CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP ......................................................................................................11.1Khái niệm và mục tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp ......................................11.1.1Khái niệm ...............................................................................................................11.1.2 Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp....................................................21.2 Công tác phân tích tài chính doanh nghiệp.............................................................41.2.1 Xây dựng quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp..........................................41.2.2 Thu thập và xử lý thông tin ...................................................................................51.2.3 Lựa chọn phương pháp phân tích tài chính........................................................101.2.4 Xác định nội dung phân tích tài chính ................................................................131.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác phân tích tài chính doanh nghiệp............251.3.1 Các nhân tố khách quan .....................................................................................251.3.2 Các nhân tố chủ quan .........................................................................................26Chương 2: THỰC TRẠNG CƠNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC VIỆT NAM.............................272.1 Tổng quan về Công ty TNHH phát triển công nghệ giáo dục Việt Nam ............272.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển ......................................................................... 2 2.1.2 Đặc điểm sản xuất và kinh doanh .......................................................................... 2.1.3 Tổ chức bộ máy quản lý hoạt động sản xuất kinh doa ...................................... 2.1.4 Kết quả kinh doanh của Công t ....................................................................... 3 2.2 T ực trạng công tác phân tích tài chính của Công ty TNHH phát triển công nghệ giáo dục Việt Na ............................................................................................ 3 2.2.1 Công tác tổ chức hoạt động phân tíc .................................................................. 3
Trang 1M ỤC L ỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU
v CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1
1.1Khái niệm và mục tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp 1
1.1.1Khái niệm 1
1.1.2 Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp 2
1.2 Công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 4
1.2.1 Xây dựng quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp 4
1.2.2 Thu thập và xử lý thông tin 5
1.2.3 Lựa chọn phương pháp phân tích tài chính 10
1.2.4 Xác định nội dung phân tích tài chính 13
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 25
1.3.1 Các nhân tố khách quan 25
1.3.2 Các nhân tố chủ quan 26
Chương 2: THỰC TRẠNG CƠNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC VIỆT NAM 27
2.1 Tổng quan về Công ty TNHH phát triển công nghệ giáo dục Việt Nam 27
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 2
2.1.2 Đặc điểm sản xuất và kinh doanh
2.1.3 Tổ chức bộ máy quản lý hoạt động sản xuất- kinh doa
2.1.4 Kết quả kinh doanh của Công t 3
Trang 22.2 T ực trạng công tác phân tích tài chính của Công ty TNHH phát triển
công nghệ giáo dục Việt Na 3
2.2.1 Công tác tổ chức hoạt động phân tíc 3
2.2.2 Lựa chọn và xử lý thông ti 3
2.2.3 Phương pháp phân tích tài chính được sử dụng tại Công t 3
2.2.4 Nội dung phân tích tài chính của Công t 4
2.3 Đánh giá công tác phân tích tài chính của Công ty TNHH phát triển công nghệ giáo dục Việt Na 4
2.3.1 Những kết quả đạt đượ 4
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhâ 4
Chương 3: Một số giảI pháp nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính của Công ty TNHH phát triển công nghệ giáo dục Việt Na 4
3.1 Định hướng phát triển của Công ty trong thời gian tớ 4
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính của Công t 5
3.2.1 Giải pháp về tổ chức công tác phân tíc 5
3.2.2 Hoàn thiện thông tin sử dụng trong phân tíc 5
3.2.3 Hoàn thiện phương pháp phân tíc 5
3.2.4 Hoàn thiện nội dung phân tích tài chín 5
3.3 Một số kiến ngh 5
3.3.1 Kiến nghị với các bộ ngàn 5
3.3.2 Kiến nghị với Nhà nướ 5
PHẦN KẾT LUẬ 5
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢ 6
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ Đ
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức bộ máy hoạt động công ty TNHH phát triển côngnghệ giáo dục ViệtNam
Bảng 2.1: Báo cáo kết quả hoạt đông kinh doanh năm 2007 – 200
Bảng 2.2: Bảng cân đối kế toán năm 2007 – 2
9
Bảng 2.3: Tình hình tăng giảm vốn chủ sở hưu và các
ỹ
Trang 5Bảng 3.1: Chỉ tiêu kế hoạch năm 2
PHẦN MỞ
Trang 6Trong điều kiện kinh tế thị trường, các doanh nghiệp muốn tồn tại, đứngvững và ngày càng phát triển, đòi hỏi phải có một tiềm lực tài chính mạnh mẽ đểtiến hành sản xuất kinh doanh và cạnh tranh có hiệu quả Mặt khác, theo đà pháttriển của nền kinh tế, các mối quan hệ kinh tế tài chính ngày càng trở nên phongphú và phức t
Vì vậy, vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải thường xuyên tiến hànhcông tác phân tích tài chính và không ngừng hoàn thiện công tác này, trên cơ sở đó,định hướng cho các quyết định nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, cảithiện tình hình tài chính của doanh nghiệp Thực tiễn đã chứng minh, nếu các nhàquản trị doanh nghiệp quan tâm đúng mức tới công tác phân tích tài chính thì họ sẽ cónhững quyết định đúng đắn và có nhiều cơ hội thành đạt trong kinh doanh, ngược lại
họ sẽ khó tránh khỏi những quyết định tài chính sai lầm và thất b
Công ty TNHH phát triển công nghệ giáo dục ViNamệt l à một công ty hoạtđộng trong lĩnh vực giáo dục Công tác phân tích tài chính của Công ty đã bướcđầu được quan tâm và có nhiều tiến bộ, tuy nhiên vẫn không tránh khỏi những khókhăn, hạn c
Nhận thức được tầm quan trọng của phân tích tài chính, nghiên cứu thựctrạng công tác phân tích tài chính của Công ty, sau thời gian thực tập tại phòng Tàichính - Kế toán, được sự giúp đỡ của Ban Giám đốc, các cơ, chú trong phòng tài
chính - kế oán và th ầy giáo hướng dẫn TS Đinh Ngọc Dinh em đã lựa chọề tài “
H ồn thiện công tác Phân tích tài chính doanh nghiệp của Công ty TNHH phát triển công nghệ giáo dc Việt Nam ” làm đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của
mình Em xin chân thành cảm ơn các cơ, các chú trong Công ty TNHH phát triển
Trang 7công nghệ giáo dục Việt Nam và thấy giáo Đinh Ngọc Dinh đã tận tình giúp đỡ
Trang 8VIỆT NAM
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN
ÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH C
các cá nhân
Ở Việt Nam, theo Lut doanh nghiệp : doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có
tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh - tức
là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục
ích sinh lợi
Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanhnghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủyếu là: quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước, quan hệ giữa doanh nghiệp với
Trang 9thị trường tài chính, quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác, quan hệtrong nội bộ doanh nghiệp Việc quản lý tài chính luôn luôn giữ một vị trí trọngyếu trong hoạt động quản lý của doanh nghiệp, nó quyết định tính độc lập, sựthành bại của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh, đặc biệt trong xu thế hộinhập khu vực và quốc tế, trong điều kiện cạnh tranh đang diễn ra khốc liệt trênphạm vi toàn thế giới, quản lý tài chính càng trở nên quan trọng h
hệ thông tin.
Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ
và chất lượng hiệu quả hoạt động của d
nh nghiệp đó
Quy trình thực hiện phân tích tài chính ngày càng được áp dụng rộng rãitrong mọi đơn vị kinh tế được tự chủ nhất định về tài chính như các doanh nghiệpthuộc mọi hình thức, các tổ chức xã hội, tập thể và các cơ quan quản lý, tổ chứccông cộng Đặc biệt sự phát triển của các doanh nghiệp, các ngân hàng và của thịtrường vốn đã tạo nhiều cơ hội để phân tích tài chính chứng tỏ thực sự là có ích vàvô
và là cơ sở để dự báo về tình hình tài chính, đưa ra các quyết định tài chính Bởi
Trang 10vậy, phân tích tài chính là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như:Ban giám đốc, các nhà đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ, các khách hàng, các nhàquản lý, kể cả các cơ quan Nhà nước và bản thân người lao động trong doanhnghiệp Mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên cácgóc độ khác nhau, sử dụng các chỉ số và các thông tin thu được để đưa ra các q
hính của doanh nghiệp
- Định hướng các quyết định của Ban giám đốc cũng như của Giám đốc tàichính: quyết định về đầu tư, tài trợ, ph
Phân tích tài chính làm nổi bật tầm quan trọng của dự báo tài chính và là cơ
sở cho các nhà quản trị, làm sáng tỏ không chỉ chính sách tài chính mà còn làm
Trang 11các chnh sách chung.
Phân tí ch tài
ính với các nhà đầu tư
Các nhà đầu tư có thể là các cá nhân hoặc các tổ chức đã giao vốn chodoanh nghiệp - là cổ đông của doanh nghiệp hoặc là những người có vốn nhưngchưa đầu tư và đang có nhu cầu sử dụng vốn mua cổ phiếu của doanh nghiệp Thunhập của các nhà đầu tư sẽ là tiền chia lợi tức và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư(thu nhập trên cổ phiếu), hai yếu tố này chịu ảnh hưởng của lợi nhuận kỳ vọng củadoanh nghiệp Ngoài ra, một phần không nhỏ thu nhập mà các nhà đầu tư kỳ vọng
là phần giá trị tăng thêm của vốn đầu tư do sự biến động của giá
ổ phiếu trên thị trường
Các nhà đầu tư thường không hài lòng với lợi nhuận tính theo sổ sách kếtoán mà họ thường dựa vào kết quả phân tích tài chính của các nhà chuyên môn để
dự báo vể triển vọng của doanh nghiệp, đánh giá cổ phiếu của doanh nghiệp Họrất quan tâm tới tình hình thu nhập của chủ sở hữu, tới khả năng sinh lời của doanhnghiệp Đó là một trong những căn cứ giúp nhà đầu tư ra quyết định có bỏ vốn vàodoanh nghiệp hay không, có nên mua thêm hay bán cổ
hiếu mà họ đang nắm giữ?
Phân tích t
chính với người cho vay
Người cho vay phân tích tài chính để nhận biết khả năng vay và trả nợ củakhách hàng Chẳng hạn, để quyết định cho vay, một trong những vấn đề mà ngườicho vay cần xem xét là doanh nghiệp có thực sự có nhu cầu vay hay không? Khảnăng trả nợ của doanh nghiệp như thế nào? Vì vậy việc phân tích tài chính kháchhàng là rất cần thiết nhằm mục tiêu xác định rõ hiện trạng tài chính của kháchhàng: giá trị tài sản, tình hình công nợ, khả năng thanh toán Dự báo về tình hìnhtài chính của khách hàng trong tương lai, dự báo về các rủi ro có thể xảy ra ảnhhưởng đến khả
ng trả nợ của khách hàng
Việc phân tích tài chính đối với những khoản nợ dài hạ
và ngắn hạn là khác nhau:
Trang 12- Nếu là những khoản cho vay ngắn hạn, người cho vay đặc biệt quan tâmđến khả năng thanh to
nhanh của doanh nghiệp
- Nếu là những khoản vay dài hạn, người cho vay phải tin chắc khả nănghoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và lãi sẽ tuỳthuộ
vào khả năng sinh lời này.
Phân tích tài chính với những người hưở
lương trong doanh nghiệp
Khoản tiền lương nhận được từ doanh nghiệp luôn là nguồn thu nhập đáng
kể của những người lao động trong doanh nghiệp vì vậy kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ có tác động lớn đến tiền lương và thu nhậpkhác của họ Ngoài ra, trong một số doanh nghiệp, người lao động được tham giamua một lượng vốn cổ phần nhất định, nên có quyền lợi và trách nhiệm gắn vớidoanh nghiệp như một nhà đầu tư Do đó họ rất quan tâm đến tình
nh tài chính doanh nghiệp
Ngoài ra, phân tích tài chính cũng rất cần thiết đối với một số đối tượngkhác như các cán bộ thuế, thanh tra, cảnh sát kinh tế, luật sư…Dự họ công tác ởcác vị trí khác nhau, nhưng họ đều muốn hiểu biết về hoạt động của doanh nghiệpnhằm
ục vụ cho côngviệc của mình.
1.2 Công tác p
n tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Xây dựng qu trình ph
tích tài chính doa nh nghiệp
Phân tích tài chính có ý nghĩa quyết định đến kết quả hoạt động sản xuấtkinh doanh, vì vậy công tác phân tích tài chính phải có hiệu quả, mang lại nhữngthông tin chính xác, đầy đủ phục vụ cho việc ra quyết định của người sử dụngthông tin Muốn vậy, công tác phân tích tài chính cần phải được tổ chức thực hiệntheo một quy trình hoàn thiện với nguồn thông tin chất lượng, với phương pháp vànội dung phân tích phù hợp, khoa hoc Công tác phân tích tài chính có thể
Trang 13ợc tiến hành theo các bước sau:
Bước 1:
huẩn bị cho công tác phân tích
- Xác định mục tiêu, kế hoạch phân tích, từ đó lập ra các kế hoạch chi tiết
về nguồn thông tin sử dụng, thời gian tiến hành phân tích, số lượng nhân sự, yêucầu trình độ, chuyên môn cán bộ cần cho công tác phân tích, tổ c
c phân công công việc khoa học…
- Lập kế hoạch phối hợp giữa các b
phận trong quá trình phân tích
- Lựa chọn các phương pháp và nội dung phân tíc
nhằm hoàn thành mục tiêu đề ra
- Thu thập và xử lý sơ bộ các nguồn thông tin
n trong và bên ngoài doanh
hiệp
Bước 2: Tiến hành phân tích
- Tính toán các chỉ tiêu, nhóm chỉ tiêu tài chính cần thiết, trên cơ sở đó, tuỳtheo góc độ nghiên cứu khác nhau mà sẽ đi sâu vào ph
tích các nội dung có liên quan
- Lập bảng biểu để so sánh, phân tích các chỉ tiêu đã tính toán, nhằm tìm ranguyên nhân gây
thực trạng của tình hình tài chính.
Bước 3
Báo cáo kết quả phân tích tài chính
- Đưa ra nhận xét đánh giá về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Dựa vào đó, đề xuất những giải pháp nhằm phát huy những
ành công và khắc phục những hạn chế
- Lập k
hoạch, dự báo tài chính cho năm t
Trang 141.2.2 Thu thập và
ử lý thông tin
* Thu thập thông tin
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải, thuyếtminh thực trạng hoạt động tài chính của doanh nghiệp, phục vụ quá trình dự đoántài chính Nó bao gồm cả những thông tin nội bộ và những thông tin bên ngoài,những thông tin kế toán và cả những thông tin quản lý khác, những thông tin về sốlượng và giá trị trong đó các thông tin kế toán phản ánh tập trung trong các báocáo tài chính
à những nguồn thông tin đặc biệt
uan trọng
Thông tin bên ngoài doanh nghiệp
Trong thông tin bên ngoài, doanh nghiệp cần lưu ý thu thập những thông tinchung (thông tin liên quan đến trạng thái nền kinh tế, cơ hội kinh doanh, chínhsách thuế, lãi suất), thông tin về ngành kinh doanh (thông tin liên quan đến vị trícủa ngành trong nền kinh tế, cơ cấu ngành, các sản phẩm của ngành tình trạngcông ng
, thị phần, hệ thống hỉ tiêu trung bình ngành)
- Các thông tin chung : hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệpchịu tác động của nhiều yếu tố thuộc môi trường kinh tế vĩ mô, nên khi tiến hànhphân tích tài chính doanh nghiệp nhà phân tích cần đặt tình hình của doanh nghiệptrong bối c
h chung của nền kinh tế trong nước và khu vực
Sự suy thoái hoặc tăng trưởng của nền kinh tế có tác động mạnh mẽ đến cơhội kinh doanh, đến sự biến động của các yếu tố đầu vào và thị trường tiêu thụ sảnphẩm đầu ra, từ đó tác động đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Khi các tác động diễn ra theo chiều hướng có lợi, hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp được mở rộng, lợi nhuận tăng và nhờ đó kết quả kinhdoanh trong năm là khả quan Tuy nhiên, khi các tác động diễn ra theo chiềuhướng bất lợi, nó sẽ tác động xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Ngoài ra, các chính sách thuế như thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập
Trang 15khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế thu nhập doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đếncác quyết định tài trợ và sản xuất của doanh nghiệp Bên cạnh đó các cơ hội kinhdoanh, các định hướng phát triển kinh tế của Nhà nước, sự ổn định chính trị, xãhội…cũng ảnh hưởng không
ỏ tới kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Chính vì vậy, để có sự đánh giá một cách khách quan, chính xác về tìnhhình tài chính của doanh ngiệp chúng ta phải xem
t cả các thông tin kinh tế b ân ngài có liên quan.
- Các thông tin theo ngành kinh tế : Nội dung nghiên cứu trong phạm vingành là việc đặt sự phát triển của doanh nghiệp trong mối
ên hệ với các hoạt động chung của
+ Độ lớn của thị trường và triển vọng phát triển
Thông tin theo ngành kinh tế đặc biệt là hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành
là cơ sở tham chiếu để người phân tích có thể đánh giá
kết luận chính xác về tình hình tài
Trang 16hính doanh nghiệp.
Thông tin trong nội bộ doanh nghiệp
Để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của một doanh nghiệp, cóthể sử dụng thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp như là một nguồn thôngtin quan trọng bậc nhất Đó là các thông tin tổng quát về tình hình tài sản, sự hìnhthành tài sản, sự vận động và thay đổi của chúng qua mỗi chu kỳ kinh doanh củadoanh nghiệp Tất cả các thông tin n
được phản ánh khá đầy đủ trong cá
báo cáo tài chín Hệ thống báo cáo tài chính gồm có:
Bảng cân đối kế toán : Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tảtình trạng tài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó Đây
là một báo cáo tài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi đối tượng có quan
hệ sở hữu, quan hệ kinh doanh và quan hệ quản lý với doanh nghiệp Thôngthường, Bảng cân đối kế toán được trình bày dưới dạng bảng cân đối số dư các tàikhoản kế toán: Một bên
ản ánh tài sản và một bên phản ánh nguồn vốn của doanh nghiệp
Bên tài sản của Bảng cân đối kế toán phản ánh giá trị của toàn bộ tài sảnhiện có tại thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanhnghiệp bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu động Bên nguồn vốn phản ánh sốvốn để hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo: đó
là vốn chủ sở hữu và các khoản nợ Các khoản mục trên Bảng cân đối kế toánđược sắ
xếp theo khả năng chuyển hoá thành tiền giảm dần từ trên xuống dưới
Về mặt kinh tế, bên tài sản phản ánh quy mô vốn và kết cấu các loại tài sản;bên nguồn vốn phản ánh cơ cấu tài trợ, cơ cấu vốn cũng như khả năng độc lập vềtài chính của doanh nghiệp Bên tài sản và bên nguồn vốn của Bảng cân đối kếtoán đều có các cột chỉ tiêu: số đầu kỳ, số cuối kỳ Ngoài các khoản mục trong nộibảng còn có một số khoản mục ngoài Bảng cân đối kế toán như: Một số tài sảnthuê ngoài, vật tư
hàng hoá nhận giữ hộ, nhận gia công, hàng hoá nhận bán hộ, ngoại tệ cácloại…
Trang 17Mặt hạn chế của Bảng cân đối kế toán cũng như của các báo cáo tài chínhnói chung làm ảnh hưởng đến công tác phân tích tình hình tài chính, đó là dữ liệu
chúng cung cấp thuộc về quá khứ trong khi phân tích lại hướng đến tươnglai
Tuy nhiên, Bảng cân đối kế toán vẫn là một tư liệu quan trọng bậc nhấtgiúp cho các nhà phân tích đánh giá được khả năng cân bằng tài chính, khả năngthanh toán và khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp Nhìn vào Bảng cân đối kếtoán, nhà phân tích có thể nhận bi
được loại hình doanh nghip, quy mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh
nó cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềmnăng về vố
lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất - kinh doanh của doanhnghiệp
Nội dung của Báo cáo kết quả kinh
anh là chi tiết hoá của các chỉiêu của đẳng thức tổng quát quá trình kinh doanh:
Doanh thu – Chi phí = Lợi nhuận
Từ đó Báo cáo kết quả kinh doanh cho biết tình hình sản xuất - kinh doanhcủa doanh nghiệp trong năm là lỗ hay lãi Báo cáo kết quả kinh doanh bao gồmcác khoản mục: doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh thu từ hoạtđộng tài chín
doanh thu từ các hoạt động bất thường và chi phí tương ứng với từng hoạtđộng đó
Hạn chế của Báo cáo kết quả kinh doanh là các chỉ tiêu chi phí phụ thuộcvào quan điểm của kế toán trong quá trình hoạch toán, doanh thu bán hàng được
Trang 18ghi nhận ngay khi khách hàng chấp nhận thanh toán, trong khi việc thanh toán tiềnhàng lại xảy ra vào m
thời điểm khác Nhược điể này dẫn đến sự cần thiết của Báo cáo lưu
chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ : Để đánh giá một doanh nghiệp có đảm bảođược chi trả hay không, cần tìm hiểu tình hình Ngân quỹ của doanh nghiệp Ngânquỹ thường được xác định cho thời hạn ngắn (thường là từng tháng), xác địnhhoặc dự báo dòng tiền thực nhập quỹ từ hoạt động kinh doanh; dòng tiền thựcnhập quỹ từ hoạt động đầu tư, dòng tiền thực nhập quỹ từ hoạt động bất thường.Xác định dự báo dòng tiền thực xuất quỹ bao gồm: Dòng tiền xuất quỹ thực hiệnsản xuất kinh doanh, dòng tiền xuất quỹ thự
hiện hoạt động đầu tư, tài chính; dòng tiền xuất quỹ thực hiện hoạt động bấtthường
Về cơ bản có hai phương pháp lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Phương
pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp Phương pháp trực tiếp đơn giản vớingười lập và dễ dàng cho người đọc thuộc mọi đối tượng, bắt đầu từ tiền thu bán
hàng, đi qua tất cả các nghiệp vụ kinh tế có liên quan đến chi, thu tiền thực tế để
đến dòng ngân lưu Phương pháp gián tiếp khá trừu tượng dựa vào các suy luậnngược, bắt đầu từ lợi nhuận ròng sau đó điều chỉnh các khoản hạch toán thu chikhông dùng đến tiền mặt, loại trừ các khoản lỗ lãi từ hoạt động đầu tư và hoạtđộng tài chính, sau đó điều chỉnh những thay đổi của tài sản lưu động trên bảngcân đối kế toán, để đi đến dòng ngân lưu Phương
áp gián tiếp nói rõ mối quan hệ giữa Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kếtquả kinh doanh
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cùng với Báo cáo kết quả kinh doanh, Bảng cânđối kế toán chỉ ra được chất lượng của lợi nhuận Báo cáo lưu chuyển tiền tệ còngiúp nhà phân tích giải thích được nguyên nhân thay đổi về tình hình tài sản,nguồn vốn, khả năng thanh toán của doanh nghiệ
và thiết lập mức ngân quỹ dự hòng tối thiểu cho doanh nghiệp nhằm mục
tiêu đảm bảo chi trả
Thuyết minh báo cáo tài chính : Đây là báo cáo quan trọng được trình bàybằng lời văn nhằm giải thích thêm chi tiết của những nội dung thay đổi về tài sản,nguồn vốn mà các dữ liệu bằng số trong các báo cáo tài chính không thể thể hiện
Trang 19hết được như: đặc điểm hoạt động kinh doanh (hình thức sở hữu, hình thức hoạtđộng, lĩnh vực kinh doanh…), chế độ kế toán áp dụng tại doanh nghiệp, phươngthức phân bổ chi phí, phương thức trích khấu hao, tỉ giá hối đoái được dựng đểhạch toán trong kỳ, sự thay đổi trong
ầu tư, ài sản cố định, vốn chủ sở hữu, tình hình thu nhập của nhân viên và
vào mục đích của ông tác phân tích tài chính, nhà phân tích sẽ lựa chọn
thông tin cho phù hợp
* Xử lý thông tin : Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình
xử lý thông tin đã thu thập được Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ởcác góc độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau, có phương pháp xử lí thông tin khácnhau phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra Xử lý thông tin là quá trình sắp xếp cácthông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích,
nh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được phục vụ cho quátrình dự đoán và quyết định
Tuy nhiên phân tích tài chính không có ý nghĩa khi chỉ đơn thuần là côngviệc tổng hợp và sắp xếp số liệu trong khi các đối tượng tài chính cần nghiên cứulại luôn luôn biến động về số lượng và trạng thái tồn tại Cho nên ở bước này, cácnhà phân tích tài chính phải biết đặt một đối tượng tài chính này trong mối quan hệbiện c
ng với các đối tượng khácvà trong mối liên hệ với các tiêu chuẩn, các định
Trang 20các quyết định tài chính Đối với chủ doanh nghiệp phân tích tài chính nhằm đưa
ra các quyết định liên quan tới mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tăngtrưởng, phát triển, tối đa hoá giá trị xí nghiệp Đối với người cho vay và đầu tư vào
xí nghiệp là đưa ra các quyế
định về tài trợ và đầu tư, đối với cấp trên của doanh nghiệp đưa ra các quyếtđịnh quản lý doanh nghiệp …
Tuy nhiên hiệu quả của công tác dự đoán và ra quyết định tài chính còn phụthuộc vào trình
chuyên môn của các nhà nhân tích cũng như nhữ
người sử dụng thông tin từ hoạt động phân tích tài chính
1.2.3 Lựa chọn phương pháp phân tích tài chính
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ vàbiện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối liên hệ bêntrong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và b
n đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giátình hình tài chính doanh nghiệp
Lựa chọn phương pháp phân tích tài chính là một nội dung cơ bản của côngtác phân tích tài chính trong các doanh nghiệp, là chìa khó để cung cấp thông tincho nhà quản trị theo các lợi ích khác nhau Xuất phát từ đặc điểm hoạt động kinhdoanh của từng bộ phận, từng doanh nghiệp khác
au trong quá trình phân tích có thể vận dụng những phương pháp cho phùhợp với mục đích của việc nghiên cứu
Về lý thuyết có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh n
iệp nhưng trên thực t
người ta thường sử dụng phương pháp so sánh, phương pháp tỷ số vàphương pháp Dupont
* Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp sử dụng phổ biến và quan trọngtrong phân tích kinh tế nói riêng và phân tích tài chính nói chung Theo phươngpháp này, nhà phân tích thường đối chiếu các chỉ tiêu kinh tế với nhau để thấyđược mức độ biến động của các đối tượn
Trang 21đang nghiên cứu Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, ít tính toán khiphân tích nên được sử dụng rộng rãi.
Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện để có thể
so sánh được của các chỉ tiêu tài chính (thống nhất về không gian, thời gian, nộidung, tính chất và đơn vị tính toán ) và theo mục đích phân tích mà xác định gốc
so sánh Gốc so sánh được chọn là gốc về mặt thời gian hoặc không gian, kỳ phântích được lựa ch
là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế
oạch, giá trị so sánh có thể lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc sốbình quân
Nội dung so sánh bao gồm:
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xuhướng
ay đổi về tài chính doanh nghiệp Đánh giá sự tăng trưởng hay thụt lùi tronghoạt độn
kinh doanh của doanh nghiệp
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu củadoanh nghiệp
- So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của ng
h, của các doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanhnghiệp mình tốt hay xấu, được hay chưa được
- So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổngthể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ đ
thấy được sự biến đổi cả về số tương đối và số tuyệt đối của một chỉ tiêunào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp
Phương pháp này thường được áp dụng rộng rãi trong hầu hết các doanhnghiệp vì tính đơn giản, dễ thực hiện lại đánh giá được rất nhiều các chỉ tiêu kinh
tế, đặc biệt là các doanh nghiệp thường xuyên xây dựng đ
h mức, kế hoạch, d
nh nghiệp thuộc các ngành đã xây dựng được hệ thống chỉ tiêu trung bìnhngành để làm chuẩn mực
Trang 22*Phương pháp tỷ số
Phương pháp truyền thống được áp dụng trong phân tích tài chính làphương pháp tỷ số Phương pháp tỷ số là phương pháp trong đó các tỷ số được sửdụng để phân tích, đó là các tỷ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉtiêu khác Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụngngày càng được bổ sung và hoàn thiện do nguồn thông tin kế toán và tài chínhđược cải tiến, cung cấp đầy đủ hơn là cơ sở để hình thành những tỷ lệ tham chiếuđáng tin cậy; việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích luỹ
liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán các tỷ số, hệ thống được hàngloạt các tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực của các tỷ số của đại lượngtài chính trong các quan hệ tài chính Sự biến đổi các tỷ số phản ánh sự biến đổicủa các đại lượng tài chính Các tỷ số này được phân thành các nhóm tỷ số đặctrưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động của doanhnghiệp Bao gồm nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán, nhóm chỉ tiêu về cơ cấuvốn, nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động và nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời.Mỗi nhóm tỷ số lại bao gồm nhiều tỷ số phản ánh riêng lẻ từng bộ phận hoạt độngtài chính trong mỗi trường hợp khác nh
, tuỳ theo giác độ phân tích, người phân tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêukhác nhau để phục vụ mục tiêu phân tích của mình
Cũng như phương pháp so sánh,phương pháp tỷ số đơn giản và được sửdụng ở rất nhiều doanh nghiệp, nó yêu cầu phải xác định được các ngưỡng, cácđịnh mức, để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở sosánh các tỷ số của doanh nghiệp với tỷ lệ tham ch
Trang 23ự chú ý của giới chuyên môn vì tính hữu dụng của nó và dưới nhiều hìnhthức được áp dụng rộng rãi tại các công ty lớn ở Mỹ.
Bản chất của phương pháp phân tích tài chính Dupont là tách một tỷ sốtổng hợp thành tích của chuỗi các tỷ số có mối liên hệ nhân quả với nhau Điều đócho phép phân tích những ảnh hưởng của các tỷ số thành phần với tỷ số tổng hợp.Với phương p
p này, các nhà phân tích có thể nhận ra những nguyên nhân dẫn đến cáchiện tượng tốt, xấu trong hoạt đ
a doanh nghiệp
Ví dụ từ chỉ tiêu doanh lợi tài sản - ROA, áp dụng phương pháp Dupont ta
có một cách tính mới như sau:
Với cách tính ROA mới này có thể thấy khả năng sinh lợi của đồng vốndoanh nghiệp bỏ
a đầu tư chịu ảnh hưởng bởi khả năng sinh lợi từ hoạt động tiêu thụ sảnphẩm và hoạt động quản lý tài sản của doanh nghiệp
Phương pháp Dupont rất có hiệu quả trong phân tích, tuy nhiên nó khôngđược áp dụng rộng rãi mà chỉ áp dụng cho các công ty lớn, có đội ngũ cán bộ phântích chuyên trách, có trình độ là do phương pháp này không chỉ đòi hỏi đánh giá
sự tác động của chỉ tiêu th
h phần với chỉ tiêu tổng hợp mà còn sử dụng kinh tế lượng để đánh giá mức
độ tác động của các chỉ tiêu thành phần với nhau
Trong quá trình xây dựng quy trình phân tích tài chính, người làm công tácquản lý phải biết lựa chọn những phương pháp phân tích phù hợp t
thuộc vào ưu nhược điểm, điều kiện áp dụng
a từng phương pháp cũn như đặc điểm, điều kiện cụ thể
ủa doanh nghiệp mình
ROA = LNST / Tài sản = LNST / Doanh thu x Doanh thu / Tài sản
Trang 241.2.4 Xác định nội dung phân tích tài chính
*Phân tích khái quát h oạt động tài chính doanh nghiệp
Qua các số liệu từ Báo cáo kết quả kinh doanh và Bảng cân đối kế toán,chúng ta tiến hành phân tích một cách khái quát nhất tài chính doanh ngh
p để thấy được xu hướng thay đổi của từng khoản mục theo thời gian Việcphân tích được tiến hành ở 3 nội dung chủ yếu sau:
- Về tài sản: so sánh số đầu kỳ với số cuối kỳ về số tuyệt đối và tỷ trọng, ssánh tỷ trọng từng khoản mục bên tài sản với tổng số tài sản hiện có để thấyđược xu hướng biến động của chúng qua các năm
- Về nguồn vốn cũng so sánh tương tự như phần tài sản nhằm r
ra những kết luận chung nhất về khả năng thanh mở rộng hoạt động sảnxuất kinh doanh, về khả năng tài trợ cho các tài sản
- Về kết quả kinh doanh: xem xét sự thay đổi của doanh thu thuần, lợinhuận thuần cũng như tỷ trọng của từng loại chi phí trong tổng doanh thu (giá vốnhàng bán, chi ph
bán hàng, chi phí quản lý) để đánh giá xu hướ
thay đổi của từng chỉ tiêu và đánh giá kết quả kinh doanh của doanhnghiệp
*Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn
Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là xem xét và đánh giá sựthay đổi của các chỉ tiêu cuối kỳ so với đầu kỳ trên Bảng cân đối kế toán về nguồnvốn và cách thức sử dụng vốn của doanh nghiệp Để tiến hành phân tích diễn biếnnguồn vốn và sử dụng vốn trước tiên nhà phân tích tiến hành lập bảng kê ngu
vốn và sử dụng vốn (Bảng tài trợ), nó giúp nhà quản lý xác định rõ cácnguồn cung ứng vốn và việc sử dụng các nguồn vốn đó
Để lập bảng này, trước hết phải liệt kê sự thay đổi các khoản mục trên bảngcân đối kế toán từ đầu kỳ đến cuối kỳ Mỗi sự thay đổi được phân biệt ở hai cột:
Sử dụng vốn và nguồn vốn theo nguyên tắc: nếu các khoản mục bên tài sản tănghoặc các khoản mục bên nguồn vốn giảm thì điều đó thể hiện
Trang 26nh sự tăng (giảm) tiền và nguyên nhân tăng giảm tiền Trên cơ s
đó, doanh nghiệp sẽ có những biện pháp quản lý ngân quỹ tốt hơn
*Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh
Để tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần có tài sản bao gồmTài sản lưu động (TSLĐ) và đầu tư ngắn hạn, Tài sản cố định (TSCĐ) và đầu
dài hạn Để hình thành hai loại tài sản này phải có các nguồn tài trợ tươngứng bao gồm nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn
- Nguồn vốn ngắn hạn là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng trongkhoảng thờ
gian dưới 1 năm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm: nợ ngắn hạn,
nợ quá hạn, nợ nhà cung cấp và nợ phải trả ngắn hạn khác
iữa vốn dài hạn với TSCĐ hay giữa vốn ngắn hạn với T
Đ được gọi là vốn lưu động thường xuyên (hay còn gọi là vốn
u động ròng)
Vốn lưu động thường xuyên = Nguồn vốn dài hạn – TSCĐ
Trang 27hoặc: Vốn lưu động thường xuyên = TSLĐ - Nguồn vốn ngắn hạn
Mức độ an toàn của tài sản ngắn hạn phụ thuộc vào mức độ của vốn lưuđộng thường xuyên Khi vốn lưu động thường xuyên < 0 nguồn vốn dài hạn không
đủ đầu tư cho TSCĐ, doanh nghiệp phải dựng nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư mộtphần TSCĐ TSLĐ của doanh nghiệp không đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán nợngắn hạn đến hạn Nếu vốn lưu động thường xuyên > 0, nguồn vốn dà
hạn dư thừa sau khi đầu tư vào TSCĐ, phần dư thừa đầu tư vào TSLĐ.Đồng thời TSLĐ > nguồn vốn ngắn hạn do vậy khả năng thanh toán tốt
Vốn lưu động thường xuyên = 0 có nghĩa
nguồn vốn dài hạn đủ tài trợ cho TSCĐ và TSLĐ đủ để doanh nghiệp trảcác khoản nợ ngắn hạn, tình hình tài chính như vậy là lành mạnh
Vốn lưu động thường xuyên là một chỉ tiêu tổng hợp rất quan trọng để đánhgiá tình hình tài chính của doanh nghiệp, cho biết doanh nghiệp có đủ
ả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn không và TSCĐ của doanhnghiệp có được tài trợ một cách vững chắc bằng nguồn vốn dài hạn không
Ngoài vốn lưu động thường xuyên nghiên cứu t
Nhu cầu vốn lưu động
thường xuyên = Hàng tồn kho +
Các khoảnphải thu - Nợ ngắn hạn
Vốn bằng tiền = Vốn lưu động
thường xuyên
-Nhu cầu vốn lưu động thường
xuyênhình bảo đảm nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh người ta còn sử dụngcác chỉ tiêu như nhu cầu vốn lưu động thường xuyên và vốn bằng tiền
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên là lượng vốn ngắn hạn doanh nghiệpcần để tài trợ cho một phần TSLĐ, đó là hàng tồn kho và các khoản phải thu Nhucầu vốn lưu động thường xuyên > 0 tức là tồn kho và các khoản phải thu > nợngắn hạn, tại đây các sử dụng ngắn hạn của doanh nghiệp lớn hơn các nguồn vốnngắn hạn, doanh nghiệp phải dựng vốn dài hạn để tài trợ cho phần chênh lệch.Ngược lại, nếu nhu cầu vốn lưu động thường xuyên < 0 nghĩa
Trang 28các nguồn vốn ngắn hạn dư thừa để tài trợ các sử dụng ngắn hạn, doanhnghiệp không cần nhận vốn ngắn hạn để tài trợ cho c
kỳ kinh doanh
Vốn bằng tiền < 0 xảy ra tình trạng mất cân đối trong nguồn vốn ngắn hạn
và dài hạn hoặc mất cân đối trong đầu tư dài hạn
Như vậy, để đảm bảo nguồn vốn và sử dụng vốn kinh doanh đảm bảo sựlành mạnh về tài chính doanh nghiệp, trước tiên phải có vốn lưu động thườngxuyên > 0 Nếu nhu cầu vốn lưu động thường xuyên > 0 phảitìm
ách làm giảm hàng tồn kho, tăng thu từ các k
ản phải thu; nếu nhu cầu vốn lưu động thường xuyên < 0 phải hạn chế vayngắn hạn từ bên n gồi
*Phân tích các chỉ tiêu tài chính trung gian
Phân tích các chỉ tiêu tài chính trung gian nhằm đánh giá chi tiết tình hìnhtài chính và dự báo những điểm m
Thu nhập trước khấu
-Chi phí bán hàng,quản lý
Thu nhập trước thuế
Thu nhập trước khấu
Thu nhập trước thuế = Thu nhập trước thuế
Thu nhập sau thuế = Thu nhập trước thuế - Thuế thu nhập
doanh nghiệp
và điểm yếu của doanh nghiệp Những chỉ tiêu này là cơ sở để xác lậpnhiều hệ số rất có ý nghĩa về hoạt động, cơ cấu vốn…của doanh nghiệp
Trang 29Trên cơ sở đó, nhà phân tích có thể xác định mức tăng tuyệt đối và mứctăng tương đối của các chỉ tiêu qua các thời kỳ để nhận biết tình hình hoạt độngcủa doanh nghiệ
giá khả năng của doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu thanh toán hiện tại và xemxét lợi nhuận để dự tính khả năng trả nợ cuối cùng của doanh nghiệp
Mỗi nhóm tỷ số bao gồm nhiều tỷ số và trong từng trường hợp các tỷ sốđược lựa chọn sẽ phụ thuộc vào bản chất, quy mô của hoạt động phân tích Tuynhiên việc
ân tích các tỷ số sẽ có ý nghĩa hơn nếu sử
ụng số liệu trong các báo cáo tài chính để minh hoạ bản chất, cách tính toán
và ý nghĩa của chúng
Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
Trong quá trình sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp luôn cần huy độngcác nguồn tín dụng để tài trợ cho nguồn vốn thiếu hụt của mình Việc doanhnghiệp có huy động được nguồn vốn tín dụng hay không phụ thuộc vào uy tín vàkhả năng tài chính của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp đảm bảo được khả năngthanh toán các khoản nợ đến hạn thì các chủ ngân hàng, các tổ chức tín dụng yêntâm cho doanh nghiệp vay vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh Họ
uôn đặt ra câu hỏi liệu doanh nghiệp có khả năng trả các khoản nợ tới hạ
Trang 30Khả năng thanh toán hiện hành = TSLĐ
Nợ ngắn hạnhay không? Để trả lời các câu hỏi đó thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
- Hệ số khả năng thanh toán hiện hành (hay khả năng thanh toán ngắn hạn)
Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành là thước đo khả năng thanh toán ngắnhạn của doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ c
các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thànhtiền trong một giai đoạn tương đương với thời hạn của các khoản nợ đó
Giá trị của hệ số này còn phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, ngànhnghề nào mà TSLĐ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản thì hệ số này lớn vàngược lại Nếu hệ số này lớn hơn 1 thì được coi là an toàn, còn hệ số này nhỏ hơn
1 thì doanh nghiệp rất dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán Tuy nhiênnếu hệ số này quá cao, khả năng thanh toán là khả quan nhưng khả năng sinh lờichưa hẳn đã tốt bởi có thể do đầu tư
uá nhiều vào TSLĐ so với nhu cầ
Hệ số khả năng thanh toán nhanh = Tiền + Phải thu
Nợ ngắn hạn một sự đầu tư không mang lại hiệu quả lâu dài, đòi hỏi doanh nghiệp phải
có chính sách phân phối vốn hợp lí hơn
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số khả năng thanh toán nhanh là tỷ số giữa các tài sản quay vòng nhanhvới nợ ngắn hạn Tài sản quay vòng nhanh là những tài sản có thể nhanh chóngchuyển đổi thành tiền, bao gồm: tiền, chứng khoán ngắn hạn, các khoản phải thu.Tài sản dự trữ (tồn kho) là các tài sản khó chuyển thành tiền hơn trong tổng TSLĐ
và dễ bị lỗ nhất nếu được bán Do vậy, hệ số khả năng thanh toán nhanh cho biếtkhả năng trả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ
Hệ số này cao là tốt cho khả năng thanh toán của doanh nghiệp, nhưng nếu quacao có thể do tỷ trọng các khoản phải thu trong t
g TSLĐ quá lớn, điều chứng tỏ doan
Hệ số khả năng thanh toán tức thời = Tiền
Trang 31Nợ đến hạnnghiệp đang bị chiếm dụng nhiều vốn hoặc có thể do doanh nghiệp đangduy trì một mức dự trữ ngân quỹ không hợp lý.
- Hệ số khả năng thanh toán tức thời
Nợ đến hạn ở đây bao gồm các khoản nợ ngắn han, trung hạn và dài hạnđến hạn trả Tuy thuộc vào ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh khác nhau mà cácdoanh nghiệp có hệ số khả năng thanh toán tức thời hợp lý khác nhau Tuy nhiênnếu tỷ số này quá thấp thì các doanh nghiệp có thể gặp
ó khăn trong thanh toán, còn nếu
Khả năng thanh toán lãi vay = EBIT
Tổng số lãi vay phải trả trong kỳ
hỉ tiêu này quá cao có thể do tiền của doanh nghiệp bị ứ đọng quá nhiều,vòng quay tiền chậm làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay
Trong đó EBIT là tổng số lợi nhuận trước thuế và lãi vay phản ánh toàn bộ
số lợi nhuận do các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ mang lại.Tổng số lãi vay phải trả trong kỳ bao gồm lãi vay ngắn hạn của ngân hàng, côngnhân viên và lãi vay qua trái phiếu Hệ số khả năng thanh toán lãi vay cho
ết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng
ả lãi hàng năm như thế nào Việc không trả được các khoản nợ này sẽ thểhiện khả năng doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản
Nhóm chỉ tiêu về khả năng cân đối vốn
Trong công tác quản trị tài chính doanh nghiệp thì các nhà quản lý thườngmong muốn đạt tới cơ cấu vốn và nguồn vốn tối ưu để sử dụng vốn và nguồn vốn
có hiệu quả nhất Nhưng trong quá trình phát triển của doanh nghiệp thì cơ cấunày luôn bị thay đổi, phá vỡ do tình hì
đầu tư Vì vậy việc nghiên cứu về khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp
sẽ cung cấp những thông tin cần thiết cho nhà quản lý để từ đó có sự điều chỉnhhợp lý
Trang 32Bên cạnh đó các chủ nợ cũng rất quan tâm đến các chỉ tiêu này vì nó đolường phần vốn góp của chủ sở hữu so với phần tài trợ của các chủ nợ đối vớidoanh nghiệp Các chủ nợ nhìn vào số vốn của các chủ sở hữu để đánh giá mức đ
an toàn của các món nợ Nếu chủ sở hữu
doanh nghiệp dễ r
Hệ số tự tài trợ = Vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn vào tình trạng mất khả năng thanh toán Tỷ số này cao hay thấp cũng tuỳthuộc vào lãi suất vì phải đảm bảo một chi phí tài chính phù hợp
- Hệ số tự tài trợ
Hệ số tự tài trợ phản ánh trong nguồn vốn doanh nghiệp đang sử dụng thì
số vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng là bao nhiêu, thể hiện mức độ hoạt động độc lập
về tài chính của doanh nghiệp hay mức độ tự tài trợ của chủ doanh nghiệp đối
i nguồn vốn kinh doanh
Trang 33Hệ số cơ cấu tài sản = TSLĐ (TSCĐ)
Tổng tài sản
ủa mình Các chủ nợ thường quan tâm đến hệ số này khi quyết định chovay, vì nó thể hiện mức độ đảm bảo cho các khoản nợ của doanh nghiệp
- Hệ số cơ cấu tài sản
Tỷ số này phản ánh cơ cấu đầu tư vào các loại tài sản của doanh nghiệp.Phân tích chỉ tiêu này cho phép xây dựng và điều chỉnh cơ cấu tài sản phù hợp vớimôi trường kinh d
nh của từng doanh nghiệp, tuy nhiên
ó cao hay thấp chưa phản ánh được hiệu quả đầu tư vào tài sản nếu khôngcăn cứ vào loại hình và lĩnh vực sản xuất kinh doanh
Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động
Các tỷ số về khả năng hoạt động được sử dụng để đánh giá hiệu quả sửdụng tài sản của doanh nghiệp Vốn của doanh nghiệp được dựng để đầu tư chocác loại tài sản khác nhau như TSCĐ, TSLĐ Do đó, các nhà phân tích không
hỉ quan tâm tới
Vòng quay tiền = Doanh thu thuần
Tiền và tương đương tiền bình quân
ệc đo lường hiệu quả sử dụng sử dụng tổng tài sản mà còn chú trọng tớihiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành tổng tài sản của doanh nghiệp
- Vòng quay tiền
Tiền là một khoản mục có tính lỏng cao nhất trong tổng tài sản của doanhnghiệp Việc giữ tiền và các tài sản tương đương tiền đem lại cho doanh nghiệpnhiều lợi thế như chủ động trong kinh doanh, hưởng chiết khấu thanh toán dothanh toán tiền hàng sớm Chỉ tiêu vòng quay tiền phản ánh số vòng quay của tiềntrong năm,
hường được sử dụng cho phân
ch tài chính các doanh nghiệp kinh doanh thương mại Số vòng quay củatiền thường gắn với
Trang 34Vòng quay dự trữ = Doanh thu trong năm
với việc vận chuyển cun
Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu
Doanh thu bình quân ngàyứng hàng hoá dễ dàng cho phép các doanh nghiệp không phải dự
ữ quá nhiều nên chỉ tiêu này thường được các doanh nghiệp duy trì ở mứccao
- Kỳ thu tiền bình quân
Trong đó: Doanh thu bình quân ngày = Doanh thu trong năm / 360
Kỳ thu tiền bình quân được sử dụng để đánh giá khả năng thu tiền trongthanh toán trên cơ sở các khoản phải thu và doanh thu bình quân một ngày Cáckhoản phải thu lớn hay nhỏ còn phụ thuộc vào chính sách tín dụng thương mại củadoanh nghiệp và các khoản trả trước Tuy nhiên các khoản phải thu là số liệu củamột thời điểm nhất định cho nên có những thời điểm đặc biệt dễ làm sai lệch chỉtiêu này Chẳng hạn, vào thời điểm đầu chu kỳ kinh doanh, doanh nghiệp bán chịu
Trang 35hàng cho các đại lý, tạm ứng tiền cho nhà cung cấp… nên khoản phải thu sẽ lớn.Nhưng vào cuối chu kỳ, doanh nghiệp tất toán mọi tài khoản
ủa mnh, các khoản phải thu sẽ nhỏ h
rất nhiều cho nên người phân tích phải nắm rõ chu kỳ sản xuất kinh doanhcủa đơn vị để xác định k
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định = Doanh thu thuần
TSCĐthu tiền bình quân cho chính xác
- Hi ệu suất sử dụng tài sản cố định
Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồngdoanh thu trong một năm
Tài sản cố định ở đây được xác định theo giá trị còn lại đến thời điểm lậpbáo cáo nên chỉ tiêu này có nhược điểm là nó chịu ảnh hưởng của phương phápkhấu hao mà doanh nghiệp áp dụng Các doanh nghiệp có thể áp dụng n
ng phương pháp khấu hao tài sản cố định khác nhau làm sai lệ
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Doanh thu thuần
Tổng tài sản
chỉ tiêu trên trong khi mức độ đó
góp vào doanh thu của tài sản trong thực tế chỉ có một giá trị duy nhất
- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản (Vòng quay toàn
ộ tài sản)
Nhóm chỉ tiêu về
Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm = Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần
ả năng sinh lãi
Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lãi phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sảnxuất - kinh doanh và hiệu năng quản lý doanh nghiệp
Trang 36- Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm
Chỉ tiêu này phản ánh tr
g số lợi nhuận sau thuế có trong
ROE = Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu
ột trăm đồng doanh thu Chỉ tiêu này đánh giá hoạt động kinh doanh của cảdoanh nghiệp là tốt hay không? Nhìn chung tỷ số này cao là tốt
- Doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE)
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu và được cácnhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp.Tuy nhiên, việc phân tích chỉ tiêu này phải được kết hợp với việc đánh giá tổngnguồn vốn, tỷ trọng vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn của doanh nghiệp Bởi vì nếudoanh nghiệp có ROE cao là do lượng vốn chủ sở hữu bỏ vào sản xuất kinh doanhthấp, chủ yếu sử dụng vốn vay thì tức là phần lớn lợi nhuận của doanh nghiệpđược tạo ra bởi vốn của các chủ nợ, đồng ngh
với việc chủ sở hữu đ
ROA = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Tổng tài sản
c lợi
ROA = Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản
ớn hơn (bỏ ít vốn mà vẫn giữ quyền kiểm soát doanh nghiệp) còn các chủ
nợ có thể gặp rủi ro mất vốn khi hoạt động kinh doanh không thuận lợi
Doanh lợi tài sản: ROA
Trang 37Hoặc
Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất được dựng để đánh giá khả năng sinh lợi củamột đồng vốn đầu tư Tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể cuả doanh nghiệp được phântích và phạm vi so sánh mà người ta lựa chọn thu nhập trước thuế và lãi vay hoặcthu nhập sau thuế để so sánh với tổng tài sản Đối với các chủ nợ, do lợi nhuậntrước thuế và lãi vay thuộc quyền sở hữu của cả chủ nợ và chủ sở hữu nên họthường quan tâm đến ROA tính t
o cách thứ nhất Còn sau khi trả lãi và nộp thuế phần còn lại là thuộc riêngchủ sở hữu nên các chủ sở hữu và các nhà đầu tư thường quan tâm đến ROA tínhtheo cách thứ hai
Tuy nhiên đối với mỗi doanh nghiệp khác nhau, tại từng thời điểm khácnhau thì việc xác định nội dung phân tích tài chính là khác nhau, nội dụng phântích tài chính cũng nên chú trọng vào các mặt còn hạn chế của doanh nghiệp mình
để từ đó đưa ra được giải pháp khắc phục Người làm công tác phân tích cần xácđịnh rõ mục tiê
sản xuất kinh doanh trong từng thời kỳ của đơn vị mình để lựa chọn nộidung phân tích tài chính cho phù hợp, đảm bảo mang lại hiệu quả cao thúc đẩydoanh nghiệp phát triển
Như vậy, phân tích tài chính là một đòi hỏi không thể thiếu được trong hoạtđộng quản trị kinh doanh của một doanh nghiệp Thông qua việc phân tích tìnhhình tài chính để tìm ra những điểm mạn
và điểm yếu của doanh nghiệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh Từ
đó
thể đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện tình hình của doanh nghiệp ở hiệntại và trong tương lai
Trang 381.3 Các nhân tố ảnh hưởng đ ến công tác ph
tích tài chính doanh nghiệp
Việc tổ chức phân tích tài chính của các doanh nghiệp chịu sự tác động bởinhiều nhân tố khác nhau bao gồm các nhân tố khách quan và chủ quan:
1.3.1 Các nhân tố khách quan
- Cơ chế quản lý và chính sách vĩ mô của Nhà nước: Thuộc nh
tố này bao gồm các chính sách khuyến kh
h đầu tư của Nhà nước, chính sách mở c
Ngoài ra, công tác phân
ích tài chính của các doan
nghiệp còn chịu tác động của yếu tố rủi ro bao gồm các rủi ro từ phía thịtrường và những rủro bất khả kháng như:
iên tai, lũ lụt, hoả hoạn
1.3.2 Các nhân tố chủ quan
Trang 39Có nhiều nhân tố chủ quan thuộc về bản thân doanh nghiệp ảnh hưởng đếncông tá
phân tích tà i của doanh nghiệp như:
- Việc lựa chọn phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp thi
hợp lý sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả phân tích tài chính của doanh nghiệp
- Việc xác định vai trò của công tác phân tích tài chính tại doanh nghiệpchưa được quan tâm đúng mức
- Nguồ
nhân lực được bố trí để phân tích tài chính doanh nghiệp chưa thống nhất
và rõ ràng Do vậy, nhân viên được phân công phụ trách công tá
phân tích tài chính chưa chuyên nghiệp
- Trình độ quản lý của DN
Trang 40ếu kém có thể dẫn đến khả năng nhìn nhận vai trò của công tác phân tích tài
chính kém.
- Cơ sở vật chất
ụ vụ công tác phân tích còn chưa được đầu tư.
HƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ GIÁO DỤ