Thực trạng và giải pháp phát triển chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn xã minh phú, huyện sóc sơn, thành phố hà nội - khóa luận tốt nghiệp
Trang 1PHAN 1 DAT VAN DE
1.1 Tính cấp thiết của dé tài
UBND Thành phố vừa phê duyệt Quy hoạch phát triển chăn nuôi đến
năm 2020, định hướng 2030 Quy hoạch thê hiện phát triển chăn nuôi sẽ tập trung vào phát triển đàn lợn, bò thịt chất lượng cao, bò sữa và gia cầm theo hướng tăng dần sản lượng con giống: từng bước đưa sản xuất con giống là sản phẩm chủ lực của ngành chăn nuôi, đem lại giá trị gia tăng cao cho ngành [9] Thành phố đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi giai đoạn 2012 —- 2020 đạt khoảng 1,6% năm, giai đoạn
2021 - 2030 đạt 1,4%/ năm Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi trong toàn ngành nông nghiệp chiếm khoảng 54% (năm 2020) và 58% (năm 2030) Ngay trong nội bộ ngành, giá trị sản xuất nhóm chăn nuôi gia súc vẫn chiếm
tỷ trọng lớn nhất nhưng giảm dần (61% vào năm 2020 và 50% vào năm 2030) Nhóm ngành chăn nuôi gia cầm có tỷ trọng tăng dần (20% năm 2020 lên 25% năm 2030) Co cau nhóm sản phẩm không qua giết thịt có mức tăng
tỷ trọng lớn nhất (từ 18% năm 2020 đến 24% vào năm 2030) [9]
Sản xuất chăn nuôi được quy hoạch theo 3 tiểu vùng: Vùng gò đồi (Mỹ Đức, Chương Mỹ, Sóc Sơn, Sơn Tây, Quốc Oai) định hướng phát triển tập
trung các sản phẩm chăn nuôi chủ lực là bò thịt, bò sữa, lợn thịt, các loại con
nuôi đặc sản Vùng đồng bằng đối với vùng vàn cao (Chương Mỹ, Gia Lâm, Quốc Oai, Mê Linh, Thanh Oai, Đông Anh) tập trung phát triển chăn nuôi gà, lợn; các vùng thấp trũng ( Ứng Hòa, Phú Xuyên, một phần Mỹ Đúc) tập trung nuôi thủy cầm theo hướng trang trại chăn nuôi kết hợp với thủy sản Vùng bãi ven sông (sông Hồng, sông Đáy, sông Đuống, sông Đà, sông Tích) phát triển chăn nuôi tập trung theo hướng trang trại gắn với việc bảo vệ vành đai xanh
của Hà Nội, các loại con nuôi chủ yêu là bò thịt, bò sữa, lợn, gà [9].
Trang 2Sóc Sơn là một trong ba tiểu vùng ( vùng gò đôi ) được thành phố định
hướng phát trin tập trung các sản phâm chăn nuôi chủ lực bò thịt, bò sữa, lợn
thịt Mặc dù vậy, những chủ trương và chính sách khuyên khích phát triển
chăn nuôi vẫn chưa phát huy hiệu quả thật sự Muốn đạt được các chỉ tiêu đã
dé ra, các cơ quan chuyên môn thành phó cần phải tích cực hơn nữa dé tu van
hỗ trợ nông dân về kỹ thuật chăn nuôi bao gồm từ khâu giống, nguôn thức ăn,
quy trình nuôi dưỡng đến vệ sinh phòng dịch bệnh đến các vẫn đề liên quan đến vốn, đất đai và thị trường tiêu thụ
Xã Minh Phú, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội là một xã có nhiều lợi thé dé phát triển chăn nuôi bò thịt, lợn thịt Minh Phú cũng đã xác định phát triển
chăn nuôi là hướng đột phá quan trọng đề góp phan chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp, nâng cao thu nhập thực tế của nông dân, giảm nghèo và phát triên bền vững Tuy vậy, nhiều năm qua tăng trưởng chăn nuôi còn thấp, hiệu quả kinh tế chưa cao, chăn nuôi chưa thật sự trở thành ngành sản xuất hàng
hoa Cac trang trại, gia trại chăn nuôi hoạt động chưa hiệu quả Nhiều nông hộ
vẫn duy trì hình thức chăn nuôi quảng canh, tận dụng, quy mô nhỏ lẻ, xem chăn nuôi như một nghề phụ nên hiệu quả kinh tế không như mong muốn, rủi
ro dịch bệnh lớn
Xuất phát từ thực tế đó, qua quá trình tìm hiểu tại địa phương, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “ Thực trạng và giải pháp phát triển chăn nuôi lợn thịt tại địa bàn xã Minh Phú, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội” làm
đề tài khóa luận tốt nghiệp
1.2 Mục đích của đề tài
+ Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng phát triển chăn nuôi lợn thịt ở
xã Minh Phú, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, từ đó làm cơ sở đề xuất các
giải pháp phát triển chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn xã một cách có hiệu quả
Trang 3+ Mục tiếu cụ thể:
- Đánh giá tình hình phát triển chăn nuôi lợn thịt của các nông hộ
- Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển chăn nuôi lợn thịt ở xã Minh Phú, huyện Sóc Sơn, thành phó Hà Nội
- Đánh giá những cơ hội lớn và các thách thức cơ bản của chăn nuôi lợn
Trang 4PHAN 2 NOI DUNG CHUONG 1 TONG QUAN VE VAN DE NGHIEN CUU
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐÈ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Vai trò và vị trí của chăn nuôi lợn [Š].[6]
Chăn nuôi là một ngành quan trọng trong nên kinh tế nông nghiệp, chiếm tỷ lệ khá lớn trong thu nhập kinh tế quốc dân và kinh tế hộ gia đình Chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng là một ngành tạo ra nguồn thực phẩm tươi sống, chế biến, đóng hộp và các chế phẩm phụ khác cho đời sống nhân dân và xuất khâu ra thị trường nước ngoài Nói chung chăn nuôi
lợn có một số vai trò nồi bật như sau:
- Cung cấp thực phẩm có giá trị đinh đưỡng cao cho con người
- Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Hiện nay thịt lợn là
nguyên liệu chính cho các công nghiệp chế biến thịt xông khói, thịt hộp, thịt
lợn xay, các món ăn truyền thống cuả người Việt Nam như giò nạc, giò mỡ
- Cung cấp phân bón cho cây trồng, phân lợn là một trong những nguồn
phân hữu cơ tốt, có thê cải tao va nâng cao độ phì của đất, đặc biệt là đất nông
nghiệp
- Chăn nuôi lợn có thể tạo ra nguôn nguyên liệu cho y học trong công
nghệ sinh học y học, lợn đã được nhân bản gen đề phục vụ cho mục đích nâng
cao sức khỏe cho con người
- Chăn nuôi lợn làm tăng thu nhập cho các hộ gia đình nông dân tăng khả năng chi tiêu trong gia đình Đồng thời thông qua chăn nuôi lợn, người nông dân có thể an tâm đầu tư cho con cái học hành và các chi tiêu khác như cúng giô, cưới hỏi, ma chay
Trang 51.1.2 Đặc điểm sinh học của lợn và đặc tính kỹ thuật chăn nuôi lợn [5]
- Lợn là động vật phàm ăn, có khả năng chịu đựng kham khổ cao Lợn
có bộ máy tiêu hóa tốt, có khả năng tiêu hóa thức ăn cao, do đó lợn có thê sử
dụng nhiều loại thức ăn khác nhau như tinh bột, thô xanh, rau bèo, củ quả
Nguôn thức ăn chăn nuôi lợn rất phong phú, có thể tận dụng các phụ phế phẩm của ngành trồng trọt, của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm Khả năng tiêu hóa thức ăn của lợn cao nên tiêu tốn ít thức ăn cho Ikg tăng trọng
Do vậy, lợn rất phù hợp cho chăn nuôi hộ gia đình Lợn có khả năng sinh sản cao, tái sản xuất đàn nhanh nên lợn hơn hắn các gia súc khác về mặt sản xuắt Lợn là loại động vật đa thai, bình quân lợn đẻ 1.5 — 2.5 lta/nam, 8 -12
con/lứa
- Lợn dễ bị dịch bệnh, độ rủi ro cao do khí hậu, thời tiết thất thường, thiên tai bão lụt, hạn hán ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của lợn
- Với lợn thịt, chuồng trại cần thoáng mát, có mật độ nuôi thích hợp,
lợn phải được tiêm phòng đầy đủ trước khi đưa vào nuôi thịt, nếu không phải
tiêm bố sung đề bảo vệ đàn lợn an toàn dịch bệnh Lợn thịt có sự thay đối khá
nhanh về trọng lượng cho nên nhu cầu dinh dưỡng, thức ăn phù hợp, cân đối từng giai đoạn
- Cũng như các sản phẩm nông nghiệp khác lợn thịt còn khó khăn trong vấn đề tiêu thụ sản phẩm đầu ra Giá cả đầu vào, đầu ra luôn biến động
do cạnh tranh và cung cầu thị trường Muốn phát triển ngành nghề nuôi lợn cần phát triên đồng bộ hệ thống thu mua, bảo quản, chế biến xuất khẩu
- Đề chăn nuôi lợn đạt hiệu quả kinh tế, đòi hỏi những nhà chăn nuôi
cần có sự lựa chọn các giống lợn thích hợp, những giống lợn có tỷ lệ nạc cao,
khả năng tăng trọng nhanh, trọng lượng xuất chuồng lớn, tiêu tốn thức ăn trên Ikg tăng trọng thấp là những giống lợn đang được ưa chuộng hiện nay
Trang 61.1.3 Các yếu tố ảnh hướng đến chăn nuôi lon [8]
1.1.3.1 Điều kiện tự nhiên
Lợn là loại động vật có lớp da hầu như không có tuyến mồ hôi, dưới đa
lại có lớp mỡ dày Nhiệt độ ảnh hưởng lớn sức tăng trọng của lợn, người ta
cho biết khi nhiệt độ tăng lên thì tăng trọng giảm đi 1/3 khi hệ số tiêu tốn thức
ăn không thay đối Âm độ cũng ngăn cản sự thoát hơi từ hệ thống hô hấp của
lợn, như vậy càng tăng thêm nhiệt trung tâm ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của lợn và làm cho hiệu quả chăn nuôi bị giảm sút
1.1.3.2 Về kỹ thuật chăn nuôi
e_ Giống [8j
Hiện nay cùng với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, đã tạo ra các giống lợn
mới như: Lợn lai kinh tế FI(kết quả giữa lợn đực Landras, Yookshire ngoại
lai với lợn nái Móng cái của Việt Nam), lợn lai F2 có tý lệ máu ngoại cao (kết
quả lai giữa F1 với đực ngoại), lợn ngoại thuần Đây là những giống lợn có tỷ
lệ nạc tương đối cao, từ 50- 60% thịt thân xẻ
Theo đánh giá của hộ nông dân thì yếu tố quan trọng đầu tiên trong chăn nuôi lợn là con giống tốt Con giống tốt sẽ hữa hẹn cho sản lượng thịt
cao, ít bệnh tật, chất lượng thịt ngon, hay ăn chóng lớn Tuy nhiên, do hạn
chế về nguồn lực (vốn, đất đai, lao động, kinh nghiệm ) mà mỗi hộ quyết
định chăn nuôi các loại hình khác nhau với chất lượng khác nhau Từ đó mà hiệu quả chăn nuôi của họ cũng khác nhau
Tuỳ tiềm lực kinh tế gia đình mà chọn giống lợn nuôi, phù hợp với quy
hoạch giống lợn nền của địa phương Một điều không thê phủ nhận là chất
lượng các giống lợn càng tốt thì sản lượng thịt hơi càng cao
e Thirc an [8]
Nguôn thức ăn kinh tế và tin cậy quyết định việc chăn nuôi có lãi, khoảng 60-70% tổng số giá thành sản xuất thịt lợn là thức ăn Như vậy, cùng
Trang 7với con giống tốt, thức ăn cũng là yêu tố quan trọng trong chăn nuôi lợn, hai
yếu tố này không thể tách rời nhau Muốn lợn tăng trọng nhanh, nhiều nạc
phải đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng, protein, khoáng đa, vi lượng và các vitamin Nguồn thức ăn chăn nuôi có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng thịt (tỷ
lệ nạc), mà chất lượng thịt lại quyết định giá bán sản phẩm Vì vậy, cần phải
nuôi theo nhu cầu sinh lý sinh trưởng phát triển lợn để có được hiệu quả cao trong chăn nuôi
e Cham sóc HHÔi dưỡng
Khi đã có con giống tốt thì việc chăm sóc nuôi dưỡng nó lại cần thiết
Phải biết đặc tính sinh lý của từng loại lợn, từng thời kỳ và lứa tuổi để chăm
sóc cho tốt và hợp lý Thực hiện tốt các khoa học chăm sóc nuôi dưỡng, không chỉ là điều kiện tốt cho việc sinh trưởng và phát triển của đàn lợn mà quan trọng hơn là giảm được chi phí và nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi
e_ Công tác thú ÿ, vệ sinh chuông trại
Bệnh dịch là nguyên nhân quan trọng làm cho chăn nuôi không có lãi,
lợn chết hoặc lợn mắc một bệnh nào đó thì tính phàm ăn, sự tăng trọng, hiệu quả sử dụng thức ăn, khả năng sinh sản, cho sữa của lợn đều bị ảnh hưởng
Do đó, chìa khoá đề duy trì một đàn lợn khoẻ mạnh là quản lý tốt
1.1.3.2 Các nhân tô kinh tế - xã hội
e Thi truong
Đối với người sản xuất thi van dé thị trường đầu ra cũng là vẫn đề có ý nghĩa quyết định Sản phẩm của chăn nuôi lợn thuộc loại tươi sống, bởi vậy
nó không có khả năng dự trữ lâu dài nếu không qua chế biến Mặt khác, do
chu kỳ chăn nuôi rất ngắn nên không xuất chuồng đúng kỳ hạn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả và hiệu quả chăn nuôi (tăng chi phí, giảm chất lượng thịt ) Bởi vậy, thị trường là một yếu tô hết sức quan trọng ảnh hưởng đến
hiệu quả, tốc độ tính bền vững trong phát trién chăn nuôi Sự ồn định về thị
Trang 8trường tiêu thụ là động lực giúp cho ngành chăn nuôi lợn phát triển, đặc biệt
đối với hộ chăn nuôi hàng hoá quy mô lớn thì điều này càng quan trọng
e_ Vấn cho chăn nuôi lợn
Dù sản xuất kinh doanh bất kỳ một hàng nào thì vốn đầu tư ban đầu cũng quan trọng Trong chăn nuôi lợn, nếu chỉ nuôi theo phướng thức truyền thống, tận dụng từ 3 - 4 con thì vốn đầu tư ban đầu không phải là yếu tố ảnh hưởng lớn đến tình hình phát triển chăn nuôi Tuy nhiên, khi chăn nuôi ngày
càng phát triển, đặc biệt đối với hộ chăn nuôi hàng hoá, tập trung quy mô lớn
thì vốn lại là vẫn đề hết sức quan trọng và cần thiết đối với công việc chăn
nuôi hay phát triển đàn lợn Nhu cầu về vốn cho chăn nuôi lợn bao gồm: vốn
đề xây dựng chuồng trại, mua con giống tốt, mua thức ăn và các trang thiết bị
cần thiết cho chăn nuôi lợn
e Lao dong
Bắt cứ một hoạt động sản xuất cũng cần đến lao động, và chăn nuôi lợn
cũng vậy Lao động càng có kiến thức về chăn nuôi thì việc chăm sóc cho đàn lợn càng tốt và mang lại hiệu quả càng cao Chính vì vậy mà lao động có trình
độ là cần thiết trong chăn nuôi
e_ Sự phát triển của công nghiệp chế biễn sản phẩm
Như chúng ta đã biết đặc điểm của nông sản hàng hoá là dễ bị hỏng, ôi thiu nếu không được chế biến, bảo quản kịp thời Bởi vậy, sự phát triển công nghiệp chế biến có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển chăn nuôi lợn Khi công nghiệp chế biến phát triển nó không chỉ đây mạnh sản xuất chăn nuôi lợn trong nước phát triển nó còn tạo ra nhiều loại sản phẩm tiêu dùng (từ thịt lợn) mang tính công nghiệp đáp ứng nhu cầu phong phú của nhân dân, tiết
kiệm chỉ phí lao động xã hội và tăng ngoại tệ cho đất nước nhờ xuất khẩu
e_ Các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước
Đối với ngành sản xuất thì sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước hết sức
quan trọng Sự điều tiết này có thể khuyến khích ưu tiên hay hạn chế một
Trang 9ngành nào đó phát triển Chăn nuôi lợn đã được xác định là một ngành công nghiệp quan trọng nhất đối với sự phát triển của ngành chăn nuôi ở Việt Nam
Bởi vậy, Nhà nước cần tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho ngành chăn nuôi
này phát triển hơn nữa trong những năm tới
1.2 THUC TRANG PHAT TRIEN CHAN NUOI LON Ở VIỆT NAM
1.2.1 Thực trạng chăn nuôi lợn ớ Việt Nam [4|.[7]
Nuôi lợn là một trong những ngành nghề truyền thống của nước ta, ở tất cả những vùng nông thôn đều có nuôi lợn và được xem như là một hình
thức tiết kiệm, tăng thu nhập của hộ gia đình Dần dần các trại chăn nuôi với
quy mô lớn ngày càng xuất hiện nhiều và hiệu quả kinh tế của chăn nuôi lợn được quan tâm hơn
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới, nắng ấm, sản xuất cây lương thực, có
nhiều loại ngũ cốc tạo ra nguồn thức ăn phong phú phù hợp với chăn nuôi đàn lợn Công nghiệp thức ăn gia súc phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây, kết hợp với những giống lợn cao sản đã mở ra hướng phát triển
thuận lợi cho nghề nuôi lợn [4]
Hiện mỗi năm nước ta xuất chuồng khoảng 25 triệu con lợn Tham gia
vào hệ thống sản xuất lợn thịt gom các trang trại nhà nước, tư nhân va trang
trại thuộc các doanh nghiệp nước ngoài Doanh nghiệp nhà nước chủ yếu cung cấp con giống Các công ty nước ngoài hoạt động chăn nuôi lợn tại Việt Nam dưới hình thức gia công (CGF Pig), liên kết sản xuất với bà con nông dân (cung cấp con giống, thức ăn, thuốc thú y, có nhân viên giám sát kỹ thuật
và quản lý), bao tiêu sản phẩm Lợn xuất chuồng, công ty bán ra thị trường, tự hạch toán lỗ lãi và dựa vào năng suất chăn nuôi của từng chuồng trại dé tra công cho người nuôi gia công Việt Nam hiện có hai công ty lớn đang hoạt động trong lĩnh vực chăn nuôi gia công là Charoen Pokphand (Thái Lan) và
Japfa Comfeed (Ind6néxia) [13].
Trang 10Một trong những thành phần đang dần chiếm giữ vị thế quan trọng trong ngành chăn nuôi lợn là các trang trại tư nhân Nếu 10 năm trước, nước
ta chưa có trang trại tư nhân quy mô vài trăm con, thì hiện đã có hàng trăm trang trại với quy mô 50 con lợn nái và 500 đầu lợn thương phẩm trở lên
Trong 10 năm qua, ngành chăn nuôi lợn ở Việt Nam có tốc độ tăng trưởng vượt bậc, sản lượng lợn thương pham tang cao, ty trong thit siéu nac
ngay cang lon, dap wng nhu cầu tiêu dùng của xã hội Chăn nuôi lợn dang chuyền từ tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá [13]
Theo số liệu thống kê sơ bộ, hiện nay cả nước có khoảng 3.500 trại
chăn nuôi lợn nái ngoại từ 20 con trở lên Trong đó có 1.127 trang trại với quy
mô hơn 100 nái, chiếm tỷ lệ 23,66%; 501 trang trại có quy mô 51-100 nai, chiếm 10,52%; số còn lại là các trang trại có quy mô từ 21-50 con và dưới 20 con, chiếm hơn 65% Do điều kiện đất đai, khí hậu và khả năng đầu tư, nên sự
phân bố các trang trại chăn nuôi tại tám vùng sinh thái cũng khác nhau cả về
số lượng và quy mô Ba vùng có số lượng trang trại chăn nuôi lợn lớn nhất cả nước là Đông Nam Bộ (ĐNB), đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), với tỷ lệ tương ứng là 47,60%; 26,32% và 15,70% Vùng Đông Nam Bộ không những có số lượng trang trại nhiều nhất, mà quy
mô chăn nuôi cũng lớn nhất Tại đây, số lượng trang trại có quy mô từ 50 đến
100 con, chiếm tỷ lệ tương ứng là 60% và 38%; còn số trang trại nuôi 20 nái
trở xuống chỉ chiếm 0,62% ĐBSCL là khu vực thứ hai sau Đông Nam Bộ có
số lượng trang trại với quy mô lớn Số trang trại có quy mô hơn 100 nái
chiếm 27,27% tổng số trang trại của cả khu vực này Vùng ĐBSH mặc dù có
số lượng trang trại tương đối lớn, song quy mô nuôi phố biến dưới 20 nái,
chiếm 71,32% số trang trại; 23,52% SỐ trại có quy mô từ 20-50 nái; một số Ít
(khoảng 5,20%) có quy mô từ 5 đến 100 nái trở lên Các khu vực còn lại như tây bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ không những có số
Trang 11lượng trang trại chưa nhiều, mà cả quy mô chăn nuôi cũng chưa lớn, chủ yếu
nudi 20-50 nai/trai [13]
Chỉ tính riêng thành phố Hà Nội, đến nay toàn Thành phó với 722 trại
chăn nuôi lợn quy mô lớn ngoài khu dân cư với, trong đó 467 hộ (có quy mô
lợn nái từ 20 con, lợn thịt từ 100 con/hộ trở lên), tổng đàn lợn năm 2012 là
337.719 con tăng 182.719 con so với năm 2010 Tốc độ tăng đàn đạt 118%
Nét nỗi bật của phát triển chăn nuôi lợn là tập trung chuyên từ chăn nuôi
chuồng hở sang chuồng kín, đến nay đã nâng cấp từ chuông hở sang chuông kín cho 30.280 m2 chuồng nuôi, tăng công suất từ 104.000 con lên 396.500
con [3], [9]
Các mô hình chăn nuôi lợn theo quy mô lớn ngoài khu dân cư cũng
được đầu tư hỗ trợ và phát huy hiệu quả Hiện có 416 hộ chăn nuôi với tong dan la 234769 con va quy mo dat 20 lon nai/ hd, 100 lon thịt/hộ Ngoài ra còn
nhiều khu chăn nuôi lợn tập trung ngoài khu dân cư đang phát triển ôn định,
có hiệu quả như khu chăn nuôi xã Tân Ước huyện Thanh Oai có 12 hộ với
diện tích 27ha; khu chăn nuôi tập trung tại Ứng Hòa có 9hộ/32ha; khu chăn nuôi tập trung xã Cân Hữu huyện Quốc Oai có 1 Ihộ/34ha .[9]
Có thê khăng định, Chương trình phát triển chăn nuôi tại các xã, vùng chăn nuôi trọng điểm trong giai đoạn vừa qua của Hà Nội đã đạt được những kết quả quan trọng, đặt nền móng cho sự củng có và phát triển của chương trình trong các năm tiếp theo Số lượng đàn gia súc, gia cầm tại các xã, vùng
trọng điểm có sự chuyên biến rõ rệt cả về số lượng và chất lượng, đời song
các hộ nông dân được nâng cao
1.2.2 Những thuận lợi và khó khăn đối với chăn nuôi lợn ở Việt Nam [7] 1.2.2.1 Thuận lợi
Chăn nuôi lợn phát triển mạnh ở tất cả các vùng trong cả nước ta là do
có những điều kiện thuận lợi thúc đây như:
Trang 12- Nguồn lao động trong nông thôn dồi dào, đây có thể coi là như một
nhân tổ thuận lợi cho phát triển chăn nuôi lợn
- Nhiều hộ rất có kinh nghiệm trong chăn nuôi Thức ăn cho lợn có thê
tận dụng sản phẩm từ trồng trọt
- Nhu cầu về thịt lợn sẽ ngày càng tăng lên khuyến khích người dân
phát triển chăn nuôi lon
- Đã xuất hiện nhiều nhà máy chế biến sản phẩm từ thịt lợn, nhà máy
này trực tiếp thu mua lợn từ hộ chăn nuôi, giúp hộ chăn nuôi trong quá trình
tiêu thụ sản phẩm và giá cả cạnh tranh
- Hiện nay nước ta có rất nhiều nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi,
sản phẩm thức ăn chăn nuôi này có thể giúp người chăn nuôi tiết kiệm thời
gian nuôi, vốn đầu tư cho chăn nuôi thu hồi nhanh do chăn nuôi bằng thức ăn
công nghiệp, lợn nhanh được xuất chuồng, hiệu quả kinh tẾ cao, tăng lợi
nhuận cho người sản xuất
1.2.2.2 Kho khan
Mac dau trong những năm qua, chăn nuôi lợn nước ta đã đạt được
những thành tựu đáng kế nhưng đứng trước yêu cầu phát triển kinh tế hiện nay, chăn nuôi lợn đang phải đứng trước nhiều thách thức:
- Quy mô chăn nuôi manh mún, nhỏ lẻ, chăn nuôi theo hướng tận dụng,
chưa hạnh toán kinh tế nên hiệu quả kinh tế còn thấp
- Cơ sở vật chất kỹ thuật và quản lý về mặt thú y tuy được cải thiện
nhưng còn yếu kém, lại không đồng bộ, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào chăn
nuôi chưa triệt dé
- Nông dân thiếu vốn dé dau tu và mở rộng sản xuất, không vay được tiền do lợi suất ngân hàng hiện nay quá cao
- Hệ thống nhà máy chế biến sản phâm từ thịt lợn vẫn chưa nhiều, công
nghệ thô sơ
Trang 13- Nguồn cung thị trường thịt lợn hiện nay tuy khan hiếm nhưng giá cả không ồn định gây không ít rủi ro cho người chăn nuôi Đặc biệt trong vài
năm qua giá đầu ra không ồn định, thị trường biến động khá mạnh, nhiều thời
điểm giá xuống quá thấp làm người chăn nuôi không yên tâm đầu tư phát triển sản xuất
- Giá thành thức ăn gia súc quá cao, bap bénh, chat lượng chưa được
kiểm soát làm nản lòng không ít hộ chăn nuôi lợn
- Thị trường xuất khẩu thịt lợn hạn chế bạn hàng
1.2.3 Một số chính sách về phát triển chăn nuôi [ 13], [14]
- Quyết định số 394 /2006/QĐ-TTg Ngày 13 tháng 3 năm 2006 của Thủ Tướng chính phủ đã ký về việc khuyến khích đầu tư xây dựng mới, mở
rộng cơ sở giết mồ, bảo quản chế biến gia súc, gia cầm và cơ sở chăn nuôi gia cầm tập trung, công nghiệp
- Quyết định Số: 719/QĐ-TTg ngày 05 tháng 6 năm 2008 về chính sách
hỗ trợ phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm
- Quyết định số: 166/2001/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ về một số biện pháp phát triển chăn nuôi lợn xuất khẩu giai đoạn 2001 — 2010 Trong quyết định quy định 12 điều về quy mô, phương thức, về vốn vay ưu đãi,
trách nhiệm
- Quyết định 2801/QĐ-UBND, 5/2011 của UBND thành phố Hà Nội về Phát triển chăn nuôi theo vùng, xã trọng điểm, chăn nuôi quy mô lớn ngoài khu dân cư
- Quyết định 1835/QĐ-UBND năm 2013 của UBND thành phố Hà Nội
về việc Phê duyệt Quy hoạch phát triển chăn nuôi thành phố Hà Nội đến năm
2020, định hướng đến năm 2030
Trang 14CHƯƠNG 2 ĐÓI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tình hình phát triển chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn thịt nói riêng của các nông hộ trên địa bàn xã Minh Phú
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Thực trạng chăn nuôi lợn thịt ở xã Minh Phú
Tình hình chung về chăn nuôi lợn của xã
Nguồn lực sản xuất của các hộ chăn nuôi lợn thịt (2012)
Tình hình chăn nuôi lợn thịt của các nông hộ điều (2012)
2.1.2 Nhân tô ảnh hướng đến kết quả và hiệu quả chăn nuôi lợn thịt của các hộ
2.1.3 Định hướng và giải pháp phát triển
2.3 Phương pháp nghiên cứu
e Phuong phap diéu tra, phỏng vấn, thu thập số liệu:
+ SỐ liệu sơ cấp: Chọn ngẫu nhiên 50 hộ thuộc các thôn trong xã đề
điều tra, phỏng vấn trực tiếp
+ Số liệu thứ cấp: Sử dụng các nguồn thông tin thứ cấp đã được công
bó qua các tài liệu của cục thống kê, phòng nông nghiệp huyện, ban thống kê
xã .và các giáo trình, sách báo, các báo cáo khoa học, luận văn tốt nghiệp và các công trình nghiên cứu khoa học của nhiều tác giả để phục vụ cho mục
đích nghiên cứu đề tài
e Phương pháp phân tích so sánh: Sử dụng các bảng biểu, số liệu thu thập
được để phân tích, so sánh
Trang 15CHƯƠNG 3: KÉT QUÁ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 DIEU KIEN TU NHIEN, KINH TE, XA HOI XA MINH PHU
3.1.1 Vi tri dia ly cua xa@ Minh Phi [14].[15]
Minh Phú là một xã thuộc huyện Sóc Sơn, thành phó Hà Nội, nằm cách
sân bay Nội Bài 2km, dưới chân núi Vành
‹ _ Phía Bắc giáp 2 xã Minh Trí và Nam Son;
‹ _ Phía Nam giáp 2 xã Hiền Ninh và Tân Dân;
‹ _ Phía Đông giáp 2 xã Hiền Ninh và Nam Son;
‹e Phía Tây giáp xã Minh Trí
- Minh Phú thuộc vùng bán sơn địa có những đặc trưng của vùng gò đồi
và phù sa cố kết Diện tích tự nhiên là 3768,5 ha
- Chạy qua địa bàn xã Minh Phú có đường nối QL2 với QL3, một huyết
mạch giao thông quan trọng
3.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội [11]
- Minh Phú có dân số 11.075 người, với 2470 hộ dân cư sinh sống ở 8
thôn: Thanh Trí, Thanh Sơn, Phú Hạ, Phú Thịnh, Phú Minh, Phú Hữu, Phú
Nghĩa và thôn Lâm Trường
- Với lợi thế địa lý, Minh Phú rất chú trọng việc trồng rừng và phát triên cây ăn quả Từ năm 2005 đến nay, cả xã đã trồng mới hơn 110 ha rừng, bảo vệ an toàn hơn 140 ha rừng và vận động nhân dân chuyên đổi gần 40 ha cây ăn quả Hầu hết các hộ đều phát triển kinh tế theo mô hình trang trại trồng
cây ăn quả, và phát triền chăn nuôi, đặc biệt chăn nuôi bò thịt, lợn thịt Xã có
200 trang trại - nhiều nhất ở huyện Sóc Sơn - đang mang lại nguồn thu gấp 9 lần so với thu nhập thuần nông “Minh Phú xoá được đói, giảm được nghèo là
nhờ trang trai” [11]
Trang 16- Nhiều năm qua, tăng trưởng kinh tế của xã luôn duy trì 7-10%, sản
xuất bình quân đạt 45 triệu đồng/ha Xã có gần 40% hộ giàu; tỷ lệ hộ nghèo rất thấp ( 2,5%) [11]
- Về y té, giáo dục, Minh Phú có trường Tiểu học đạt chuẩn quốc gia,
12 phòng học phổ thông cơ sở kiên có, 4 nhà trẻ mẫu giáo đủ quy cách, trạm y
tế có bác sỹ
Mặc dù vậy, vẫn đề nổi cộm về mất đất rừng mây năm gần đây đã ít
nhiều ảnh hưởng không tốt đến đời sống kinh tế, xã hội của Minh Phú: công
ty TNHH Đầu tư và Phát triển nông - lâm nghiệp Sóc Sơn (Công ty Lâm
nghiệp Sóc Sơn), tiền thân là Lâm trường Sóc Sơn (chuyên đổi tháng 7.2010),
đóng trên địa bàn xã, có chức năng quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển
vốn rừng trên diện tích 2.095,5ha, trong đó đất công ty đang tô chức sử dụng
là 2.064,28ha Nhưng diện tích đất rùng này đã bị “xé thịt” chuyển nhượng
sai mục đích cho các cá nhân, hoặc cho thuê trái quy định Nhiều người thành phố mang tiền về mua đất và đầu tư vườn đồi, thu hút hàng ngàn lao động mùa vụ trong xã Người dân từ chỗ nắm quyền và chủ động trong sử dụng ruộng đất lại trở thành người làm thuê hoặc bảo vệ các khu nghĩ dưỡng cuối tuần cho những người giàu từ nơi khác đến [15]
3.2.TINH HINH PHAT TRIEN CHAN NUOI LON THIT XA MINH PHU
3.2.1 Tình hình chung về chăn nuôi lợn của xã
Hoạt động chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng của Minh Phú trong những năm qua không ngừng được quan tâm, chú trọng nhằm nâng cao vị trí và tỷ trọng của chăn nuôi trong nông nghiệp Các chương trình
thâm canh đàn lợn; nạc hóa đàn lợn; dự án đa dạng hóa nông nghiệp; đề án
phát triển chăn nuôi tổng hợp.v.v cùng với việc chuyền giao tiến bộ khoa học kỹ thuật đến với người dân bước đầu đã được người dân ứng dụng vào
sản xuất Cộng thêm lợi thế về đất đai và thị trường tiêu thụ rộng, chăn nuôi ở
Trang 17Minh Phú đã rất phát triển, đặc biệt là chăn nuôi lấy thịt
Tuy nhiên, trước những khó khăn chung của ngành chăn nuôi mấy năm gần đây, cùng với sự thu hút lao động của các khu công nghiệp, các khu đô thị.v.v cơ cấu chăn nuôi xã Minh Phú cũng có những thay đổi nhất định Có
hộ giảm số con chăn nuôi, có hộ bỏ nuôi, nhưng có hộ lại tắng quy mô
Những quyết định khác nhau này phù hợp với điều kiện của mỗi hộ chăn nuôi
và phụ thuộc rất lớn vào tính toán của chủ hộ chăn nuôi
Bảng 3.1 Tình hình phát triển chăn nuôi lợn của xã
qua 3 năm (2010 - 2012)
2012/2010 Chỉ tiêu ĐVT | 2010 | 2011 | 2012
+/- %
2 Tổng số đầu con Con | 5.812] 6.362) 7.989| 2177| 137,5
- Lon thit Con | 5.400} 6.000] 7.500| 1100| 132,4
3 Bq con/ hộ Con/hộ 9,9 11,6 15,2 5,3 153,5
4 Số lượng xuất chuồng | Con | 5400| 6.000| 7.500| 2.100L 138,9
> Sản lượng xuât TAn 510; 553} 723] 213| 1418
chuông
Nguôn: Ban thông kê xã qua 3 năm(2010-2012)
So sánh số liệu giữa 2010 và 2012 nhận thấy:
Về số hộ tham gia nuôi lợn thịt đã đạt mức tăng trưởng âm Trong 3 năm có tới 65 hộ đã bỏ nuôi lợn để chuyền sang các hình thức sản xuất khác, tương ứng với mức giảm l 1% Một trong những lí do người dân bỏ chăn nuôi
Trang 18là đầu ra của con lợn thịt liên tục gặp khó khăn Giá lợn hơi xuống thấp dẫn đến nhiều người chăn nuôi thua lỗ đã treo chuồng Với giá lợn hơi có lúc
xuống còn 35 nghìn đồng, người chăn nuôi cho biết cứ xuất chuồng 10 con, lỗ khoảng 4 triệu đồng
Tuy vậy, so với bức tranh chung của ngành chăn nuôi Việt Nam mấy
năm vừa qua thì tình hình phát triển chăn nuôi lợn ở Minh Phú vẫn khá lạc quan, 6 trên 7 chỉ tiêu theo dõi đều đạt mức tang truong cao, tir 118,7 % dén
153,5%, trong do binh quân đầu con/ hộ chăn nuôi có mức tăng trưởng cao
nhất: 153,5%; tiếp theo là sản lượng xuất chuồng ( 141,8%) và tổng số đầu
lợn, đạt mức tăng trưởng 137,5% Sở dĩ có được điều đó là do chăn nuôi ở Minh Phú chủ yêu là mô hình trang trại VAC, quy mô vừa và nhỏ Nhiều hộ
chăn nuôi còn làm thêm đại lí thức ăn chăn nuôi, tận dụng sản phẩm trồng trọt.v.v nên hạ được giá thành chăn nuôi và giảm được thua lỗ đề tiếp tục
duy trì chăn nuôi đến những thời điểm thuận lợi Có một vài trang trại quy mô lớn hàng nghìn đầu lợn, những trang trại này luôn áp dụng công nghệ chăn nuôi tiên tiến ( nuôi khép kín, nuôi trên đệm lót sinh thái ) sản phẩm có giá bán từ 130 -150% so với giá lợn nuôi bình thường và đầu ra luôn ồn định 3.2.2 Tình hình phát triển chăn nuôi lợn thịt tại Minh Phú
Từ danh sách các hộ chăn nuôi lợn thịt do Ban chăn nuôi - thú y của xã
cung cấp, chúng tôi chọn ngẫu nhiên 71 hộ để nghiên cứu, đánh giá tình hình
phát triên chăn nuôi lợn thịt của địa phương
3.2.2.L Hình thức chăn nuôi
Trong 7l cơ sở chăn nuôi lợn thịt có IŠ cơ sở có quy mô trang trại (
chiếm 21,1%); 21 cơ sở có quy mô chăn nuôi gia trại, chiếm 29,6%, còn lại
là chăn nuôi quy mô nhỏ trong hộ gia đình
Trang 19Bảng 3.2 Hình thức chăn nuôi
Ở mỗi hình thức chăn nuôi lại xuất hiện nhiều phương thức nuôi khác
nhau: thâm canh công nghiệp, kết hợp VAC, bán công nghiệp, tận dụng
- Trong I§ trang trại chăn nuôi lợn thịt được khảo sát có 33,3% chăn
nuôi theo phương thức thâm canh cao độ; 67,7% là trang trại kết hợp: trồng
trọt, nuôi lợn, nuôi cá;
- Cũng có 5 trên 2l cơ sở chăn nuôi quy mô gia trại áp dụng phương thức nuôi công nghiệp, số còn lại áp dụng mô hình VAC phù hợp với điều
kiện thực tế của hộ gia đình;
- Đối với hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ, mỗi hộ gia đình nuôi một vài đầu lon dé tan dụng sức lao động dôi dư, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp và đề có thêm nguồn thu nhập, tuy nhiên không có hộ chăn nuôi nào nuôi lợn theo
phương thức quảng canh, tận dụng hoàn toàn, các hộ chăn nuôi vẫn sử dụng thức ăn công nghiệp ở từng giai đoạn sinh trưởng của lợn hoặc trong cả chu kì
nuôi với tỷ lệ nhất định
Trang 203.2.2.2 Thông tin chung về chủ hộ chăn nuôi
Đặc điểm về tuôi, giới tính, trình độ học vấn, quá trình đào tạo nghề
nghiệp của người chăn nuôi cũng như tư liệu về đất đai, sức lao động của chủ
hộ có ảnh hưởng lớn đến kết quả và hiệu quả của quá trình chăn nuôi Thông
tin chung về các hộ chăn nuôi như sau:
Bang 3.3 Thong tin chung vé các hộ chăn nuôi lợn thịt xã Minh Phú
Trang 21
+ 100% các hộ và trang trại có chủ hộ là Nam giới Mặc dù phụ nữ
tham gia vào hầu hết các công đoạn của quy trình chăn nuôi nhưng quyết định quan trọng lại do người đàn ông trong gia đình
+ Chủ trang trại có tuổi trung bình khá thấp Điều này cho thấy tiềm năng về nhân lực trong việc phát triển chăn nuôi hàng hóa khi mà những người trẻ tuổi đang ngày một cô gắng làm giàu ngay trên địa phương mình
Chủ hộ trẻ tuổi, rất thuận lợi cho việc học hỏi cũng như tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật mới và việc đưa ra các quyết định đề phát triển chăn nuôi
+ Lao động trong các cơ sở chăn nuôi chủ yêu bao gồm các thành viên trong gia đình có khả năng tham gia lao động Thuê mướn lao động chỉ gặp ở
mô hình chăn nuôi trang trại và cũng chiếm tỷ lệ thấp (13,3%)
+_ Về chất lượng lao động của trang trại và hộ chăn nuôi, yếu tố quyết định phương hướng, cách thức tổ chức sản xuất của nông hộ: Có 2/3 chủ
trang trại chăn nuôi có trình độ văn hóa từ THPT trở lên, I00% trong số họ
qua các lớp tập huấn, đào tạo ngắn hạn, tham quan điền hình tiên tiến tương
tự như vậy, tỷ lệ chủ hộ chăn nuôi gia trại có trình độ văn hóa từ THPT trở lên chiếm hơn hai phần ba, trên 80% trong số họ đã qua tập huấn về chăn nuôi
+ Chất lượng lao động không chỉ thể hiện ở trình độ học vấn, quá trình
đào tạo mà còn ở kinh nghiệm, tập quán sản xuất được tích luỹ từ thực tiễn
Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi, chủ các trang trại có quy mô lớn
lại là những người trẻ tuổi, kinh nghiệm thực tiễn không nhiều nhưng họ lại là
những người rất năng động, ham học hỏi và đám phá bỏ lề lối lạc hậu trong
sản xuât