LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề “Đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức bộ môn Sinh học 10 của học sinh trường trung học phổ thông Thủ Đức năm học 2010-2011” hoàn toàn l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
- -
TRẦN THỊ THU HIỀN
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐẠT CHUẨN KIẾN THỨC BỘ MÔN SINH HỌC 10 CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THỦ ĐỨC NĂM HỌC 2010 – 2011
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội – Năm 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
- -
TRẦN THỊ THU HIỀN
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐẠT CHUẨN KIẾN THỨC BỘ MÔN SINH HỌC 10 CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THỦ ĐỨC NĂM HỌC 2010 – 2011
Chuyên ngành: Đo lường và đánh giá trong giáo dục
(Chuyên ngành đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Kim Dung
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý Thầy, Cô đã dạy tôi trong thời gian học lớp cao học chuyên ngành Đo lường và Đánh giá trong giáo dục được mở tại TP Hồ Chí Minh, cảm ơn quý Thầy Cô của Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội và Trung tâm Khảo thí và Đánh giá chất lượng đào tạo - Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa học này
Tôi xin chân thành cảm ơn Cô Nguyễn Kim Dung, tiến sĩ, phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu giáo dục – Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh Cô đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn quý Thầy, Cô và đồng nghiệp của trường Trung học phổ thông Thủ Đức đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu, cung cấp tài liệu tham khảo và những ý kiến đóng góp quý báu trong quá trình nghiên cứu
Xin cảm ơn gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi quá trình học tập và nghiên cứu
Do thời gian có hạn và chưa có nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu nên luận văn này không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Tôi kính mong nhận được sự góp ý, bổ sung ý kiến của các thầy, cô và các bạn học viên
Tôi xin chân thành cảm ơn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề “Đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến
thức bộ môn Sinh học 10 của học sinh trường trung học phổ thông Thủ Đức năm học 2010-2011” hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của chính bản thân tôi và
chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện nghiêm túc các quy tắc đạo đức nghiên cứu; các kết quả trình bày trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu, khảo sát của riêng cá nhân tôi; tất cả các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn tường minh, theo đúng quy định
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội dung khác trong luận văn của mình
Hà Nội, ngày 14 tháng 05 năm 2013
Tác giả luận văn (Ký và ghi rõ họ tên)
Trần Thị Thu Hiền
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC 1
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH SÁCH CÁC BẢNG 5
DANH SÁCH CÁC HÌNH 6
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Mục tiêu nghiên cứu 9
3 Khách thể khảo sát và đối tượng nghiên cứu 10
4 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, khung lý thuyết của đề tài 10
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Phạm vi nghiên cứu 11
Chương 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 12
1.1 Tổng quan về các nghiên cứu có liên quan 12
1.1.1 Đề tài đánh giá kết quả học tập theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam 12
1.1.2.Đề tài cấp Bộ trọng điểm “Xây dựng các Tiêu chí đánh giá Chất lượng Học tập Học sinh Trung học phổ thông” 13
1.1.3 Đề tài thực trạng đánh giá kết quả học tập của học sinh ở nhà trường phổ thông hiện nay 14
1.2 Khung lý thuyết của nghiên cứu 17
1.3 Cơ sở lý thuyết 18
1.3.1 Kết quả học tập bộ môn Sinh học 10 về mặt kiến thức 18
1.3.1.1 KQHT của môn học về mặt kiến thức 18
1.3.1.2 KQHT môn Sinh học 10 về kiến thức 19
1.3.2 Các mức độ của năng lực nhận thức 19
Trang 61.3.3 Chuẩn kiến thức chương trình Sinh học 10 21
1.3.3.1 Khái niệm Chuẩn và yêu cầu 21
1.3.3.2 Nội dung của Chuẩn 21
1.3.3.4 Yêu cầu kiểm tra, đánh giá bám sát Chuẩn 24
1.3.4 Phương pháp kiểm tra, đánh giá KQHT môn Sinh học 10 27
1.3.4.1 Khái niệm kiểm tra, đánh giá trong QTDH 27
1.3.4.2 Mục đích và chức năng của kiểm tra, đánh giá trong QTDH 27
1.3.4.3 Phương pháp kiểm tra đánh giá 29
1.3.4.3 Độ giá trị và độ tin cậy của đánh giá 32
1.3.4.4 Quy trình đánh giá 34
1.3.4.5 Phương pháp kiểm tra, đánh giá KQHT bộ môn Sinh học 10 35
Chương 2: THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 37
2.1 Quy trình nghiên cứu 37
Đề tài là một nghiên cứu định lượng về KQHT, dựa trên kết quả điểm số bài kiểm tra để đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức bộ môn Sinh học 10 của HS 37
2.2 Đặc điểm trường và mẫu học sinh 38
2.2.1 Đặc điểm trường THPT Thủ Đức 38
2.2.2 Đặc điểm HS khối 10 năm học 2010 - 2011 38
2.3 Phương pháp nghiên cứu 39
2.3.1 Phương pháp hồi cứu tài liệu 39
2.3.2 Phương pháp phỏng vấn 40
2.3.3 Phương pháp trắc nghiệm 40
2.3.4 Phương pháp tổng hợp, phân tích 41
Chương 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHUẨN 42
3.1 Thực trạng triển khai thực hiện Chuẩn 42
3.2 Thực trạng vận dụng Chuẩn trong dạy và học 43
Chương 4: ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐẠT CHUẨN KIẾN THỨC BỘ MÔN SINH HỌC 10 CỦA HỌC SINH 46
Trang 74.1 Đặc điểm của QTDH và kiểm tra, đánh giá bộ môn Sinh học 10 tại trường
THPT Thủ Đức 46
4.1.1 Quá trình dạy học 46
4.1.2 Quá trình kiểm tra, đánh giá 46
4.2 Đánh giá đề kiểm tra HK II môn Sinh học 10 năm học 2010 – 2011 47
4.2.1 Mục đích của đề kiểm tra học kỳ II 47
4.2.2 Cấu trúc của đề kiểm tra HK II 48
4.2.3 Nội dung và ma trận/bảng trọng số của đề kiểm tra 49
4.2.4 Đánh giá mức độ của từng câu hỏi so với yêu cầu của Chuẩn kiến thức 50
4.3 Đánh giá đề kiểm tra và mức độ đạt Chuẩn kiến thức bộ môn Sinh học 10 của HS trường THPT Thủ Đức năm học 2010-2011 dựa trên kết quả phân tích điểm kiểm tra HK II 53
4.3.1 Phân tích điểm số bài kiểm tra HK II và sự tương quan giữa điểm số bài kiểm tra HK II với điểm trung bình môn cả năm 53
4.3.2 Tương quan năng lực của HS và độ khó của các câu hỏi, bài kiểm tra 56
4.3.3 Tương quan năng lực của HS với độ khó của câu hỏi ở các mức độ tư duy khác nhau 58
4.3.4 Phân tích thống kê kết quả bài kiểm tra HK II của HS đối với từng câu hỏi, nhóm câu hỏi và mức độ phù hợp của các câu hỏi 63
4.3.5 Phân tích kết quả điểm số bài kiểm tra học kỳ II và từng câu hỏi theo hai GV khác nhau về thâm niên giảng dạy 68
KẾT LUẬN 74
HẠN CHẾ CỦA LUẬN VĂN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 81
Trang 8DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐTBmhk: Điểm trung bình môn của học kỳ
ĐTBmcn: Điểm trung bình môn của cả năm
ĐTBmhkI: Điểm trung bình môn học kỳ I
ĐTBmhkII: Điểm trung bình môn học kỳ II
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Phương pháp và công cụ đánh giá 29 Bảng 1.2 Kết hợp mục đích và các phương pháp đánh giá 30 Bảng 2.1 Điểm tính theo kết quả rèn luyện và học tập mỗi năm của HS ở THCS 38 Bảng 4.1 Ma trận và nội dung của đề kiểm tra 49 Bảng 4.2 Các câu hỏi của đề kiểm tra theo ma trận và các yêu cầu của Chuẩn
10 và năng lực của HS phân theo hai GV 69
Bảng 4.9 Kiểm nghiệm t về sự khác nhau giữa trung bình điểm số bài kiểm tra học
kỳ II Sinh học 10 và trung bình năng lực của HS phân theo GV khác nhau 70
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Khung lý thuyết đánh giá mức độ đạt Chuẩn kiến thức bộ môn Sinh
học 10 17
Hình 4.1: Đồ thị phân bố điểm số bài kiểm tra học kỳ II môn Sinh học 10 54
Hình 4.2 Đồ thị Scatter thể hiện sự tương quan của điểm số bài kiểm tra học kỳ II môn Sinh học 10 và trung bình môn cả năm 55
Hình 4.3 Tương quan năng lực của HS và độ khó của các câu hỏi bài kiểm tra học kỳ II môn Sinh học 10 58
Hình 4.4 Tương quan năng lực của HS với độ khó của các câu hỏi ở mức độ biết 59
Hình 4.5 Tương quan năng lực của HS với độ khó của các câu hỏi ở mức độ hiểu 61
Hình 4.6 Tương quan năng lực của HS với độ khó của các câu hỏi ở mức độ vận dụng 62 Hình 4.7 Mức độ phù hợp của các câu hỏi trong đề kiểm tra học kỳ II 63
Hình 4.8 Biểu đồ boxplot về kết quả điểm số từ câu 1 đến câu 7 64
Hình 4.9 Biểu đồ boxplot về kết quả điểm số của các câu 8A, 9A, 10A 64
Hình 4.10 Biểu đồ boxplot về kết quả điểm số của các câu 8B, 9B, 10B 65
Hình 4.11 Biểu đồ boxplot về điểm số bài kiểm tra học kỳ II, trung bình môn học theo hai GV 69
Hình 4.12 Biểu đồ boxplot về trung bình điểm số của các câu hỏi theo 3 nhóm biết-hiểu-vận dụng của các HS theo hai GV 71
Hình 4.13 Biểu đồ boxplot về kết quả điểm số của từng câu hỏi theo hai GV 72
Trang 11MỞ ĐẦU
Phần mở đầu trình bày những vấn đề làm cơ sở cho đề tài gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, câu hỏi, giả thuyết, khung lý thuyết của nghiên cứu, khách thể khảo sát và đối tượng nghiên cứu
1 Lý do chọn đề tài
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập (KQHT) của học sinh (HS) là một hoạt động quan trọng và cần được tiến hành thường xuyên trong quá trình giáo dục Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà hiện nay hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT chưa được vận dụng hiệu quả trong giáo dục ở nước ta Theo Trần Kiều (2006), “một trong những điểm yếu kém nhất của hệ thống giáo dục nước ta là đánh giá năng lực của người học Để đánh giá HS, giáo viên (GV) gần như chỉ dùng một phương pháp là ra đề kiểm tra Với đa số GV, việc ra đề kiểm tra cho HS chỉ đơn
giản là có điểm số ghi vào sổ điểm”
Nhằm tạo sự thống nhất, giảm tải về mặt nội dung kiến thức, tăng cường phát triển các năng lực học tập cho HS, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã ban hành Chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ (gọi tắt là Chuẩn) của chương trình giáo dục trung học phổ thông (THPT) cho tất cả các môn học Chuẩn được xem là một căn
cứ quan trọng trong việc đo lường và đánh giá KQHT
Năm học 2010-2011 là năm đầu tiên thực hiện dạy học theo Chuẩn Tuy nhiên, khái niệm Chuẩn còn xa lạ do GV đã quen xem SGK là “pháp lệnh”, bắt buộc phải tuân theo Ngoài ra, chương trình cấp THPT có nhiều khác biệt so với chương trình cấp trung học cơ sở, đặc biệt là về nội dung và phương pháp dạy, học
Ở cấp THPT, HS phải làm quen với những yêu cầu cao trong nhiệm vụ học tập, nội dung chương trình mang tính chuyên sâu, đòi hỏi khả năng tư duy và tự học để đạt được kết quả tốt trong học tập Đặc biệt, lớp 10 là lớp đầu tiên ở cấp THPT nên cần quan tâm đánh giá KQHT của HS, từ đó có những điều chỉnh cần thiết cho các lớp
Trang 12kế tiếp cũng như định hướng được phương pháp dạy và học thích hợp, giúp HS đạt được các yêu cầu của chương trình môn học và kết quả cao trong học tập
Trường THPT Thủ Đức là một trong 04 trường công lập đang trú đóng trên địa bàn quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh Từ năm 2010-2011, thực hiện chỉ đạo của Sở GD&ĐT thành phố Hồ Chí Minh, Ban Giám hiệu trường đã tổ chức triển khai và yêu cầu các Tổ bộ môn, trong đó có Tổ bộ môn Sinh phải áp dụng Chuẩn vào dạy và học tại trường Để giúp Ban giám hiệu cũng như các GV của Tổ
bộ môn Sinh nói riêng và các Tổ bộ môn khác của trường nói chung đánh giá mức
độ đạt chuẩn của HS khối 10 sau năm học đầu tiên áp dụng Chuẩn tại trường, từ đó
đề xuất những giải pháp vận dụng Chuẩn một cách hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của trường, việc đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức bộ môn sinh học 10 của HS trường THPT Thủ Đức năm học 2010 – 2011 là cần thiết
Trên cơ sở đó, được sự đồng ý của Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, sự chấp thuận của GV hướng dẫn, là một GV môn Sinh
học, tôi chọn thực hiện nghiên cứu đề tài: “Đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến
thức bộ môn Sinh học 10 của HS trường Trung học phổ thông Thủ Đức năm học 2010 – 2011”
+ Tính cấp thiết
Theo chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục trung học năm học 2010-2011 là tiếp tục tập trung chỉ đạo và thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá, dạy học phân hoá trên cơ sở Chuẩn của chương trình giáo dục phổ thông; tạo ra sự chuyển biến cơ bản về đổi mới kiểm tra đánh giá thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục
Như vậy, hiện nay Chuẩn có vai trò quan trọng trong quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá KQHT Chuẩn là căn cứ, cơ sở cho các hoạt động đổi mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở nước ta Việc đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức bộ môn Sinh học 10 nói riêng và các môn học khác nói chung có ý nghĩa cấp thiết trong việc thực hiện nhiệm vụ năm học, đồng thời thông qua đề tài tìm hiểu thực
Trang 13trạng vận dụng Chuẩn hiện nay của GV từ đó góp phần nâng cao hiệu quả vận dụng Chuẩn trong thực tế dạy học và kiểm tra đánh giá KQHT của HS
+ Ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn
Việc đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức môn Sinh học 10 sẽ giúp GV nhận thức rõ về thực trạng và kết quả của QTDH so với yêu cầu của Chuẩn, từ đó điều chỉnh phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá chương trình Sinh học 10 Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin về mức độ đạt chuẩn kiến thức của HS, là cơ sở để HS đánh giá được năng lực học tập bộ môn của bản thân so với yêu cầu của môn học, từ đó đề ra phương pháp học tập thích hợp
Kết quả nghiên cứu còn là cơ sở để Ban Giám hiệu đánh giá được chất lượng giáo dục của bộ môn, trình độ, năng lực của HS và định hướng nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường
Ngoài ra, kết quả của nghiên cứu cũng góp một phần làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực này để vận dụng có hiệu quả Chuẩn và đánh giá KQHT một cách khoa học, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát: Đánh giá KQHT bộ môn Sinh học 10 của HS, so với yêu cầu
của chuẩn kiến thức chương trình môn học do Bộ GD&ĐT quy định, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Sinh học của trường
2.2 Mục tiêu cụ thể
Khảo sát sự hiểu biết và tình hình vận dụng Chuẩn bộ môn Sinh học 10 của
GV, HS trong việc giảng dạy và học tập tại trường
Đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức bộ môn Sinh học 10 của HS thông qua việc phân tích đề kiểm tra hiện hành và kết quả phân tích điểm số thu được của bài kiểm tra
Trang 143 Khách thể khảo sát và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể khảo sát: HS, GV, gồm có:
HS: 561 HS khối 10 năm học 2010 – 2011
GV: 04 GV bộ môn Sinh học của trường THPT Thủ Đức
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Mức độ đạt chuẩn kiến thức bộ môn Sinh học 10 của
HS năm học 2010-2011
4 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, khung lý thuyết của đề tài
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
4.1.1 Câu hỏi tổng quát: HS khối 10 trường THPT Thủ Đức năm học 2010 – 2011
đạt Chuẩn kiến thức bộ môn Sinh học ở mức độ nào?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Chuẩn môn Sinh học 10 chưa được GV, HS và vận dụng thường xuyên trong giảng dạy và học tập
Giả thuyết 2: Mức độ và yêu cầu của đề kiểm tra/kiểm tra ở mức cao hơn so với mức độ yêu cầu của chuẩn kiến thức và đa số HS khối 10 trường THPT Thủ Đức đạt chuẩn kiến thức ở mức tối thiểu
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp hồi cứu tài liệu để tổng hợp các thông tin làm cơ
sở lý luận cho đề tài và hình dung về thực trạng của việc vận dụng Chuẩn hiện nay
Trang 15Đề tài sử dụng phương pháp phỏng vấn GV và HS để tìm hiểu về thực trang vận dụng Chuẩn tại tổ bộ môn Sinh của trường
Sau đó đề tài sử dụng phương pháp trắc nghiệm dựa vào bài kiểm tra học kỳ
II để đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức bộ môn Sinh học 10 thông qua việc đánh giá đề kiểm tra so với các yêu cầu của Chuẩn và phân tích điểm số bài kiểm tra của
561 HS khối lớp 10 năm học 2010-2011
Điểm số bài kiểm tra của học sinh được phân tích dựa vào phần mềm SPSS,
lý thuyết ứng đáp câu hỏi – mô hình Rasch và phần mềm Quest để có những số liệu thống kê, năng lực của HS được thể hiện qua kết quả điểm số của bài kiểm tra Thông qua đó có những nhận định về mức độ đạt chuẩn kiến thức bộ môn Sinh học
10 của HS trường THPT Thủ Đức năm học 2010-2011
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Về nội dung
QTDH và đánh giá KQHT của HS tại nhà trường nói riêng và ở nước ta nói chung hiện nay chủ yếu tập trung về mặt kiến thức nên đề tài chỉ đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức mà không đánh giá mức độ đạt chuẩn về mặt kỹ năng và thái độ của HS
Do điều kiện thực tế không thể tổ chức một kỳ thi riêng để đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức mà vẫn đảm bảo sự nỗ lực tối đa của HS nên đề tài chọn phân tích kết quả bài kiểm tra học kỳ II của HS để đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức
và đảm bảo tính tin cậy, hợp lý của đánh giá
Cơ sở đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức dựa vào tài liệu Hướng dẫn thực hiện Chuẩn được ban hành năm 2009 Tài liệu này cũng chỉ chủ yếu tập trung về mặt kiến thức, một số kỹ năng đặc trưng của bộ môn và một số ít các yêu cầu về thái độ
6.2 Về không gian, thời gian
Không gian: Trường THPT Thủ Đức
Thời gian: Từ tháng 10/2010 đến 6/2012
Trang 16Chương 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương này cung cấp thông tin về những nghiên cứu có liên quan đến đề tài tại Việt Nam hiện nay và những cơ sở lý thuyết là nền tảng cho vấn đề nghiên cứu của đề tài
1.1 Tổng quan về các nghiên cứu có liên quan
1.1.1 Đề tài đánh giá kết quả học tập theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam
Đề tài do tiến sĩ Nguyễn Lan Phương thuộc Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam làm chủ nhiệm Nghiên cứu cung cấp phương thức đánh giá KQHT của HS dựa theo Chuẩn trong chương trình môn học có liên quan mật thiết đến đề tài
Kết quả nghiên cứu đưa ra những đề xuất về qui trình đánh giá KQHT dựa theo Chuẩn gồm bước cơ bản: 1 Xác định mục đích đánh giá theo chuẩn KT-KN; 2/ Tiêu chí hoá chuẩn KT-KN 3 Lựa chọn phương pháp, loại hình đánh giá 4 Biên soạn, thử nghiệm, điều chinh bộ công cụ 5 Lựa chọn các xử lý thông tin ph hợp với mục đích đánh giá 6 Phát hiện nguyên nhân, giải thích hiện tượng Ra quyết định điều chỉnh hoạt động dạy và học, thông báo kết quả học tập
Nghiên cứu cũng đưa ra những vấn đề cần chú trọng giải quyết trong thực tiễn đánh giá KQHT để có thể đánh giá mức độ đạt Chuẩn của HS bao gồm 1 Tường minh các mức độ cần đạt của chuẩn KT-KN 2 Hướng dẫn cách thiết kế thang đo mức độ đạt yêu cầu của chương trình 3 Hướng dẫn qui trình biên soạn đề kiểm tra 4 Hướng dẫn qui trình đánh giá kết quả học tập của HS theo chuẩn chương trình
Trên cơ sở đó đề xuất phương thức đánh giá KQHT của 11 môn học với các bước 1 Phân tích nội hàm đinh nghĩa các mức độ cần đạt của chuẩn KT-KN và yêu cầu thái độ trong chương trình môn học nêu định hướng cho việc chọn chuẩn và tiêu chí hoá chuẩn cho kì đánh giá cuối chủ đề chương, cuối học kì 1, cuối năm học 2 Quy chuẩn KT-KN về thang đánh giá được thực hiện thông qua việc biên
Trang 17soạn câu hỏi đo mỗi chuẩn và thiết kế thang định khoảng và thang định hạng đánh giá kết quả bài kiểm tra 3 Nêu các loại công cụ ph hợp cho đánh giá kết quả học tập môn học, nhấn mạnh đến chi tiết kĩ thuật của quy trình bảy bước biên soạn đề kiểm tra dựa theo chuẩn KT- KN 4 Nêu quy trình đánh giá kết quả học tập của HS theo chuẩn KT-KN trong chương trình môn học với một số định hướng như: lựa chọn phương pháp đánh giá nào, loại hình đánh giá trong các giai đoạn học tập khác nhau chuyển đổi điểm thô về điểm quy chuẩn V, tính độ tin cậy, xác định điểm giới hạn để phân loại HS giải thích thực trạng và hướng điều chỉnh hoạt động dạy học, ứng với mỗi cách xử lý
Đề tài cũng kiến nghị mở rộng kết quả nghiên cứu theo các hướng tiêu chí hoá chuẩn KT-KN và yêu cầu thái độ của tất cá các môn học Xây dựng phương thức đánh giá kết quả học tập của HS dựa theo chuẩn KT-KN của chương trình các môn học Thiết kế Rubric đánh giá các năng lực: nghe, nói, đọc, viết giải quyết vấn
đề hoạt động hợp tác của HS Nghiên cứu phương thức thi cử đảm bảo đồng bộ giữa quá trình dạy học, quá trình đánh giá kết quả học tập và thi tốt nghiệp trung học phổ thông, thi tuyền sinh cao đẳng, đại học dựa theo chuẩn KT-KN của chương trình giáo dục
Tiếp tục định hướng nghiên cứu trên đề tài cấp Bộ trọng điểm “Xây dựng các Tiêu chí đánh giá Chất lượng học tập học sinh trung học phổ thông” thực hiện xây dựng các tiêu chí đánh giá dựa vào Chuẩn
1.1.2 Đề tài cấp Bộ trọng điểm “Xây dựng các Tiêu chí đánh giá Chất lượng Học tập Học sinh Trung học phổ thông”
Đề tài cung cấp các tiêu chí đánh giá chất lượng học tập của HS THPT dựa trên Chuẩn của từng bộ môn với các mức độ cụ thể từ trung bình – khá – giỏi – xuất sắc Như vậy, các mục tiêu được đề ra của Chuẩn đã được tiêu chí hóa với các mức
độ cụ thể nhằm đảm bảo cung cấp thông tin về KQHT của HS một cách rõ ràng và là
cơ sở thiết kế các đề kiểm tra đánh giá mức độ đạt Chuẩn
Đề tài được thực hiện từ năm 2009 đến 2011 do Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh chủ trì, khảo sát 2.832 người, trong đó có 45 cán bộ quản lý,
Trang 18445 giáo viên, 1.119 HS, 313 phụ huynh các trường THPT trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và 110 nhà nghiên cứu giáo dục
Đề tài vẫn nằm trọn ở góc độ chuẩn quốc gia, dựa vào thang kiến thức và kỹ năng của Bộ GD&ĐT, từ đó các trường sẽ lấy làm chuẩn để đánh giá chính xác hơn chất lượng học tập của HS Mỗi lĩnh vực, mỗi môn học, mỗi nội dung môn học có những tiêu chí đánh giá riêng, vì thế có hàng trăm tiêu chí Các tiêu chí đo lường đánh giá khả năng tiếp thu nội dung kiến thức mới ở cấp độ theo thang đánh giá Bloom (có 6 mức độ là biết, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá) và mức độ đạt chuẩn kiến thức theo quy định của Bộ GD&ĐT Những tiêu chí này là giúp hoàn thiện quy trình GD&ĐT bậc THPT trong khâu đánh giá KQHT của HS
và đánh giá đúng được khả năng học tập của người học Qua đó, GV và HS nhận biết được chính xác đạt trình độ tiếp thu kiến thức ở cấp độ nào, có đạt được yêu cầu tối thiểu theo chuẩn kiến thức của Bộ hay chưa Để từ đó có cả người dạy và người học nhận ra những điểm mạnh, và điểm hạn chế của mình để phát huy và khắc phục Các nhà quản lý giáo dục cũng sẽ biết được mình cần làm gì để cải tiến
và phát triển chất lượng giáo dục tại trường
Những nghiên cứu đánh giá KQHT dựa trên Chuẩn đã được thực hiện tuy nhiên thực trạng đánh giá KQHT của HS cấp THPT hiện nay cho thấy việc vận
Đề tài do tiến sĩ Vũ Thị Ngọc Anh thuộc Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
là chủ nhiệm đề tài Mục tiêu của đề tài là tìm hiểu thực trạng đánh giá kết quả học tập của học sinh ở nhà trường phổ thông và đề xuất một số kiến nghị về giải pháp
Trang 19thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả của vấn đề đánh giá kết quả học tập của học sinh
Đề tài đã tìm hiểu cơ sở lý luận về đánh giá KQHT của HS ở nhà trường phổ thông, kinh nghiệm của một số nước về vấn đề này, trên cơ sở đó tiến hành tìm hiểu thực trạng đánh giá KQHT của HS và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả đánh giá KQHT
Kết quả nghiên cứu cho thấy những bài học kinh nghiệm về quản lý và chỉ đạo việc đánh giá KQHT của HS trong đó có đề cập đến việc tiêu chí hóa chuẩn kiến thức, kỹ năng và xây dựng chuẩn đánh giá thống nhất trên cả nước Đối với chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam hiện nay, mục tiêu đánh giá được phân chia thành ba lĩnh vực là kiến thức, kỹ năng và thái độ Mỗi mục tiêu thuộc lĩnh vực lại được diễn tả cụ thể hơn bởi các chuẩn kiến thức, kỹ năng Bên cạnh mục tiêu được phân chia như trên, cần hướng tới mục tiêu đánh giá theo cách tiếp cận năng lực Khi đó cần căn cứ vào mục tiêu của môn học để xác định các năng lực cần hình thành và phát triển ở người học thông qua các môn học
Đề tài cũng cho thấy một số hạn chế trong công tác chỉ đạo hoạt động đánh giá KQHT của BGD&ĐT như sau chưa có hướng dẫn cụ thể về việc triển khai cụ thể vấn đề đánh giá kết quả học tập phải căn cứ vào chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu thái độ của chương trình giáo dục phô thông quy chế chỉ sử dụng kết quả nhận xét và điểm số của cuối chương, giữa học kỳ, đầu học kỳ và cuối năm học nên khó thuyết phục cán bộ quản lý và giáo viên trường phổ thông sử dụng phương pháp đánh giá như chuyên gia, nghiên cứu sản phẩm, trình diễn, tự đánh giá,… quy định về thang đánh giá kết quả học tập nhưng không quy đinh tiêu chí cho từng mức điểm của thang định khoảng, nên giáo viên thường xây dựng thang chấm điểm căn
cứ vào trình độ nhận thức của học sinh là chủ yếu quy chế cho phép điểm thô làm căn cứ để xếp loại học lực trung bình môn học, nhưng điểm thô không thể so sánh
và phân tích được sự tiến bộ của học sinh, cần phải chuyển điểm thô về c ng một thang quy chuẩn
Đối với việc đánh giá kết quả học tập ở nhà trường phổ thông, đề tài đã chỉ
ra một số ưu điểm như sau: Về nhận thức, đa số cán bộ quản lý, giáo viên đã nhận
Trang 20thức được mục đích quan trọng nhất của hoạt động đánh giá Do đó, giáo viên đã nhận thức cần giảm áp lực của điểm số vì điểm số chỉ có tác dụng khi xếp loại học lực, đồng thời tăng cường nhận xét để giúp học sinh nhìn thấy rõ những yếu kém, sai lệch của mình trong học tập và tìm cách khắc phục Về phương thức đánh giá, các nhà trường đã và đang triển khai công hoạt động đánh giá kết quả học tập theo một tiến trình gồm ba công đoạn với hành động cụ thể là thu thập thông tin đánh giá, xử lý và phân tích thông tin đã thu thập, ra quyết định đánh giá Bên cạnh đó vẫn tồn tại những hạn chế cơ bản về nhận thức và về phương thức đánh giá Giáo viên chưa quan tâm đúng mức đến việc hình thành các mục tiêu học tập ở mỗi bài, mỗi chương cho học sinh, chưa khắc phục hoàn toàn áp lực về điểm số Giáo viên
đã tăng cường đánh giá bằng nhận xét, tuy nhiên các nhận xét mang tính chủ quan
vì không dựa hệ thống tiêu chí rõ ràng và thống nhất
Qua nghiên cứu tổng quan cho thấy phương thức đánh giá KQHT đang được quan tâm và hoàn thiện nhằm đánh giá chính xác KQHT của HS Tại Việt Nam, nhiều công trình, nghiên cứu liên quan đến hoạt động kiểm tra đánh giá ở cấp trung học phổ thông đang được tiến hành nhằm cải thiện chất lượng của hoạt động kiểm tra đánh giá, nâng cao chất lượng học tập tiến tới hòa nhập vào xu thế chung của thế giới Xu hướng đánh giá dựa vào chuẩn đang dần phổ biến từ những nhu cầu thiết thực của hoạt động kiểm tra đánh giá KQHT
Hiện chưa có nghiên cứu nào đánh giá mức độ đạt chuẩn đã đề ra của một môn học cụ thể theo yêu cầu của chuẩn kiến thức kĩ năng do Bộ GD&ĐT ban hành Dựa trên phương thức đánh giá KQHT hiện nay của nước ta chủ yếu đánh giá bằng điểm số với các bài kiểm tra, căn cứ vào chuẩn kiến thức kĩ năng đã được ban hành
đề tài tiến hành đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức bộ môn Sinh học 10 của HS trường THPT Thủ Đức năm học 2010-2011 dựa trên kết quả điểm số bài kiểm tra học kỳ II bộ môn Sinh học 10
Trang 211.2 Khung lý thuyết của nghiên cứu
Hình 1.1 Khung lý thuyết đánh giá mức độ đạt Chuẩn kiến thức bộ môn Sinh
học 10
BÀI KIỂM TRA
CÁC CÂU HỎI ĐIỂM
NỘI DUNG KIẾN THỨC
MỨC ĐỘ YÊU CẦU CỦA KIẾN THỨC
NỘI DUNG KIẾN THỨC
MỨC ĐỘ YÊU CẦU CỦA KIẾN THỨC
TRI THỨC KHOA HỌC BỘ MÔN SINH HỌC 10
BIẾT
ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP PHÂN TÍCH VẬN DỤNG HIỂU
So sánh
Mức độ
đạt
Chuẩn
Trang 22Đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức bộ môn Sinh học 10 của HS chính là đánh giá KQHT của HS về mặt kiến thức so với yêu cầu của chuẩn kiến thức Chuẩn kiến thức quy định KQHT về mặt kiến thức bao gồm nội dung kiến thức và mức độ yêu cầu của kiến thức về năng lực nhận thức của HS với các mức độ khác nhau từ biết-hiểu-vận dụng-phân tích-tổng hợp-đánh giá Phương pháp đánh giá KQHT hiện nay của HS THPT chủ yếu dựa trên điểm số của bài kiểm tra Như vậy,
để đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức bộ môn Sinh học 10, đề tài tiến hành phân tích các câu hỏi của đề kiểm tra học kỳ II về nội dung kiến thức và các mức độ yêu cầu về năng lực nhận thức so sánh với các yêu cầu tương ứng được quy định trong chuẩn kiến thức Thông qua kết quả điểm số của bài kiểm tra kết luận về mức độ đạt chuẩn kiến thức của HS
Thực trạng vận dụng chuẩn kiến thức được rút ra từ kết quả phân tích, phỏng vấn sâu các GV bộ môn Sinh học tại nhà trường, tổng hợp thông tin từ các nguồn tài nguyên khác nhau
1.3 Cơ sở lý thuyết
1.3.1 Kết quả học tập bộ môn Sinh học 10 về mặt kiến thức
1.3.1.1 KQHT của môn học về mặt kiến thức
KQHT về mặt kiến thức thể hiện nhiệm vụ thứ nhất của QTDH Theo Nguyễn Văn Hộ (2002), nhiệm vụ thứ nhất của dạy học là trí dục Mục tiêu của nhiệm vụ là làm cho HS nắm vững một hệ thống những tri thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, ph hợp với thực tiễn của đất nước về tự nhiên, xã hội, tư duy, cập nhật với tình hình phát triển của khoa học - kĩ thuật - công nghệ trên thế giới đương đại, đồng thời tạo cho HS các kĩ năng, kĩ xảo vận dụng tri thức vào các dạng hoạt động cụ thể trong và ngoài nhà trường
Theo Bộ GD&ĐT (2006), học vấn mà HS có được ở nhà trường không thể thâu tóm mọi tri thức mong muốn, vì vậy phải coi trọng việc dạy phương pháp, dạy cách đi tới tri thức trên cơ sở đó HS có thể tự học suốt đời Xã hội hiện nay đòi hỏi người có học vấn hiện đại không chỉ về khả năng lấy ra từ trí nhớ các tri thức dưới
Trang 23dạng có sẳn, mà phải có năng lực chiếm lĩnh, sử dụng các tri thức mới một cách độc lập khả năng đánh giá các sự kiện, hiện tượng mới, các tư tưởng một cách thông minh, sáng suốt khi gặp trong cuộc sống, trong lao động và trong quan hệ với mọi người Nội dung, chương trình giảng dạy trong nhà trường phải phát triển sự hứng thú và năng lực nhận thức của HS cung cấp cho HS những kỹ năng cần thiết cho việc tự học và tự giáo dục sau này
Như vậy, KQHT về mặt kiến thức là sự phát triển về năng lực nhận thức có được thông qua quá trình lĩnh hội tri thức khoa học của bộ môn
1.3.1.2 KQHT môn Sinh học 10 về kiến thức
KQHT môn Sinh học 10 về mặt kiến thức là sự phát triển về năng lực nhận thức với các cấp độ khác nhau mà HS có được thông qua quá trình lĩnh hội kiến thức của chương trình Sinh học 10 Nội dung kiến thức của chương trình Sinh học
10 gồm Giới thiệu chung về thế giới sống, Sinh học tế bào, Sinh học vi sinh vật
1.3.2 Các mức độ của năng lực nhận thức
Theo Bộ GD&ĐT (2009), về năng lực nhận thức của HS, trong chương trình giáo dục phổ thông của nước ta hiện nay, các mức độ cần đạt được về mặt kiến thức được xác định dựa theo hệ thống phân loại Bloom mới được sửa đổi với 6 mức độ là: Nhận biết – Thông hiểu – Vận dụng – Phân tích – Đánh giá – Sáng tạo Tuy nhiên, theo một nghiên cứu của Nguyễn Kim Dung (2011), thực tế QTDH ở cấp THPT của nước ta hiện nay chưa thể phát triển năng lực nhận thức ở các mức độ theo 6 mức độ này nên chủ yếu vẫn theo hệ thống phân loại Bloom cũ với 6 mức độ là Biết – Hiểu –
Áp dụng – Phân tích – Tổng hợp – Đánh giá Chất lượng học tập theo thang nhận thức Bloom cũ với các mức độ cụ thể như sau:
(a) Biết là mức độ KQHT về mặt nhận thức thấp nhất Ở mức độ này, HS có
khả năng nhắc lại hoặc nhận ra thông tin đã được học Các động từ thường được
d ng để đo lường năng lực biết như là định nghĩa, mô tả, phân loại,liệt kê, gọi tên, nhận biết,…
Trang 24(b) Hiểu là khả năng hiểu thấu ý nghĩa những kiến thức đã học Các động từ
thường được d ng để đo lường năng lực hiểu như tóm tắt, giải thích, trình bày, lấy
ví dụ, so sánh, phân biệt,…
(c) Áp dụng là việc sử dụng những thông tin đã được học trước đó vào những
tình huống mới và cụ thể Các động từ thường được d ng để đo lường năng lực áp dụng như là phân loại, tính toán, sử dụng, liên hệ, dự đoán,…
(d) Phân tích đề cập đến khả năng phân chia nội dung tài liệu thành những
phần nhỏ để có thể hiểu được các mối quan hệ và các cấu trúc KQHT ở mức độ này cho thấy trình độ tư duy cao hơn mức Hiểu và Áp dụng bởi chúng đòi hỏi cần phải nắm vững cả nội dung và cấu trúc của tài liệu học tập Các động từ thường được
d ng để đo lường năng lực phân tích như là phân tích, minh họa, suy luận, lựa chọn, chỉ ra sự khác biệt,…
(e) Tổng hợp là khả năng sử dụng các ý tưởng cũ để tạo ra cái mới hoặc sắp
xếp các phần hợp lại với nhau để tạo thành khối kiến thức chung mới KQHT ở mức
độ này nhấn mạnh đến những hoạt động sáng tạo, đặc biệt tập trung vào cách hình thành nội dung và cấu trúc mới Các động từ thường được d ng để đo lường năng lực tổng hợp như là thiết kế, báo cáo, thảo luận, lập kế hoạch,…
(f) Đánh giá là khả năng nhận xét tính giá trị của tài liệu dựa trên mục tiêu đã
hoạch định trước đó KQHT ở mức độ này là cao nhất trong thang nhận thức vì nó chứa đựng tất cả các mức độ nhận thức trước đó, kể cả các đánh giá giá trị dựa trên các tiêu chí đã được xác định rõ ràng Các động từ thường được d ng để đo lường năng lực đánh giá như đánh giá, phán xét, bảo vệ, phê bình, chọn lọc,tranh luận,… Như vậy, KQHT của HS về mặt kiến thức cần đảm bảo cả hai mặt về nội dung tri thức và mức độ của năng lực nhận thức mà HS có được thông qua quá trình lĩnh hội nội dung tri thức Với sự phát triển của khoa học công nghệ ngày nay, việc tìm kiếm một nội dung tri thức cụ thể là khá dễ dàng Tuy nhiên, để có thể biến tri thức
đó thành hiểu biết của bản thân HS, GV phải thông qua QTDH để phát triển cho HS năng lực nhận thức với các mức độ cụ thể khác nhau, ph hợp với từng nội dung tri thức khoa học của bộ môn
Trang 251.3.3 Chuẩn kiến thức chương trình Sinh học 10
Nhằm thống nhất về KQHT ở các địa phương khác nhau, tránh quá tải về mặt kiến thức, dạy học phân hóa phù hợp với năng lực của HS, phát huy tính tự giác, tích cực, sáng tạo trong học tập của HS, Bộ GD&ĐT đã ban hành Chuẩn của từng
bộ môn vào năm 2006 Năm 2009, Bộ GD&ĐT tiếp tục ban hành hướng dẫn thực hiện Chuẩn của từng bộ môn Hiện nay, Chuẩn là căn cứ quan trọng để xác định các mục tiêu dạy học và kiểm tra đánh giá KQHT Để đánh giá KQHT về mặt kiến thức
bộ môn Sinh học 10 phải căn cứ vào chuẩn kiến thức chương trình Sinh học 10
1.3.3.1 Khái niệm Chuẩn và yêu cầu
(a) Chuẩn: Theo Bộ GD&ĐT (2009), chuẩn là những yêu cầu, tiêu chí (gọi
chung là yêu cầu) tuân theo những nguyên tắc nhất định, được d ng để làm thước
đo đánh giá hoạt động, công việc, sản phẩm của lĩnh vực nào đó Đạt được những yêu cầu của chuẩn là đạt được mục tiêu mong muốn của chủ thể quản lí hoạt động,
công việc, sản phẩm đó
(b) Yêu cầu: Yêu cầu là sự cụ thể hoá, chi tiết hoá, tường minh hoá những nội
dung, những căn cứ để đánh giá chất lượng Yêu cầu có thể được đo thông qua chỉ
số thực hiện Yêu cầu được xem như những "chốt kiểm soát" để đánh giá chất lượng
đầu vào, đầu ra cũng như quá trình thực hiện
1.3.3.2 Nội dung của Chuẩn
Chuẩn của Chương trình Giáo dục phổ thông được thể hiện cụ thể trong các
chương trình môn học, hoạt động giáo dục (gọi chung là môn học) và các chương trình cấp học Chuẩn của Chương trình môn học là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của môn học mà HS cần phải và có thể đạt được sau mỗi đơn vị kiến thức (mỗi bài, chủ đề, chủ điểm, mô đun) Bên cạnh đó, Chuẩn của một đơn vị kiến thức là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của đơn vị kiến thức
mà HS cần phải và có thể đạt được
Mỗi yêu cầu về kiến thức, kỹ năng có thể được chi tiết hoá hơn cụ thể, tường minh hơn được minh chứng bằng những ví dụ thể hiện được cả nội dung và mức độ cần đạt về kiến thức, kĩ năng
Trang 26Chuẩn có đặc điểm là được chi tiết hoá, tường minh hoá bằng các yêu cầu cụ thể, rõ ràng về kiến thức, kĩ năng có tính tối thiểu, nhằm đảm bảo mọi HS cần phải
và có thể đạt được những yêu cầu cụ thể này là thành phần của chương trình giáo dục phổ thông
Chuẩn là thành phần của chương trình giáo dục phổ thông nên việc chỉ đạo dạy học, kiểm tra, đánh giá theo Chuẩn sẽ tạo nên sự thống nhất hạn chế tình trạng dạy học quá tải, đưa thêm nhiều nội dung nặng nề, quá cao so với Chuẩn vào dạy học, kiểm tra, đánh giá góp phần làm giảm tiêu cực của dạy thêm, học thêm tạo điều kiện cơ bản, quan trọng để có thể tổ chức giảng dạy, học tập, kiểm tra, đánh giá
và thi theo Chuẩn
Chuẩn là căn cứ để biên soạn SGK và các tài liệu hướng dẫn dạy học, kiểm tra, đánh giá, đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá chỉ đạo, quản lí, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện dạy học, kiểm tra, đánh giá, sinh hoạt chuyên môn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lí và GV xác định mục tiêu của mỗi giờ học, mục tiêu của QTDH, đảm bảo chất lượng giáo dục xác định mục tiêu kiểm tra, đánh giá đối với từng bài kiểm tra, bài thi đánh giá kết quả giáo dục từng môn học, lớp học, cấp học
1.3.3.3 Yêu cầu dạy học bám sát Chuẩn
(a) Yêu cầu chung
Căn cứ vào Chuẩn để xác định mục tiêu bài học Chú trọng dạy học nhằm đạt được các yêu cầu cơ bản và tối thiểu về kiến thức, kĩ năng, đảm bảo không quá tải
và không quá lệ thuộc hoàn toàn vào SGK Mức độ khai thác sâu kiến thức, kĩ năng trong SGK phải ph hợp với khả năng tiếp thu của HS
Căn cứ vào Chuẩn để sáng tạo về phương pháp dạy học, phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác học tập của HS Chú trọng rèn luyện phương pháp tư duy, năng lực tự học, tự nghiên cứu tạo niềm vui, hứng khởi, nhu cầu hành động và thái
độ tự tin trong học tập cho HS
Trang 27Căn cứ vào Chuẩn trong dạy học thể hiện được mối quan hệ tích cực giữa GV
và HS, giữa HS với HS tiến hành dạy học thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập của HS, kết hợp giữa học tập cá thể với học tập hợp tác, làm việc theo nhóm
Căn cứ vào Chuẩn để trong dạy học, chú trọng đến việc rèn luyện các kĩ năng, năng lực hành động, vận dụng kiến thức, tăng cường thực hành và gắn nội dung bài học với thực tiễn cuộc sống
Căn cứ vào Chuẩn để trong dạy học, chú trọng đến việc sử dụng có hiệu quả phương tiện, thiết bị dạy học được trang bị hoặc do GV và HS tự làm quan tâm đến ứng dụng công nghệ thông tin
Căn cứ vào Chuẩn để trong dạy học, chú trọng đến việc động viên, khuyến khích kịp thời sự tiến bộ của HS trong quá trình học tập đa dạng hoá nội dung, các hình thức, cách thức đánh giá và tăng cường hiệu quả việc đánh giá
(b) Yêu cầu đối với GV
Bám sát Chuẩn để thiết kế bài giảng, với mục tiêu là đạt được các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng, dạy không quá tải và không quá lệ thuộc hoàn toàn vào SGK Việc khai thác sâu kiến thức, kĩ năng phải ph hợp với khả năng tiếp thu của HS
Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động học tập với các hình thức đa dạng, phong phú, có sức hấp dẫn ph hợp với đặc trưng bài học, với đặc điểm và trình độ HS, với điều kiện cụ thể của lớp, trường và địa phương
Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội và điều kiện cho HS được tham gia một cách tích cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình khám phá, phát hiện, đề xuất và lĩnh hội kiến thức Chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng đã có của HS Tạo niềm vui, hứng khởi, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập cho HS Giúp HS phát triển tối đa năng lực, tiềm năng của bản thân
Thiết kế và hướng dẫn HS thực hiện các dạng câu hỏi, bài tập phát triển tư duy và rèn luyện kĩ năng Hướng dẫn sử dụng các thiết bị dạy học Tổ chức có hiệu quả các giờ thực hành Hướng dẫn HS có thói quen vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn
Trang 28Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lí, hiệu quả, linh hoạt, ph hợp với đặc trưng của cấp học, môn học nội dung, tính chất của bài học đặc điểm và trình độ HS thời lượng dạy học và các điều kiện dạy học cụ thể của trường, địa phương
1.3.3.4 Yêu cầu kiểm tra, đánh giá bám sát Chuẩn
Kiểm tra, đánh giá phải căn cứ vào Chuẩn của từng môn học ở từng lớp các yêu cầu cơ bản, tối thiểu cần đạt về kiến thức, kĩ năng của HS sau mỗi giai đoạn, mỗi lớp, mỗi cấp học
Kiểm tra, đánh giá thể hiện được vai trò chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy, học tập của các nhà trường Cần tăng cường đổi mới khâu kiểm tra, đánh giá thường xuyên, định kì đảm bảo chất lượng kiểm tra, đánh giá thường xuyên, định kì chính xác, khách quan, công bằng không có hình thức, đối phó nhưng cũng không gây áp lực nặng nề Kiểm tra thường xuyên và định kì theo hướng vừa đánh giá được đúng Chuẩn, vừa có khả năng phân hoá cao kiểm tra kiến thức, kỹ năng cơ bản, năng lực vận dụng kiến thức của người học, thay vì chỉ kiểm tra học thuộc lòng, nhớ máy móc kiến thức
Áp dụng các phương pháp phân tích hiện đại để tăng cường tính tương đương của các đề kiểm tra, thi Kết hợp hợp lí các hình thức kiểm tra, thi vấn đáp,
tự luận và trắc nghiệm nhằm hạn chế lối học tủ, học lệch, học vẹt phát huy ưu điểm
và hạn chế nhược điểm của mỗi hình thức
Đánh giá chính xác, đúng thực trạng Đánh giá thấp hơn thực tế sẽ triệt tiêu động lực phấn đấu vươn lên ngược lại, đánh giá khắt khe quá mức hoặc thái độ thiếu thân thiện, không thấy được sự tiến bộ, sẽ ức chế tình cảm, trí tuệ, giảm vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của HS
Đánh giá kịp thời, có tác dụng giáo dục và động viên sự tiến bộ của HS, giúp
HS sửa chữa thiếu sót Đánh giá cả quá trình lĩnh hội tri thức của HS, chú trọng đánh giá hành động, tình cảm của HS (như nghĩ và làm) năng lực vận dụng vào thực tiễn, thể hiện qua ứng xử, giao tiếp Quan tâm tới mức độ hoạt động tích cực,
Trang 29chủ động của HS trong từng tiết học tiếp thu tri thức mới, ôn luyện cũng như các tiết thực hành, thí nghiệm
Đánh giá KQHT, thành tích học tập của HS không chỉ đánh giá kết quả cuối
c ng, mà cần chú ý cả quá trình học tập Cần tạo điều kiện cho HS c ng tham gia xác định tiêu chí đánh giá KQHT với yêu cầu không tập trung vào khả năng tái hiện tri thức, mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp
Đánh giá hoạt động dạy học không chỉ đánh giá thành tích học tập của HS,
mà còn đánh giá cả QTDH nhằm cải tiến hoạt động dạy học Chú trọng phương pháp, kĩ thuật lấy thông tin phản hồi từ HS để đánh giá QTDH
Kết hợp thật hợp lí giữa đánh giá định tính và định lượng như căn cứ vào đặc điểm của từng môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi lớp học, cấp học, quy định đánh giá bằng điểm kết hợp với nhận xét của GV hay đánh giá bằng nhận xét, xếp loại của GV
Kết hợp đánh giá trong và đánh giá ngoài Để có thêm các kênh thông tin phản hồi khách quan, cần kết hợp hài hoà giữa đánh giá trong và đánh giá ngoài Cụ thể, tự đánh giá của HS với đánh giá của bạn học, của GV, của cơ sở giáo dục, của gia đình và cộng đồng Tự đánh giá của GV với đánh giá của đồng nghiệp, của HS, gia đình HS, của các cơ quan quản lí giáo dục và của cộng đồng Tự đánh giá của cơ
sở giáo dục với đánh giá của các cơ quan quản lí giáo dục và của cộng đồng Tự đánh giá của ngành Giáo dục với đánh giá của xã hội và đánh giá quốc tế
Kiểm tra, đánh giá phải là động lực thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học Đổi mới kiểm tra, đánh giá tạo điều kiện thúc đẩy và là động lực của đổi mới phương pháp dạy học trong QTDH, là nhân tố quan trọng nhất đảm bảo chất lượng dạy học
1.3.3.5 Chuẩn chương trình Sinh học 10
Chuẩn môn Sinh học 10 và hướng dẫn thực hiện Chuẩn môn Sinh học 10 cũng được biên soạn theo tinh thần trên với các nội dung kiến thức, các mức độ nhận thức khác nhau và có tính đến đặc điểm của địa phương
Trang 30Đối với địa phương thuận lợi, các yêu cầu về kiến thức được thể hiện chi tiết
hơn Cụ thể, trình bày được những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, thực tiễn
về cấp độ tổ chức cơ thể của thế giới sống; HS hiểu và trình bày được các kiến thức
cơ bản về thành phần hóa học, vai trò của nước, cấu trúc và chức năng của các hợp chất hữu cơ chủ yếu tạo nên tế bào, trình bày được cấu trúc và chức năng của tế bào nhân sơ, tế bào nhân thực; HS phân biệt được sự khác nhau giữ nguyên tố đại lượng
và nguyên tố vi lượng, sự khác nhau giữa tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực; HS nêu và giải thích được các cơ chế vận chuyển các chất qua màng sinh chất, phân biệt được hình thức vận chuyển chủ động và vận chuyển thụ động, phân biệt được xuất bào, nhập bào; HS hiểu và trình bày được khái niệm, bản chất của hô hấp, quang hợp xảy ra bên trong tế bào Phân tích được mối quan hệ giữa quang hợp và
hô hấp; HS có khái niệm về chu kỳ tế bào, phần được đực nguyên phân và giảm phân, hiểu được nguyên lý điều hòa chu kỳ tế bào, có ý nghĩa lớn trong lĩnh vực Y học; HS hiểu và trình bày được khái niệm vi sinh vật, các kiểu dinh dưỡng và ứng dụng của
vi sinh vật trong đời sống; HS hiểu và trình bày được tính quy luật sinh trưởng trong nuôi cấy liên tục và không liên tục; HS nắm được kiến thức cơ bản về virut, phương thức sinh sản của virut, ứng dụng của virut trong thực tiễn Đồng thời HS củng nắm được khái niệm miễn dịch và bệnh truyền nhiễm trên cơ sở nắm vững các kiến thức cơ bản, HS biết vận dụng các kiến thức vào thực tiễn sản xuất và đời sống, hiểu và vận dụng để giải thích các hiện tượng thực tế; củng cố niềm tin vào khả năng của khoa học hiện đại trong việc nhận thức bản chất và tính quy luật của các hiện tượng sinh học; củng cố cho HS quan điểm duy vật biện chứng về thế giới sống, bồi dưỡng cho HS lòng yêu thiên nhiên và bảo vệ thiên nhiên, có thái độ và hành vi đúng đắn đối với chính sách của Đảng và Nhà nước về dân số, sức khỏe sinh sản, phòng chống HIV/AIDS, vấn đề may túy và tệ nạn xã hội và cuối cùng là rèn cho HS tư duy biện chứng, tư duy hệ thống
Đối với v ng khó khăn, các yêu cầu đặt ra có thể giảm nhẹ hơn các bài có kiến thức cơ chế phức tạp nhưng vẫn phải đảm bảo thực hiện các mục tiêu của chương trình
Trang 311.3.4 Phương pháp kiểm tra, đánh giá KQHT môn Sinh học 10
1.3.4.1 Khái niệm kiểm tra, đánh giá trong QTDH
Một số thuật ngữ cơ bản trong kiểm tra, đánh giá bao gồm Assessment (đo
lường đánh giá) nghĩa là thu thập thông tin và đo lường các thông tin đó
Measurement (đo lường) nghĩa là thực hiện việc đo lường; Testing (kiểm tra,thi) đo lường bằng các câu hỏi hoặc công cụ khác; Evaluation (đánh giá) đo lường và đánh
giá đưa ra nhận định hoặc kết luận
Theo Trần Kiều (2006), đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập và lý giải kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân về chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo
Theo hướng dẫn thực hiện Chuẩn, kiểm tra, đánh giá là hai khâu trong một quy trình thống nhất nhằm xác định kết quả thực hiện mục tiêu dạy học Kiểm tra là thu thập thông tin từ riêng lẻ đến hệ thống về kết quả thực hiện mục tiêu dạy học Đánh giá là xác định mức độ đạt được về thực hiện mục tiêu dạy học Đánh giá KQHT thực chất là việc xem xét mức độ đạt được của hoạt động học của HS so với mục tiêu đề ra đối với từng môn học, từng lớp học, cấp học Mục tiêu của mỗi môn học được cụ thể hoá thành các Chuẩn Từ đó, khi tiến hành kiểm tra, đánh giá KQHT môn học, cần phải thiết kế thành những tiêu chí nhằm kiểm tra được đầy đủ
1.3.4.2 Mục đích và chức năng của kiểm tra, đánh giá trong QTDH
Mục đích và chức năng của kiểm tra, đánh giá trong QTDH đã được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra Cụ thể, Theo McMillan (2001), thực chất đánh giá có mối quan hệ hợp thành với tất cả các khía cạnh của việc ra quyết định và giảng dạy của GV Theo Ariansian (1996), kiểm tra đánh giá nhằm các mục đích như tạo sự bình ổn trong lớp
Trang 32học, lên kế hoạch và tiến hành giảng dạy, phân loại HS, phản hồi và khích lệ, Chuẩn đoán các vấn đề của HS, phán đoán giá trị, xếp loại học tập và mức tiến bộ Sau một QTDH, GV cần đánh giá để có những nhận định về hiệu quả học tập của HS, xác định mức độ mà HS đạt được các mục tiêu học tập trên cơ sở đó xếp loại học tập của HS và mức độ tiến bộ Như vậy, kiểm tra và đánh giá trong lớp học là nhằm hướng đến việc tạo ra một môi trường học tập hiệu quả, kích thích được động cơ của người học và người dạy cùng nỗ lực để đạt được các mục tiêu của QTDH
Theo Trần Thị Tuyết Oanh (2009), đánh giá trong lớp học thể hiện các chức năng cơ bản có ý nghĩa quan trọng đối với QTDH gồm chức năng định hướng, chức năng hỗ trợ, chức năng xác nhận
Về chức năng định hướng, quá trình kiểm tra, đánh giá giúp GV dự báo trước khả năng của các HS từ đó định hướng cho việc lập kế hoạch, chuẩn bị nội dung, phương pháp giảng dạy thích hợp Khi kết thúc một QTDH hoạt động đánh giá không chỉ có ý nghĩa xác định kết quả mà còn giúp cho việc định hướng cho một QTDH tiếp theo
Về chức năng hỗ trợ, quá trình đánh giá giúp cung cấp những thông tin chuẩn đoán về mặt mạnh, yếu, nguyên nhân, hạn chế của HS và GV trong quá trình thực hiện mục tiêu dạy học từ điều chỉnh để hỗ trợ việc học tập hiệu quả Kết quả điểm số của bài kiểm tra đôi khi không quan trọng bằng việc GV chỉ ra được những thiếu sót trong bài làm đó và hỗ trợ HS khắc phục những thiếu sót đó và hoàn thiện quá trình học tập của bản thân Đánh giá nhằm chuẩn đoán hỗ trợ cho quá trình học tập được tiến hành thường xuyên để cung cấp cho HS những tín hiệu ngược và giúp
HS điều chỉnh cách học cho phù hợp
Về chức năng xác nhận, quá trình đánh giá nhằm xác định mức độ mà người học đạt được các mục tiêu học tập, làm căn cứ cho những quyết định phù hợp Đánh giá xác nhận cung cấp những số liệu để thừa nhận hay bác bỏ sự hoàn thành hay chưa hoàn thành khóa học, chương trình học hoặc môn học để đi đến quyết định là cấp chứng chỉ, cấp bằng, hoặc cho lên lớp,…Điều này đòi hỏi phải thiết lập một ngưỡng trình độ tối thiểu và xác định vị trí của người học với ngưỡng này và đòi hỏi
Trang 33người học phải đạt được mức độ tối thiểu các mục tiêu đã xác định Do vậy, một ngưỡng trình độ tối thiểu đưa ra là quan trọng Đánh giá xác nhận cũng có thể nhằm xếp loại người học theo những mục đích xác định, nhằm phân biệt trình độ khác nhau giữa các HS để xếp hạng hay tuyển chọn Công cụ để đánh giá xác nhận là bài kiểm tra, thi xác định trình độ Chúng được tiến hành sau một giai đoạn học tập Đánh giá này mang tính tổng hợp Do vậy, việc chọn mẫu nội dung đánh giá phải đặc trưng cho kiến thức của cả quá trình học tập nhất định, việc đánh giá cần lập kế hoạch và tiến hành theo một quy trình hợp lí
Kiểm tra đánh giá KQHT ở cấp THPT hiện nay chủ yếu nhằm xác nhận KQHT, chức năng định hướng và hỗ trợ rất hạn chế Vì vậy không kích thích được động cơ học tập đúng đắn của HS mà dẫn đến hiện tượng gian lận, đối phó trong các kỳ thi, bài kiểm tra
1.3.4.3 Phương pháp kiểm tra đánh giá
Theo Mc.Millan (2001), các phương pháp đánh bao gồm tự trả lời, trả lời lựa chọn, quan sát của GV, tự đánh giá Mỗi phương pháp có các hình thức và công cụ
đo lường riêng Bảng 1 cho thấy sự phối hợp các phương pháp đánh giá và công cụ đánh giá tương ứng
Bảng 1.1 Phương pháp và công cụ đánh giá
Trả lời
lựa chọn Tự trả lời
Quan sát của
GV
Tự đánh giá
Vấn đáp
-Chính thức -Không chính thức
-Điều tra thái độ -Ý kiến
từ xã hội -Phiếu điều tra -Phiếu đánh giá
-Hỏi thông thường -Các
kỳ thi -Đàm
-Bài kiểm tra -Đề án -Hồ sơ học tập -Băng video -Trưng bày
-Diễn văn -Thuyết minh -Đọc kịch -Thảo luận
Trang 34-Giải
thích
-Trang web -Bảng tính -Tự suy xét -Nhật ký -Minh họa
-Tường thuật -Diễn vai
thoại -Phỏng vấn
Tùy vào mục đích đánh giá và điều kiện thực tế GV sẽ tiến hành thiết kế các phương pháp và lựa chọn các công cụ đo lường thích hợp để thu thập được các thông tin cần thiết về đối tượng đánh giá
Khi kết hợp mục đích và các phương pháp đánh giá theo Mc.Millan (2001), mức độ thích hợp giữa phương pháp và mục đích theo bảng sau:
Bảng 1.2 Kết hợp mục đích và các phương pháp đánh giá
Mục đích
Phương pháp
Trả lời lựa chọn và tự trả lời ngắn
Tiểu luận
Căn cứ thao tác
Câu hỏi vấn đáp
Quan sát
Tự nhận xét
Ghi chú: Các số lớn biểu hiện sự thích hợp cao (Ví dụ: 5 = tốt, 1 = kém)
Theo tác giả, các con số được ấn định đều bao gồm của ưu điểm về mặt chuyên môn và hạn chế về mặt thực tiễn
GV phải có nhiều sự lựa chọn để đảm bảo kết hợp được mục đích đánh giá
ph hợp với phương pháp đánh giá
Trang 35Trong giới hạn của đề tài là đánh giá KQHT của HS ở cấp THPT về mặt kiến thức, do đó mục đích đánh giá là kiến thức, hiểu đơn giản hoặc hiểu sâu và lập luận Thực tế ở trường học phổ thông nước ta hiện nay, phương pháp chủ yếu được lựa chọn để thiết kế đề kiểm tra đánh giá KQHT là các câu trả lời lựa chọn và tự trả lời
Ưu điểm, hạn chế và các yêu cầu cần đảm bảo của phương pháp câu hỏi
tự trả lời hay phương pháp tự luận
+ Về ưu điểm: Có khả năng đo lường được các mục tiêu cần thiết, có thể đo
lường và đánh giá tốt ở mức độ hiểu, tổng hợp, đánh giá Tạo điều kiện để HS bộc
lộ khả năng suy luận, sắp xếp dữ kiện, khả năng phê phán, đưa ra các ý kiến mới
Dễ chuẩn bị, ít mất thời gian hơn so với câu hỏi lựa chọn
+ Về hạn chế: Số lượng câu hỏi ít nên khó cung cấp một mẫu đại diện đầy
đủ cho lượng kiến thức cần đánh giá Việc chấm bài thường khó khăn, tốn nhiều thời gian, và có nhiều yếu tố làm sai lệch điểm số như chủ quan của GV, tâm trạng,… đặc biệt là trình độ chuyên môn
+ Về yêu cầu cần đảm bảo: GV cần chuẩn bị trước cho HS thể hiện và biết
rằng mục đích chính của bài kiểm tra cũng là để chứng minh được những năng lực học tập của bản thân Câu hỏi cần được diễn đạt rõ ràng, chú ý về cấu trúc ngữ pháp,
từ ngữ lựa chọn phải chính xác, đơn giản Cần xác định được thời gian cần cho việc trả lời câu hỏi Đối với câu trả lời giới hạn có thể dễ ước lượng thời gian trả lời cho mỗi câu hỏi, còn câu trả lời mở rộng thì khó ước lượng thời gian hơn Do đó để nâng cao độ tin cậy là tăng số câu hỏi trong bài kiểm tra và giảm độ dài ở phần trả lời của mỗi câu Khi tổ chức cho HS làm bài cần phải có những biện pháp để tránh được các yếu tố gây nhiễu bên ngoài như tiếng ồn, ánh sáng, tránh gian lận trong khi làm bài, thái độ của GV với vai trò giám thị cần nghiêm túc, tạo được sự bình tĩnh cho HS
Người chấm không nên biết tên HS để đảm bảo tính khách quan Cần xác định thang điểm một cách chuẩn xác và chi tiết, đưa ra những câu trả lời có thể chấp nhận được Điều này phụ thuộc nhiều vào trình độ chuyên môn của GV T y theo mục đích kiểm tra, đánh giá có hai cách chấm điểm là chấm theo kiểu phân tích và theo kiểu phân loại nhóm Chấm theo kiểu phân tích được tiến hành bằng cách cho
Trang 36điểm các câu trả lời căn cứ theo từng tiêu chí đã xác định, như vậy trong bài sẽ có điểm thành phần và sau đó cộng lại Cách chấm này cần căn cứ và bám sát vào đáp
án và thang điểm Để có hiệu quả cao cần chấm điểm đồng loạt từng câu một để tránh sự thay đổi vô tình khi chấm tăng tính khách quan
Chấm theo kiểu phân loại đòi hỏi đọc sơ bộ tất cả các bài làm sau đó phân loại bài làm theo nhóm trước khi chấm điểm để người chấm có thể suy nghĩ, so sánh giữa các nhóm Có thể chia thành 3 hoặc 5 nhóm Cách chấm này có thể đánh giá tổng thể câu trả lời bằng một điểm số hoặc bằng xếp loại Điểm số có thể căn cứ vào ấn tượng chung hay tiêu chí nhất định và được đặt vào mốc ấn định các mức độ khác nhau về chất lượng bài làm
Để phân loại HS theo các nhóm khác nhau theo mục đích nào đó thì chấm theo kiểu phân loại, để xác định mức độ mà người học đạt được các mục tiêu đặt ra như thế nào thì cần chấm theo kiểu phân tích với các tiêu chí cụ thể, chi tiết
1.3.4.3 Độ giá trị và độ tin cậy của đánh giá
(a) Độ giá trị của đánh giá: Là mức độ mà một bài kiểm tra đo được đúng cái mà nó định đo
Theo Gronlund (1982), phương pháp cơ bản xác định độ giá trị là dựa trên việc phân tích yếu tố đánh giá tính đồng nhất của các câu hỏi và đánh giá cấu trúc của phép đo (độ tương quan > 0,3) và được xác định theo các đánh giá chuyên môn hoặc người sử dụng thông tin
Độ giá trị được phân loại thành giá trị về nội dung, độ giá trị cấu trúc, độ giá trị đồng quy, độ giá trị dự báo và độ giá trị bề mặt
Giá trị về nội dung có nghĩa là mức độ bao tr m bài học, môn học Nội dung trong bài kiểm tra có thể đại diện cho những gì được dạy, toàn bộ kiến thức hay một phần kiến thức cần đánh giá Là khái niệm chủ yếu định tính hơn định lượng do đó xác định độ giá trị nội dung cần phải được thảo luận trong điều kiện của môn học cụ thể Cách thuận tiện và tốt nhất để xác định độ giá trị về nội dung là d ng bảng trọng số
Trang 37Độ giá trị cấu trúc là cấu trúc của bài kiểm tra, các tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá được thiết kế thành các câu hỏi ph hợp phản ánh được nội dung cần đo Ví dụ, muốn đo KQHT phải có các câu hỏi về kiến thức – kỹ năng – thái độ
Độ giá trị đồng quy được đánh giá theo mức độ tốt của công cụ được sử dụng so với công cụ khác đồng thời được sử dụng, phản ánh được năng lực hiện thời của HS
Độ giá trị dự báo(tiên đoán) được đánh giá bằng mức độ mà công cụ có thể
dự đoán một kết quả nào đó, phản ánh được khả năng trong tương lai của HS
Độ giá trị bề mặt (face) được thể hiện ở mỗi câu hỏi hoặc item phải có sự liên quan kết nối với mục tiêu câu hỏi giải thuyết nghiên cứu
(b) Độ tin cậy của đánh giá: Độ tin cậy bao hàm sự nhất quán, ổn định và có
căn cứ của kết quả đánh giá Mọi đánh giá đều có sai số Sai số và độ tin cậy là 2 cách nói bổ sung về hiện tượng đánh giá Độ tin cậy tập trung vào tính nhất quán của kết quả(cho kết quả như nhau trong các lần đo khác nhau) Đây là yêu cầu chuẩn hóa bài thi
Đánh giá độ tin cậy là đánh giá những sai số của sự đo lường nhằm giảm thiểu những sai số để tăng độ tin cậy
Nguồn sai số của phép đo gồm nguồn sai số bên ngoài và nguồn sai số bên trong Nguồn sai số bên ngoài thường gắn với điều kiện tiến hành đo lường và chấm điểm như thể lực, cảm xúc HS, hướng dẫn làm bài, điều kiện phòng thi, sai số khi chấm,… Nguồn sai số bên trong thường gắn với bản thân bài kiểm tra như quá trình chọn mẫu các câu hỏi không ph hợp
Để đánh giá độ tin cậy, người ta sử dụng các phương pháp như phương pháp kiểm tra – kiểm tra lại, phương pháp sử dụng dạng tương đương, phương pháp phân đôi, phương pháp đánh giá độ ph hợp của từng câu trong bài kiểm tra
Trang 381.3.4.4 Quy trình đánh giá
Theo Trần Thị Tuyết Oanh (2009), một quy trình đánh giá chung thường gồm các bước sau:
+ Xác định mục đích đánh giá: Đòi hỏi phải xác định đánh giá để làm gì,
quyết định nào sẽ được đưa ra sau khi đánh giá
+ Trình bày các tiêu chuẩn đánh giá: Tiêu chuẩn đánh giá là dấu hiệu, tính
chất được chọn làm căn cứ để so sánh, đối chiếu, xác định mức độ, kết quả đạt tới của đối tượng cần đánh giá Việc lựa chọn các tiêu chuẩn đánh giá phải căn cứ vào các dấu hiệu cơ bản, tiêu biểu cho bản chất của đối tượng thì mới đảm bảo tính chính xác trong việc đánh giá Mục tiêu đánh giá sẽ cung cấp các tiêu chuẩn, tiêu chí để đánh giá Đánh giá sẽ có giá trị nếu các tiêu chuẩn và tiêu chí đều rõ ràng, tức
là có thể đánh giá được đúng những gì cần đánh giá Việc thông báo rõ các tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá cho những người đánh giá và đối tượng được đánh giá sẽ đưa đến tính thống nhất, giảm bớt những căng thẳng có thể xảy ra trong quy trình đánh giá
+ Thu thập thông tin đánh giá: Cần lựa chọn các công cụ và kỹ thuật thu
thập thông tin phù hợp với mục đích và đối tượng đánh giá Sau khi thu thập thông
Trang 39tin cần xử lý thông tin nếu cần thiết Đây là giai đoạn phức tạp cần chú trọng để đảm bảo tính khách quan và chính xác
+ Đối chiếu các thông tin đã thu thập được với các tiêu chuẩn- kết luận và đưa ra những quyết định: Những thông tin đã thu thập được cần đem đối chiếu với
những tiêu chuẩn đã xác định ban đầu làm cơ sở cho việc kết luận và đưa ra những quyết định nhằm cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động giáo dục, QTDH
Thực tế hoạt động kiểm tra đánh giá tại các trường THPT ở nước ta hiện nay không đảm bảo quy trình trên Các tiêu chuẩn đánh giá hầu như không được thông báo trước với HS Quá trình thu thập thông tin chưa thực sự khoa học Điều này có những ảnh hưởng nhất định đến KQHT của HS
1.3.4.5 Phương pháp kiểm tra, đánh giá KQHT bộ môn Sinh học 10
Phương pháp kiểm tra, đánh giá KQHT bộ môn Sinh học 10 tại trường Thủ Đức năm học 2010-2011 thực hiện dựa trên hướng dẫn của Quyết định số
40 2006 QĐ-BGDĐT và Quyết định số 51 2008 QĐ-BGDĐT của Bộ GD&ĐT về quy chế đánh giá, xếp loại HS và theo yêu cầu của Ban giám hiệu nhà trường
Hình thức đánh giá là đánh giá bằng điểm số theo thang điểm từ 0 đến 10 Tính điểm trung bình cho cả năm học và xếp thành 5 loại Giỏi – Khá - Trung bình - Yếu -Kém Hình thức kiểm tra bao gồm kiểm tra miệng (kiểm tra bằng hỏi đáp), kiểm tra viết và kiểm tra thực hành
Các loại bài kiểm tra gồm kiểm tra thường xuyên (KTtx) gồm kiểm tra miệng, kiểm tra viết dưới 1 tiết; kiểm tra thực hành dưới 1 tiết Kiểm tra định kỳ (KTđk) gồm kiểm tra viết từ 1 tiết trở lên; kiểm tra thực hành từ 1 tiết trở lên; kiểm tra học kỳ (KThk)
Hệ số điểm kiểm tra gồm có 03 loại Trong đó, hệ số 1 là KTtx; hệ số 2 là điểm KTđk hệ số 3 là điểm KThk
Về số lần kiểm tra và cách cho điểm được quy định cụ thể là KTđk 1 lần/học kỳ, kiểm tra thường xuyên 2 lần/học kỳ Điểm các bài KTtx theo hình
Trang 40thức tự luận cho điểm số nguyên, điểm KTđk được lấy đến một chữ số thập phân sau khi đã làm tròn số
Điểm trung bình môn của học kỳ (ĐTBmhk) là trung bình cộng của điểm các bài KTtx, KTđk và KThk với các hệ số quy định Điểm trung bình môn của cả năm (ĐTBmcn) là trung bình cộng của ĐTBmhkI với ĐTBmhkII, trong đó ĐTBmhkII tính theo hệ số 2
Đề tài dựa trên những quy định và phương pháp kiểm tra, đánh giá thực tế của bộ môn Sinh học 10 để tiến hành đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức của HS tại trường THPT Thủ Đức Đề tài sử dụng bài kiểm tra học kỳ II, để đánh giá mức
độ đạt chuẩn về mặt kiến thức của HS Bài kiểm tra học kỳ II được tiến hành vào cuối năm học, có vai trò quan trọng và ảnh hưởng lớn đến KQHT của HS, đảm bảo
độ tin cậy, độ giá trị của đánh giá