QUẦN THỂ NGƯỜI VÀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘITRONG SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA HỆ SINH THÁI NHÂN VĂN 1.. Nhưng con người là bộ phận đặc thù của tựnhiên, bởi lẽ trong quá trình phát triển
Trang 1MỤC LỤC
1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỰ NHIÊN, CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI
TRONG HỆ SINH THÁI NHÂN VĂN 2
1.1 Khái niệm 2
1.2 Tự nhiên và xã hội trong hệ sinh thái nhân văn 3
1.3 Con người trong hệ sinh thái nhân văn 4
1.3.1 Con người là yếu tố cấu thành của hệ sinh thái nhân văn 4
1.3.2 Con người là yếu tố xây dựng của hệ sinh thái nhân văn 4
1.3.3 Con người có nhận thức trong hệ sinh thái nhân văn 5
1.3.4 Điều chỉnh nhận thức của con người trong hệ sinh thái nhân văn 6
2 HỆ SINH THÁI NHÂN VĂN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG HỆ SINH THÁI NHÂN VĂN 7
2.1 Khái niệm 7
2.2 Phát triển bền vững hệ sinh thái nhân văn 7
2.2.1 Khái niệm……… …….7
2.2.2 Vấn đề phát triển bền vững hệ sinh thái nhân văn……… 8
2.2.2.1 Lỗ thủng tầng ozon 8
2.2.2.2 Hiệu ứng nhà kính 10
2.2.2.3 Mưa axit 13
2.2.2.4 Suy kiệt tài nguyên rừng 15
2.2.2.5 Ô nhiễm môi trường 17
2.2.2.6 Dân số và phát triển bền vững 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO………22
Trang 2QUẦN THỂ NGƯỜI VÀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI
TRONG SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA
HỆ SINH THÁI NHÂN VĂN
1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỰ NHIÊN, CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI TRONG HỆ SINH THÁI NHÂN VĂN
1.1 Khái niệm
Xã hội nhân văn bao hàm sự tương tác chặt chẽ và cân bằng động giữa
ba nhóm yếu tố là tự nhiên con người và xã hội Thứ nhất là yếu tố tự nhiên: làtoàn bộ thế giới vật chất, nó tồn tại một cách khách quan Như vậy con người
và xã hội loài người là những thành phần cấu trúc đặc thù gắn bó chặt chẽ vớithế giới tự nhiên Tự nhiên có liên quan trực tiếp đến sự sống của con người- cóthể coi đó là Sinh quyển Tùy trạng thái địa chất hay vật lý của Sinh quyển ta
có thể phân biệt thành ba nhóm chính: Thạch quyển nơi đá thể đá chiếm ưu thế;Khí quyển nơi chỉ có các dạng khí; Thủy quyển nơi chỉ có nước
Con người bước vào vũ đài của sự sống đúng vào lúc Sinh quyển đã trởthành một hệ thống tổng hợp sinh học ở mức cao nhất, có khả năng đạt mứcsinh học lớn nhất và sự phát triển ổn định tối đa Thành phần con ngưới đã xuấthiện trong quá trình tiến hóa của sinh quyển, là một dạng của cấu trúc vật chấtsống, có nguồn gốc từ tự nhiên Nhưng con người là bộ phận đặc thù của tựnhiên, bởi lẽ trong quá trình phát triển nhờ lao động và ngôn ngữ, con ngườidần tách mình ra khỏi thế giới động vật và tạo cho mình một môi trường tựnhiên đã được ”nhân tác hóa” - môi trường nhân văn Yếu tố xã hội trính làhình thức vận động cao nhất của vật chất, là sản phẩm của quá trình tương tácgiữa quần thể con người trong xã hội nhân văn
Như vậy, tự nhiên, con người và xã hội là ba dạng cấu trúc vật chất, lầnlượt hình thành trong quá trình tiến hóa của vật chất hữu cơ Chúng cấu thànhmột hệ thống tổng hợp, đa dạng, nhưng rất chặt chẽ, ổn định và tương đối bềnvững, tuân theo nhưng quy luật về tự nhiên và xã hội
Trang 31.2 Tự nhiên và xã hội trong hệ sinh thái nhân văn.
Trong quá trình trao đổi vật chất năng lượng và thông tin giữa xã hội và
tự nhiên tất yếu sẽ sinh ra những mâu thuẫn Đây chính là động lực của sự pháttriển xã hội nhân văn Tuy nhiên xã hội là một đặc thù của tự nhiên, hệ thốngvật chất sống cấp cao có ý thức, có tổ chức và có khoa học, kĩ thuật Vậy nên,với hệ thống xã hội, cần phải xem xét đến sự phát triển của xã hội trên cơ sởcác quá trình kinh tế - xã hội, chính trị của từng thời kì phát triển
Mâu thuẫn giữa xã hội với tự nhiên xuất hiện trong quá trình hoạt độngcải tạo tự nhiên, nhằm phục vụ sự sống của con người cho tồn tại và phát triểncủa xã hội Có thể phân biệt 3 nhóm mâu thuẫn:
- Thứ nhất, mâu thuẫn giữa môi trường với xã hội: sự đụng độ của cáctác động ngày càng tăng của các phương tiện công nghệ và kĩ thuật mà conngười sáng tạo và sử dụng trong các quá trình tái tạo thiên nhiên, với sự phảnứng thích nghi của môi trường đối lập với những tác động đó Vậy nên phảithay đổi hình thức, phương thức sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại đểgiải quyết mâu thuẫn trên là đáp ứng được môi trường nhân văn
- Tiếp đến là nhóm mâu thuẫn kinh tế và xã hội: sự tác động qua lại giữa
xã hội với tự nhiên trong điều kiện tăng trưởng và tập trung cao độ nền sảnxuất Giải quyết tốt mâu thuẫn này là tìm cách kết hợp mục tiêu kinh tế với
Trang 4mục tiêu sinh thái trong nền sản xuất xã hội và đảm bảo được môi trường nhânvăn phát triển hài hòa và bền vững.
- Cuối cùng là mâu thuẫn giữa kinh tế với môi trường
Như vậy, đối với cuộc sống của mỗi cá thể con người, các điều kiệnkinh tế thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển của xã hội nhân văn là cơ sở rấtquan trọng Các loại mâu thuẫn trong quá trình hình thành và phát triển của xãhội nhân văn đã và đang tồn tại trong quá trình lịch sử và tự nhiên Trong cáchoạt động sống của mình, con người luôn giải quyết các mâu thuẫn xuất hiệnnhư trên để tồn tại và phát triển xã hội nhân văn
1.3 Con người trong hệ sinh thái nhân văn.
1.3.1 Con người là yếu tố cấu thành của hệ sinh thái nhân văn
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người và tự nhiên:
đó là con người làm chủ và tác động cải tạo thiên nhiên tạo ra của cải vật chấtnhằm đáp ứng nhu cầu của bản thân, và con người cũng chịu sự tác động ngượclại của thiên nhiên
Hình thái kinh tế xã hội thể hiện sự vận động của thế giới vật chất, tronglịch sử loài người các cuộc cánh mạng trong lực lượng sản xuất, cách mạngthông tin, công nghệ và cách mạng xã hội, các mối quan hệ giữa con người với
tự nhiên và giữa con người với con người luôn vận động và biến đổi đưa đến sựthay đổi về chất của xã hội nhân văn lẫn sinh quyển
1.3.2 Con người là yếu tố xây dựng của hệ sinh thái nhân văn.
Sự vận động và biến đổi của xã hội là không ngừng nghỉ, nhưng cũngtrong quá trình này con người đã mang đến bao nhiêu tai họa cho môi trườngsinh thái cho chính loài người và cho xã hội nhân văn Con người cần phải
Trang 5nhận thức đầy đủ và đúng vai trò của loài người trong sự phát triển của hệthống xã hội và tự nhiên, có thể chung sống tích cực, tự giác và hài hòa trongcác mối liên kết đó.
Hoạt động của con người từ trước đến nay thường chưa được tính mộtcách đầy đủ những quy luật tồn tại và phát triển của yếu tố tự nhiên, những quyluật sinh thái học, đảm bảo cho cơ chế hoạt động bình thường của các chu trìnhtrao đổi vật chất và dòng năng lượng, dòng thông tin hay chu trình sinh học củaSinh quyển Ngày nay, nguy cơ của vấn đề suy thoái môi trường không chỉ xảy
ra cục bộ mà đang trở thành một trong những vấn đề toàn cầu cấp bách nhấtcủa thời đại, có ý nghĩa quan trọng đến sự sống còn của con nguời và xã hộicủa nó
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, con ngườiđang đi vào khám phá kho tàng vô tận của đại dương, khám phá những bí mậtcủa vũ trụ, thay đổi gen đã tạo ra những sản phẩm biến đổi gen, lập biểu đồ gencủa con người để chữa trị bệnh tật của con người, đã nhân bản vô tính động vật
và tiếp đó là sẽ nhân bản vô tính người… Đồng hành với những kỳ tích đó là
sự suy kiệt môi trường cả về số lượng và chất lượng, và sự trả thù của tự nhiênđối với con người cho đến ngày nay chưa thể lường trước được
Rõ ràng, để điều khiển được mối quan hệ giữa con người và tự nhiên,trước hết con người với tư cách là chủ thể, một nhân tố có ý thức duy nhấttrong cấu trúc hệ sinh thái nhân văn, cần phải nhận thức cho được những quyluật tồn tại và phát triển của giới tự nhiên và tiếp theo là phải biết vận dụng mộtcách đúng đắn, chính xác những quy luật đó vào quá trình hoạt động thực tiễncủa xã hội mà quan trọng nhất là vào lĩnh vực sản xuất
1.3.3 Con người có nhận thức trong hệ sinh thái nhân văn.
Bất kì bậc thang phát triển nào của hệ sinh thái nhân văn đều có mụctiêu là đạt được sự phồn vinh kinh tế, công bằng, bình đẳng, có môi trườngsống trong sạch Chỉ hướng về điều đó thì xã hội mới có thể phát triển bềnvững, phát triển để phát triển, phát triển không vì chất lượng cuộc sống hômnay mà còn đảm bảo cho các thế hệ sau phát triển bền vững Muốn tồn tại và
Trang 6phát triển, con người cần sửa chữa những sai lầm của mình bằng sự điều khiểnmột cách có ý thức mối quan hệ giữa con người với xã hội và tự nhiên.
Phát triển đến xã hội nhân văn chính là tiến đến xây dựng quan hệ côngbằng, bình đẳng đích thực giữa con người với con người, xây dựng quan hệtương hỗ, hài hòa thật sự giữa con người với tự nhiên Có thể hiểu là, muốntriệt tiêu được mâu thuẫn đối kháng giữa con người với tự nhiên, đồng thờicũng cần thủ tiêu được mâu thuẫn đối kháng giữa con người với con ngườitrong xã hội Đây chính là cơ sở quan trọng giúp con người có ý thức, conngười trí tuệ tiến đến điều khiển mối quan hệ giữa xã hội nhân văn và môitrường tự nhiên
1.3.4 Điều chỉnh nhận thức của con người trong hệ sinh thái nhân văn.
Quá trình điều khiển nhận thức trong quan hệ giữa con người và tựnhiên là một giai đoạn quan trọng Đồng thời với quá trình sáng tạo ra văn hóa,con người đã tác động vào tự nhiên, xã hội và bản thân mình để tạo nên giá trịvật chất và giá trị tinh thần cho xã hội nhân văn Nếu cứ để quá trình này vậnhành một cách tự nhiên và cảm tính thì dẫn đến nhiều di hại khôn lường Vìvậy phải điều chỉnh nhận thức của con người trong hệ sinh thái nhân văn
Tiến trình phát triển của xã hội loài người đã chứng tỏ mâu thuẫn giữacon người và tự nhiên ngày càng gay gắt Nguyên nhân chủ yếu là do conngười sáng tạo ra khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới, không ngừng phát triểnlực lượng sản xuất và bằng cách đó đã tấn công vào môi trường tự nhiên, biếnchúng thành sức mạnh xã hội Ngày nay, cũng phải dựa chính vào khoa học, kĩthuật và công nghệ mà con người mới có thể quay về với cội nguồn của mìnhsống hài hòa thực sự với tự nhiên trong một môi trường sống mới Đó là Trí tuệquyển, trên cơ sở sự hiểu biết sâu sắc về những quy luật của tự nhiên, conngười đã tạo ra nó Trí tuệ quyển, là môi trường sống mới được điều khiển bởihoạt động có ý thức của con người, một giai đoạn phát triển mới của sinhquyển Nó là sự thống nhất, sự tác động qua lại giữa xã hội và tự nhiên, mà cơ
sở của nó là xã hội, bởi vì ở đây hoạt động trí tuệ của con người là nhân tố nổitrội
Trang 7Hoàn thành chức năng tái tạo các nguồn tài nguyên thiên nhiên đã sửdụng chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của xã hội nhân văntrong việc thực hiện chức năng điều khiển một cách có ý thức đối với Sinhquyến Để làm được điều này, con người cần nắm vững những quy luật của tựnhiên, vận dụng những quy luật đó vào hoạt động thực tiễn: trước hết cần thayđổi nhận thức về mọi phương tiện thuộc lĩnh vực quan hệ giữa con người xãhội và tự nhiên Từ sự nhận thức đó, con người mới có hành động thiết thựcnhằm bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường sinh thái vì sự sống của conngười và sự phát triển bền vững của xã hội
2 HỆ SINH THÁI NHÂN VĂN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG HỆ SINH THÁI NHÂN VĂN
2.1 Khái niệm.
Hệ sinh thái nhân văn là hệ sinh thái chịu ảnh hưởng gián tiếp hay trựctiếp của con người Nó là một hệ sinh thái bao gồm các hệ sinh thái nôngnghiệp, công nghiệp, hệ sinh thái vùng núi, đại dương, thảo nguyên, vùng cực,
2.2 Phát triển bền vững hệ sinh thái nhân văn.
2.2.1 Khái niệm.
Theo Ủy ban quốc tế về Môi trường và Phát triển (WCED) thì phát triểnbền vững là phát triển để đáp ứng những nhu cầu của thế hệ nay mà không làmtổn hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế hệ sau
Trang 8Khái niệm phát triển bền vững của Hiệp hội quốc tế về Bảo vệ thiênnhiên (IUCN), của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc(UNEP) và củaQuỹ quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên(WWF,1991) là một hình thức phát triểnnhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của con người trong phạm vi khả năngchịu đựng của các hệ nuôi dưỡng sự sống Và hệ thống nuôi dưỡng sự sống làquá trình sinh thái giữ vững được năng suất, sự thích ứng và khả năng tái tạocủa đất nước hay sinh quyển nói chung Sử dụng bền vững là sử dụng một sinhvật một hệ sinh thái hoặc một nguồn tài nguyên tái tạo khác ở một mức độtrong phạm vi khả năng có thể còn hồi phục của nó.
Xã hội được coi là bền vững sinh thái khi:
1 Bảo vệ được các hệ sinh thái cung cấp sự sống và tính đa dạng sinhhọc;
2 Bảo đảm sự dụng tài nguyên tái tạo bền vững và giảm tối thiểu việclàm giảm nguồn tài nguyên không tái tạo
3 Giữ trong khả năng chịu đựng được của các hệ nuôi dưỡng sự sống
2.2.2 Vấn đề phát triển bền vững hệ sinh thái nhân văn.
2.2.2.1 Lỗ thủng tầng ozon.
* Sự suy giảm tầng ozon.
Sự suy giảm tầng ozon là hiện tượng giảm lượng ozon trong tầng bìnhlưu Từ năm1979 cho đến năm 1990 lượng ozon trong tầng bình lưu đã suygiảm vào khoảng 5% Vì lớp ozon ngăn cản phần lớn các tia cực tím có hạikhông cho xuyên qua bầu khí quyển Trái đất, sự suy giảm ozon đang đượcquan sát thấy và các dự đoán suy giảm trong tương lai đã trở thành một mốiquan tâm toàn cầu, dẫn đến việc công nhận Nghị định thư Montreal hạn chế vàcuối cùng chấm dứt hoàn toàn việc sử dụng và sản xuất các hợp chất cacbon
của clo và flo (CFC - chlorofluorocacbons) cũng như các chất hóa học gây suy
giảm tầng ozon khác như tetraclorit cácbon, các hợp chất của brôm(halon)
và methylchloroform
Sự suy giảm ozon thay đổi tùy theo vùng địa lý và tùy theo mùa Lỗthủng ozon dùng để chỉ sự suy giảm ozon nhất thời hằng năm ở hai cực Tráiđất, những nơi mà ozon bị suy giảm vào mùa Xuân (cho đến 70% ở 25 triệu
Trang 9km2 của Nam Cực và cho đến 30% ở Bắc Cực) và được tái tạo trở lại vào mùahè.
* Nguyên nhân suy giảm tầng ozon.
Nhiều hoạt động nhân tác đã tác động lên tầng khí quyển mà trực tiếplàm phá hủy tầng ozon, bằng cách đó làm thay đổi cường độ bức xạ mặt trời,tạo điều kiện cho phản ứng hóa quang Trong các phản ứng làm tăng hoặc tiêugiảm khí ozon đều có sự tham gia của tia cực tím
Nồng độ clo tăng cao trong tầng bình lưu, xuất phát khi các khí CFC vàcác khí khác do loài người sản xuất ra bị phân hủy, chính là nguyên nhân gây ra
sự suy giảm này
Sự phá hủy tầng ozon nhiều nhất là do khí NO và NO2 – là chất thải củacác loại máy bay hàng không, các vụ thử vũ khí hạt nhân
Trang 10Sự phá hủy tầng ozon còn do chất thải của các hoạt động công nghiệpđóng gói, làm lạnh, tủ lạnh là nguyên nhân dẫn đến phá hủy tầng ozon Các nhàchuyên môn cho rằng đến hết thế kỉ XX lượng khí ozon sẽ giảm từ 5 - 10%đến 20 – 30%
* Tác động của sự suy giảm tầng ozon.
Ngày nay tầng ozon đang bị phá hủy nghiêm trọng ở nhiều vùng trongkhí quyển của chúng ta, sự suy giảm tầng ozon sẽ làm thay đổi chu trình luânchuyển dòng khí của tầng đối lưu, góp phần làm tăng bức xạ của tia cực tím ởsinh quyển sống, phát sinh bệnh tật (ung thư da…) Hiện tượng này được nhìnnhận như một vấn đề môi trường rất nghiêm trọng, là một mối nguy hiểm tiềmtang đang đe dọa sự sống trên Trái Đất Đây cũng là một thí dụ cho thấy tácđộng phá hủy môi trường do con người gây ra, mà sự hủy hoại xảy ra ở rất xanơi gây tác động
Ở Việt Nam, theo số liệu của đề tài KT/02 thì năm 1990 trung bìnhlượng khí thải NOx vào môi trường ở miền Bắc là 115.484 tấn, miền Trung là22.745 tấn, miền Nam là 37.330 tấn
2.2.2.2 Hiệu ứng nhà kính
* Hiệu ứng nhà kính và tác hại của nó.
Ánh sáng Mặt trời rọi về Trái đất bị tầng ozon hấp thu khoảng 15% nănglượng, gần 40% được phản xạ vào không gian vũ trụ Chỉ còn dưới 50% nănglượng xuyên tới mặt đất, đây là nguồn năng lượng tạo nên sự tồn tại và pháttriển của sự sống
Trang 11Một phần năng lượng mặt trời tới được mặt đất cũng lại bị phản xạ vàokhí quyển, bị CO2 và một số loại khí khác giữ lại, làm cho khí quyển nóng lên.
Đó là hiệu ứng nhà kính Khí quyển đã đóng vai trò như một nhà kính, tương tựnhư loại nhà kín làm bằng kính để trồng một số cây vào mùa đông hoặc ở vùngkhí hậu lạnh giá khắc nghiệt
Trong vòng 10.000 năm qua, nhiệt độ trung bình trong năm trên TráiĐất tăng không quá 1oC Các chuyên gia dự đoán nếu mọi sự cứ diễn ra nhưhiện nay thì tới cuối thế kỷ XXI nhiệt độ chung trên Trái Đất sẽ cao hơn ngàynay từ 2oC đến 5oC Sự gia tăng nhiệt độ sẽ rõ rệt hơn ở các miền vĩ độ Bắc cao
và về mùa đông Khí quyển nóng lên làm cho nước bốc hơi nhiều hơn, lượnghơi nước trong khí quyển tăng lại làm tăng hiệu ứng nhà kính, dẫn đến ảnhhưởng tới sự phân bố nhiệt độ và lượng mưa, làm thay đổi nhiệt độ các vùng,tác động tới năng suất nông nghiệp, sự cung cấp nước và năng lượng
Nhiệt độ tăng sẽ làm tan băng trên núi cao và ở hai địa cực, nhất là ởNam cực nơi có 90% lượng băng trên Trái Đất Điều này làm cho mực nướcbiển dâng lên, đe dọa vùng ven biển là nơi sinh sống của một nửa số dân thếgiới Người ta dự đoán nếu con người không tích cực làm giảm hiệu ứng nhàkính thì tới cuối thế kỷ XXI, mực nước biển có thể dâng cao thêm từ 20cm đến1m