Kết quả nghiên cứu Ưu thế lai đối với các tính trạng sinh sản, sản xuất và chất lượng thịt của tổ hợp lợn lai giữa MC, LR, LW, Pi nuôi tại Hà Nội và Thái Bình để chọn nhóm giống thích hợ
Trang 1Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Viện khkt nông nghiệp miền nam
Báo cáo tổng kết đề tài nhánh
Kết quả nghiêncứu ưu thế lai đối với các tính trạng sinh sản, sản xuất và chất lượng thịt của tổ hợp lợn lai giữa mc, lr, lw, pi nuôi tại hà nội và thái bình để chọn nhóm giống thích hợp phục vụ sản xuất
sản phẩm lợn sữa xuất khẩu
_
thuộc đề tài cấp nhà nước mã số kc 06.06
nghiên cứu một số giải pháp khoa học công nghệ và thị
trường nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thịt lợn
Chủ nhiệm đề tài: ts đỗ văn quang
6482-16
27/8/2007
hà nội - 2007
Trang 2Kết quả nghiên cứu Ưu thế lai đối với các tính trạng sinh sản, sản xuất và chất lượng thịt của tổ hợp lợn lai giữa MC, LR, LW, Pi nuôi tại Hà Nội và Thái Bình để chọn nhóm giống thích hợp phục vụ sản xuất sản phẩm lợn sữa và thịt lợn xuất khẩu chất lượng cao
Nguyễn Văn Đức, Chủ trì đề tài nhánh thuộc Đề tài KC06 Tạ Thị Bích Duyên, Giang Hồng Tuyến, Phạm Văn Giới, Trần thị Minh Hoàng: Thực hiện
Đỗ Văn Quang, Chủ nhiệm Đề tài KC06
1 Đặt vấn đề
Trong chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng, việc khai thác ưu thế lai (ƯTL) nhằm nâng cao năng suất vật nuôi và chất lượng sản phẩm vật nuôi là con đường tất yếu trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế của ngành Trong chương trình giống để sản xuất lợn sữa
và thịt lợn mảnh phục vụ xuất khẩu, nghiên cứu về ưu thế lai của các tính trạng sinh sản của các
tổ hợp lợn lai F1(PixMC), F1(LRxMC), F1(LWxMC) và các tính trạng sản xuất và chất lượng thịt xẻ của các tổ hợp lợn lai F1(PixMC), F1(LRxMC), F1(LWxMC), Pi(LRxMC), Pi(LWxMC)
và Pi(PixMC) là một đòi hỏi cấp bách của sản xuất tại Hà Nội và Thái Bình với mục tiêu cung cấp cho người chăn nuôi lợn hiểu rõ tại sao các tổ hợp lai cho năng suất sinh sản số con và khối lượng sơ sinh và cai sữa cao hơn hẳn so với trung bình của bố mẹ chúng
Như chúng ta đã biết, tổ hợp lai thường cho năng suất, chất lượng sản phẩm cao hơn so với trung bình của bố mẹ là do bản chất của ƯTL Hơn nữa, chúng ta lại biết bản chất của ƯTL
là khi bố và mẹ có nguồn gốc di truyền càng xa nhau bao nhiêu thì ƯTL càng cao bấy nhiêu và ngược lại Vì lẽ đó, trong hệ thống lai tạo giống gia súc, chúng ta đã áp dụng chọn nguyên liệu lai cho các hệ thống lai, sử dụng bố và mẹ có nguồn gốc di truyền càng xa nhau càng tốt
Thực tế hiện tại ở nước ta, chúng ta chưa biết được khoảng cách di truyền giữa các giống lợn thuần tham gia vào việc tạo các tổ hợp lai một cách chính xác Vì vậy, mục tiêu của đề tài là phải thử nghiệm các tổ hợp lai nhằm tìm tổ hợp lai thích hợp cho mỗi tính trạng cho mỗi vùng sinh thái phục vụ cho việc sản xuất sản phẩm lợn sữa và thịt lợn xuất khẩu chất lượng cao
2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.1 Nội dung nghiên cứu
2.1.1 Thí nghiệm đối với các tính trạng sinh sản
Lợn nái được chọn vào thí nghiệm: 30 con mỗi giống/tổ hợp lai để nghiên cứu các tính trạng sinh sản cơ bản sau:
- Tuổi đẻ lứa đầu (TĐLĐ),
- Số con sơ sinh sống (SCSSS)
- Số con cai sữa (SCCS),
- Khối lượng lợn con sơ sinh (Pss), và
- Khối lượng lợn con cai sữa (Pcs)
Trang 32.1.2 Thí nghiệm đối với các tính trạng sản xuất
Tổng số 180 lợn F1 và 200 lợn lai có 3/4 nguồn gen lợn ngoại như Pi, LR, LW được chọn đồng đều về khối lượng, tính biệt và khoẻ mạnh đưa vào làm thí nghiệm vỗ béo: Bắt đầu lúc lợn 3 tháng tuổi và kết thúc lúc 7 tháng tuổi; thức ăn cho tự do nhưng được cân trước và sau khi ăn; cân khối lượng lợn thí nghiệm hàng tháng để xác định: Tăng khối lượng, tiêu tốn thức
ăn, tỷ lệ nạc Sử dụng một ô lợn dự trữ để thay thế khi bất kì một cá thể thí nghiệm nào có sự cố như bị ốm, bị thương nhằm bảo đảm thí nghiệm chính xác
Lợn đạt 7 tháng tuổi, mổ khảo sát tổng số 44 cá thể (1/2 đực) để xác định chất lượng thịt
2.2 Phương pháp phân tích
Nguyên liệu sử dụng trong nghiên cứu này là lợn thuần Móng Cái (MC), Landrace (LR), Large White (LW), Pietrain (Pi) và tổ hợp lai ở thế hệ thứ nhất giữa chúng đối với các tính trạng sinh sản, nên chúng chỉ có ưu thế lai trực tiếp Trong lúc đó, các tính trạng về sẩn xuát: tăng khối lượng, tiêu tốn thức ăn và chất lượng thịt được xác định bởi cả ưu thế lai thành phần trực tiếp và của mẹ lai
Mô hình toán học được sử dụng để phân tích các tính trạng cơ bản của lợn thuần và lai nuôi tại Đông Anh và Thái Bình:
Đối với các tính trạng sinh sản
Y ijklmn = à + NG i + LĐ j + CS k + M l + ĐP m + ε ijklmn
Trong đó:
- Y ijklmn là giá trị quan sát về năng suất sinh sản của lợn nái thứ n, đẻ mùa vụ thứ l, tại cơ sở thứ k, lứa đẻ thứ j, đực phối thứ m và thuộc nhóm giống thứ i,
- à là giá trị trung bình của quần thể,
LWxMC),
- εijklm là sai số ngẫu nhiên
Đối với các tính trạng sản xuất:
Y ijkl = à + b i + N j + M k + e ijkl
Trong đó:
- à là giá trị trung bình tổng thể;
- b i là ảnh hưởng của tính biệt i th : đực hay cái,
Trang 4- M l là ảnh hưởng của mùa l : Đông-Xuân, Hè-Thu,
- e ijk là sai số ngẫu nhiên giữa sai số trung bình và phương sai δ2
e
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu
Giá trị trung bình, sai số chuẩn và ưu thế lai được xác định theo chương trình GLM (SAS, 1993)
2.2.3 Kiểm tra mức độ tin cậy
So sánh mức độ sai khác giữa các số trung bình của các tính trạng sinh sản cơ bản được xác định theo phương pháp Kiểm tra mức độ tin cậy số trung bình mẫu của Nguyễn Văn Đức và
Lê Thanh Hải (2002)
3 Kết quả và thảo luận
3.1 Năng suất sinh sản của các tổ hợp lai
3.1.1 Tuổi đẻ lần đầu của các giống lợn
Tuổi đẻ lần đầu (TĐLĐ) của các giống lợn thuần và các nhóm lợn lai F1(PixMC),
F1(LRxMC) và F1(LWxMC) nuôi trong nông hộ tại Đông Anh – Hà Nội và Thái Bình đạt kết quả tốt, biến động trong phạm vi 368,34-375,67 ngày Lợn MC có TĐLĐ thấp nhất (368,34 ngày) và nhóm lợn lai F1(LWxMC) có TĐLĐ cao nhất (375,67 ngày) Các giá trị tính được về TĐLĐ này thấp hơn so với kết quả nghiên cứu trên cùng giống MC và tổ hợp lai tương ứng của cả nước là 388,1 ngày (Nguyễn Văn Đức, 1997)
Tổ hợp lợn lai F1(PixMC) có TĐLĐ tốt hơn so với F1(LRxMC) và F1(LWxMC) cùng nuôi trong điều kiện giống nhau tại vùng sinh thái đồng bằng sông Hồng: Đông Anh và Thái Bình Giá trị này thấp hơn so với kết quả 384,9 ngày ở đàn lợn lai F1(LRxMC) và F1(LWxMC) tìm được của Nguyễn Văn Đức (1997), khi phân tích số liệu tổng hợp của cả nước và 384,9 ngày ở đàn F1(LRxMC) tại các đàn ở Quảng Ninh, Hà Tây và Hà Nội (Nguyễn Văn Đức, 1997;
Nguyễn Văn Đức và cộng sự, 2000)
3.1.2 Số con sơ sinh sống/lứa của các giống lợn
Đối với lợn nái, số con sơ sinh sống/lứa (SCSSS) là tính trạng quan trọng nhất, là chìa
khoá quyết định năng suất, chất lượng đàn nái và hiệu quả kinh tế chăn nuôi lợn nái Nói chung, lợn nái đẻ càng nhiều con có chất lượng cao càng tốt SCSSS của nhóm lợn nái MC nuôi trong nông hộ Đông Anh và Thái Bình là 11,67 con/lứa, cao hơn so với 11,07 con/lứa của Nguyễn Văn Thiện và cộng sự (1999) Song, vì cơ thể và khối lượng lợn nái giống MC nhỏ và kỹ thuật nuôi lợn con theo mẹ trong nông hộ còn có những hạn chế nhất định nên người chăn nuôi thường giữ số con để lại nuôi mỗi ổ là 11,00 con/lứa và ưu tiên chọn lợn cái vì mục tiêu làm nái Giá trị này tương ứng với giá trị 10,63 và 10,14 con/lứa
SCSSS của các nhóm nái lai F1(LRxMC), F1(LWxMC) và F1(PixMC) là 12,14; 12,13 và 12,52 con/lứa Sự sai khác về SCSSS giữa các nhóm lợn trên biểu hiện rõ rệt (p<0,01) Giống của đực phối cũng ảnh hưởng đến các tính trạng sinh sản cơ bản của lợn nái F1(PixMC) Kết quả
Trang 5này thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của Trịnh Viết Lương và Hoàng Gián (1999) đối với tổ hợp lai F1(LWxMC), SCSSS là 12,5 con/lứa Giá trị này cao hơn so với kết quả 10,39 con/lứa tìm được khi phân tích toàn bộ số liệu các đàn lợn cả nước (Nguyễn Văn Đức, 1999); 11,00 con/lứa của Đặng Vũ Bình và Nguyễn Văn Thắng (2002) ở Hà Nội và Hưng Yên, nhưng tương
đương với các tổ hợp lai F1(LRxMC) và F1(LWxMC) đạt 11,85 con/lứa (Nguyễn Văn Đức, 1999) khi phân tích số liệu đàn nuôi ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Tây, Hà Nội
3.1.3 Số con cai sữa/lứa của các giống lợn
Số con cai sữa/lứa (SCCS) lúc 42 ngày tuổi tương ứng của mỗi giống lợn thuần nuôi trong nông hộ tại Đông Anh – Hà Nội và Thái Bình là 9,44 con/lứa (MC); 9,00 con/lứa (LR) và 9,83 con/lứa (LW) Sở dĩ, SCCS của lợn MC chỉ đạt 9,44 con/lứa vì như đã trình bày ở phần trên
do khối lượng lợn nái MC nhỏ nên người ta giữ lại số con để nuôi khoảng 11,00 con/lứa và chỉ chọn lợn cái dù Pss nhỏ vì lợn đực MC không thể bán được hoặc bán với giá rất thấp Khi nghiên cứu về khả năng sinh sản của lợn nái MC, Lê Hồng Minh (2000) thông báo về kết quả 6 năm (1992-1998) thực hiện MC hoá đàn lợn nái nền ở Tuyên Quang cũng chỉ đạt 9,18 con/lứa SCCS 42 ngày của 3 nhóm nái lai F1(LRxMC), F1(LWxMC) và F1(PixMC) nuôi tại Đông Anh – Hà Nội và Thái Bình là 9,60; 9,54 và 10,19 con/lứa Sự sai khác về SCCS 42 ngày tuổi giữa các nhóm lợn trên biểu hiện rõ rệt (p<0,01) Kết quả này cao hơn so với kết quả 9,31 con/lứa (Nguyễn Văn Đức (1997) khi phân tích bộ số liệu của cả nước của nái F1(LRxMC) và
F1(LWxMC) từ năm 1985-1996
3.1.4 Khối lượng sơ sinh của các giống lợn
Khối lượng sơ sinh mỗi lợn con (Pss) của giống lợn thuần MC thấp nhất, đó là 0,60 kg Trong lúc đó, Pss của 2 giống LR và LW là 1,42 và 1,43 kg, cao hơn so với các nhóm MC lai
Sự sai khác về Pss giữa các giống lợn thuần và các tổ hợp lai biểu hiện rất rõ rệt (p<0,001)
Pss sinh ra từ lợn nái F1(LRxMC) và F1(LWxMC) là 1,10±0,11 kg và 1,12±0,12kg thấp hơn so với 1,15±0,13 kg của nhóm F1(PixMC) Sự sai khác này tuy nhỏ, song về mặt thống kê
có ý nghĩa rõ rệt (p<0,05) Kết quả này nhỏ hơn so với kết quả 1,23kg, tính toán được của Nguyễn Văn Đức (1997) của toàn bộ số liệu MC lai của cả nước Pss này được chấp thuận của người chăn nuôi vì tỷ lệ hao hụt từ sơ sinh đến cai sữa thấp
3.1.5 Khối lượng cai sữa của các giống lợn
Khối lượng cai sữa của mỗi lợn con (Pcs) lúc 42 ngày tuổi của giống lợn nái MC phối tinh LR và LW là 6,04 kg, trong lúc đó nếu dùng tinh Pi thì Pcs đạt 7,02kg Rõ ràng, nguồn gen
đực giống Pi tốt hơn hẳn về việc nâng cao Pss khi phối với nái MC Pcs của 2 giống lợn LR và
LW là 14,22 và 14,29 kg (P>0,05) Đối với tổ hợp lợn nái lai F1(LWxMC), F1(LRxMC) và
F1(PixMC) phối với tinh LR, LW và Pi, Pcs đạt tới 11,01; 11,02 và 11,19 kg Sự sai khác về Pcs lúc 42 ngày tuổi giữa các nhóm lợn này rất rõ rệt (p<0,001) So sánh Pcs giữa 3 nhóm lợn lai
Trang 6cho thấy, lợn con cai sữa 42 ngày của nái F1(PixMC) cao hơn 2 nhóm nái lai F1(LWxMC) và
F1(LRxMC) (P<0,01)
Những kết quả này chứng tỏ rằng lợn Pi đã được chọn lọc rất tốt, có khả năng làm tăng khối lượng (TKL) trong các con lai cao hơn lợn LW hoặc LR nuôi tại Đông Anh vầ Thái Bình Hơn nữa, nhóm lợn lai F1(PixMC) lớn nhanh có thể do ưu thế lai lớn hơn nhóm F1(LWxMC) và
F1(LRxMC), có thể được giải thích rằng khoảng cách di truyền giữa giống MC với Pi lớn hơn so với giữa MC vơí LR và MC với LW nên ưu thế lai lớn hơn
Pcs lúc 42 ngày tuổi của tổ hợp lai F1(PixMC) là 11,19±1,20 kg nếu sử dụng đực Pi, trong lúc đó với nái F1(PixMC) nếu phối với đực LR và đực LW thì Pcs là 11,01±1,30-11,02±1,67 kg Sự sai khác này về mặt thống kê không biểu thị rõ rệt (p>0,05) Khối lượng này cao hơn kết quả 10,91 kg, tìm được của Nguyễn Văn Đức (1997) của số liệu thu được trông toàn bộ đàn lợn MC lai của cả nước
Với những kết quả ban đầu về SCSSS, SCCS, Pss và Pcs lúc 42 ngày tuổi tương ứng của chúng cho phép ta nhận thấy rằng tổ hợp lai Pi với MC có thể là một tổ hợp MC lai tốt nhất để sản xuất lợn sữa xuất khẩu Chúng ta có thể sử dụng đực Pi phối với nái MC vì con lai của chúng mang lại năng suất sinh sản cao, chắc chắn dẫn đến hiệu quả kinh tế cao trong công tác giống phục vụ xuất khẩu lợn sữa Đàn lợn con lai F1(PixMC) có ngoại hình rất đẹp, khoẻ mạnh
và có khả năng phát triển tốt vì khối lượng lúc cai sữa 42 ngày tuổi đã đạt 7,02kg, cao hơn nhóm lợn F1(LWxMC) và F1(LRxMC), chỉ đạt 6,04kg Kết quả nuôi ở Thái bình và Hà Nội chứng tỏ tổ hợp lai F1(PixMC) làm sản phẩm lợn sữa phục vụ xuất khẩu tốt hơn hẳn so với các
tổ hợp MC lai F1(LWxMC) và F1(LRxMC)
Lợn lai F1(PixMC) là sản phẩm lợn sữa xuất khẩu tốt nhất
3.1.6 Ưu thế lai của các tính trạng sinh sản
Ưu thế lai (ƯTL) của hầu hết các tính trạng sinh sản cơ bản của các tổ hợp lợn lai
F1(LRxMC), F1(LWxMC) và F1(PixMC) tốt hơn so với các giống lợn thuần MC, LR, LW và Pi tạo nên chúng nuôi tại các nông hộ huyện Đông Anh – Hà Nội và Thái Bình Để tính được ƯTL
về các tính trạng sinh sản của lợn LR, LW và Pi với lợn MC, chúng tôi có sử dụng một số kết quả
Trang 7nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu lợn Thuỵ Phương và Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện Chăn nuôi Bình Thắng
Hầu hết, các tính trạng sinh sản của lợn đều có hệ số di truyền thấp, biến động trong phạm vi 0,1-0,3 nên hiệu quả chọn lọc chúng khó đạt kết quả cao Vì vậy, để nâng cao năng suất của các tính trạng sinh sản của lợn như TĐLĐ, SCSSS, SCCS, Pss và Pcs tạo và khai thác các tổ hợp lai là con đường tất yếu và hiệu quả nhất Vì lẽ đó, ƯTL của các tổ hợp lợn lai F1(LRxMC),
F1(LWxMC) và F1(PixMC) cần phải được nghiên cứu để xác định chất lượng từng tổ hợp lai
Đối với tính trạng TĐLĐ, sự sai khác giữa các tổ hợp lợn lai được tạo ra bởi các giống thuần MC với các giống LR, LW và Pi, nuôi trong các nông hộ tại Đông Anh và Thái Bình, không thể hiện rõ rệt Giá trị ƯTL đó là -0,34% và -0,28% đối với F1(LRxMC) và F1(PixMC) và 0,16% đối với F1(LWxMC) Mức độ sai khác về giá trị trung bình của TĐLĐ này không thể hiện
rõ rệt giữa 3 tổ hợp lai đó (P>0,05)
Bảng 1 ƯTL của các tính trạng sinh sản cơ bản của tổ hợp lai F 1 (LRxMC), F 1 (LWxMC) và
F 1 (PixMC) nuôi trong nông hộ tại Đông Anh – Hà Nội và Thái Bình
F1(LRxMC) F1(LWxMC) F1(PixMC) Tính trạng
TB bố mẹ ƯTL (%) TB bố mẹ ƯTL (%) TB bố mẹ ƯTL (%) TĐLĐ 371,81 -0,34 370,01 0,16 370,11 -0,28 SCSSS 11,15 9,23 10,91 11,18 10,94 14,44 SCCS 9,22 4,12 9,15 4,26 9,02 12,97
ƯTL được thể hiện rõ rệt nhất đối với các tổ hợp lai F1(LRxMC), F1(LWxMC) và
F1(PixMC) nuôi tại Đông Anh và Thái Bình đối với tính trạng SCSSS Các giá trị ƯTL của SCSSS
đạt tới 9,23% đối với tổ hợp lai F1(LRxMC); 11,18% đối với tổ hợp lai F1(LWxMC) và đặc biệt
đạt tới 14,44% đối với tổ hợp lai F1(PixMC) Kết quả tìm được của chúng tôi trong báo cáo này tương tự các kết luận trước đây của Ikeobi (1994) là ƯTL về SCSSS ở thế hệ thứ nhất của 2 giống
LR và LW là 6,4%; của Baas và cộng sự (1992) là 10,0% của đàn lợn lai (HxLR); của Nguyễn Văn Đức (1997) là ƯTL về SCSSS của F1(LRxMC) và F1(LWxMC) so với trung bình bố mẹ chúng là 7,4% Kết luận này góp phần khảng định chắc chắn thêm kết luận của Cheng (1984) và Zhihua Jiang và cộng sự (1988) là ƯTL về SCSSS của các tổ hợp lai giữa lợn nội với lợn nhập ngoại luôn cao hơn so với ƯTL giữa các giống lợn nhập ngoại với nhau Như vậy, lợn lai biểu thị
ƯTL cao dẫn đến các nái lai F1(LRxMC); F1(LWxMC) và F1(PixMC) có SCSSS cao hơn trung bình bố mẹ chúng từ 0,8 đến 1,0 con cho mỗi lứa
ƯTL của tính trạng SCCS cao nhất ở tổ hợp lai F1(PixMC) nuôi tại nông hộ Huyện Đông Anh – Hà Nội và Thái Bình đạt tới 4,12% đối với tổ hợp lai F1(LRxMC); 4,26% đối với tổ hợp lai
F1(LWxMC) và 12,97% đối với tổ hợp lai F1(PixMC) Kết quả này tương tự các kết luận trước
Trang 8Sản phẩm lợn sữa xuất khẩu của tổ hợp lợn lai F 1 (PixMC)
đây của Ikeobi (1994), ƯTL của thế hệ thứ nhất của 2 giống LR và LW là 4,5%; của Baas và cộng sự (1992) là 8,8% của đàn lợn lai H x LR; của Nguyễn Văn Đức (1999) là ƯTL về SCCS của F1(LRxMC) và F1(LWxMC) so với trung bình bố mẹ chúng là 6,4% Kết quả này cũng phù hợp kết luận của Zhihua Jiang và cộng sự (1988) đã công bố ƯTL về SCCS của các tổ hợp lai giữa lợn nội với lợn nhập ngoại luôn cao hơn so với ƯTL giữa các giống lợn nhập ngoại với nhau
do khoảng cách di truyền giữa lợn nội và ngoại cao hơn giữa các giống lợn ngoại với nhau
Các giá trị ƯTL tính được của tính trạng Pss đạt tới 8,91% đối với tổ hợp lai F1(LRxMC); 9,80% đối với tổ hợp lai F1(LWxMC) và 10,58% đối với tổ hợp lai F1(PixMC), chứng ỏ rằng tính trạng Pss có ƯTL cao Vì vậy, nuôi lợn nái lai luôn cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với lợn nái thuần Kết quả này phù hợp với kết quả tìm thấy của Nguyễn Văn Đức (1999) là ƯTL về Pss của
F1(LRxMC) và F1(LWxMC) cao hơn so với trung bình bố mẹ chúng từ 4% đến 10%
ƯTL của tính trạng Pcs ở nghiên cứu này đạt 8,69% đối với tổ hợp lai F1(LRxMC); 8,36% đối với tổ hợp lai F1(LWxMC) và 8,43% đối với tổ hợp lai F1(PixMC), chứng tỏ rằng các tính trạng khối lượng lợn con đều có ƯTL cao Pcs của lợn lai cao có thể được giải thích rằng lợn con của các nái lai F1(LRxMC); F1(LWxMC) và F1(PixMC) được hưởng ƯTL của chính các mẹ lai và trực tiếp của chính bản thân chúng Vì vậy, nuôi nái lai luôn cho năng suất và hiệu quả kinh
tế cao hơn so với lợn nái thuần vì khối lượng lợn cai sữa cao hơn so với trung bình bố mẹ Kết quả này phù hợp với kết quả 5,0-9,0% tìm được của Nguyễn Văn Đức (1999) đối với các tổ hợp lợn nái lai F1(LRxMC), F1(LWxMC) và F1(PixMC)
Tóm lại, để sản xuất lợn sữa xuất khẩu đạt hiệu quả kinh tế nhất, năng suất sinh sản của lợn nái cao và tỷ lệ nuôi sống lợn con và tăng khối lượng của lợn con cao là yếu tố quyết định Muốn có năng suất sinh sản cao: Số con sơ sinh sống và cai sữa; khối lượng lợn sơ sinh và cai sữa thì các tổ hợp lợn lai cần phải được khai thác, đặc biệt là tổ hợp lợn lai F1(PixMC) vì chúng dễ nuôi, tỷ lệ sống cao, tăng khối lượng giai đoạn lợn con cao do chúng có ƯTL cao Hơn nữa, chất lượng lợn sữa của các tổ hợp lai này được cộng đồng ưa chuộng và người sản xuất thu được lời
Trang 9cao (Xem hình sản phẩm lợn sữa xuất khẩu của tổ hợp lợn lai F1(PixMC) sản xuất tại tỉnh Thái Bình)
3.2 Khả năng sản xuất và chất lượng thịt của các tổ hợp lợn lai
3.2.1 Tăng khối lượng của các tổ hợp lai
Giá trị trung bình về tăng khối lượng (TKL) của lợn thí nghiệm trong nghiên cứu này là: Lợn thuần MC, LR, LW và Pi đạt 350,04; 589,93; 600,17 và 595,89g/ngày; Các tổ hợp lai thứ nhất F1(LRxMC), F1(LWxMC) và F1(PixMC) là 505,72; 509,03 và 510,96g/ngày (Bảng 2) và Các
tổ hợp lai có đóng góp ưu thế lai của mẹ lai Pi(PixMC), Pi(LRxMC) Pi(LWxMC), LR(PixMC) và LW(PixMC) là 596,03; 601,02; 603,09; 601,13 và 604,16g/ngày (Bảng 3)
Giá trị ưu thế lai của các tổ hợp lai này gồm có ưu thế lai trực tiếp và ưu thế lai của cá thể
mẹ lai còn các ưu thế lai của cá thể bố lai, ưu thế lai của cá thể ông và bà nội lai, ưu thế lai của cá thể ông và bà ngoại lai là không có vì chúng tôi không sử dụng bố lai, ông bà nội ngoại lai làm vật liệu trong quá trình nghiên cứu này
Bảng 2 TKL, TTTA, DML và chất lượng thịt xẻ của tổ hợp lợn lai F 1 (PixMC), F 1 (LRxMC)
và F 1 (LWxMC)
Đối với các tổ hợp lai hai giống: ngoại và MC, giá trị ưu thế lai trực tiếp về TKL lợn lai ở nghiên cứu này biến động từ 7,16% đến 8,03% Từ kết quả này cho thấy khi nuôi các tổ hợp lai
F1(LRxMC), F1(LWxMC) và F1(PixMC) người chăn nuôi sẽ thu được từ 7,16 đến 8,03% về khối lượng tăng cao hơn so với trung bình bố mẹ chúng do khai thác được ưu thế lai của chúng, dẫn
đến sẽ thu được nhiều lời hơn so với nuôi lợn thuần Như vậy, để tăng khối lượng lợn khi vỗ béo nhanh hơn, cần phải nuôi lợn lai Giá trị này cao hơn giá trị 5,61% tìm được của Nguyễn Văn
Đức (1997) với số liệu tổng hợp của 2.810 lợn MC, LW, LR và các tổ hợp lai của chúng trên 6 trại lợn ở miền Bắc Việt nam Trong khi đó, hai tổ hợp lợn lai ở hệ thống lai trở lại của giống LR hoặc LW và MC chỉ biểu hiện 50% ưu thế lai nên chỉ đạt 3,12% ưu thế lai thành phần trực tiếp
Đối với các tổ hợp lai hai hoặc 3 giống mà mẹ của chúng là một tổ hợp lai thì năng suất sẽ cao hơn so với tổ hợp lai 2 giống vì chúng thể hiện ưu thế lai tổng cộng cao hơn so với các tổ hợp lai từ bố mẹ thuần chủng do có ưu thế lai thành phần của mẹ lai Giá trị ưu thế lai tổng cộng về TKL của các tổ hợp lợn lai tạo thành từ mẹ lai ở nghiên cứu này biến động từ 11,51% ở tổ hợp lai
Trang 10Pi(PixMC) đến 12,62% ở tổ hợp lai LW(PixMC) Kết quả này chứng tỏ rằng, ngoài ưu thế lai trực tiếp, TKL của các tổ hợp lợn lai cũng được thừa hưởng ưu thế lai của mẹ lai mà đóng góp của thành phần này cũng có ý nghĩa rất rõ rệt, làm tăng khoảng 3-4% so với các tổ hợp lai tạo thành
từ bố mẹ thuần chủng
Với những kết quả trên hai bảng 2 và 3 cho thấy đối với tính trạng TKL, ưu thế lai được khai thác tốt ở các tổ hợp lai nên giá trị trung bình đã tăng lên đáng kể so với bố mẹ chúng và khi
sử dụng mẹ lai ưu thế lai càng cao hơn Điều này càng khảng định, để nâng cao khả năng sản suất làm tăng KL của lợn trong giai đoạn vỗ béo và khai thác có hiệu quả nhất đối với tính trạng TKL phục vụ cho sản phẩm xuất khẩu, các tổ hợp lợn lai, đặc biệt tạo ra từ mẹ lai, là con đường tất yếu trong ngành chăn nuôi lợn
Bảng 3 TKL, TTTA, DML và chất lượng thịt xẻ của tổ hợp lợn lai Pi(PixMC), Pi(LRxMC)
Pi(LWxMC), LR(PixMC) và LW(PixMC)
Tăng KL (g/ngày) 200 596,03±67,13 601,02±69,28 603,09±69,09 601,13±62,07 604,16±68,19 TTTA (kg:kg) 200 3,22±0,31 3,24±0,36 3,21±0,39 3,23±0,37 3,20±0,42 DML P2 (mm) 200 20,70±2,16 21,94±2,59 21,43±2,75 22,71±2,41 22,76±2,64 DML khảo sát(mm) 20 28,24 29,12 29,18 30,11 30,14
Tỷ lệ móc hàm (%) 20 80,28 80,09 80,05 79,88 79,79
Tỷ lệ thịt xẻ (%) 20 69,12 69,07 69,06 68,72 68,66
S cơ thăn (cm2) 20 42,56 42,22 42,15 40,79 41,08
Tỷ lệ thịt nạc (%) 20 52,73 51,95 51,93 50,88 50,78
3.5.2 Tiêu tốn thức ăn của tổ hợp lợn lai
Giá trị trung bình về tiêu tốn thức ăn (TTTA) của đàn lợn thí nghiệm trong nghiên cứu này là 3,41±0,33; 3,76±0,42 và 3,68±0,49kg/kg đối với các tổ hợp lợn lai thứ nhất F1(LRxMC),
F1(LWxMC) và F1(PixMC) (Bảng 2) và 3,22±0,31; 3,24±0,36; 3,21±0,39; 3,23±0,37 và 3,20±0,42kg/kg đối với các tổ hợp lai có đóng góp ưu thế lai của mẹ lai Pi(PixMC), Pi(LRxMC) Pi(LWxMC), LR(PixMC) và LW(PixMC) (Bảng 3) Sự sai khác về giá trị trung bình của TTTA ở các tổ hợp lợn lai có 3/4 nguồn gen lợn ngoại là không rõ rệt (P>0,05)
Ưu thế lai của tính trạng TTTA không biểu thị rõ rệt ở các tổ hợp lợn lai ở trong nghiên cứu này Kết quả này cũng phù hợp với nhiều công bố trước đây là ưu thế lai về thức ăn không rõ rêt, tuy âm nhưng không có ý nghĩa vì rất thấp
3.5.3 Dày mỡ lưng của một số tổ hợp lợn lai
Dày mỡ lưng (DML) đo bằng máy siêu âm RENCO trên cơ thể lợn sống tại điểm gốc xương sườn thứ 13, cách sống lưng 5,5 – 6,0 cm về 2 phía tại thời điểm giết thịt (7 tháng tuổi) của các tổ hợp lợn lai F1(LRxMC), F1(LWxMC) và F1(PixMC) là 24,74±2,25; 25,94±2,51 và 26,48±2,75mm thấp hơn so với kết quả 27,8±3,9 mm tìm được của Nguyễn Văn Đức (1997) trên