong lòng đầm phá, xen giữa các lạch hoặc ở ven bờ Riêng ở đầm An Truyền địa hình đáy bằng phẳng hơn, đáy nông và thay đổi ít (1 - 1,2m), ở giữa đầm hình thành bãi bồi Địa hình
đáy của đầm Cầu Hai có dạng lòng chảo nghiêng về phía núi, nơi thấp nhất của
Trang 9đầm có độ sâu 2,5 m, nơi cao nhất có độ sâu 0,5 m
- Các cửa biển: hai cửa thông với biển của hệ đầm phá là cửa Tư Hiền và
cửa Thuận An Chu kỳ đóng mở của cửa Tư Hiền ngắn hơn cửa Thuận An và chu
kỳ đó ngày càng ngắn dần do mức độ trao đổi nước qua các cửa biển này ngày
càng giảm, liên quan chặt chẽ đến sự suy tàn của hệ đầm phá
- Đê cát chắn: hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai được ngăn cách với biển
bởi đê cát chắn dài 69 km (từ Điền Lộc đến cửa Lộc Thủy) Đê cát có 3 đoạn có
những đặc điểm khác nhau đó là: đoạn từ Điền Lộc đến Thuận An (dài 27 km),
đoạn từ cửa Thuận An đến núi Linh Thái (dài 37 km) và đoạn từ núi Linh Thái
đến cửa Lộc Thủy (dài 5 km) Đoạn từ Điền Lộc đến Thuận An là một phần đê
cát từ cửa Việt đến Thuận An, chiều rộng trung bình 4,5 km, chiều cao trung
bình 10m, vát nhọn ở phía trên, đoạn cao nhất thuộc địa phận huyện Quảng Điền
đạt tới 32m Đê chắn cát ở đây gồm 2 hệ thống: hệ thống ngoài gồm cát màu
trắng đục (mvQ23), về càng gần cửa Thuận An hệ thống ngoài chồng phủ hệ
thống trong và nâng độ cao của đê cát lên Đoạn từ cửa Thuận An đến núi Linh
Thái rộng trung bình 2 km, cao trung bình 10m, vát nhọn dần về phía cửa Thuận
An Độ cao lớn nhất đạt 20m ở Phú Diên và nhỏ nhất hơn 2m ở Thuận An Đoạn
này cũng có hai hệ thống đê cát: trong và ngoài Hệ thống phía trong cao 4 - 7m
gồm cát trắng (mvQ21 - 2), phân bố từ Vinh Hiền đến Vinh Xuân Hệ thống đê cát
phía ngoài cao hơn nằm gối lên hệ thống đê cát phía trong gồm cát vàng
(mvQ23) Đoạn từ núi Linh Thái đến cửa Lộc Thủy có chiều rộng trung bình
300 m và cao trung bình 2,5 m, chủ yếu là cát trắng (mvQ21 - 2)
3 Khí hậu
Nhiệt độ trung bình năm của vùng đầm phá dao động trong khoảng 24 -
250C Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là tháng 1 (khoảng 200C), tháng cao
nhất là tháng 6 và tháng 7 (290C)
Mùa mưa ở đây bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào tháng 12 Mùa khô bắt
đầu từ tháng 1 và kết thúc vào tháng 8 Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai có các
con sông lớn với lưu vực chiếm gần hết diện tích của tỉnh Thừa Thiên Huế đổ
vào Vì vậy chế độ nước của hệ đầm phá phụ thuộc rất lớn vào lượng mưa của
toàn tỉnh đặc biệt là các trung tâm mưa lớn (Bạch Mã, Thừa Lưu, Nam Đông,
Phú Lộc, A Lưới) Lượng mưa thường tập trung theo những đợt mưa liên tục kéo
dài 6 - 7 ngày hoặc có khi kéo dài 19 - 31 ngày và mưa lớn thường tập trung trên
diện rộng nên gây ra nhiều lũ lụt lớn Lượng mưa trung bình của các vùng thuộc
tỉnh Thừa Thiên Huế đều lớn hơn 2 500 mm Các trung tâm mưa lớn có thể lên
tới 4 000 mm Lượng mưa của Thừa Thiên Huế vào loại cao nhất nước ta, tập
trung vào tháng 9 - 12 sau đó là tháng 5 - 6 Các tháng có lượng mưa ít mưa nhất
là tháng 2 và tháng 4
Tổng lượng bốc hơi ở vùng đồng bằng Thừa Thiên Huế dao động trong
khoảng 900 - 1 000 mm Trong đó các tháng 5, 6, 7, 8 là các tháng có tổng lượng
bốc hơi cao nhất, đạt 92 - 152 mm/tháng kết hợp với gió phơn tây nam vượt qua
dãy Trường Sơn vào Thừa Thiên Huế đã gây ra những kỳ khô hạn kéo dài
Trang 10Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai hàng năm chịu ảnh hưởng của gió mùa
Đông Bắc hoạt động về mùa đông và gió mùa Tây Nam hoạt động mạnh về mùa
hè Hoạt động của gió đã gây ảnh hưởng lớn đến chế độ thủy văn đầm phá và đới
biển ven bờ như tạo nên dòng chảy gió trong đầm phá tốc độ đạt 2 - 10 cm/s ở
tầng nước trên mặt, đóng vai trò quan trọng của việc tạo sóng trong các đầm
phá Sự hoạt động của gió cùng với địa hình đáy, mực nước, kích thước, hình
dáng thủy vực đã quyết định chế độ sóng ở các vùng khác nhau trong đầm phá,
đóng vai trò quan trọng đối với sự hoàn lưu nước trong thủy vực
Do đặc điểm mưa lớn thường tập trung trên diện rộng lại thường thành từng
đợt mưa kéo dài nên thường gây ra các trận lũ đặc biệt lớn gây thiệt hại nghiêm
trọng về nhiều mặt trong đó có môi trường
Bảng 1.1: Đặc trưng khí hậu khu vực đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
Lượng bốc hơi (mm) Mùa
24 - 25
Tháng 1:
20; tháng
6, tháng 7: 29
Trung bình năm
Ngập lụt ở đầm phá và khu vực đồng bằng Thừa Thiên Huế Phân tích tư
liệu thấy rõ xu thế vào những năm đóng cửa Tư Hiền, số lần ngập lụt nhiều hơn,
các trận lụt thường lớn và gây hậu quả nặng nề hơn Gần nửa thế kỷ qua có gần 7
trận lụt lớn vào các năm 1953, 1975, 1983, 1985, 1990, 1995, 11/1999 Trừ trận
lụt năm 1975, còn lại các trận lụt đều xảy ra vào thời gian lấp cửa Tư Hiền Vào
các năm 1983, 1985, 1990 đều có 4 - 5 trận lũ mỗi năm Trận lũ lịch sử tháng 10
năm 1983 có mực nước lũ cực đại là 4,85 m trên sông Hương (trên báo động cấp
III là 1,85 m) Trong trận lũ ngày 5 tháng 9 năm 1985 (một năm sau khi lấp cửa
Tư Hiền tháng 12/1994), mặc dù lượng mưa không lớn (325 mm trong 5 ngày),
chân lũ 0,97 m vào lúc 7 giờ ngày 5/10/95, đã nhanh chóng đạt đến đỉnh lũ 4,64 m sau 39 giờ, cường suất 11,8 cm/h, vượt mức báo động III Ngay sau đó,
trận lũ thứ hai vào ngày 10 - 12 tháng 10 năm 1995 có đỉnh lũ 4,8 m Trận lũ từ
ngày 1 - 6 tháng 11 năm 1999 có đỉnh lũ là 5,94 m, vượt mức báo động III là
2,94 m vào ngày 2/11/1999 Một điều đáng nói là các trận lũ ở Thừa Thiên Huế
đã gây ra hậu quả hết sức nghiêm trọng về nhiều mặt (kinh tế, sản xuất, đời
sống, văn hóa, y tế, giáo dục, môi trường, ) trên vùng đồng bằng rộng lớn, trong
đó có Cố đô Huế Nếu tính toán giá trị thiệt hại có thể lên đến hàng chục, hàng
trăm tỷ đồng do một trận lũ lớn, chưa nói đến thiệt hại về tính mạng con người
và sự đình trệ sản xuất sau đó Qua những dẫn liệu trên có thể thấy vai trò thoát
lũ của các cửa biển là hết sức quan trọng, nếu sự thoát lũ qua các cửa biển tốt sẽ
hạn chế đáng kể các trận lũ xẩy ra ở đồng bằng Thừa Thiên Huế, do đó làm giảm
thiệt hại cho nhân dân trong vùng
Trang 114 Đặc điểm thủy văn - hải văn
4.1 Thủy văn
Chế độ thủy văn của hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai liên quan trực tiếp
đến đặc điểm thủy văn sông và chế độ hải văn ở ven biển Thừa Thiên Huế Tác
động qua lại giữa hai chế độ thủy văn đã tạo nên chế độ thủy văn cũng như đặc
điểm của môi trường đầm phá
Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai có 5 con sông lớn đổ vào, tổng diện tích
lưu vực của chúng chiếm gần chọn tỉnh Thừa thiên Huế Đó là các sông Ô Lâu,
sông Bồ, sông Hương, sông Truồi và sông Cầu Hai Ngoài các sông lớn còn rất
nhiều dòng chảy nhỏ (như sông Nông, kênh Phú Cam, các suối và dòng chảy
tạm thời ) cũng đổ vào hệ đầm phá Các đặc trưng dòng chảy của sông được
đưa ra trong bảng 1.2, 1.3
Qua các bảng 1.2 và 1.3 thấy rõ lưu lượng dòng chảy ở các sông đổ vào
đầm phá Tam Giang - Cầu Hai tập trung vào các tháng mùa mưa Trong các
tháng mùa kiệt lưu lượng rất nhỏ, đặc biệt là các tháng III, IV và VII, VIII
Bảng 1.2: Đặc trưng dòng chảy (trung bình nhiều năm) của các sông
đổ vào hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai STT Tên sông Trạm F(Km 2 ) Y 0 (mm) M 0 (l/s,km 2 )
5 Hương Kim Long 1490 2237 70,9
6 Truồi Truồi 140 2613 82,8
Nguồn: Phí Văn Chín, 2002
Bảng 1.3: Sự phân phối lượng dòng chảy theo mùa ở một số trạm
thuộc các sông ở Thừa Thiên Huế Mùa lũ (X, XI, XII) Mùa cạn (I - IX) Trạm
Q (m 3 /s) W.10 6 m 3 X% Q.(m 3 /s) W.10 6 m 3 X%
Thượng Nhật 36,6 291,1 63,6 7,07 167,0 36,4
Cổ Bi 169.0 1 419.0 69,1 27,30 637,0 30,9
Bình Điền 123.0 971.0 67,4 21,50 506,0 34,3
Trang 12Bảng 1.4: Sự trao đổi nước và trầm tích của các sông
vào đầm Tam Giang - Cầu Hai
Sông Lượng nước trao
đổi (10 6 m 3 /năm)
Lượng trầm tích trao đổi (10 3 m 3 /năm)
Hàm lượng vật chất lơ lửng
Nhiệt độ của nước biển ven bờ vào mùa đông thấp hơn 240C, vùng gần cửa
Thuận An và cửa Tư Hiền nhiệt độ nước cao hơn Về mùa hè nhiệt độ nước
thường cao hơn 290C Biên độ dao động nhiệt độ năm của nước biển khá lớn đạt
5 - 70C
Dao động của thủy triều và mực nước vùng ven biển Thừa Thiên Huế khá
phức tạp và biến đổi khá lớn trong khoảng cách ngắn Vùng ở gần cửa Thuận An
là nơi có dao động thủy triều nhỏ nhất so với toàn bộ dải bờ biển Việt Nam Tại
cửa Thuận An trong một ngày có hai lần triều lên và hai lần triều xuống mang
tính chất bán nhật thuần tuý Biên độ dao động mực nước tại cửa Thuận An theo
ngày từ 30 - 50 cm, càng đi về phía Nam biên độ thủy triều tăng dần, đến cửa Tư
Hiền biên độ triều đạt 55 - 100 cm Thủy triều trong đầm phá do cảm ứng chiều
ngoài biển qua hai cửa Thuận An và Tư Hiền Do vậy mực nước trong đầm phá
cũng bị chi phối bởi triều Vào mùa mưa sự chênh lệch nước ngược lại: mực
nước trong đầm phá cao hơn đỉnh triều ngoài khơi (ở Tam Giang là 30 - 50 cm, ở
Cầu Hai là 10 - 20 cm) Vào mùa khô, mực nước trong đầm phá tương đương với
mực nước biển trừ các tháng kiệt mực nước trong đầm phá thấp hơn đỉnh triều
ngoài khơi (ở Tam Giang là 5 - 15 cm, ở Cầu Hai là 25 - 30 cm)
Dòng chảy ổn định gồm hai đới: đới sát bờ (đến độ sâu 10 m nước) có tốc
độ dòng chảy trung bình 5 - 10 cm/s, tốc độ dòng chảy tầng mặt gấp 1,5 - 2 lần
tốc độ dòng chảy tầng đáy Hướng của dòng chảy thay đổi theo mùa, mùa hè
hướng lên phía Bắc, mùa đông hướng xuống phía Nam Đới có độ sâu 10 - 15 m
nước, dòng chảy luôn có hướng Bắc Nam với tốc độ dòng chảy trung bình 30 -
50 cm/s Dòng chảy trong đầm phá rất phức tạp và là kết quả của sự tương tác
giữa dòng triều, dòng chảy ven bờ, dòng chảy sông, dòng chảy do gió tạo thành
dòng chảy tổng hợp trong đầm phá Về mùa khô, hướng và dòng chảy trong phá
Tam Giang và cửa Thuận An phụ thuộc vào chế độ triều của cửa Thuận An Tốc
độ dòng chảy trung bình 20 - 40 cm/s, cực đại đạt 50 - 60 cm/s, thường dòng
Trang 13chảy vào lớn hơn dòng chảy ra Tại cửa Tư Hiền, dòng chảy ra thường lớn hơn dòng chảy vào Tốc độ trung bình dòng chảy ở cửa Tư Hiền là 30 - 35 cm/s, cực
đại đạt 60 - 70 cm/s Trong đầm Cầu Hai tốc độ dòng chảy rất nhỏ có nơi tốc độ dòng chảy bằng không
Chế độ sóng ở đây chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ gió Mùa đông sóng
từ hướng Đông Bắc chiếm ưu thế với tần suất 99 %, độ cao sóng dao động trong khoảng 0,25 - 3 m Mùa hè, sóng có hướng đông và đông nam chiếm ưu thế với tần suất đạt 93 %, độ cao sóng dao động từ 0,25 - 1 m Trong thời tiết đặc biệt (bão, áp thấp nhiệt đới ) độ cao sóng có thể đạt 4 - 5 m Sóng trong đầm phá phụ thuộc vào đặc điểm địa hình đáy, hình thể thủy vực và gió Tuy nhiên, ảnh hưởng của gió đến sóng trong đầm phá yếu hơn so với sóng biển Sóng trong
đầm phá thường ngày đạt độ cao từ 0,1 - 0,25 cm Đặc biệt đối với Cầu Hai thường phát triển sóng mạnh hơn Trong chu kỳ ngày độ cao sóng thay đổi có quy luật rõ rệt, thời điểm độ cao sóng nhỏ nhất vào 4 - 6 giờ (cỡ 0,05 - 0,10 m) sau đó tăng dần và đạt cao nhất ở 15 - 19 giờ (0,20 - 0,35 m) sau đó giảm dần, riêng khi mưa không thể hiện rõ quy luật này
II Khái quát đặc điểm địa chất khu vực
1 Địa tầng
- Hệ tầng A Vương (εp - O 1 av): các đá biến chất của hệ tầng lộ ra ở phía
Tây và Tây Nam Huế với đặc trưng là đá phiến serixit - clorit - thạch anh, đá phiến thạch anh, đá phiến sét giàu vật chất hữu cơ, quaczit, đá hoa Các thành tạo này bị biến chất mạnh [10]
- Hệ tầng Long Đại (O - Slđ): lộ ra ở phía Tây Huế và phủ bất chỉnh hợp lên
các thành tạo của hệ tầng A Vương Thành tạo của hệ tầng bị biến chất yếu hơn
so với các thành tạo của hệ tầng A Vương nhưng phân bố rộng rãi hơn Thành phần của hệ tầng gồm các đá lục nguyên, phần trên xen cacbonat
- Hệ tầng Tân Lâm ((O 1 tl): phân bố dạng nếp lõm hẹp ở thượng nguồn sông
Ô Lâu, kéo dài qua Huế đến Truồi Thành phần của hệ tầng chủ yếu là đá phiến sét màu tím gụ, đá phiến sét màu xám Các thành tạo của hệ tầng nằm phủ bất chỉnh hợp lên các thành tạo của hệ tầng Long Đại Chiếu dày của hệ tầng khoảng
1 200 m
- Hệ tầng Côbai: trầm tích cacbonat của hệ tầng Côbai phân bố ở Hương
Trà, Phong Điền, Nam Đông Thành phần đặc trưng của hệ tầng là đá vôi màu xám đen, xám sáng Chúng lộ ra thành diện nhỏ ở Long Thọ, Khe Đe, Thượng Quảng, còn ở vùng Phong Điền, Hương Trà thường bị trầm tích trẻ che phủ Chiều dày của hệ tầng xấp xỉ 500 m
- Hệ tầng Vĩnh Điện (N 2 ): trầm tích của hệ tầng phân bố rỗng rãi ở đồng
bằng ven biển của Thừa Thiên Huế Chúng thường bị các trầm tích trẻ hơn che phủ Thành phần của hệ tầng là cuội sạn kết, cát kết, bột kết, sét kết màu xám tro, gắn kết yếu Chiều dày của hệ tầng khoảng 100 - 120 m
Các thành tạo trầm tích tuổi Pliocen - Pleistocen phân bố thành từng diện
Trang 14nhỏ ở Bồ Điền, Lại Bằng, tả ngạn sông Tả Trạch với thành phần là cuội sỏi đa khoáng, cát bột gắn kết bằng sét caolin Trên bề mặt chúng thường bị laterit hóa
và kết cứng Chiều dày của trầm tích biến đổi từ 10 - 50 m
- Hệ tầng Tân Mỹ (N 3 ): thành phần là trầm tích lục nguyên hạt thô đến mịn
gồm 3 tướng sông (a), sông biển (am), sông biển đầm lầy (amb) Thành phần của
hệ tầng gồm sạn sỏi, cát hạt thô dày 5,3 - 46 m, sét màu đen lẫn di tích thực vật dày 1,8 - 12 m
- Hệ tầng Quảng Điền (N 2 ): trầm tích đa nguồn gốc Thành phần của hệ
tầng gồm cát, sạn, sỏi, cuội lẫn ít bột sét máu xám trắng, dày 5,8 - 63 m, bội sét lẫn ít cát chứa vật chất hữu cơ và than bùn dày 4,5 - 26,6 m Phần trên bị phong hóa mạnh mẽ, đôi nơi tạo thành kết vón laterit có hàm lượng sắt cao
- Hệ tầng Phú Xuân: trầm tích Pleistocen thượng nhiều nguồn gốc Thành
phần của hệ tầng gồm cát sạn lẫn cuội (a, ap) dày 2,5 - 9,5 m, cát màu vàng nghệ tương ứng hệ tầng Đà Nẵng dày 3 - 20 m, bột sét lẫn ít cát màu xám vàng, xám xanh dày 1,5 - 37,5 m Trên bề mặt xuất lộ, thành tạo của hệ tầng bị phong hóa mạnh, có hàm lượng oxit sắt cao
- Hệ tầng Phú Bài: trầm tích tuổi Holocen hạ - trung nhiều nguồn gốc
Thành phần của hệ tầng gồm sét bột màu xám đen dẻo quánh (amb) dày 10 - 22,4 m, cát thạch anh màu trắng tương ứng hệ tầng Nam Ô (m) đạt tiêu chuẩn cát thủy tinh dày 6,2 - 23,5 m, cát hạt trung đến mịn màu xám trắng, xám vàng (mv) 2 - 5 m
- Hệ tầng Phú Vang: trầm tích Holocen trung - thượng phân bố rộng rãi ở
các cửa sông và ven đầm phá Tam Giang Thành phần của hệ tầng gồm cát, cuội, tảng lẫn bột sét (a, ap) dày 1 - 8 m; cát, cuội lẫn sét màu xám tro, xám đen dẻo quánh (am) dày 2 - 15 m; bột sét lẫn ít cát và di tích thực vật màu xám đen (amb) dày 2 - 4 m; cát hạt nhỏ đến trung màu xám, xám sáng chứa ilmenit, zircon (m, mv) dày 5 - 25 m
2 Magma
- Phức hệ Đại Lộc: phân bố rộng rãi ở A Ram, Bình Điền, Nam Đông,
trong khu vực có ở Tây Nam Huế Thành phần là granit biotit, granit hai mica dạng phophyr, cấu tạo dạng gnai Các thành tạo này có tuổi Đevon sớm
- Phức hệ Núi Chúa: gồm các thành tạo gabro, gabro oliven và gabronorit
lộ thành những dải đồi nhỏ phía Tây đầm Cầu Hai Các thành tạo này có tuổi Triat muộn
- Phức hệ Hải Vân: phân bố rộng khắp ở phía Nam và Tây Nam Thừa Thiên
Huế, tạo thành dãy Bạch Mã ở phía Nam đầm Cầu Hai Thành phần là granit biotit, granit hai mica dạng phophyr, granit aplit hạt nhỏ Các thành tạo này có tuổi Triat muộn
- Phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn: phân bố ở Rào Trăng, Bình Điền, Nam
Đông Thành phần là gabrodiorit, diorit thạch anh, điorit biotit horblend hạt nhỏ
Trang 15- vừa, granodiorit horblend hạt vừa Các thành tạo này có tuổi Paleozoi muộn
- Phức hệ Bản Chiềng: lộ ra ở ngã ba sông Tả Trạch và Hữu Trạch Thành
phần là đá granit, granodiorit và sienit, tuổi của thành tạo là Paleozoi muộn
3 Chế độ Tân kiến tạo của khu vực
Các hoạt động tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại đóng vai trò rất quan trọng
đối với sự biến động trầm tích đáy và môi trường nước của hệ đầm phá Các hoạt
động có ảnh hưởng lớn là chế độ và tốc độ nâng hạ của khu vực, các chu kỳ biển
tiến, biển thoái biểu hiện bằng sự nâng hay hạ mực nước biển và tốc độ của
chúng, sự xuất hiện các vòm nâng cục bộ Sự nâng hay hạ mực nước biển trong
thực tế sẽ quyết định xu thế phát triển của hệ đầm phá Các tài liệu nghiên cứu
hải dương trên thế giới và trong nước cho thấy mực nước đại dương thế giới
trong thời gian gần đây đang dâng cao, trung bình 1 mm/năm, mở đầu một chu
kỳ biển tiến mới ở Việt Nam theo số liệu quan trắc nhiều năm mực nước biển
Đông dâng cao trung bình 1 - 2 mm/năm, trong đó tại vùng biển phía Bắc (Hòn
Dấu) dâng cao 2 mm/năm, còn ở vùng biển miền Trung chỉ khoảng 1 mm/năm
Trong giai đoạn biển tiến hiện đại bờ biển chịu tác động xói lở là chính, giải cồn
cát phía ngoài đầm phá Tam Giang - Cầu Hai bước vào giai đoạn bị phá hủy
Thực trạng xói lở mạnh đang xẩy ra ở Hải Dương, bãi tắm Thuận An, phía Bắc
Tư Hiền là biểu hiện của quá trình phá hủy đó
4 Lịch sử phát triển địa chất
Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai là kết quả tất yếu giữa tương tác lục địa
và biển xẩy ra chủ yếu từ Pleistocen muộn đến Holocen Căn cứ đặc điểm và sự
phân bố trầm tích Đệ tứ ở đồng bằng Thừa Thiên Huế có thể lập lại lịch sử hình
thành của hệ đầm phá Các giai đoạn cụ thể là:
- Giai đoạn I: Pleistocen muộn (Q13) Vào giai đoạn Pleistocen đã xảy ra
quá trình biển tiến rộng khắp lãnh thổ Việt Nam Dấu ấn của nó còn được giữ lại
trên các thềm cát có độ cao 10 - 15 m với các trầm tích tương ứng Lúc bấy giờ
đồng bằng Huế là một vịnh biển rộng, bờ vịnh phía Tây là vùng chuyển tiếp sang
vùng địa hình núi phía Tây quốc lộ 1A Vào cuối Pleistocen thượng biển lùi liên
quan tới băng hà Wurrm (khoảng 2000 năm trước) đã tạo nên dải đê cát chắn có
màu vàng nghệ rất đặc trưng gần như liên tục dọc theo đường bờ ở quốc lộ 1A và
để lại một đê rãnh trũng phía Tây đó là lagoon thế hệ 1
- Giai đoạn 2: Holocen sớm - giữa (Q21 - 2) Biển tiến Flandrian đã phá vỡ
một phần đê cát chắn, phía Đông đê cát này tiếp tục là một vịnh biển, trong đó
tích tụ các trầm tích Holocen Tiếp đó là thời kỳ Holocen trung vào khoảng
5 000 - 4 000 năm trước dẫn đến thành tạo dải đê chắn cát không liên tục Phía
trong đê cát này hình thành lagoon thế hệ 2 Đó là một lagoon rộng lớn, thuộc
kiểu hở, thông ra biển ở cửa Thuận An và cửa Tư Hiền, chứng cứ để lại là trầm
tích sông biển hỗn hợp tại lỗ khoan 314 (Phú An) và Hu7 (Tân Mỹ) vùng hạ lưu
sông Hương
Trang 16- Giai đoạn 3: Holocen muộn (Q23) Trong Holocen giữa - muộn, mực nước
biển thay đổi ít với xu thế hạ thấp là chính Vào thời kỳ biển lùi trong Holocen
muộn, do sự di chuyển ngang của bồi tích từ đáy biển nông vào bờ chiếm ưu thế
nên dần đã tạo ra một bar cát mới phía ngoài Bar cát này dịch chuyển dần về
phía bờ nhưng khi chưa đạt đến đê chắn cát thế hệ 3 thì biển lùi cực đại để sót lại
một rãnh trũng phía sau, đó chính là hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai ngày nay
Đồng thời do hoạt động của gió đê cát đó được tôn cao dần thành dải đê cát hiện
đại có tuổi Holocen muộn (mvQ23), ngăn cách hoàn toàn hệ đầm phá Tam Giang
- Cầu Hai (lagoon thế hệ 3) với biển Đông ngoại trừ các cửa biển hẹp Như vậy,
bình đồ cấu trúc hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai có lẽ đã được hoàn thiện từ
3 000 - 2 000 năm trước
5 Các tai biến địa chất
5.1 Nước dâng
Theo các tài liệu địa chất hiện nay mực nước biển đang dâng cao trên
phạm vi toàn thế giới ở Việt Nam, mức độ dâng của mực nước biển khoảng
1 - 2 mm/năm, trong đó ở khu vực miền Trung ở mức 1 mm/năm Sự thay đổi
mực nước biển theo hướng dâng cao hay hạ thấp có ý nghĩa quyết định xu thế
tiến hóa của hệ đầm phá Bên cạnh sự thay đổi mực nước do kiến tạo, gian băng
của đại dương thế giới, khu vực Thừa Thiên Huế còn xẩy ra hiện tượng nước
dâng do các nguyên nhân khác như bão, lũ
Hiện tượng nước dâng thường xẩy ra trong gió mạnh ở vùng ven bờ do áp
suất khí quyển trên mặt nước giảm mạnh và hậu quả của mưa lũ Kết quả tính
toán đối với vùng Thuận An, Tư Hiền cho thấy mỗi kỳ nước dâng có thời gian
đỉnh nước đạt khoảng 2 giờ và chiều cao nước dâng từ 1,45 - 1,85 m Do vậy
trong vùng thường xẩy ra hiện tượng sóng cao trong bão gây hậu quả hết sức
nghiêm trọng đối với kinh tế - xã hội của cộng đồng Trong các đầm phá hiện
tượng nước dâng trong lũ xẩy ra thường xuyên hơn và còn phụ thuộc vào khả
năng thoát lũ qua các cửa biển Khi các cửa biển thoát lũ kém, trong đầm phá
nước dâng mạnh, gây ra hiện tượng ngập úng, tràn vào các vùng ruộng đồng
xung quanh đầm phá
5.2 Biến đổi đường bờ
Về tổng thể, bờ biển thuộc kiểu tích tụ - mài mòn do sóng (Trần Đức Thạnh
và nnk, 1997) với các dạng địa hình chính là bãi cát biển - cồn cát, đầm phá,
vũng, vịnh, mũi nhô và đảo đá gốc Phía sau bờ là đồng bằng tích tụ aluvi - biển
tuổi Đệ tứ có độ cao phổ biến 2 - 3 m, địa hình đồi và núi thấp cao 100 - 150 m
có tuổi Plioxen - Đệ tứ sớm và trên 250m có tuổi Mioxen Phía trước bờ là sườn
bờ ngầm có độ sâu tới 15 m, mặt đáy khá dốc Sóng và dòng chảy qua cửa biển
là động lực chính thống trị đối với các quá trình bờ hiện đại Dòng bồi tích di
chuyển ngang do sóng đã tạo nên hệ thống bãi biển trên phần lớn chiều dài bờ
trong quá khứ Xâm thực của sóng mạnh đã tạo nên các thềm mài mòn và bãi
tắm ở chân các mũi nhô như Linh Thái, Chân Mây Tây, Chân Mây Đông, Bãi
Chuối, đảo Sơn Trà Động lực của thủy triều đã tạo nên các dạng địa hình tích tụ
Trang 17như các bãi triều hẹp ven đầm phá, bãi lầy sú vẹt như ở sông Bu Lu, ven đầm Lăng Cô, các tích tụ delta triều lên ở phía trong cửa Tư Hiền và delta triều xuống
ở ngoài cửa Thuận An Các lạch cửa, đầm phá là địa hình xâm thực tiêu biểu do dòng triều, dòng lũ đạt đến độ sâu 11 m ở cửa Thuận An và 6m ở cửa Lăng Cô
Động lực triều kết hợp với động lực sông - lũ tích tụ tạo nên các bãi lầy cửa sông, mặt đáy lòng chảo đầm phá và xâm thực tạo nên hệ thống lạch sâu trong
đầm phá, cửa sông Thủy triều còn tham gia với động lực sóng tạo nên hình thái tích tụ của đáy vịnh Chân Mây và dải sườn ven bờ ngầm Dòng chảy sông có vai trò quan trọng trong việc tạo nên các châu thổ trong đầm phá, ở cửa sông như ở cửa sông Ô Lâu, sông Hương va sông Đại Giang Các bãi bồi cửa sông châu thổ trong đầm phá vốn là những đầm lầy cỏ nước, cạn; chúng khô nước và ngập nước không theo chu kỳ triều, mà theo mùa (mưa và khô) trong năm Có thể nói, hoạt
động cửa sông châu thổ trong đầm phá là đặc điểm đặc biệt ở đới ven biển Thừa Thiên Huế Các rạn san hô ven bờ gặp ở đoạn bờ Hải Vân, rộng từ một vài chục
đến hơn trăm mét là một dạng địa hình tích tụ nguồn gốc sinh vật biển khá tiêu biểu Bên cạnh đó, thực vật còn có vai trò quan trọng trong việc thành tạo các dạng địa hình tích tụ như đầm lầy cổ, bãi lầy sú vẹt
Theo chiều dọc, dải bờ biển Thừa Thiên Huế có thể phân thành hai đoạn chính với những đặc trương riêng Đoạn phía bắc, từ Điền Hương - mũi Chân Mây Tây là đoạn bờ tích tụ, ở đây có hệ thống bãi cát - cồn cát biển khá tiêu biểu chắn ngoài hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai và bị chia cắt bởi hai cửa biển Thuận An và Tư Hiền Sự tương tác giữa dòng chảy sông, dòng chảy triều qua cửa biển với sóng biển đã tạo nên môi trường động lực học rất đa dạng ở vùng cửa Theo đó hiện tượng bồi tụ và xói lở đã diễn ra hết sức phức tạp, nơi bồi, nơi xói thay đổi liên tục Phần sườn bờ ngầm ở ngoài đoạn này thường dốc và đường
đẳng sâu 10 m chạy gần bờ, có nơi chỉ cách bờ 100 m ở phía Nam cửa Thuận
An, bờ biển có hình cánh cung, bãi biển bồi tụ, xói lở phức tạp theo mùa gió, sườn bờ ngầm thoải hơn và đường đẳng sâu 10 m xa dần bờ về phía Đông Nam (nơi xa nhất là 2,2 km)
Đoạn phía Nam, từ mũi Chân Mây Tây đến mũi Hải Vân là đoạn bờ tích tụ
- mài mòn và chịu ảnh hưởng nhiều của các mũi đá nhô ra biển Từ mũi Chân Mây Tây đến Núi Tròn (ứng với vịnh Chân Mây) là đoạn bờ mài mòn nằm giữa hai mũi nhô đá gốc, có bờ biển thoải rộng tựa lưng vào đồng bằng thềm cát Cảnh Dương cao 4 - 6 m Từ Núi Tròn - Lăng Cô là đoạn bờ tích tụ có hệ bãi biển - cồn cát (cao tới 20 m) phát triển dọc bờ va là đê cát chắn ngoài đầm Lăng Cô Từ Lăng Cô đến Mũi Hải Vân là đoạn bờ mài mòn đá gốc, bờ đổi hướng thành đông tây, quá trình xâm thực do sóng thống trị
Quá trình xói lở bờ biển, cửa sông, cửa biển cũng đã tác động sâu sắc đến nhiều mặt kinh tế - xã hội, đời sống của cộng đồng Hàng năm trục cửa biển Thuận An dịch chuyển dần lên phía bắc khoảng 15m, còn bờ lạch bị bồi lấn dịch chuyển về phía bắc có chỗ đến 40 m/năm, đã gây xói lở mạnh về phía bắc cửa và
sự bất ổn định trên đoạn bờ dài 7 km Nhiều nhà dân đã bị xâm lấn gây nên đổ nát, công trình cột đèn biển cũng bị đổ, gây nên sự bất ổn định của các cộng
Trang 18đồng dân cư ở đây Ven bờ biển quá trình xói lở cũng diễn ra rất mạnh, có thể lấy bãi tắm Thuận An làm thí dụ Trong chưa đầy hai năm xói lở đã xâm lấn vào
bờ đến hàng trăm mét, bãi tắm Thuận An bị mất hẳn, các nhà nghỉ, khách sạn, nhà dân xây dựng kiên cố bị đổ nát xuống biển, hàng ngàn người dân mất việc làm, mất nhà ở Bên cạnh xói lở quá trình bồi lắng trầm tích cũng gây ra những hậu quả khôn lường cho cộng đồng dân cư và sản xuất kinh doanh Diễn biến sa bồi trầm tích ở các cửa biển xẩy ra mãnh liệt và phức tạp, đã gây nên sự ách tắc giao thông, cản trở tầu thuyền ra vào cảng Để khắc phục hàng năm phải tiến hành nạo vét luồng vào cảng rất tốn kém và phức tạp Từ những dẫn liệu trên có thể thấy, tuy quá trình bồi - xói đã, đang và sẽ gây ra hậu quả về nhiều mặt đối với đời sống, kinh tế, xã hội, nhưng đến hiện nay vẫn chưa được nghiên cứu kỹ nên số liệu cụ thể hãy còn rất ít
III Các hoạt động nhân sinh ảnh hưởng tới chất lượng trầm tích
1 Hoạt động khai thác và đánh bắt, nuôi trồng thủy sản
Tam Giang - Cầu Hai là hệ đầm phá ven biển điển hình của Việt Nam Tổng diện tích của hệ đầm phá khoảng 21 600 ha Đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản có diện tích 2 900,36 ha chiếm 9,3% diện tích đất nông nghiệp, phân bố không đều và tập trung nhiều nhất là Phú Vang, Phú Lộc và Quảng Điền Đất có mặt nước chưa sử dụng có thể chuyển sang nuôi trồng thủy sản trong thời gian
2001 - 2010 là 4 465,5 ha, phân bố không đều và tập trung nhiều nhất là Phú Vang, Phú Lộc và Quảng Điền (bảng 1.5) Dân số trong khu vực 320 141 người với 52 209 hộ, theo thống kê khoảng 300 000 dân cư có đời sống gắn liền với khai thác thủy sản (trực tiếp hoặc gián tiếp)
Bảng 1.5: Hiện trạng sử dụng đất của các xã trong khu vực
Chia theo các đơn vị hành chính cấp huyện Loại đất
(tổng diện tích)
Tổng diện tích (ha)
Phú Lộc Phú Vang Quảng
Điền
Hương Trà Phú Điền
Đất tự nhiên 99.767,00 54.247,50 20.635,00 12.184,00 2.596,02 10.105,10
Đất nông nghiệp: 17.995,32 5.586,63 5.275,31 4.338,94 853,69 1.940,75 (DT nuôi tôm 2001) 2.929,00 702,00 1.437,00 217,00 540,00 36,00 (có mặt nước TS) 2.975,00 702,00 1.437,00 586,00 241,00 36,00
Trang 19(bảng 1.6) (Số liệu báo cáo của Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Thừa Thiên
Huế năm 1998) Trước năm 1979, khi cửa Tư Hiền đang thông thương, trao đổi
nước với biển tốt có sản lượng khai thác thủy sản rất cao (trên 4 000 tấn) Vào
các năm 1979, 1994 với sự kiện cửa biển Tư Hiền bị lấp, sản lượng khai thác
thủy sản giảm Sau các lần cửa bị đóng do có khai thông tương đối nên sản lượng
khai thác thủy sản có tăng lên, nhưng mức độ không lớn
Các trận lũ lớn đã mở các cửa biển mới, độ mặn trong đầm tăng lên đáng
kể, khai thác thủy sản đầm phá cũng tăng lên Theo số liệu báo cáo của Sở Khoa
học và Công Nghệ Thừa Thiên Huế tại Hội thảo Đề án Hòa Duân (11/2000, Hà
Nội) Cùng với tăng độ mặn, sản lượng khai thác thủy sản ở hệ đầm phá tăng hơn
so với trước khá nhiều Theo Võ Thị Hồng (Sở Thủy sản Thừa Thiên Huế), khai
thác một số nguồn giống tự nhiên ở hệ đầm phá tăng lên sau mở cửa biển tháng
11/1999 Qua đó cho thấy sản lượng khai thác thủy sản và cả nguồn giống tự
nhiên phụ thuộc vào sự đóng mở của các cửa biển, vào sự thay đổi độ mặn của
môi trường nước trong đầm phá Khi mở các cửa biển, độ mặn của nước trong
đầm tăng lên, hệ sinh thái biến đổi làm cho sản lượng khai thác thủy sản, nguồn
giống tự nhiên tăng Theo kế hoạch giá trị tổng sản lượng sản lượng (3 988 tấn)
năm 2005 là 274,193 tỷ đồng Do nhu cầu của cuộc sống và thị trường đã khiến
cho người dân xung quanh đầm sử dụng mọi biện pháp để đánh bắt như tăng
cường độ và mật độ đánh bắt, sử dụng phương tiện đánh bắt mang tính chất huỷ
diệt, dẫn đến huỷ hoại môi trường sống của sinh vật và làm suy giảm nguồn lợi
thủy sản trong vùng Sản lượng đánh bắt suy giảm từ năm 1975 là 4 500 - 5 000
tấn/năm đến nay 2 000 - 2 500 tấn/năm (Nguyễn Lương Hiền, 1997)
Bảng 1.6: Sản lượng khai thác thủy sản ở hệ đầm phá (tấn)
Năm 1966 1973 1979 1985 1991 1994 1995 1996 1997
Sản lượng 4.042 4.517 2.575 2.937 2.400 1.973 2.600 2.927 2.700
Trong những năm vừa qua nuôi trồng thủy sản trong vùng phát triển mạnh,
diện tích nuôi trồng ngày càng mở rộng (tốc độ tăng diện tích trong vòng 5 năm
từ 1996 đến 2001 là 25,9 %), đối tượng nuôi ngày càng đa dạng Sản lượng năm
2001 là 1 597 tấn, nếu tính với giá trung bình là 70 000 đ/kg thì tổng thu nhập
nuôi tôm là 112 tỷ đồng, (lợi nhuận ước tính là 25%) Bình quân tăng trong 5
năm là 25,9% (bảng 1.7) Diện tích trồng Rong câu Chỉ Vàng năm 1989 là 400
ha với sản lượng là 600 tấn, từ 1991 đến nay chững lại Song nhìn chung phong
trào nuôi tôm còn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch vùng và quy hoạch chi tiết,
thiết kế ao nuôi và kênh mương không đồng bộ đã làm cho năng suất không cao
và môi trường bị suy giảm
Bảng 1.7: Tốc độ tăng diện tích, sản lượng năng suất nuôi tôm sú trong 5 năm
Trang 20Với mục tiêu tăng cường khả năng khai thác đầm phá (theo kế hoạch đến năm 2005 tổng sản lượng là 3 988 tấn có giá trị 274,193 tỷ đồng) và phát triển kinh tế khu vực đã nảy sinh những vấn đề bức xúc tới môi trường đầm phá bao gồm suy giảm tiềm năng nguồn lợi thủy sản và suy giảm chất lượng môi trường Trong phương thức quản lý thì đầm phá được coi là một phần lãnh thổ do chính quyền địa phương các cấp quản lý thông qua các ban ngành chức năng Vì vậy
sự tranh chấp lợi ích sử dụng giữa các ban ngành như thủy sản, thủy lợi, nông nghiệp về nguồn nước sông đổ về đầm phá cũng dẫn đến suy giảm tiềm năng nguồn lợi trong đầm
3 Hoạt động nông nghiệp
ở khu đầm phá, sự xuất hiện của một loạt đê thủy lợi chặn ngang dòng sông, các đê thủy lợi lấn hệ đầm phá để phục vụ trồng lúa đã thu hẹp diện tích thủy vực, phần nào ngăn cản dòng bồi tích cũng như hạn chế nuôi trồng thủy sản
và nơi sinh sống của nhiều loài thủy sản Hoạt động nông nghiệp ven đầm phá có
ảnh hưởng lớn đến hệ sinh thái bởi việc sử dụng ngày càng nhiều phân vô cơ và TTS một cách bừa bãi
Hệ thống đê ngăn mặn: đập Thảo Long được xây chắn ngang dòng sông Hương và nằm ở phía Tây cửa Thuận An, để ngăn mặn xâm nhập vào phía thượng nguồn Hoạt động đóng mở đập tiến hành theo mùa và theo thủy triều, mùa mưa đập mở để thoát lũ, mùa khô hầu hết thời gian trong ngày đập đóng, chỉ mở 1 - 2 giờ vào lúc triều kiệt phục vụ cho giao thông đi lại trên sông Đập Cửa Lác và các cống nhỏ ở sông ô Lâu và khu vực Tam Giang Hệ thống đê ngăn mặn ở Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang có chiều dài khá lớn khoảng gần 20 km mặc dù đã đem lại được một số hiệu quả nhất
định trong phát triển nông nghiệp nhưng cũng đã góp phần ảnh hưởng tới
sự hoạt động của các con sông, lưu lượng nước ra vào đầm, sự lưu thông của đầm với bên ngoài góp phần cường hoá quá trình ngọt hoá đầm
Các đập nước đầu nguồn: trước tiên cần phải nói đến là các đập chứa nước ở
đầu nguồn như đập Truồi, đập Tả Trạch đã và đang tiến hành xây dựng, sẽ đem lại ý nghĩa rất lớn trong đời sống và kinh tế - xã hội Tuy nhiên, bên cạnh đó
Trang 21cũng cần phải nghĩ tới sự ảnh hưởng của chúng đối với vấn đề trao đổi nước, các cửa sông, biển, diễn biến của môi trường nước và hệ sinh thái trong hệ đầm phá Theo các nghiên cứu đã nêu, khi đập xây dựng xong sẽ làm biến đổi dòng chảy ở các sông một cách đáng kể, đặc biệt là vào mùa khô sẽ ảnh hưởng đến lưu lượng nước sông đổ về đầm phá (lưu lượng giảm) Kết quả trong mối tương tác sông - biển, nguồn nước sông vốn đã thể hiện yếu vào mùa khô nay lại càng yếu hơn nữa, nên chắc hẳn hiện tượng đóng các cửa biển sẽ có nhiều cơ hội để xẩy ra, theo đó hệ sinh thái và nguồn lợi của hệ đầm phá cũng thay đổi theo hướng không mong đợi
4 Các đặc trưng thủy hoá
4.1 pH
Kết quả đo đạc độ pH của nước ở các đầm phá trước và sau khi mở các cửa biển như được thể hiển ở bảng 1.8 Qua bảng này thấy rằng tuy sự chênh lệch giữa các số liệu đo được chưa nhiều, nhưng nó đã giúp chúng ta thấy được mặt bằng chung và xu thế biến đổi của chúng Khi mở các cửa biển (11/1999) độ pH của nước trong toàn hệ đầm phá đều tăng (toàn đầm 7,2 lên đến 7,94), ở phá Tam Giang tăng 0,85 độ pH (từ 6,95 lên đến 7,8), ở đầm Thủy Tú tăng 0,63 độ
pH (7,4 lên đến 8,03) và ở Cầu Hai tăng là 0,63 độ pH (7,35 lên đến 7,98) Tuy vậy, quy luật phân bố độ pH trung bình ở các đầm phá vẫn không thay đổi, nghĩa
là nước ở phá Tam Giang vẫn có độ pH nhỏ nhất (7,8) so với các đầm phá khác (Thủy Tú: 8,03; Cầu Hai: 7,98)
Bảng 1.8: pH của nước ở các đầm phá trước và sau khi mở các cửa biển
Năm Tam Giang Thủy Tú Cầu Hai Toàn đầm phá
2000 7,8 8,03 7,98 7,94
Qua đó cho thấy độ pH của nước trong các đầm phá biến thiên liên quan chặt chẽ với sự trao đổi nước giữa các sông với đầm phá và giữa đầm phá với biển thông qua các cửa Khi sự trao đổi nước của đầm phá với các sông chiếm ưu thế sẽ làm giảm độ pH của nước đầm phá ở tiểu vùng liên quan với nó, ngược lại nếu sự trao đổi nước của đầm phá với biển chiếm ưu thế sẽ làm tăng độ pH của nước Sự tương tác giữa hai quá trình này sẽ quy định độ pH của nước trong các
đầm phá cũng như toàn hệ đầm phá Kết quả tính toán sự tương quan giữa hai đại lượng độ mặn và độ pH của nước cho thấy hệ số tương quan r = 0,655 đã nói lên
độ pH của nước trong các đầm phá có tương quan đồng biến khá chặt chẽ với độ mặn của nước Khi đóng cửa Tư Hiền độ pH của nước ở đầm Cầu Hai thấp nhưng ổn định, khi khai thông cửa Tư Hiền độ pH giao động trong khoảng lớn hơn (gấp hai lần) Khi mở các cửa biển tháng 11/1999, độ pH trung bình trong các đầm phá đều tăng lên đáng kể từ 0,6 - 1 độ pH
Trang 224.2 Độ muối
Độ muối của hệ đầm phá là phụ thuộc rất nhiều vào trạng thái đóng hay mở
của cửa Tư Hiền và có sự thay đổi theo tầng nước Khi cửa Tư Hiền được khai
thông với biển độ muối đạt cao nhất ở cửa Tư Hiền và cửa Thuận An, đạt từ
20 - 33 ‰ về mùa khô và 5 - 30 ‰ vào mùa mưa Vào phía trong đầm, độ muối
giảm dần và thấp nhất ở các cửa sông Độ muối luôn ổn định cao ở Cầu Hai,
Thủy Tú, thấp ở Tam Giang và biến động mạnh ở đầm Sam - An Truyền Hiện
tượng lấp cửa Tư Hiền 1994 đã làm cho đầm Cầu Hai bị ngọt hóa nhanh chóng,
độ muối trung bình của toàn đầm giảm xuống rất thấp, vào mùa mưa chỉ còn 0,5 ‰, kèm theo với nó hiện tượng phân tầng thuận về độ mặn giảm mức độ thể
hiện song hiện tượng phân tầng ngược lại thể hiện rõ hơn (mặt/đáy ≈ 341/144
mgCl/L) Khi cửa Tư Hiền đóng, độ muối của nước đầm Cầu Hai biến đổi ít phụ
thuộc vào pha triều và toàn đầm gần như ngọt hóa hoàn toàn vào mùa mưa
(Nguyễn Chu Hồi, Trần Đức Thạnh và nnk, 1995)
Bảng 1.9: Độ mặn trung bình năm và mùa của nước ở các đầm phá (‰)
Năm Mùa
mưa
Mùa khô
Năm
5,34 8,07 7,16 2,26 13,12 8,71 1,78 7,47 5,4
Qua bảng 1.9 ta thấy độ mặn trung bình năm ở các đầm phá thay đổi từ 5,4 - 8,71‰, trong đó độ mặn trung bình năm ở đầm Thủy Tú cao nhất đạt 8,71‰, và thấp nhất ở Cầu Hai 5,4‰, còn Tam Giang ở mức 7,16‰ Sự chênh
lệch độ mặn trung bình giữa mùa khô và mùa mưa rất lớn, lớn nhất là ở đầm
Thủy Tú 10,86 ‰, rồi đến đầm Cầu Hai 5,69‰ và thấp nhất ở phá Tam Giang
2,73‰ Kết quả này cũng giống như kết quả nghiên cứu của Nguyễn Chu Hồi và
nnk [5] Mùa mưa do sự ảnh hưởng của nước sông chiếm ưu thế trên toàn hệ đầm
phá, nên độ mặn ở cả ba đầm xấp xỉ nhau và ở mức thấp nhất Riêng ở phá Tam
Giang, vai trò ảnh hưởng của nguồn nước sông diễn ra rất mạnh, nó không chỉ
chiếm ưu thế vào mùa mưa mà còn thể hiện rõ ngay cả trong mùa khô (khi vai
trò của thủy triều có ảnh hưởng mạnh nhất)
Trong các đầm phá, theo hướng từ cửa Ô Lâu đến cửa Thuận An (ở phá
Tam Giang), từ Hà Trung đến cửa Thuận An (ở đầm Thủy Tú) do ảnh hưởng của
triều qua cửa Thuận An nên độ mặn tăng dần Riêng ở Cầu Hai, theo hướng từ
Đá Bạc đến Tư Hiền do ảnh hưởng của triều qua cửa Tư Hiền bị hạn chế cộng
với biểu hiện dòng triều bị giảm khi thiết diện của đầm tăng, nên độ mặn tăng
lên nhưng mức độ tăng nhỏ, đi từ Hà Trung qua Vinh Phong độ mặn xấp xỉ
nhau Qua đó ta thấy rõ vai trò trao đổi nước của cửa Thuận An là rất lớn và có ý
nghĩa quyết định độ mặn ở đầm Thủy Tú và một phần phá Tam Giang, thậm chí
cả với đầm Cầu Hai Vai trò trao đổi nước của cửa Tư Hiền yếu hơn cửa thuận
Trang 23An khá rõ nhưng cũng ảnh hưởng đáng kể đối với độ mặn của đầm Cầu Hai
Nếu xét theo các tháng ta thấy độ mặn trung bình của các tháng mùa hè
(VII, VIII, IX) ở các đầm phá là cao nhất, độ mặn trung bình của các tháng mùa
đông (XI, XII, I) là thấp nhất Đặc biệt ở đầm Thủy Tú, vào tháng III độ mặn
tăng rất cao và cao hơn các đầm phá khác (đạt 16‰) do lượng mưa ít, ở tháng
IV và V (kỳ tiểu mãn) mưa nhiều hơn nên độ mặn của nước đầm phá lại giảm
Những số liệu thu được cho thấy khi mở các cửa biển (11/1999) độ mặn
trung bình tăng lên một cách đáng kể ở cả 3 đầm phá (Tam Giang, Thủy Tú và
Cầu Hai) Nếu so sánh số liệu độ mặn của các tháng I - VI của năm 1999 với các
tháng I - VI của năm 2000 ta thấy sự tăng độ mặn đã tạo lập môi trường nước lợ
khá điển hình trong toàn hệ đầm phá, tuy nhiên mức độ tăng có khác nhau giữa
các vùng ở đầm Cầu Hai độ mặn tăng từ 0,5 - 2‰ lên đến 14 - 16 ‰; ở đầm
Thủy Tú và đặc biệt là khu vực Hà Trung độ mặn tăng từ 4 - 6 ‰ lên đến
14 - 18‰; ở phá Tam Giang, phần nửa phá gần cửa Thuận An, độ muối tăng từ
8 - 10‰ lên đến 14 - 20‰, phần gần cửa sông Ô Lâu độ mặn biến đổi ít do tác
dụng trực tiếp của nguồn nước sông Ô Lâu đổ vào đầm còn chiếm ưu thế Như
vậy, mức độ tăng độ mặn do mở các cửa biển lớn nhất là ở đầm Cầu Hai, sau đó
đến đầm Thủy Tú và nhỏ nhất là ở phá Tam Giang
Sự phân tầng về độ mặn: tùy thuộc vào chiều biến đổi độ mặn tăng hay
giảm khi tăng chiều sâu có thể phân biệt hai loại: phân tầng thuận và phân tầng
ngược
Phân tầng thuận về độ mặn là sự phân tầng diễn ra theo quy luật chung càng
xuống sâu độ mặn càng tăng do sự khác nhau về mật độ của nước biển và nước
nhạt Hiện tượng này gặp phổ biến ở hệ đầm phá và thể hiện ở các mức độ khác
nhau Thông thường phân tầng thuận về độ mặn có mức độ chênh lệch nhỏ hơn
1 ‰/m, nhưng tại một số khu vực ở phá Tam Giang mức độ chênh lệch độ mặn
lên đến 3,5 ‰/m, thậm chí 5 ‰/m Hiện tượng phân tầng thuận về độ mặn xẩy
ra do nguyên nhân trọng lực, nhưng biểu hiện của nó phụ thuộc vào hoàn lưu của
vực nước
Phân tầng ngược là hiện tượng càng xuống sâu độ mặn càng giảm Hiện
tượng này ở hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai đã được Nguyễn Chu Hồi, Trần
Đức Thạnh và nnk phát hiện năm 1995 [5] có độ chênh lệch 5‰ với độ sâu 5m
Đây là hiện tượng lần đầu tiên gặp ở các đầm phá ven bờ biển Việt Nam Hiện
tượng này chỉ gặp ở phía nam đầm Thủy Tú Với độ sâu 5,5 m, tầng trên có độ
mặn cao hơn tầng đáy 2‰. Thời gian bắt gặp hiện tượng này không liên tục
trong ngày và thường gặp vào cuối chu kỳ triều lên, kéo dài 3 - 4 giờ (thường từ
9 - 12 h trong ngày) Số liệu đo được năm 1995 cho thấy chênh lệch độ mặn do
phân tầng ngược ở Hà Trung là 5‰, đến năm 1999 chênh lệch về độ mặn đo
được chỉ 2‰
Tóm lại, độ mặn trung bình năm của các đầm phá thuộc hệ đầm phá Tam
Giang - Cầu Hai rất khác nhau và thay đổi trong khoảng từ 5,7 - 8,7‰ Sự chênh
lệch độ mặn trung bình giữa mùa mưa và mùa khô rất lớn, lớn nhất ở đầm Thủy
Trang 24Tú 10,86 ‰ rồi đến đầm Cầu Hai 5,69 ‰ và thấp nhất ở phá Tam Giang 2,73 ‰
Về mùa mưa do ảnh hưởng của nước sông chiếm ưu thế nên độ mặn ở cả ba đầm
xấp xỉ nhau và ở mức thấp nhất Trong đầm xảy ra hiện tượng phân tầng về độ
mặn theo cả hai xu hướng phân tầng thuận và phân tầng nghịch
4.3 Nhiệt độ
Nhiệt độ nước trong đầm phá tầng mặt thường thấp hơn nhiệt độ không
khí 1 - 3 0C về mùa đông và cao hơn 2 - 3 0C về mùa hè Dao động nhiệt độ về
mùa hè từ 28 - 32 0C có khi đạt 34 0C, mùa đông 18 - 23 0C Nhiệt độ tầng đáy
thường thấp hơn tầng mặt về mùa hè 1 - 3 0C và ngược lại về mùa đông tuy
chênh lệch không lớn như mùa hè Biên độ dao động nhiệt ngày đêm phụ thuộc
nhiều vào thời tiết và sự trao đổi nước với biển, về mùa hè đạt 4 - 6 0C, về mùa
đông thấp hơn và có xu hướng dao động đồng pha với mực nước Nhiệt độ trung
bình nước ở đầm Thủy Tú về mùa đông cao hơn cả (22,3 0C) rồi giảm dần về hai
phía Tam Giang (21,1 0C) và Cầu Hai (221,7 0C) Nhiệt độ nước ở cửa Thuận An
thấp (21,2 0C) là do ảnh hưởng của khối nước biển ven bờ (Nguyễn Chu Hồi và
nnk [5])
4.4 Độ đục
Độ đục trung bình năm cao nhất là ở đầm Thủy Tú và ở phá Tam Giang (cỡ
10,33 mg/l) và thấp nhất ở đầm Cầu Hai (6,44 mg/l) ở đầm Cầu Hai và đầm
Thủy Tú do sự ưu thế của nước sông và nước biển thể hiện khác nhau ở hai mùa
nên độ đục về mùa mưa cao hơn độ đục về mùa khô Tháng 1, 6, 7 (các tháng
mưa nhiều) là các tháng có độ đục cao nhất và các tháng 8, 9, 10 (các tháng khô
kiệt) là các tháng có độ đục thấp nhất Riêng ở phá Tam Giang, độ đục về mùa
khô lại cao hơn độ đục về mùa mưa nhưng do ảnh hưởng của nước sông chiếm
ưu thế ở cả hai mùa nên độ chênh lệch giữa hai mùa là nhỏ
Độ đục của toàn hệ đầm phá có sự biến đổi lớn không những theo mùa mà
còn biến động theo năm Biến động độ đục phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng sự
tăng cao độ đục ở đầm Thủy Tú và Cầu Hai năm 1995 một phần là do ảnh hưởng
của việc lấp cửa Tư Hiền [5] Sau khi cửa Tư Hiền khai thông đến năm 1998 -
1999 độ đục lại giảm, trong khi đó độ mặn của nước đầm phá tăng Tháng
11/1999 cửa Tư Hiền lại mở rộng hơn trước, cộng thêm là nhiều cửa biển khác
cũng được mở ra, độ mặn của nước đầm phá tăng thì độ đục lại giảm chỉ còn
2 - 5 mg/l Điều đó cho thấy sự biến đổi độ đục của nước ở các đầm phá liên
quan khá chặt chẽ với mức độ trao đổi nước qua cửa biển và hoàn lưu nước trong
các đầm phá Thường độ mặn của nước tăng, các vật liệu lơ lửng trong nước đã
tham gia thành tạo các kết bông trầm tích trong điều kiện thuận lợi cho nó, vì thế
nên hàm lượng vật liệu lơ lửng bị giảm đi đáng kể, làm cho độ đục giảm Ngược
lại, độ mặn của nước giảm, các vật liệu lơ lửng tồn tại trong nước tăng lên, đã
làm cho độ đục tăng
4.5 Chỉ số DO
So sánh với tiêu chuẩn Việt Nam (1995) đối với nước nuôi trồng thủy sản
ở ven bờ biển (xấp xỉ 4 mg/l) thì thấy hàm lượng DO trong nước đầm phá khá
Trang 25cao (bảng 1.10) Theo tháng, do sự phát triển của thực vật bám đáy thay đổ theo
mùa nên những tháng mùa xuân (1 - 4) hàm lượng DO ổn định và cao nhất còn
các tháng mùa đông (9 - 12) có hàm lượng DO thấp nhất
Bảng 1.10: Hàm lượng DO trong nước vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
Phá Tam Giang Đầm Thủy Tú Đầm Cầu Hai Chỉ
tiêu Mùa
mưa
Mùa khô Năm
Mùa mưa
Mùa khô Năm
Mùa mưa
Mùa khô Năm
DO 6,66 7,45 7,19 6,68 7,30 7,09 6,61 7,10 6,94
So sánh các số liệu trước và sau khi mở các cửa biển vào tháng 11- 1999
cho thấy khi độ mặn và pH của nước tăng do mở các cửa biển, thì DO lại giảm
DO ở phá Tam Giang giảm mạnh nhất từ 7,48 xuống 6,56, ở đầm Cầu Hai từ
7,45 xuống 7,06 và giảm ít nhất là ở đầm Thủy Tú từ 6,97 xuống 6,91 (bảng
1.11) Với mức độ giảm DO khác nhau giữa các đầm phá nêu trên đã làm cho
quy luật phân bố DO trong các đầm phá thay đổi khác trước, hàm lượng DO của
nước đầm Cầu Hai lúc này không còn thấp nhất nữa mà là nước của phá Tam
Giang mới có hàm lượng DO thấp nhất trong các đầm phá Sự biến đổi này có
thể do cùng với sự tăng độ mặn của nước hệ sinh thái đầm phá đã thay đổi theo
hướng giảm các loài nước ngọt và tăng các loài nước mặn, lợ Theo đó, rong rêu
và thực vật ưa ngọt phát triển phong phú (khi cửa Tư Hiền đóng, cửa Thuận An
trao đổi nước hạn chế) dần bị diệt vong hoặc di cư (để phù hợp với môi trường)
và nhường chỗ cho các loài ưa mặn có khả năng quang hợp kém thay thế Vì thế
nên khi mở thêm các cửa biển mới, DO của nước giảm; thêm nữa là do độ mặn
của đầm Cầu Hai tăng mạnh nên tốc độ giảm DO ở đầm Cầu Hai thể hiện lớn
hơn cả, đến nỗi đã làm phá vỡ cả quy luật phân bố DO của nước năm 1999
Bảng 1.11: Kết quả đo DO của nước ở các đầm phá vào các thời điểm trước
và sau khi mở các cửa biển Năm Tam Giang Thủy Tú Cầu Hai Toàn đầm phá
1999 7,48 7,21 7,45 7,38
2000 6,56 6,91 7,06 6,84
Hàm lượng COD trung bình của nước trong toàn hệ đầm phá là 13,2 mg/l
Nơi thấp nhất hàm lượng COD chỉ đạt 7 mg/l, cao nhất đạt 18,5 mg/l Giữa các
vùng trong hệ đầm phá lượng COD ít thay đổi và không thể hiện rõ qui luật
Hàm lượng COD trung bình của nước sông đổ vào đầm phá là 9 mg/l và dao
động trong khoảng 1,3 - 13,4 mg/l Như vậy so sánh hàm lượng COD của nước
trong đầm phá và của nước sông đổ vào đầm phá thì có thể thấy rằng nước trong
đầm phá có hàm lượng cao hơn nhưng so sánh với TCVN 5942 - 1995 thì thấy
rằng hàm lượng COD trong đầm phá còn rất thấp
Trang 26Hàm lượng BOD5 trung bình của nước trong hệ đầm phá là 1,05 mg/l Nơi
thấp nhất hàm lượng BOD chỉ đạt 5 mg/l, nơi cao nhất đạt 1,5 mg/l Cũng như
COD, hàm lượng BOD5 ít thay đổi giữa các vùng trong đầm phá và không thể
hiện rõ qui luật phân bố
5 Đặc trưng của khu hệ sinh vật trong vịnh
5.1 Thực vật phù du (Phytoplankton)
Các nghiên cứu đã xác định 357 loài thực vật phù du thuộc 6 ngành:
Cyanophyta 19 loài; Heterokontophyta 241 loài, chiếm 67,51 số loài;
Chlorophyta 3 loài; Dinophyta 72 loài; Euglenophyta 2 loài, chỉ chiếm 0,63%;
Chlorophyta 20 loài (bảng 1.12) Tính đa dạng còn thể hiện ở mức độ chi và họ,
ngành Heterokontophyta đa dạng nhất về taxon bậc họ: 23 họ (chiếm 47,92%
tổng số họ), tiếp đến là các ngành Dinophyta (14 họ), Magnoliophyta (7 họ),
Chlorophyta (7 họ), Cyanophyta (2 họ), Chromophyta (2 họ), và Euglenophyta
(1 họ) Tính bình quân mỗi bộ có 3,1 họ, 22,3 loài; mỗi họ lại có 7,4 loài
Bảng 1.12: Tỷ lệ số lượng họ và loài thuộc các lớp của khu hệ tảo phù du
ở đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
Đã xác định được 16 loài thuộc 11 chi, 6 họ thực vật có hoa
(Magnoliophyta), trong đó 3 loài thuộc lớp Ngọc lan (Magnoliopsida, chiếm
18,75 % tổng số loài) và 13 loài thuộc lớp Hoa loa kèn (Liliopsida), chiếm 81,25
% tổng số loài (bảng 1.13) Họ nhiều loài và chi nhất là họ Hydrocharitaceae với
4 chi, 6 loài, chiếm tỉ lệ tương ứng là 36,36 % và 37,50 % tổng số, họ
Potamogetonaceae có 2 chi, 3 loài, các họ còn lại chỉ có 1 - 2 loài Trong những
Trang 27loài trên, 10 loài thường gặp ở sông (nguồn gốc nước ngọt), chiếm 62,50 % tổng
số loài Các loài còn lại (6 loài) có nguồn gốc biển, chiếm 37,5 % tổng số loài
Thực vật bậc cao thủy sinh trong phá Tam Giang - Cầu Hai tuy có số lượng
loài tương đối ít nhưng sinh khối và trữ lượng của chúng khá lớn Một số loài ưu
thế, tạo thành những quần thể và quần xã lớn ở từng khu vực khác nhau, như
loài: Valisneria spiralis cho sinh khối trung bình 3,5 kg/m2, Najas indica 2,8
kg/m2, Halophila beccarii 2,5 kg/m2 và Cymodocea rotundata 1,8 kg/m2
Bảng 1.13: Thành phần loài thực vật có hoa thủy sinh ở
phá Tam Giang - Cầu Hai
Magnoliopsida Nymphaeales
Lythrales
Ceratophylaceae Haloragaceae
Ceratophyllan Myriophyllum
Potagemotaceae
Vallisneria Halophyla Hydrilla Blyxa Najas Cymmodocea Halodulea Potamogeton Ruppia
Khu hệ động vật nổi gồm 34 loài, trong đó Copepoda chiếm ưu thế với 28
loài, thuộc 12 họ: Diaptomidae (1 loài), Pseudodiaptomidae (5 loài),
Paracalanidae (1 loài), Plntellidae (4 loài), Acartidae (4 loài), Centropomidae
(2 loài), Tortanidae (1 loài), Temoridae (3 loài), Cylopidae (2 loài), Oithonidae
(3 loài), Metidae (1 loài), Harpactidae (1 loài); Cladocera 5 loài: Sididae (1
loài), Daphniidae (2loài), Bosminidae (1 loài), Polyphemidae (1 loài) và 1 loài
của họ Asplanchnidae, bộ Seisonoidea thuộc Rotatoria (Võ Văn Phú, Nguyễn
Mộng, 2000)
Liên quan với độ muối của vùng chuyển tiếp sông - biển nên trong thành
phần Zooplankton có thể gặp 3 nhóm sinh thái chính:
Nhóm các loài nước mặn thích nghi với độ mặn cao, gồm các đại diện
thuộc giống Acartia, Labidocera, Temora Chúng xuất hiện trong phá chủ yếu
Trang 28vào mùa khô, khi nồng độ muối trong phá tăng do nước mặn xâm nhập qua các cửa biển Thuận An và Tư Hiền
Nhóm các loài nước lợ là thành phần cơ bản của khu hệ động vật nổi Chúng xuất hiện hầu như quanh năm, tạo nên nguồn thức ăn quan trọng cho phá
Thuộc nhóm này là các loài thuộc giống Schmackeria, Sinocalanus,
Pseudodiaptomus
Nhóm các loài nước ngọt gồm những đại diện thuộc các giống
Diaphnosoma, Vietodiaptomus, Moina thích nghi với độ mặn thấp, sống chủ
yếu trong các sông, hồ, ruộng vùng đồng bằng thấp, có thể xâm nhập vào đầm phá qua các cửa sông, nhất là vào lúc nước ròng và những tháng mùa lũ
Liên quan với độ muối, trong phá các loài động vật nổi phân bố theo các khu vực khác nhau khá rõ ràng (bảng 1.14) Mật độ động vật nổi ở phá Tam Giang - Cầu Hai trong suốt thời gian nhiều năm trước trận lũ lịch sử năm 1999
có xu hướng tăng nhẹ từ Bắc xuống Nam và được đánh giá trung bình là 3 115 cá thể/m3 Trong đó, khu vực Bắc sông Hương (phá Tam Giang) là 2 708 ct/m3 và Nam Sông Hương (An Truyền, Thủy Tú, Cầu Hai) là 3 520 ct/m3 Hơn nữa,
trong sinh khối của động vật nổi Copepoda chiếm đến 90 %, số còn lại thuộc về
Cladocera
Bảng 1.14: Sự phân bố của các loài động vật nổi theo độ mặn của các khu vực
Khu vực I
(S0/00 =< 5‰)
Vietodiaptomus hatinhensis, iappphanosoma sarsii, Moina dubia
Vùng nước cửa sông Ô lâu, Sông Truồi, sông Cầu Hai,
Khu vực II
(S: 5 - 18‰)
Sinocalanus laevidactylus, Schmackeria spp, Centropages brevifurcus, Mesocyclops leuckarti
Vùng nước chợ Đầm, An Xuân, Đầm Cầu Hai, Thủy
Vùng nước cửa biển Thuận
An, Hòa Duân, Tư Hiền
5.4 Động vật đáy (Zoobenthos)
Khu hệ động vật đáy được cấu trúc bởi 4 nhóm: lớp giun Nhiều tơ
(Polychaeta) thuộc ngành giun Đốt (Anelida) có số lượng loài cao nhất với 25 loài, chiếm 38,5% tổng số loài, tiếp sau là Thân mềm (Mollusca) với 24 loài, chiếm 36,9%, nhóm giáp xác (Crustacea) 15 loài, chiếm 23,1% và cuối cùng là lớp Côn trùng sống đáy (Insecta) với 1 loài, chiếm 1,5%
Ngoài đa dạng về thành phần loài, khu hệ động vật đáy ở phá Tam Giang - Cầu Hai còn thể hiện tính đa dạng ở các bậc taxon cao hơn, đặc biệt là taxon bậc
họ và bậc giống Trong tổng số 59 loài có đến 50 giống và 36 họ, bình quân mỗi
Trang 29họ chỉ có 1,4 giống và 1,6 loài; mỗi giống chỉ có dưới 1,2 loài
Thành phần loài động vật đáy ở đầm phá Thừa Thiên Huế mang sắc thái
nhiệt đới với nhiều họ chỉ có 1 loài Các loài nguồn gốc nước ngọt có số lượng
không nhiều, trong khi những loài có nguồn gốc biển chiếm ưu thế, thích ứng với
dải rộng trong sự biến đổi của độ muối Chính vì vậy có thể thấy sự hình thành
những khu vực phân bố đặc trưng của các nhóm động vật đáy (bảng 1.15)
Số lượng động vật đáy bình quân ở đầm Phá Tam Giang - Cầu Hai là 1 384
cá thể/m2 ứng với khối lượng là 133 g/m2 Trong đó nhóm Giáp xác có số lượng
lớn nhất: 660 cá thể/m2, chiếm 47,70%; kế đến là nhóm Giun nhiều tơ 561 cá
thể/m2, chiếm 40,52% và nhóm Thân mềm có số lượng thấp nhất 163 cá thể/m2,
chiếm 11,78%
Về mặt định lượng, mật độ cá thể giảm dần từ Giáp xác - Giun nhiều tơ -
Thân mềm, còn sinh khối có xu thế ngược lại, giảm từ Thân mềm - Giun nhiều
tơ - Giáp xác
Bảng 1.15: Sự phân bố của các loài động vật đáy theo nồng độ muối
Khu vực II
(S: 5 - 18 ‰)
Terebrallia, Cerithidea, Corophium, Grandidierella, Melita, Apseudes, Cyathura
Vùng nước Chợ Đầm, An Xuân, Đầm An Truyền,
Đầm Cầu Hai, Thủy Tú Khu vực III
(S: >18 ‰)
Macoma, Neanthes, Ceratonereis, Solen Nephthys
Vùng nước Cửa biển Thuận
An, Hoà Duân, Tư Hiền
5.5 Các loài cá
Kết quả nghiên cứu (Vũ Trung Tạng, Đặng Thị Sy, 1978; Võ Văn Phú,
1995, 1997; Võ Văn Phú và nnk, 2000) đã xác định được 171 loài, gồm 100
giống, 62 họ, thuộc 17 bộ cá sống trong hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai tỉnh
Thừa Thiên Huế Trong đó bộ cá Vược (Perciformes) gồm 33 họ (chiếm
53,23% số họ) với 97 loài (chiếm 56,73% số loài) là bộ ưu thế nhất Tiếp theo,
số loài đông lần lượt thuộc các bộ: cá Đối (Mugiliformes) có 14 loài, chiếm 8,19% và bộ cá Trích (Clupeiformes) 10 loài chiếm tỷ lệ 5,58% Những bộ còn
lại có số loài không nhiều, chỉ chiếm không quá 5% tổng số loài đã được xác
định, trong đó có 6 bộ chỉ có một họ và 1 loài Khi so sánh với các khu hệ cá của
các cửa sông và vũng vịnh nông dọc bờ biển có thể khẳng định rằng, khu hệ cá
phá Tam Giang - Cầu Hai có quan hệ gần gũi nhiều hơn với các cửa sông ở phía
Bắc và mang nguồn gốc từ khu hệ cá vịnh Bắc Bộ (Vũ Trung Tạng và Đặng Thị
Sy, 1978; Võ Văn Phú, 2000)
Về mặt sinh thái, khu hệ cá Tam Giang - Cầu Hai có thể được chia thành 4
Trang 30nhóm:
+ Nhóm cá nước lợ cửa sông: gồm các loài rộng nhiệt, rộng muối sống ở
ven bờ nhiệt đới, có mặt thường xuyên trong vùng đầm phá Đa số các loài của
nhóm này thuộc các họ Clupeidae, Engraulidae trong bộ cá Trích, Atherinidae
trong bộ cá Suốt, Belonidae, Hemirhamphidae trong bộ cá Kìm, Mugilidae trong
bộ cá Đối, Serranidae, Theraponidae, Apogonidae, Leiognathidae, Gerridae,
Lutianidae, Gobiidae, Siganidae thuộc bộ cá Vược, Bothidae, Soleidae thuộc
bộ cá Bơn… Chúng đã tạo nên sản lượng khai thác khá đồng đều qua các tháng
hàng năm
+ Nhóm cá có nguồn gốc nước mặn: nhóm này có số lượng khá đông và
chủ yếu thuộc các loài của nhiều họ trong bộ cá Vược (Perciformes), thích nghi
với nồng độ muối khá thấp, nhưng ít dao động nên sự xuất hiện của chúng phụ
thuộc theo mùa và theo từng vùng của đầm phá Đa số các loài phân bố ở khu
vực gần các cửa biển Thuận An, Tư Hiền, nơi nồng độ muối khá cao
15 - 30‰, và có thể xâm nhập sâu vào phá khi triều cường, nhất là trong thời kỳ
mùa khô để kiếm ăn hoặc sinh sản Đại diện của nhóm này thuộc các họ:
Synodontidae, Muraenidae, Muraenesocidae, Centropomidae, Priacanthidae,
Carangidae, Pomadasyidae, Psettidae, Trichiuridae, Platycephalidae,
Tetrodontidae
+ Nhóm cá có nguồn gốc nước ngọt: sau khi mở thêm cửa mới và mở rộng
các cửa biển cũ do trận lũ lịch sử (11/1999) nồng độ muối của phá Tam Giang -
Cầu Hai, nhất là các phá phía Nam sông Hương tăng lên Do vậy, các loài cá
nước ngọt bị thu hẹp vào phần hạ lưu các sông và chỉ xuất hiện đông vào thời kỳ
nước lũ vào tháng 9 đến tháng 12 Những đại diện chính của nhóm này thuộc các
họ Cyprinidae, Notopteridae, Clariidae, Synbranchidae, Anabantidae,
Ophiocephalidae Một số loài trong chúng có giá trị kinh tế cao và cho sản
lượng khai thác đáng kể như cá Dầy (Cyprinus centralus), cá Thát Lát
(Notopterus notoptrus)
+ Nhóm cá di cư: thuộc nhóm này có hai nhóm chính: Một số loài cá từ
vùng biển gần bờ di cư vào phá hoặc qua phá vào hạ lưu sông để đẻ trứng như cá
mòi (Clupanodon), cá Hồng (Lutianus), cá Cơm (Stolephorus), cá Căng
(Therapon) Một số loài khác cá sống ở đầm phá di cư ra biển để đẻ trứng như
cá Đối (Mugil), cá Mú (Ephinephelus)
5.6 Các loài chim (Aves)
Theo các tài liệu nghiên cứu của Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công
nghệ Quốc gia (1977, 1978, 1998) và một vài tác giả khác (J C Eames và cộng
sự (1991), khu hệ chim ven phá Tam Giang - Cầu Hai đến nay đã thống kê được
73 loài, 53 giống, 29 họ, 11 bộ Trong số 73 loài chim quan sát được ở phá Tam
Giang - Cầu Hai có 39 loài định cư (chiếm 53,43 %), 34 loài di cư (chiếm
46,57%) và có 30 loài ở diện bảo vệ nghiêm ngặt của cộng đồng châu Âu, 1 loài
ở trong sách đỏ Việt Nam Hầu hết các loài chim di cư tới trú đông ở phá Tam
Giang - Cầu Hai đều sống theo đàn Số lượng cá thể của loài quan sát được ở một
Trang 31số khu vực được thống kê ở bảng 1.16 dưới đây
Bảng 1.16: Số lượng cá thể một số loài chim di cư ở phá Tam Giang - Cầu Hai
Địa điểm tính Cửa Ô Lâu Cửa Đại Giang -
Truồi
An Truyền cửa Thuận An Tên loài
1/1997 1/1998 3/1998 1/1997 3/1998 3/1998
Sâm Cầm 4 000 3 000 2 000 500 400 -
Ngỗng trời 2 000 1 000 200 300 100 -
Vịt trời 500 300 450 200 800 10 000 Choắt chân đỏ 1 000 200 - - 400
Các loài cò 3 500 3 500 2 500 - 3 000 1 000
Cộng 11 000 7 800 5 350 1 000 4 300 11 400
Trong những loài chim có mặt ở phá Tam Giang - Cầu Hai, 52 loài có giá trị kinh tế cao, trong đó có 15 loài đặc biệt chú ý như: Sâm cầm, Ngỗng trời, Vịt trời, Vịt đầu vàng, Le, Mồng kột mày xanh, Mồng kột mày trắng, Choắt chân đỏ, Choắt chân màng lớn, Rẽ cổ xỏm, Diệc lửa, Cò ngàng nhỏ, Cò trắng, Cò ruồi, Cò
bợ, Cò bợ java …
Về mặt phân bố của các loài chim ở phá Tam Giang - Cầu Hai có thể có hai nhóm khác nhau:
+ Nhóm 1: gồm các loài chim định cư phân bố theo các sinh cảnh khác
nhau trong khu vực phá Tam Giang - Cầu Hai
+ Nhóm 2: là các loài chim di cư đã đi với quãng đường rất xa tới trú đông
ở phá Tam Giang - Cầu Hai Sau một thời gian trú đông chúng lại kéo nhau trở
về quê hương để sinh sống và sinh sản bảo tồn nòi giống So với một vài vùng cửa sông dọc ven biển nước ta, chim di cư về phá Tam Giang - Cầu Hai cũng khá phong phú
Trang 32Chương 2 Hiện trạng môi trường trầm tích
và chất lượng môi trường trầm tích
hệ đầm phá tam giang - Cầu Hai
I Đặc trưng trầm tích tầng mặt
Cát hạt lớn - trung: phân bố trên cồn vát chắn ngoài đầm phá Các cửa
đầm phá và các bãi hẹp ven chân núi Đá Bạch Chúng thường gặp có màu vàng
nhạt, vàng nâu Thành phần chủ yếu là cát hạt lớn - trung chiếm 35 - 70 %, cát
hạt nhỏ và bột chiếm 20 - 40 % Giá trị Md xác định được thay đổi từ 0,5 - 0,52
mm (trung bình là 0,38 mm), độ chọn lọc tốt với So thay đổi từ 1,3 - 1,5
Cát hạt nhỏ: phân bố ở hầu hết các bãi triều trong đầm phá và lòng lạch
cửa sông (Hương, Thuận An) Riêng đầm Sam, trầm tích cát hạt nhỏ chiếm đến
3/5 diện tích đáy đầm [5] Thường gặp cát có màu vàng nâu, màu xám, màu đen,
xám lục Thành phần chủ yếu gồm 40 - 50 % cát hạt nhỏ, 20 - 40 % là bột lớn,
cát hạt lớn, hạt trung và bột nhỏ ở mức 10 - 30 % Giá trị Md xác định được thay
đổi từ 0,12 - 0,32 mm, độ chọn lọc khá tốt với So thay đổi từ 1,3 - 1,8
Bùn bột phân bố rộng rãi trên đáy đầm phá, chiếm hầu hết diện tích đáy
đầm Cầu Hai, Thủy Tú và Tam Giang Bùn bột thường có màu xám đen, đen,
xám nâu, xám vàng và xám xanh Quy luật phân bố là phân dị theo độ sâu, càng
xuống sâu cấp hạt mịn càng chiếm ưu thế [5]
+ Bột lớn: trầm tích bột thường gặp có màu xám đen, đen, nâu, xám vàng,
xanh lục Thành phần chủ yếu gồm bột lớn chiếm 35 - 55%, cát nhỏ thường chứa
17 - 28%, khi hàm lượng cát lớn có thể gọi là bột cát, bột cát nhỏ 20 - 40% Giá
trị Md xác định được thay đổi từ 0,05 - 0,08 mm, có mặt ở cả 3 tầng với Md xác
định như sau: tầng mặt và tầng giữa là 0,069 mm, tầng dưới là 0,066 mm Giá trị
trung bình là 1,95 thay đổi trong khoảng 1,3 - 3,0 (có lúc gặp lớn hơn) Bột lớn
thường có độ chọn lọc trung bình đến kém Trầm tích bột thường phân bố ở độ
sâu nhỏ hơn 1,5 - 2 m
+ Bột nhỏ: giá trị Md tập trung trong khoảng 0,0027 - 0,0029 mm, trầm tích
có độ chọn lọc trung bình sới So = 2,2 - 3,4
Trầm tích bùn sét hiếm gặp trong đầm phá, phân bố thành các rải nhỏ rải
rác ở Tam Giang, Thủy Tú và Cầu Hai với độ sâu từ 2 - 7m Bùn sét thường có
màu xám xanh lục đặc trưng Có sự tương đồng về hàm lượng cấp hạt ở hai khu
vực Tam Giang và Thủy Tú nhưng ở đầm Cầu Hai hàm lượng các cấp hạt
<0,01mm chiếm ưu thế hơn [5] Giá trị Md giảm từ Tam Giang đến Cầu Hai
nhưng độ chọn lọc trầm tích ở Cầu Hai lại tốt hơn và đặc biệt hàm lượng mùn bã
ở đây cũng rất cao
Trang 33II Đặc điểm phân bố các nguyên tố trong môi trường trầm
tích
1 Các nguyên tố đa lượng: N ts , P ts , C h/c , S ts
• Ch/c
Ch/c là một đại lượng quan trọng đánh giá các đặc trưng địa hoá trầm tích
Các bon hữu cơ (Ch/c) trong trầm tích bề mặt phân bố không đều trong đầm phá
và giữa các mùa trong năm Hàm lượng Ch/c dao động khá lớn từ 209,17 -
2 909,14 mg/kg, và phân hoá mạnh ở đầm Cầu Hai (bảng 2.1) Hàm lượng Ch/c
phân bố trong trầm tích có xu hướng đạt cao vào mùa mưa so với mùa khô (hình
2.1) Như vậy, mùa mưa các dòng chảy có xu hướng phân bố lượng vật chất
trong toàn đầm phá dẫn tới việc phân hoá ít hơn Mặt khác, vào mùa mưa các bãi
cỏ biển bị chết dẫn tới làm gia tăng vật chất hữu cơ trong trầm tích tầng mặt của
đầm phá Hàm lượng Ch/c có xu hướng đạt cao ở các vùng cửa sông như sông Ô
Lâu, sông Hương và sông Đại Giang so với các khu vực lân cận (H - 1, H - 10, H
- 14)
Bảng 2.1 Hàm lượng C h/c (mg/kg) trong trầm tích tầng mặt
đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
Quy luật phân bố của Ch/c trong trầm tích phá Tam Giang có xu hướng
giảm từ bắc xuống nam càng gần cửa sông Ô Lâu hàm lượng Ch/c càng tăng điều
này chứng tỏ nguồn vật liệu Ch/c được cung cấp từ sông Ô Lâu chi phối phân bố
hàm lượng Ch/c trong trầm tích trong phá ở đầm Thủy Tú, hàm lượng Ch/c có xu
hướng tăng từ bắc tới nam, giảm đi Đầm Cầu Hai xu hướng phân bố vật chất Ch/c
trong trầm tích có xu hướng tăng từ bờ ra giữa đầm, đây là những khu vực tập
trung các bãi cỏ biển và tồn tại các trầm tích hạt mịn hơn lên khả năng tích lũy
tốt hơn Trong toàn đầm phá, xu hướng càng gần các cửa thì hàm lượng Ch/c càng
có xu hướng giảm điều này chứng tỏ các quá trình trao đổi với biển đã làm giảm
nguồn vật chất Ch/c trong vịnh Ngoài ra, đây là các khu vực có động lực mạnh,
trầm tích hạt có xu hướng thô dần là nguyên nhân dẫn tới khả năng tích luỹ vật
chất giảm xuống
Hàm lượng Ch/c phân bố trong phá Tam Giang cao hơn so với các đầm
Thủy Tú và đầm Cầu Hai (bảng 2.2) ở cả hai mùa Mùa mưa mức độ phân hoá
giữa các đầm ít hơn và có xu hướng giảm từ bắc xuống nam; Mùa khô mức độ
phân hoá cao hơn nhưng không quá lớn nhưng xu thế phân bố lại có hướng giảm