1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số giải pháp thúc đẩy hoạt động tiêu thụ của công ty dung dịch khoan và hoá phẩm dầu khí

31 2,3K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 320,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, hoạt động tiêu thụ sản phẩm được các doanh nghiệp đặtlên hàng đầu, dành vị trí cao nhất trong chiến lược kinh doanh của mình.. Trong thời gian thực tập tại công ty Dung dịch khoa

Trang 1

Lời giới thiệu

Tiêu thụ sản phẩm là một chức năng quan trọng, là yếu tố quyết định sự tồn tại

và phát triển của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp thu hồi được vốn, thực hiện táisản xuất mở rộng Vì vậy, hoạt động tiêu thụ sản phẩm được các doanh nghiệp đặtlên hàng đầu, dành vị trí cao nhất trong chiến lược kinh doanh của mình

Trong thời gian thực tập tại công ty Dung dịch khoan và Hoá phẩm dầu khí(Sau đây gọi tắt là công ty DMC ), qua tìm hiểu hoạt động của công ty, em nhận thấyrằng: khâu tiêu thụ sản phẩm hiện nay là vấn đề khó khăn nhất của Công ty

Được sự gợi ý của Giám đốc công ty và sự giúp đỡ của Thấy giáo Th.sỹ Trần

Hoè, em đã chọn đề tài khoá luận là : “ Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động tiêu thụ của công ty Dung dịch khoan và Hoá phẩm dầu khí.”

Kết cấu luận văn này được chia làm 3 chương:

Chương I : Cơ sở lý luận về hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Doanh

nghiệp

Chương II : Thực trạng hoạt động của Công ty Dung dịch khoan và Hoá phẩm

dầu khí

Chương III : Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công

ty Dung dịch khoan và Hoá phẩm dầu khí

Trang 2

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

1 BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM

1.1 Bản chất của hoạt động tiêu thụ

Tiêu thụ sản phẩm là một cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng và làm cho quátrình tái sản xuất diễn ra liên tục Bản chất kinh tế của hoạt động này là thực hiệnquyền sở hữu và quyền sử dụng hàng hoá giữa các chủ thể với nhau Quá trình tiêuthụ sản phẩm, chỉ được coi là kết thúc khi quá trình thanh toán giữa hành động bán vàmua hàng đã được diễn ra và quyền sở hữu hàng hoá được thay đổi Tuy nhiên, trongnền kinh tế thị trường, hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp luôn gặp khókhăn Do vậy, các nhà sản xuất ra một loại sản phẩm, thì điều đầu tiên Họ phải nghiêncứu và đặt ra câu hỏi sản xuất ra để phục vụ cho nhóm khách hàng nào? và trên thịtrường nào? Do đó, hoạt động tiêu thụ muốn đạt hiệu quả tốt cần phải xuất phát từviệc nghiên cứu nhu cầu thị trường

Tóm lại, tiêu thụ sản phẩm là quá trình bao gồm từ việc nghiên cứu nhu cầu thịtrường, tạo nguồn hàng, tổ chức mạng lưới bán hàng, xúc tiến bán hàng với nhiềuhình thức khác nhau và dịch vụ sau khi bán

1.2 Đặc điểm của tiêu thụ sản phảm

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường với phương châm chi phối hoạt độngcủa doanh nghiệp là sản xuất và đưa ra thị trường cái mà thị trường cần, chứ khôngthể bắt thị trường chấp nhận sản phẩm mà doanh nghiệp có sẵn Đây là vấn đề khókhăn mà hiện nay các doanh nghiệp gặp phải Vì nhu cầu thị trường luôn luôn biếnđổi và đa dạng và có xu hướng ngày càng cao

Do đó, đòi hỏi doanh nghiệp phải có chính sách phù hợp Có thể kể đến một

số nguyên nhân cơ bản sau đây làm cho hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp gặp khókhăn như: Chưa nghiên cứu tốt nhu cầu của thị trường, sản phẩm, chất lượng, kiểu

Trang 3

dáng chưa phù hợp, giá cả cao, mẫu mã bao bì chưa đẹp, dịch vụ sau khi bán chưatốt Ngoài ra, có thể kể đến vấn đề nhập lậu, trốn thuế, hàng giả

Để giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ doanh nghiệp cần đặc biệt quan tâm tới nhữngvấn đề sau:

-Khi lập phương án sản xuất, phải xuất phát từ nhu cầu thị trường, để

từ đó mua các yếu tố đầu vào, tổ chức sản xuất tốt, cải tiến tổ chức quản lý

-Có giải pháp nâng cao năng suất, giảm chi phí, hạ giá thành

-Đầu tư có hiệu quả cho quảng cáo và các hoạt động tiêu thụ

-Tổ chức mạng lưới tiêu thụ phù hợp với các hình thức đa dạng

-Sử dụng chính sách giá linh hoạt

-Tạo và giữ vững cho doanh nghiệp một uy tín nhất định cho khách hàng đốivới sản phẩm

Về phía nhà nước: Giúp cho hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp được đẩymạnh, thúc đẩy được kinh tế phát triển nhanh do mở rộng được sản xuất, Nhà nướccần phải:

-Hình thành và hoàn thiện các chính sách như: Chính sách tiền tệ, thuế, luậtthương mại

-Tạo môi trường thông thoáng cho việc mở rộng giao lưu, trao đổi hàng hoágiữa các chủ thể trên thị trường

-Hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước trong việc chống buôn lậu, trốn thuế, đảmbảo bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong cạnh tranh

-Khuyến khích xuất khẩu, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong việc mởrộng thị trường ra nước ngoài

1.3 Vai trò của hoạt động tiêu thụ sản phẩm đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp

Quá trình sản xuất kinh doanh trải qua các khâu đầu tư- sản xuất - tiêu thụ, cóthể nói hoạt động tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng Nhưng là khâu hết sức quantrọng và có vai trò quyết định đến kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh Do vậy,trong hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp phải trả lời được sản xuất cái

Trang 4

gì? sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai ? nó phụ thuộc vào vấn đề có tiêu thụ đượcsản phẩm hay không?

Ngoài ra, hoạt động tiêu thụ còn có vai trò làm trung gian liên lạc giữa doanhnghiệp với người tiêu dùng, qua đó doanh nghiệp năm bất được những thông tin phảnhồi của khách hàng, để từ đó doanh nghiệp có phương án tổ chức sản xuất kinh doanhcho phù hợp với biến đổi của thị trường

2 Nội dung của hoạt động tiêu thụ sản phẩm

Tiêu thụ sản phẩm giữ một vai trò quan trọng, quyết định kết quả hoạt độngkinh doanh, là thành công hay thất bại Quá trình tiêu thụ sản phẩm hiểu theo nghĩarộng không chỉ đơn thuần là công tác bán hàng mà nó bao gồm các nội dung chủ yếusau: Nghiên cứu thị trường, xây dựng chiến lược tiêu thụ sản phẩm, thực thi chiếnlược và đánh giá kết quả

2.1 Nghiên cứu thị trường.

Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp có khả năng thích ứng cao với sự đadạng và biến động của thị trường thì doanh nghiệp mới có sự tồn tại và phát triển.Muốn thích ứng được sự đa dạng và biến đổi đó thì trước hết doanh nghiệp cần quantâm đến kết quả mà doanh nghiệp thu được sau khi nghiên cứu thị trường Kết quả đó

sẽ trả lời cho các câu hỏi mà doanh nghiệp đặt ra đó là: thị trường cần cái gì? số lượngbao nhiêu? chất lượng như thế nào? giá cả là bao nhiêu? thời điểm nào cần sản phẩm

đó ? Phương thức thanh toán hay dịch vụ sau khi bán ra sao? đó là những thông tincần thiết mà qua đó doanh nghiệp có thể đưa ra được các quyết định sản xuất kinhdoanh như:

-Giữ vững và duy trì ở mức độ sản lượng sản xuất và bán hàng

-Mở rộng quy mô sản xuất, bán hàng hay thu hẹp quy mô sản xuất

-Sản xuất sản phẩm mới hay cải tiến sản phẩm

-Tiếp tục hoạt động trên thị trường hay thâm nhập vào thị trường mới

Những quyết định có tính chất sống còn của mỗi doanh nghiệp chỉ có thể đượcđảm bảo tính chính xác khi việc nghiên cứu thị trường được tiến hành một cách chuđáo, tỷ mỷ, chính xác với thực tế

Trang 5

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, mọi hoạt động sản xuất kinhdoanh đều phải bám sát với sự biến động của thị trường Hoạt động nghiên cứu thịtrường được đặc biệt quan tâm và coi trọng ở các doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệpđều nhận thức được điều đó Vì vậy, cạnh tranh trên thị trường hiện nay ngày càngkhốc liệt và vai trò nghiên cứu thị trường ngày càng quan trọng.

2.2 Xây dựng chiến lược tiêu thụ sản phẩm

Trên cơ sở đã tổng hợp được các thông tin về nhu cầu thị trường và đã xác địnhđược tiềm năng và thực lực hiện có của doanh nghiệp, đặc biệt là yếu tố tác động đếnbên trong và ngoài doanh nghiệp mà doanh nghiệp xây dựng cho mình một chiến lượcphù hợp, để có thể tiêu thụ được sản phẩm sản xuất ra với tốc độ nhanh nhất, với chiphí thấp nhất và lợi nhuận cao nhất Tuy nhiên, nội dung chiến lược phải có các nộidung cơ bản sau:

a) Về sản phẩm

Như trên đã đề cập, sản phẩm mà doanh nghiệp đủ khả năng sản xuất ra phảiphù hợp với nhu cầu thị trường Tuỳ theo nhu cầu thị trường mà doanh nghiệp phảicải tiến sản phẩm hoặc cải tiến sản phẩm Đặc biệt doanh nghiệp phải nghiên cứu chu

kỳ sống của sản phẩm để có biện pháp thích ứng ở mỗi pha của nó

Chu kỳ sống của sản phẩm được chia thành 4 pha ( pha thâm nhập, phatăng trưởng, pha chín muồi, pha suy tàn)

Khi doanh nghiệp nghiên cứu chu kỳ sống của sản phẩm thì doanh nghiệp sẽchủ động lập kế hoạch tiêu thụ và có các biện pháp đối phó phù hợp cho từng pha của

nó Tạo điều kiện cho doanh nghiệp khai thác tốt nhất lợi thế của từng pha đó( phatăng trưởng và pha chín muồi), để chủ động rút lui khỏi thị trường khi pha sản phẩmbước sang pha suy tàn

b) Về giá cả

Doanh nghiệp phải dự kiến một hệ thống giá trong tương lai, nó sẽ được thịtrường chấp nhận Chính sách giá chỉ có giá trị cao có tính khả thi cao khi nó xuấtphát từ chiến lược nghiên cứu thị trường, chiến lược nghiên cứu sản phẩm và sự biếnđộng giá cả trên thị trường

Trang 6

Do đó, doanh nghiệp phải xây dựng được một chiến lược giá phù hợp Tuynhiên, cũng có các tiêu thức để xác định giá:

-Dựa vào chi phí

-Dựa vào nhu cầu thị trường (chính sách giá cả linh hoạt)

-Dựa vào mức độ cạnh tranh

Ngoài ra, việc xây dựng chính sách giá còn phù thuộc vào mục tiêu của doanhnghiệp như : Mục tiêu lợi nhuận, mục tiêu tăng khối lượng bán, mục tiêu thế lực, mụctiêu ổn định, bên cạnh đó nó còn phù thuộc vào pha của chu kỳ sản phẩm, thị hiếungười mua

Việc xây dựng chính sách giá là một nghệ thuật kinh doanh, nó đòi hỏi nhàkinh doanh phải kết hợp khéo léo các ưu thế mà mình hiện có, để đưa ra được chínhsách giá mềm dẻo, phù hợp với từng thời điểm

c)Về kênh phân phối

Tuỳ theo tính chất của sản phẩm, đặc điểm của thị trường, đặc điểm cơ sở hạtầng của từng vùng và theo khả năng và mục tiêu của doanh nghiệp mà xác định cấpphân phối ( kênh cấp không, kênh cấp một, kênh cấp hai, kênh cấp ba )

Quá trình này được thể hiện qua các kênh phân phối hay kênh tiêu thụ Được biểudiễn qua sơ đồ sau :

Đại lý (Người môi giới) DNCN

(người sản xuất)

Trang 7

Kênh 2 : Hoạt động bán thông qua người bán lẻ ( kênh dán tiếp ngắn )

Kênh 3 : Thông qua người bán buôn và người bán lẻ ( kênh dán tiếp dài )

Trên kênh 2 và kênh 3 việc tiêu thụ sẽ được đẩy mạnh, đạt tiến độ nhanh, khảnăng mở rộng hơn Nhưng lợi nhuận sẽ bị chia sẻ, thông tin phản hồi từ người tiêudùng thiếu chính xác

Thông thường người ta khắc phục những nhược điểm trên và tận dụng những

ưu điểm của các kênh, người ta sử dụng mô hình hỗn hợp, tiêu thụ trên các kênh

Qua việc xây dựng kênh tiêu thụ, doanh nghiệp có cơ sở để lập kế hoạch tiêuthụ cho từng giai đoạn, từng thời điểm, từng vùng củ thể cho từng loại sản phẩm

d) Các hoạt động hỗ trợ xúc tiến

Trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm, bán hàng là hoạt động mang tính nghệthuật, nó đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng và tổ chức được mạng lưới bán hàng cóhiệu quả nhất, đồng thời công tác hỗ trợ bán hàng và xúc tiến bán cũng được đặc biệtquan tâm Các hỗ trợ bán hàng như: Quảng cáo, hội chợ, truyển lãm, khuyễn mãi,dịch vụ sau khi bán như vận chuyển, lắp đặt, sửa chữa, bảo hành

2.3Thực thi chiến lược sản phẩm

Cho dù nghiên cứu thị trường, xây dựng chiến lược tiêu thụ có tốt đến đến đâu,

có chính xác, có công phu đến bao nhiêu đi chăng nữa mà không đưa vào thực thi, thìđây chỉ là lý thuyết suông trên giấy tờ Vì vậy, khi thực hiện hai bước cần thiết phải

Trang 8

thực hiện tiếp bước ba “ Bước thực thi “ Trong phần thực thi này có 4 giai đoạn cầnthực hiện :

a)Thiết kế bộ máy tổ chức cho phù hợp

Thiết kế bộ máy tổ chức gồm có việc phân bổ nhiệm vụ, trách nhiệm, quyềnhạn và quyền quyết định trong doanh nghiệp

b)Xây dựng cơ chế quản lý hoạt động của bộ máy

Xây dựng cơ chế trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của bộ máy, có chế độ khenthưởng, khuyến khích và xử phạt thích đáng

c)Tương thích chiến lược với cơ cấu tổ chức và giám sát

Do các chiến lược và môi trường khác nhau, đòi hỏi doanh nghiệp cần có cơcấu tổ chức và hệ thống giám sát hệ thống khác nhau, phù hợp với từng điều kiệnhoàn cảnh của doanh nghiệp, cũng như điều kiện môi trường xung quanh

d)Đổi mới và điều chỉnh mâu thuẫn

Trong cơ chế thị trường luôn luôn biến động Do vậy, khi chiến lược của doanhnghiệp không phù hợp với thực tế, hoặc thậm chí mâu thuẫn lẫn nhau Đòi hỏi doanhnghiệp phải đổi mới, điều chỉnh sao cho phù hợp với thực tế cho có hiệu quả nhất

2.4 Đánh giá kết quả tiêu thụ sản phẩm

Đánh giá kết quả là khâu cuối cùng của quá trình xây dựng và tổ chức thực thichiến lược tiêu thụ Mục đích của đánh giá kết quả xác định hiệu quả của chiến lượctiêu thụ Qua đánh giá này, doanh nghiệp mới có các số liệu cụ thể thu được qua hoạtđộng tiêu thụ, để tổng hợp để phân tích tình hình thực tế hoạt động của doanh nghiệp

Từ đó rút ra các bài học để định hướng hoạt động của doanh nghiệp, là nên mở rộnghay thu hẹp thị trường của doanh nghiệp trong thời kỳ tiếp theo, hay đưa ra các biệnpháp thúc đẩy quá trình tiêu thụ

Phải chăng, đánh giá kết quả hoạt động là những thông tin phản hồi, là căn cứ

để doanh nghiệp lập kế hoạch sản xuất, cũng như kế hoạch tiêu thụ cho kỳ sau, nótrực tiếp phản ánh tính khả thi của kế hoạch Do vậy, muốn làm tốt công tác xây dựng

Trang 9

kế hoạch cho kỳ sau, thì doanh nghiệp cần phải báo cáo số liệu trung thực, kháchquan chính xác và đầy đủ.

Doanh nghiệp có thể thông qua các chỉ tiêu sau để đánh giá như:

Mức tăng Trị giá đầu kỳ của chỉ tiêu i

* (giảm ) = - 100%

của chỉ tiêu i Trị giá cuối kỳ của chỉ tiêu i

chỉ tiêu i : mức tăng trưởng của doanh thu, lợi nhuận,

* lời của =

Vốn lưu động Vốn lưu động bình quân

Thời gian Tốc độ chu chuyển

* 1 vòng =

chu chuyển Số ngày trong kỳ

Tốc độ Doanh thu thuần

* chu chuyển =

vốn lưu động Vốn lưu động bình quân

Qua các chỉ tiêu trên, các nhà quản lý có thể đánh giá tình hình tăng hay giảm,cũng như tình hình sử dụng các nguồn lực trong Doanh nghiệp Để từ đó có biệnpháp điều chỉnh cho phù hợp với thực từ

Ngoài ra, doanh nghiệp có thể sử dụng các công thức để đánh giá như tốc độtăng trưởng của doanh thu, lợi nhuận và tỷ trọng của các mặt hàng

Vì thế, hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp là khâu được các nhà quản lý quantâm, các doanh nghiệp luôn tim mọi biện pháp để đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ trongđiều kiện nền kinh tế thị trường, làm cho các cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn vàhoạt động tiêu thụ ngày càng khó khăn hơn

Trang 10

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY DUNG

DỊCH KHOAN VÀ HOÁ PHẨM DẦU KHÍ.

1-GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY DUNG DỊCH KHOAN VÀ HOÁ PHẨM DẦU KHÍ

1.1 Quá trình hình thành và phát triển.

Công ty Dung dịch khoan và Hoá phẩm dầu khí, có tên giao dịch quốc tế là:DRILLING MUD COMPANY viết tắt là DMC.( Sau đây gọi tắt là công ty DMC), làdoanh nghiệp nhà nước trực thuộc Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, hạch toán độclập, có bảng cân đối tài sản thông nhất toàn công ty, có tư cách pháp nhân

Công ty DMC tự chủ trong hoạt động kinh doanh, mở tài khoản giao dịch bằngđồng Việt Nam và ngoại tệ ở các ngân hàng trong nước

Công ty DMC có trụ sở 97 Láng Hạ- Đống Đa-Hà Nội, và có các đơn vị thànhviên sau:

1- Chi nhánh phía Nam, công ty có trụ sở 93 Lê Lợi - Vũng Tàu, hạch toán phụthuộc

2 - Xí nghiệp hoá chất Dầu khí Yên Viên-Gia Lâm-Hà Nội, hạch toán nội bộ

3 - Công ty liên doanh MI-Việt Nam, có trụ sở 93 Lê Lợi-Vũng Tàu, hạch toánđộc lập theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, trong đó công ty DMC góp50% vốn pháp định

Trang 11

4 - Công ty liên doanh BariteTuyên quang-DMC, có trụ sở chính tại thị trấn SơnDương, tỉnh Tuyên Quang, hạch toán độc lập theo luật doanh nghiệp nhà nước,trong đó công ty DMC góp 50% vốn pháp định.

1.2.Nhiệm vụ và chức năng của công ty DMC

Công ty có nhiệm vụ chính sau:

-Sản xuất kinh doanh các vật liệu hoá phẩm dùng cho dung dịch khoan và ximăng trong công nghiệp dầu khí

-Nghiên cứu để chuyển giao công nghệ và dịch vụ kỹ thuật và sửa chữa, xử lýgiếng khoan dầu khí

-Xuất khẩu các hoá phẩm phục vụ khoan và khai thác dầu khí

-Tiến hành các hoạt động kinh doanh, dịch vụ khác theo sự phân công củaTổng công ty và phù hợp với pháp luật

1.3-Một số quyền hạn và nghĩa vụ của công ty DMC:

Công ty có nghĩa vụ nhận và sử dụng vốn có hiệu quả, bảo toàn và phát triểnvốn nhà nước và vốn Tổng công ty giao cho và các nguồn lực khác

Công ty có nghĩa vụ tuân theo các chế độ và quy định về quản lý kinh tế, tàichính của nhà nước ban hành

Công ty có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị trực thuộc quản lý, sử dụng vốn cóhiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn ngân sách nhà nước cấp, Tổng công ty cấp và cácloại vốn tài sản khác

Công ty được phép liên doanh, liên kết và được phép ký kết hợp đồng kinh tếvới khác chủ thể kinh tế khác, thực hiện các dự án đầu tư và phát triển kế hoạch củaTổng công ty

Công ty được quyền huy động mọi nguồn vốn phục vụ cho hoạt động kinhdoanh và phát triển theo pháp luật và quy định của Tổng công ty

Công ty được quyền mở rộng kinh doanh trên cơ sở tối ưu mọi nguồn lực màcông ty có và tự huy động phù hợp với nhu cầu của thị trường và pháp luật hiện hành

1.4.Tổ chức bộ máy hoạt động của công ty DMC

Bộ máy tổ chức quản lý của công ty được tổ chức theo kiểu trực tuyến chứcnăng, là quan hệ chỉ đạo từ trên xuống dưới Bắt đầu từ ban Giám đốc tới các phòngban được tổ chức liên quan chặt chẽ với nhau Bộ máy gồm 9 phòng ban với chứcnăng giúp việc cho lãnh đạo thực hiện công tác chuyên môn của công ty Với tổng sốcán bộ công nhân viên là 563 người trong đó có 160 người có trình độ đại học và caođẳng, chiếm 28,41% trong cơ cấu, có 5 tiến sĩ và phó tiến sĩ về khoa học Hầu hết các

Trang 12

phòng ban chức năng và các cấp quản lý, mọi người đều có trình độ đại học, công ty

có một Giám đốc điều hành, là người điều hành cao nhất, giúp việc cho Giám đốc có

5 Phó Giám đốc và các phòng ban chức năng Cơ cấu mỗi phòng ban có khoảng từ 5đến 10 người, văn phòng đại diện có 4 người, còn lại là công nhân ở các xưởng sảnxuất và lao động khác Ở xưởng sản xuất có Giám đốc phụ trách chung, còn cácphòng ban chức năng thuộc phân xưởng, các tổ sản xuất và dịch vụ khác

Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty được mô tả qua sơ đồ 3.0

Trang 13

*Giám đốc công ty do Hội đồng Quản trị Tổng công ty bổ nhiệm, miễn nhiệm, khenthưởng, kỷ luật theo đề nghị của Tổng công ty Giám đốc là đại diện pháp nhân củacông ty và chịu trách nhiệm trước Tổng công ty và pháp luật về điều hành cao nhấttrong công ty.

*Phó Giám đốc là người giúp Giám đốc điều hành một số lĩnh vực công việctheo sự phân công và uỷ nhiệm của Giám đốc và chịu trách nhiệm trước Giám đốc vàpháp luật về nhiệm vụ được Giám đốc phân công và uỷ quyền

*Kế toán trưởng giúp Giám đốc công ty chỉ đạo, tổ chức, thực hiện công tác tàichính kế toán, thống kê của công ty, có quyền và nhiệm vụ theo quy định của phápluật

*Phòng tổ chức hành chính có nhiệm vụ đôn đốc các đơn vị thực hiện các chế

độ, chính sách và quy định về hành chính của nhà nước và quy định của cấp trên

*Phòng kinh tế kế hoạch có nhiệm vụ giúp Giám đốc chuẩn bị các văn bản về

kế hoạch hàng quý, hàng năm và dài hạn trên mọi hoạt động của công ty trong sảnxuất, kinh doanh, dịch vụ và xuất nhập khẩu, xây dựng cơ bản để báo cáo lên trên và

kế hoạch thực hiện, tổng kết báo cáo

*Phòng tài chính kế toán giúp việc Giám đốc trong quản lý tài chính, thống kê

kế toán, giá cả và hạch toán kinh tế của công ty theo đúng quy định của cấp trên vàcủa nhà nước

*Phòng thương mại tham mưu cho Giám đốc về các nghiệp vụ hoạt động kinhdoanh và quản lý chất lượng sản phẩm của công ty như: Soạn thảo hợp đồng, hướngdẫn thực hiện các nghiệp vụ có liên quan đến các công tác quản lý, công tác kinhdoanh, hợp đồng kinh tế thực hiện các nhiệm vụ mua bán mà công ty giao cho và tổchức xuất nhập khẩu

*Phòng dịch vụ kỹ thuật tổ chức nghiên cứu, tiếp cận và áp dụng các tiến bộkhoa học công nghệ tiên tiến, thường xuyên cải tiến, kiểm tra các chỉ tiêu kỹ thuật sản

Trang 14

phẩm theo đúng tiêu chuẩn quốc tế Từng bước hoàn thiện về trang thiết bị máy mócnhằm nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường.

*Phòng nghiên cứu thí nghiệm vi sinh dầu khí nuôi cấy, trồng và tìm hiểu môitrường giếng khoan và những loại vi khuẩn có ở giếng khoan nhằm xử lý chúng

*Phòng thí nghiệp dung dịch khoan củng cố hoàn thiện hệ thống phân tích thínghiệm để đủ điều kiện kiểm tra chất lượng sản phẩm, kịp thời phát hiện những thiếusót trong quá trình sản xuất, đồng thời đề ra những biện pháp xử lý kịp thời

Các phòng chức năng chuyên môn, nghiệp vụ có chức năng tham mưu, giúpviệc Giám đốc trong quản lý và điều hành các hoạt động của công ty

*Xí nghiệp hoá phẩm Yên Viên có nhiệm vụ nhận nguyên liệu và tổ chức sảnxuất các loại mặt hàng chính của công ty Barite, CaCo3, đồng thời tổ chức thực hiệnxuất hàng vào kho Vũng tàu và xuất hàng bán cho các khách hàng miền Bắc

*Chi nhánh DMC Vũng Tàu: là một cơ sở sản xuất hỗ trợ đầu vào của công ty

Cơ sở này có nhiệm vụ sản xuất sản phẩm chính là Bentonite, ngoài ra còn sản xuấtsản phẩm Barite cho khách hàng

* Văn phòng đại diện thành phố Hồ Chí Minh có chức năng giao dịch với một

số khách hàng trong và ngoài nước Nhằm giới thiệu quảng cáo sản phẩm của công ty,đồng thời có thể thực hiện một số công việc khác đáp ứng nhu cầu của công ty

* Công ty liên doanh MI-Việt Nam có nhiệm vụ quan hệ với công ty dầu khínước ngoài, nhằm mục đích đấu thầu khoan và cung cấp dịch vụ kỹ thuật khoan dầukhí

* Công ty liên doanh Barite Tuyên Quang-DMC có nhiệm vụ đảm bảo cungcấp dịch vụ dung dịch khoan cho các dàn khoan biển Việt Nam, cung cấp dịch vụbuôn bán các sản phẩm sử dụng cho ngành công nghiệp dầu khí trong và ngoài nước

2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY DMC.

2.1.Đặc điểm sản phẩm tác động đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm

Đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế, công ty không ngừngcải tiến kỹ thuật, gia tăng số lượng sản phẩm phục vụ cho sản xuất kinh doanh Tínhđến nay công ty có 32 mặt hàng Barite và Benite, Cacbonat canxi, Silica Fluor,Hydroxit canxi, Mica, DMC-Lub, Biosafe .Ngoài ra công ty còn cung ứng các dịch

Trang 15

vụ kỹ thuật như: Khảo sát sử lý giếng khoan, tăng cường thu hồi dầu, các dịch vụ vềdung dịch khoan, các dịch vụ về khoan ngang

Tuy nhiên, công ty chú trọng sản xuất hai sản phẩm chính phục vụ cho thăm dò

là Barite và Bentonite

@Barite: phục vụ thăm dò và khai thác dầu khí là Barite Tiêu chuẩn của Mỹ,

đó là bột Barite được sản xuất từ quặng(BaSO4) có mầu vàng trắng, bột Baritekhông tan trong nước và dầu mỏ, được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệpkhác nhau như: BaSO4 , BaSO3 Dùng trong công nghiệp sơn, xây dựng, y tế,

kỹ năng amiăng, xi măng và nhiều chất phục vụ công nghệ khác

Trong khoan thăm dò và khoan khai thác, nó được dùng với khối lượnglớn làm tăng trong dung dịch khoan để chống áp suất phụt lên từ các vỉa dầukhí khoan, nhằm bảo vệ an toàn nguồn tài nguyên quý giá, bảo vệ môi trườngsinh thái và công trình khoan sâu

@ Bentonite: Là một loại hoá chất dùng cho công nghệ khoan thăm do vàkhoan khai thác dầu khí Bentonite có tác dụng bôi trơn mũi khoan và làm giảm

ma sát giữa mũi khoan và thành giếng khoan Bentonite và Barite đều có tácdụng phòng chống sự phun trào ở giếng khoan Bentonite được sản xuất từnguyên liệu là một loại quặng sét, Bentonite được dùng theo tiêu chuẩn APIcủa Mỹ

Do đặc tính của sản phẩm, nên khối lượng tiêu thụ của công ty phù thuộc vàokhối lượng khoan thăm dò và khai thác của khách hàng trong thời kỳ đó

2.2.Các đặc điểm kỹ thuật tác động đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm

Từ ngày thành lập (8/3/1990 ) cho đến năm 1996 Máy móc và trang bị củacông ty chủ yếu nhập từ Liên Xô Nên mọi tiêu chuẩn của sản phẩm đều được sảnxuất theo tiêu chuẩn chất lượng GOST của Liên Xô Chính vì vậy, mà trong thời giannày Công ty phục vụ cho công việc khoan thăm dò và khoan khai thác trong nước( chủ yếuphục vụ cho công ty VIETSOPETRO ) và công ty không xuất khâu đượcmột lô hàng nào Vì trên thị trường chỉ chấp nhận những sản phẩm được sản xuất theochất lượng API của Mỹ Nhưng đến cuối năm 1996, công ty đã mạnh dạn đổi mới

Ngày đăng: 23/08/2014, 11:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3..3 Tỷ trọng khách hàng tiêu thụ của công ty DMC - một số giải pháp thúc đẩy hoạt động tiêu thụ của công ty dung dịch khoan và hoá phẩm dầu khí
Bảng 3..3 Tỷ trọng khách hàng tiêu thụ của công ty DMC (Trang 18)
Bảng 3.4: Cơ cấu sản phẩm tiêu thụ của công ty - một số giải pháp thúc đẩy hoạt động tiêu thụ của công ty dung dịch khoan và hoá phẩm dầu khí
Bảng 3.4 Cơ cấu sản phẩm tiêu thụ của công ty (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w