Phạm vi Ap dụng hình thức báo cáo hay hình thức điều tra thường không có danh giới cố định, mà tuỳ thuộc vào tính chất của nhu cầu thông tin, vào cơ chế quản lí, vào trình độ hạch toán
Trang 1TỔNG CỤC THỐNG KÊ VIEN KHOA HOC THONG KE
†
ĐỀ TÀI KHOA HỌC -.NGHIÊN CỨU, SỬA ĐỔI VÀ HỆ THỐNG HOÁ
CHẾ ĐỘ BÁO CÁO THỐNG KÊ CHO PHÙ HỢP -
VỚI YÊU CẤU QUẢN LÝ MỚI (1996 - 2000)
Trang 2CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI
Vu Trưởng Vụ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Vụ Trưởng Vụ Công nghiệp
Chuyên viên Viện KHTK
Trang 32 Lời nói đầu
Chế độ báo cáo thống kê cùng với chế độ điều tra thống kê là hai hình
thức cơ bản để thu thập số liệu thống kê
Hai hình thức này có mối quan hệ tương hỗ bổ sung cho nhau Phạm vi
Ap dụng hình thức báo cáo hay hình thức điều tra thường không có danh giới cố định, mà tuỳ thuộc vào tính chất của nhu cầu thông tin, vào cơ chế quản lí, vào
trình độ hạch toán cụ thể và khả năng của bộ máy thu thập thông tin trong từng
-thời kì
Do tính chất và đặc điểm của mỗi hình thức thu thập số liệu này đều có
ưu thế và nhược điểm nhất định, vấn đề quan trọng là khéo léo kết hợp hài hoà giữa báo cáo thống kê và điều tra thống kê để phương pháp thu thập số liệu thống kê đạt được chất lượng và hiệu quả cao nhất với chỉ phí thấp nhất
Đề tài "Nghiên cứu sửa đổi và hệ thống hoá chế độ báo cáo thống kê cho
phù hợp với cơ chế quản lí mới (thời kì 1996 - 2000)" có nhiệm vụ trên cơ sở lí
luận khoa học thống kê và thực tiễn nước ta nghiên cứu đề xuất những giải pháp
cơ bản nhằm cải tiến chế độ báo cáo thống kê hiện hành, trước mắt áp dụng cho những năm tới
Báo cáo đề tài gồm có 3 chương:
Chương I: Cơ sở lí luận về chế độ báo cáo thống kê Chương II: Quá trình và thực trạng báo cáo thống kê ở nước ta Chương II: Hướng cải tiến chế độ báo cáo thống kê
Trang 4Đề tài này do Viện Nghiên cứu Khoa học, thuộc Tổng cục Thống kê chủ
' trì với sự tham gia của các Vụ của Tổng cục Thống kê, một số cục thống kê
tỉnh, thành phố có ñên quan `
Kết quả nghiên cứu của để tài góp phần làm sáng tỏ thêm quan niệm về
báo cáo thống kê trong tình hình mới và từ đó có giải pháp nâng cao chất lượng
._ báo cáo thống kê góp phần to lớn hơn trong quần lí kinh tế xã hội của đất nước
Ban Chủ nhiệm đề tài
Trang 5CHUONG |
CO SG LY.LUAN VE CHE DO BAO CAO THONG KE
Chế độ báo cáo thống kê (BCTK) là một trong hai hình thức cơ bản để thu thập số liệu thống kê
Các nước trên thế giới đều đồng thời sử dụng chế độ BCTK song song với chế độ điều tra thống kê,
Do điều kiện chính trị - xã hội, chủ yếu là do cơ chế quản lí kinh tế - xã
hội cụ thể, mỗi nước có mức độ vận dụng phương pháp này hay phương pháp
kia nặng, nhẹ, nhiêu ít khác nhau
Song dù là BCTK hay điều tra thống kê, hình thức nào cũng có những
nguyên tắc chỉ phối nhất định
Trên lí thuyết và thực tiễn, chế độ BCTK có ưu thế gắn bó mật thiết và
thường xuyên với quá trình hoạt động kinh tế xã hội trội hơn so với điều tra
thống kê
Chế độ báo cáo thống kê có tính ổn định tương đốt về nội dung thông tin,
về đối tượng cung cấp thông tin, về hoạt động thường xuyên liên tục của bộ
máy thu thập thông tin, bảo đảm cho hệ thống BCTK từ đưới lên trên được
thông suốt kịp thời -
_ Còn điều tra thống kê thường mang tính thời điểm, kém ổn định hơn: có
điều kiện thì tiến hành, có điều kiện đến đâu thì làm đến đó Vì vậy trong điều
tra thống kê tuy khối lượng số liệu thống kê cơ bản thu thập được rất lớn và
phong phú nhưng không thể tiến hành thường xuyên mà thường co dãn về nội dung thông tin; về đối tượng điều tra, về phạm vi và thời hạn điều tra đồng
thời tính hệ thống cũng kém chặt chế hơn, thiếu toàn diện hơn (không phải cấp
Trang 6nào, địa phương nào; ngành nào cũng được điều tra), thời gian chuẩn bị và tiến hành điều tra, xử lí SỐ, liệu thường kéo dài (có khi 2-3 năm sau mới có số liệu
điều tra chính thức),
Đề xây dựng chế độ BCTK, cần tuân thủ một số nguyên tắc sau:
1 Chế độ BCTK phải đầm bảo đáp ứng tốt nhất nhụ cầu thôn: tin thudng xuyên và có kì han ngắn cud người sit dung tin
1.1 BCTK chỉ có thể thoả mãn những nhu cầu thông tín quan trọng nhất,
có tính chất thường xuyên; tương đối ổn định lâu dài và có tính hệ thống theo
từng chu kì ngắn (Thường là một năm trở xuống) Còn điều tra thống kê thường
đáp ứng yêu cầu thông tin đột xuất, nhất thời, không mang tính hệ thống, ổn định cao Đây là danh giới cơ bản để phân biệt chỉ tiêu đưa vào chế độ BCTK
` với chỉ tiêu điều tra thống kê
1.2 Xét theo nhu cầu sử dựng tin, có hai cấp độ cơ bản:
a Nhu cầu thông tin của tầm vĩ mô - chiến lược: phục vụ xây dựng và chỉ
đạo qui hoạch, kế hoạch, chính sách, đường lối phát triển trên phạm vi cả nước, - từng vùng và địa phương, từng ngành và lĩnh vực KTXH trọng yếu
Khái niệm tầm (hoặc cấp) vĩ mô bao hàm tầm chỉ đạo chiến lược của các cấp, các ngành, không phải chỉ bó hẹp cho Nhà nước Phục vụ tâm vĩ mô là
phục vụ các cấp, các ngành trước hết là cấp Nhà nước (Chính phủ) thực hiện được chức năng chỉ đạo chiến lược
b Nhu cầu thông tin của tầm (cấp) vĩ mô có tính chất phục vụ sự chỉ đạo
điều hành và quản lí các hoạt động KTXH cụ thể, trong đó có cả các hoạt động quản lí Nhà nước của các cấp, các ngành, đặc biệt là cấp cơ sở
Trong hai cấp độ nhu cầu thông tin (vĩ mô và vi mô) này, chế độ BCTK phải ưu tiên tập trung phục vụ nhu cầu thông tin cấp vĩ mô nói chung, theo một
Trang 7CHUONG TRINH - KẾ HOẠCH BÁO CÁO THỐNG KÊ THỐNG NHẤT trên phạm vi
quốc gia, bao trùm cả các ngành, các lĩnh vực KTXH chủ yếu, các vùng lãnh
thổ và địa phương ˆ
Cồn nhu cầu thông tin cấp vi mô phục vụ chỉ đạo điều hành và quản lí
từng hoạt động KTXH cụ thể, được tổ chức linh hoạt hơn, tuỳ thuộc vào yêu
cầu và trình độ quản lí của các loại doanh nghiệp, các loại đơn vị KTXH nhất
định, các ngành quản lí sản xuất kinh doanh cụ thể
1.3 Tương ứng với hai tầm quản lí vĩ mô và vi mô, chế độ BCTK cũng
được tổ chức theo hai kênh cơ bản:
a Kênh BCTK Nhà nước (Còn gọi là kênh BCTK tổng hợp hoặc kênh
-BCTK các cấp ) do Tổng cục Thống kê trực tiếp phụ trách, có nhiệm vụ chủ
yếu đáp ứng yêu cầu thông tin tầm vĩ mô
b Kenh BCTK các ngành do các bộ, các ngành TW trực tiếp phụ trách,
có sự phối hợp và chỉ đạo về nghiệp vụ của Tổng cục Thống kê, vừa đáp ứng
yêu cầu quản lí vi mô trong phạm vi nội bộ ngành (Tĩnh vực) và các đơn vị cơ sở của ngành, vừa cung cấp thông tin cho yêu cầu quản lí vĩ mô
2 Chế độ BCTXK phải phù hợp với tinh chất và yêu cầu của cơ chế quản lí:
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung - bao cấp trước đây, Nhà nước có thêm chức năng kinh tế trực tiếp nên chế độ BCTK có nhiệm vụ phục vụ các
cấp, các ngành và Nhà nước điêu hành kế hoạch mà chủ yếu là điêu hành sản
xuất kinh doanh cụ thể, theo kế hoạch Nhà nước Vì vậy chế độ BCTK rất nang
nề mà vẫn không vươn tới được tầm vĩ mô của công tác quản lí toàn xã hội
Ngày nay, trong cơ chế thị trường, các hoạt động kinh tế xã hội, đặc biệt
là trong sẵn xuất kinh doanh được dân chủ hoá, các doanh nghiệp có quyền tự
Trang 8chủ và cạnh tranh, nên số đơn vị tham gia hoạt động KTXH tăng lên rất nhiều, ' nội dung hoạt động rất cơ động, đa dạng, qui mô tổ chức và trình độ quản lí rất chênh lệch nhau Song khuynh hướng chung là đơn vị nào, dù to hay nhỏ, cũng muốn hoạt động kinh doanh khép kín, đa ngành, liên ngành, vươn ra xa kể
cả tới nước ngoài, nhằm lợi nhuận tối đa Do tính chất kinh doanh tổng hợp cao
của các doanh nghiệp như vậy, nên chế độ BCTK cũng phải chuyển hướng báo cáo tổng hợp hoá, đa ngành hơn là báo cáo chuyên ngành như trước
Đây là một tình hình phải tính đến khi thiết kế xây dựng chế độ BCTK
cho các đơn VỊ cơ sở, cho các ngành, các cấp
3 Chế độ BCTK phải dưa trên cơ sở nguồn số liêu có thể thụ thập được qua
đăng kí, ghỉ chép thường xuyên trên số sách hoặc thông qua kiểm tra, kiếm
soát một cách đơn giản (như kiểm kê phanh, như đo đạc, khảo sát trực tiếp
Ở một thời điểm nhát định;) Tuy nhiên với trình độ tổ chức hạch toán hiện nay,
hình thức phổ biến, thông dụng nhất là dựa trên các chứng từ sổ sách kế toán và
các hồ sơ quản lí hành chính sắn có của các đơn vị (có sự chấn chỉnh, kiện toàn
hơn)
Những thông tin nào, những loại đơn vị nào không có điều kiện và khả
năng tổ chức theo dõi ghi chép thường xuyên thì không thể vận dụng chế độ
BCTK mà phải thông qua điều tra thống kê để thu thập số liệu
4 Chế độ BCTK, đặc biệt là BCTK phục vụ quản lí vĩ mô, nhất thiết phải được tổng hợp, hệ thống hoá từ dưới lên trên, từ nhiều ngành, nhiều cấp lên
tổng hợp chung cả nước
Phương tiện chủ yếu dùng để tổng hợp là các bảng biểu được thiết kế
khoa học và thống nhất về phương pháp tính toán trong phạm vi cả nước, thuận tiện cho việc tự động hoá công tác xử lí thông tin
Trang 9“Tổng hợp và hệ thống hoá BCTK cùng phải tuân thủ theo mnột chương
trình thống nhất về không gian và thời gian cụ thể phục vụ các cấp, các ngành
sit dung tin "
Phạm vi không gian trước hết là trên phạm vi cả nước Kèm theo đó, tuỳ
theo yêu cầu cụ thể có thể tổng hợp và hệ thống hoá riêng theo từng lĩnh vực
- hoặc ngành KTXH, theo từng chương trình dự án KTXH quan trọng, theo từng
vùng, địa phương, theo cấp quần lí TW, địa phương
Phạm vi thời gian: theo các kì báo cáo đã qui định như báo cáo đột xuất,
báo cáo tháng, quí, báo cáo năm Những chỉ tiêu vượt quá thời hạn trên 1
năm/lần, thường không đưa vào chế độ BCTK
Hiệu quả của BCTK tuỳ thuộc vào thời gian tính Phải phấn đấu làm sao
qui trình thu thập, xử lí thông tin có độ thời gian ngắn nhất Chỉ có tự động hoá
các khâu truyền đưa và xử lí thông tin mới góp phần giải quyết nhiệm vụ nặng
vị, cá nhân báo cáo, trách nhiệm của cơ quan nhận báo cáo.v.v
_ Kỉ luật BCTK phải bảo đảm cho chế độ BCTK được thực hiện nghiêm
túc, ngăn ngừa và khắc phục mọi hiện tượng sai trái, vi phạm phương pháp chế
độ trong việc lập và gửi báo cáo Cơ quan nhận báo cáo phải kiểm tra tính chính xác của BCTK do cấp dưới gửi lên và thường xuyên tổ chức thanh tra việc thực hiện chế độ báo cáo của cấp dưới quyền
Trang 106 Chế độ BCTK phải có tính khả thí cao Tính khả thì tuỳ thuộc chủ yếu vào
` sự cân đối tích cực giữa hai yếu tố: nhu cầu và khả năng
a Nhu cdu: La một thực thể khách quan, là mục tiêu phải đáp ứng vì vậy phải có sự tính toán, cân nhắc, chọn lọc một cách nghiêm túc để xây đựng hệ
thống chỉ tiêu báo cáo đủ mức cẩn thiết với qui trình thu thập xử lí thông tin hợp lí, tối ưu nhất, không hạ thấp yêu câu khi có điêu kiện đáp ứng
b Khả năng: Là yếu tố chủ quan, phải vươn lên ngang tầm như cầu đỏi
hỏi Đó là trình độ của bộ máy tổ chức và cán bộ thực hành, dù có chuyên trách
hoặc kiêm nhiệm, nhưng phải có năng lực và hoạt động thường xuyên, được trang bị phương tiện công cụ hiện đại cần thiết -
Tính chất hoạt động thường xuyên, liên tục theo một qui chế thống nhất,
chặt chế của bộ máy làm BCTK là đặc điểm nổi bật nhất so với bộ máy làm
điều tra thống kê (chỉ có tính chất nhất thời)
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá, việc nâng cao trình độ thành thạo chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bệ và trang bị kĩ thuật hiện đại không còn là khó khăn quá lớn, có thể
giải quyết trong một thời gian tương đối ngắn
7 Chế độ BCTK phải đất trong mối quan hệ qua lai biên chứng, quan hệ tương hỗ với chế đô điêu tra thống kê, hợp thành hệ thống phương pháp thu
thập thông tin thống kê hiện đại, hoàn chỉnh
Bản thân chế độ BCTK dù có hoàn thiện cũng chỉ đáp ứng được một bộ phận nhất định trong tổng nhu cầu thông tin rộng lớn của các đối tượng sử dụng tin Hơn nữa nhiều hiện tượng quá trình phức tạp lại chỉ có thể thu thập thông tin thông qua điều tra thống kê Trong nhiều trường hợp, điều tra thống kê được tiến hành nhằm kiểm tra, đánh giá chất lượng các báo cáo thống kê, Ngược lại
10
Trang 11số liệu báo cáo thống kê có tác dụng làm cơ sở tin cậy để vận đụng các phương
pháp điều tra thống kê, Cơ chế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta vẫn
tạo khả năng thực hiện ngày càng tốt hơn chế độ BCTK theo hướng tỉnh giản,
thiết thực
Phải khéo léo sử dụng kết hợp hài hoà cả hai hình thức thu thập thông tin này, tránh mọi khuynh hướng tuyệt đối hoá chế độ BCTK hoặc ngược lại, chỉ
đơn thuần một chiều để cao điều tra thống kê, hạ thấp vai trò tất yếu khách
quan của BCTK trong cơ chế thị trường
11
Trang 12CHƯƠNG HAI
QUA TRINH VA THUC TRANG BAO CAO THONG KE
Trước đây, ở nước ta, cũng như các nước xã hội chủ nghĩa khác, Nhà
nước lãnh đạo toàn diện nền kinh tế quốc dân Ngoài chức năng quản lí Nhà
nước, còn có chức năng điều hành kinh tế trực tiếp, chỉ phối các hoạt động kinh
tế xã hội thông qua kế hoạch hoá tập trung bao cấp Quan hệ giữa Nhà nước và các chủ thể trong xã hội nói chung là có sự ràng buộc chặt chế Trên nhiều lĩnh vực, còn thể hiện rõ mối quan hệ trực tiếp giữa lãnh đạo và bị lãnh đạo Tình hình đó tạo ra khả năng cho phép vận dụng rộng rãi chế độ BCTK
Trong thực tế, nên kinh tế với hình thức công hữu hoá và tập thể hoá cao chiếm ưu thế, qui luật phát triển có kế hoạch phát huy tác dụng thì chế độ báo
cáo thống kê không ngừng được tăng cường và mở rộng, chủ yếu là do các đơn
vị kinh tế quốc doanh và tập thể thực hiện bắt buộc thông qua chế độ cung cấp vật tư, tién vốn và giao nộp sản phẩm theo kế hoạch Nhà nước chỉ phối Một bộ :
phận quan trọng trong chế độ BCTK còn lại là do các cơ quan quản lí Nhà nước đảm nhận theo chức năng quản lí hành chính, quản lí kinh tế, quan lí xã hội của
các bộ, ngành, các sở chuyên môn,
Những năm đầu thập kỉ 80 trở về trước, khi kế hoạch chiếm vị trí chủ yếu trong cơ chế quản lí, thì công tác thống kê cũng xuất hiện tình trạng lấy báo cáo
_ thống kê làm phương tiện và hình thức chủ yếu để thu thập số liệu Quan điểm
thịnh hành lúc đó nhấn mạnh quan hệ giữa Nhà nước và các cơ sở kinh tế xã -
hội chủ yếu thông qua kế hoạch hoá cung cấp vật tư, thiết bị, tiền vốn và tiêu
thụ, giao nộp sản phẩm theo nghĩa vụ, pháp lệch thì tất yếu các cơ sở (và các
cấp trên cơ sở) bất buộc phải thực hiện chế độ báo cáo thống kê trực tiếp
Trang 13Nhà nước thực hiện chức năng giám sát, điều hành và quyết toán kế hoạch _ Những chỉ tiêu đưa vào chế độ BCTK cho từng loại cơ sở kinh tế xã hội thường bao trùm và nhiều hơn các chỉ tiêu kế hoạch được giao Đáng chú ý là kinh phí chi cho việc làm BCTK đều do các cơ sở sản xuất - kinh doanh tự lo liệu, Nhà nước (Tổng cục Thống kê) không phải đài thọ kinh phí như trong điều tra thống
kê nên càng thêm chỉ tiêu báo cáo, thêm kì báo cáo càng đỡ phải điều tra
càng tốt Bên cạnh những mặt tích cực thu thập được một khối lượng thông tin
ngày càng lớn, đáp ứng yêu cầu kế hoạch hoá Song hậu quả là chế độ BCTK -
ngày một nặng nề, tình trạng lạm phát các chỉ tiêu, biểu mẫu ở các cấp, các ngành là nghiêm trọng, gây ra khó khăn ách tắc trong khâu thu thập thông tin
Theo số liệu tổng kết thì trong thời gian đó, chỉ tính riêng hệ thống chỉ
tiêu thống kê nói chung do Nhà nước ban hành, có tới 4/5 tổng số chỉ tiêu thuộc
diện BCTK
Trong chế độ BCTK lại có nhiều loại khác nhau về hình thức báo cáo
nhưng không khác nhau về tính chất, nội dung như báo cáo tiến độ, báo cáo đột
xuất, báo cáo nhanh, báo cáo ước tính, báo cáo chính thức hoặc kết hợp cả
báo cáo ước tính và báo cáo chính thức trên một biểu
ˆ Về thời hạn báo cáo: Báo cáo tiến độ theo chư kì 5-7 ngày hoặc 10
ngày/1 lần; Báo cáo ước tính kì này phải kèm theo báo cáo chính thức kì trước
và được gửi tới Tổng cục Thống kê trước ngày 25/tháng nên cơ sở phải lập báo
cáo chậm nhất là ngày 15 Vì vậy số liệu ước tính dần dân thoát li thực tế, còn
số liệu chính thức lại quá rauộn nên không có tác đụng kịp thời
Trước nguy cơ chế độ BCTK bị suy yếu Tổng cục Thống kê đã nhiều lần sửa đổi, bổ sung, cải tiến chế độ BCTK, song vẫn lúng túng Không thoát khỏi
cơ chế hành chính bao cấp
13